Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
29Tháng Sáu
2020

Kinh Thánh được hình thành như thế nào?

29/06/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Chắc chắn Kinh Thánh không phải một quyển sách rơi từ trời xuống. Thật khó mà tưởng tượng Kitô Giáo lại không có Kinh Thánh. Tuy nhiên thực tế là trong gần 400 năm đầu tiên Giáo Hội mới được thành lập, Kinh Thánh không tồn tại, ít nhất là cách đầy đủ.

Việc tập hợp và thành lập Kinh Thánh là một quá trình dài. Trong quá trình ấy, các nhà lãnh đạo của Giáo Hội sơ khai đã phải xem xét tỉ mỉ vô số các bản thảo và nhận định, dựa trên các tiêu chí về sử học, tín lý và thần học, để nhận ra sách nào nên được giữ lại và sách nào không phải là linh hứng.

 

Quá trình hình thành Cựu Ước

 

Tuyển tập các sách ngày nay ta gọi là “Cựu Ước” bản chất là các bản thảo Thánh Kinh Do Thái cổ, tên chuyên môn là “Tanakh”, và các sách Kinh Hípri. Các sách thánh này đầu tiên được kể và truyền miệng qua nhiều đời, cho đến khi được viết ra giấy.

 

Khoảng 200 năm trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, xuất hiện một bản dịch các sách thánh Do Thái sang tiếng Hy Lạp và được công nhận rộng rãi là bản dịch được linh hứng. Truyền thống kể lại rằng vua Ptolemy II của Ai Cập muốn có một bản dịch Kinh Thánh Do Thái, nên đã mời các trưởng lão Do Thái từ Giêrusalem đến để dịch sách. Tổng cộng 72 trưởng lão, 6 vị từ mỗi chi tộc Israen, đến Ai Cập để dịch sách. Các vị được bố trí thành các nhóm riêng và cho ở các phòng khác nhau để dịch. Khi hoàn tất, các bản dịch được tổng hợp lại, và thật bất ngờ là tất cả các bản đều được dịch bằng câu từ y như nhau, dù không ai bảo ai.

 

Bản dịch này được gọi tên là Bản Bảy Mươi và trở nên phổ thông trong cộng đồng người Do Thái biết tiếng Hy Lạp. Chính các tác giả Tin Mừng cũng đã sử dụng Bản Bảy Mươi này để làm nguồn trích Cựu Ước cho tác phẩm của các ngài.

 

Các giáo phụ Kitô Giáo đã đọc Bản Bảy Mươi và suy tư sách nào được linh hứng thật. Quy điển Công Giáo thêm vào một số sách vốn được viết bằng tiếng Hy Lạp, không có bản gốc tiếng Do Thái và không có trong Bản Bảy Mươi, nhưng được tôn kính và đọc phổ biến giữa người Do Thái thời điểm đó, như sách Giuđitha, Tôbia, Khôn Ngoan, Huấn Ca…

 

Quá trình hình thành Tân Ước

 

Hồi ấy, nhiều bản viết tay về cuộc đời Chúa Giêsu và cái chết của Người được lưu truyền. Tác giả các bản thảo này có thể là chính các Tông Đồ, môn đệ của các Tông Đồ hoặc các tín hữu khác. Hoặc họ đã tận mắt chứng kiến, hoặc đã nghe người chứng kiến kể lại về cuộc đời Chúa Giêsu, và viết ra để truyền cho người khác.

 

Thời gian trôi qua, bản sao các tác phẩm không hoàn chỉnh này phát tán khắp cộng đồng Kitô hữu, và một vài cộng đồng Kitô hữu cố tập hợp lại để đọc vào các Lễ bẻ bánh ngày Chúa Nhật. Song song với các tác phẩm kể về cuộc đời Chúa Giêsu, người ta cũng truyền tay và đọc các thư của các Tông Đồ, trong đó nổi bật nhất là các thư của Thánh Phaolô, và cũng xem đó là linh hứng của Chúa Thánh Thần.

 

Hiến chế Dei Verbum của công đồng Vaticanô II nói rõ: “Các tác giả thánh viết 4 Tin Mừng đã lựa chọn một số trong nhiều điều được truyền miệng hoặc lưu truyền bằng văn bản, giảm thiểu vài điều thành các bản tổng hợp, giải thích những điều khác theo hoàn cảnh của Giáo Hội các ngài, lưu giữ nguyên dạng các tuyên bố, nhưng trong bất kỳ cách nào các ngài cũng luôn nói cho chúng ta sự thật về Chúa Giêsu. Các ý trong các tác phẩm hoặc được lấy từ chính ký ức của tác giả, hoặc nghe từ các nhân chứng “ngay từ lúc khởi đầu đã thấy tận mắt và đã phục vụ Lời” để chúng ta được biết “sự thật”…”

 

Vào thời Thánh Irênê, Giáo Hội đã bắt đầu nói về Tin Mừng “tứ dạng” (quadriform), tức là 4 quyển Tin Mừng của Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan.

 

Từ những năm 300, nhu cầu về việc có một quyển Kinh Thánh thống nhất chính thức ngày càng tăng cao. Các nhà sử học tin rằng nhu cầu có quyển Kinh Thánh quy đến đến chính yếu là từ việc vua Constantinô yêu cầu 50 bản sao Kinh Thánh cho Giám Mục của Constantinople. Mọi sự khởi đầu từ công đồng Laodicea năm 363. Kế đó, Đức Giáo Hoàng Đamasô I yêu cầu Thánh Giêrônimô dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh vào năm 382. Cuối cùng, Thượng hội đồng Hippo (393) và Carthage (397) đã quyết định dứt khoát sách nào được giữ.

 

Mục đích của việc quy điển hoá Kinh Thánh là nhằm loại bỏ mọi tác phẩm sai trái cũng đang được lan truyền phổ biến lúc bấy giờ, và có quy chuẩn rõ ràng để hướng dẫn các nhà thờ sách nào được đọc trong Thánh lễ, sách nào không.

 

Hội Thánh tin xác quyết rằng quá trình tập hợp Sách Thánh này thật sự được hướng dẫn bởi chính Chúa Thánh Thần. Hội Thánh xem Kinh Thánh như tác phẩm của chính Thiên Chúa, được Chúa ban cho Hội Thánh.

 

Theo Philip Kosloski, Aleteia

Gioakim Nguyễn dịch

Read More
23Tháng Sáu
2020

Một người có thể được lãnh bí tích xức dầu bao nhiêu lần?

23/06/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Một người có thể được lãnh bí tích xức dầu bao nhiêu lần?

Một người có thể lãnh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân nhiều lần trong suốt cuộc đời. Trong lúc tuổi già hoặc bất cứ khi nào trải qua một cuộc phẫu thuật, có bạo bệnh đe dọa tính mạng hoặc trong tình trạng nghiêm trọng, người đó thích hợp để lãnh nhận bí tích Xức Dầu. Về phương diện mục vụ, đối với người đau yếu hoặc không đi lại được, bí tích nên cử hành cho họ sáu tháng một lần. Nhiều người Công Giáo đau bệnh phải nằm nhà có một bộ “chăm sóc kẻ liệt”. Bộ đồ này gồm có một cây thánh giá, một cây nến, khăn trải bàn thờ và nước phép. Khi linh mục đến thăm kẻ liệt trong nhà, những vật dụng này sẽ được đặt trên bàn để chuẩn bị cho việc Rước Lễ và Xức Dầu, thường là vào ngày thứ Sáu đầu tháng.

Truyền thống rước lễ vào ngày thứ Sáu đầu tháng bắt nguồn từ mặc khải tư về Thánh Tâm Chúa Giêsu cho thánh nữ Margaret Mary, một nữ tu dòng Thăm Viếng hồi thế kỷ mười bảy. Một phần của mặc khải này yêu cầu phải rước lễ vào chín thứ Sáu đầu tháng liên tiếp. Việc linh mục mang dầu thánh và bí tích Thánh Thể cho người đau ốm là một cử hành rất truyền thống. Linh mục sẽ thắp nến, vì bất cứ khi nào có Thánh Thể Chúa hiện diện thì nên có ít là một ngọn nến được thắp lên trong khi cử hành. Nước phép được rảy để nhắc nhở người đó rằng họ được mời gọi để nên thánh trong bí tích Rửa Tội. Cuối cùng, khăn thánh được sử dụng để đặt hộp đựng Mình Thánh, trong đó có Thánh Thể Chúa. Sau đó, vị linh mục có thể nghe người đó xưng tội, cử hành bí tích Xức Dầu và trao Mình Thánh Chúa cho họ. Cách chung, người bệnh cảm nhận được sự nâng đỡ của Chúa Giêsu và Giáo Hội, nhiệm thể Chúa Kitô qua các cuộc thăm viếng như vậy.

Các cử hành chung của bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân diễn ra trong nhà thờ giáo xứ, thường là một hoặc hai lần một năm. Những cử hành này rất quan trọng vì đó có thể là lần duy nhất mà những người đau ốm (hay kẻ liệt) có thể đến với Giáo Hội. Một chăm sóc đặc biệt luôn được thực hiện với các y bác sĩ của giáo xứ và những thành viên của một nhóm sẵn sàng trong trường hợp khẩn cấp. Cử hành bí tích Xức Dầu chung là một cách thế tuyệt vời để nâng đỡ người già, người đau yếu và cho họ biết rằng không chỉ có Thiên Chúa mà còn cả cộng đoàn, là nhiệm thể Chúa Kitô, chăm sóc họ.
Thánh Phaolô nhấn mạnh một hình ảnh loại suy rất đẹp về Giáo Hội như là nhiệm thể mà Chúa Kitô là đầu, và những người được rửa tội là thân thể. Khi một trong các thành viên của cơ thể bị bệnh, thì toàn bộ cơ thể bệnh. Đây là lý do tại sao Giáo Hội quan tâm chăm sóc người già và người đau bệnh. Việc xức dầu bệnh nhân trong thánh lễ tại nhà thờ giáo xứ nhấn mạnh đến trách nhiệm của cộng đoàn và đến việc thiêng liêng của lòng thương xót để cầu nguyện cho người đau bệnh. st

Read More
23Tháng Sáu
2020

Điều Gì Làm Cho Một Cuộc Hôn Nhân Thành Sự?

23/06/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Điều Gì Làm Cho Một Cuộc Hôn Nhân Thành Sự?

Để hôn nhân trở thành bí tích thành sự (valid), theo nghĩa Công Giáo, hôn nhân đó phải là hôn nhân giữa hai người Kitô hữu (Nam và Nữ) đã được rửa tội và chưa từng kết hôn (một cách thành sự) trước đó, ngoại trừ trường hợp người phối ngẫu (vợ hoặc chồng) đã chết. Có những miễn trừ hoặc chuẩn nhận chính đáng có thể làm cho hôn nhân thành sự trong các trường hợp khác. Chẳng hạn, một người Công Giáo có thể kết hôn với một người theo đạo Tin Lành đã được rửa tội và hôn nhân đó vẫn thành sự như thường với điều kiện là cặp vợ chồng đó được Giáo Hội Công Giáo chuẩn bị, người Công Giáo hứa sẽ giáo dục con cái từ cuộc hôn nhân này theo đạo Công Giáo, và có phép chuẩn từ Tòa Giám Mục giáo phận. Khi hoàn tất các thủ tục này, hôn nhân đó có thể được cử hành trước sự chứng kiến của Giáo Hội Công Giáo và thành sự.

Trong hôn nhân Công Giáo luôn có hai điều cần xem xét: một là phía dân sự, giấy đăng ký kết hôn; và hai là bí tích, hay giao ước. Hôn nhân Công Giáo, khi được vị đại diện hữu hiệu của Giáo Hội chuẩn bị, chẳng hạn linh mục hoặc phó tế, phải bao gồm cả hai khía cạnh này của hôn nhân. Một cuộc điều tra hôn phối bao gồm lý lịch của cả hai ứng cử viên bí tích hôn phối được thực hiện. Ở bên Mỹ, đôi bạn thường phải làm một bài trắc nghiệm điều tra, được gọi là FOCCUS. Trắc nghiệm khách quan này sẽ giúp thừa tác viên tư vấn cho đôi bạn về một số khía cạnh quan trọng trước khi kết hôn. Nó cũng đánh giá mức độ hòa hợp của họ. Tiếp theo, đôi bạn có thể tham dự một khóa tĩnh tâm cuối tuần dành cho người chuẩn bị kết hôn (tiền hôn nhân). Các chương trình chuẩn bị hôn nhân này giúp cho đôi bạn thêm hiệp thông và hiểu biết lẫn nhau.

Cuối cùng, linh mục hoặc phó tế hoàn tất thủ tục điều tra và thu thập tất cả các tài liệu quan trọng theo yêu cầu của Giáo Luật, chẳng hạn, giấy chứng nhận Rửa Tội, Thêm Sức, và nếu cần, giấy miễn chuẩn ngăn trở hoặc giấy phép kết hôn cần thiết từ Đức Giám Mục cho ứng viên hôn phối ngoài Công Giáo hoặc một người đã kết hôn trước đó. Các giấy chứng nhận này phải được cấp trong khoảng một năm trở lại đây. Giấy chứng nhận Rửa Tội mà mẹ bạn cất giữ lâu nay không được tính, ít nhất là theo quan điểm của Giáo Luật. Mỗi khi người Công Giáo lãnh nhận một bí tích, giáo xứ mà họ được rửa tội trước đây sẽ được thông báo. Khi liên hệ với giáo xứ nơi họ được rửa tội, họ nhận được giấy chứng nhận không chỉ có thông tin ở mặt trước như trong hồ sơ gốc (tên của người rửa tội, tên của cha mẹ ruột và cha mẹ đỡ đầu, ngày sinh, ngày rửa tội ) mà mặt sau còn liệt kê tất cả các bí tích mà họ nhận được cho đến trước khi giấy chứng nhận được cấp. Vì hầu hết người Công Giáo được rửa tội từ nhỏ, nên bạn sẽ không thấy bất kỳ ghi chú nào ở mặt sau của giấy chứng nhận rửa tội gốc của họ đề cập đến bí tích Hôn Phối hoặc Truyền Chức Thánh. Nếu một người nam hoặc nữ đã kết hôn trước đó, giáo xứ mà họ được rửa tội sẽ được thông báo, và thông tin đó sẽ xuất hiện trên tất cả giấy chứng nhận rửa tội được cấp kể từ thời điểm đó. Đó là lý do tại sao các tài liệu này không thể quá hạn một năm.

Hôn nhân Kitô giáo không chỉ là bí tích, mà còn là một hợp đồng pháp lý trong luật dân sự. Hợp đồng hoặc giấy đăng ký kết hôn được chứng nhận từ phía nhà nước hoặc địa phương nơi cô dâu hoặc chú rể sinh sống. Cô dâu và chú rể, cùng với một người làm chứng, chỉ cần điền đầy đủ thông tin vào mẫu đăng ký thích hợp tại các ủy ban nhân dân xã, phường, hoặc thị trấn cứ trú của một trong hai bên.

Read More
14Tháng Sáu
2020

Chúa Giêsu hiện diện bao lâu trong Bánh Thánh sau khi ta rước lễ?

14/06/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Chúa Giêsu hiện diện bao lâu trong Bánh Thánh sau khi ta rước lễ?

Gia sản quý báu nhất mà Giáo Hội Công Giáo có được chính là bí tích Thánh Thể – là chính Chúa Giêsu ẩn mình trong chất thể bánh rượu. Chúng ta xác tín, “Trong bí tích Thánh Thể cực trọng hiện diện “mình và máu, cùng với linh hồn và thần tính, của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và vì vậy, Đức Kitô được ẩn chứa cách đúng đắn, chân thật và bản thể.” (Giáo lý điều 1374)

Sự hiện diện này của Chúa Kitô không chấm dứt ngay lập tức khi ta rước lễ. Giáo lý dạy thêm rằng “Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể bắt đầu vào thời điểm truyền phép và kéo dài bao lâu chất thể Bánh Rượu còn tồn tại.” (Giáo lý điều 1377)

Vậy điều đó có ý nghĩa thế nào với chuyện ta rước Người vào miệng? Sự hiện diện thật sự của Người trong cơ thể ta sẽ kéo dài bao lâu?

Có một câu chuyện nổi tiếng trong cuộc đời của Thánh Philipphê Nêri có thể giúp ta trả lời thắc mắc trên. Một ngày kia, khi Thánh Philipphê Nêri cử hành Thánh lễ, có một người đàn ông rước lễ và rời khỏi nhà thờ sớm. Người đàn ông có vẻ không quan tâm gì đến Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể, nên Thánh Philipphê quyết định sử dụng cơ hội này để dạy một bài học. Ngài sai hai cậu giúp lễ cầm hai cây nến cháy đi theo người đàn ông kia ra khỏi nhà thờ. Sau khi đi qua vài con đường của thành Rôma, người đàn ông phát hiện hai cậu giúp lễ cứ tò tò đi theo mình. Bối rối quá, ông ta bèn quay lại nhà thờ và hỏi Thánh Philipphê Nêri cho rõ lý do của chuyện đó. Thánh nhân đáp: “Chúng tôi phải tôn kính đúng mức đối với Chúa chúng ta, Đấng mà ông đang mang trong mình ông. Bởi ông xao lãng việc tôn thờ Người, tôi phải gửi hai cậu lễ sinh này đi để làm điều đó thay ông.” Người đàn ông kinh ngạc với lý do này, và từ đó về sau nhất quyết tôn kính Chúa Thánh Thể cho xứng đáng sau khi rước lễ.

Có thể tin rằng chất thể Bánh Thánh Thể tồn tại trong 15 phút sau khi vào miệng ta. Đó là theo sinh lý tự nhiên, và căn cứ vào giáo lý điều 1377, sự hiện diện của Chúa kéo dài bao lâu Bánh còn tồn tại nguyên hình dạng.

Do đó, nhiều vị Thánh khuyên ta nên dành trung bình 15 phút cầu nguyện sau khi rước Thánh Thể để tạ ơn Chúa. Điều này giúp linh hồn cảm nếm trọn vẹn sự hiện diện của Chúa và có một quan hệ “tim cạnh tim” thật sự với Chúa Giêsu.

Trong thế giới bộn bề ngày nay, xem ra khá khó khăn để ở lại cầu nguyện lâu sau Thánh lễ, nhưng chắc chắn không có nghĩa là chúng ta không thể cầu nguyện một lát. Điều cực kỳ quan trọng là ta ý thức mạnh mẽ về sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Bánh Thánh mà ta ăn vào miệng, tồn tại trong lòng ta nhiều phút, và ban cho ta khoảnh khắc đặc biệt là ta có thể giao tiếp với Chúa và cảm nghiệm tình yêu của Người.

Nếu có ngày nào bạn quên Chúa hiện diện trong bạn mà bỏ khỏi nhà thờ sớm, đừng ngạc nhiên nếu thấy cha xứ cho vài người giúp lễ tò tò đi theo bạn ra xe về nhà nhé.

Theo Aleteia

Gioakim Nguyễn chuyển dịch

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 65
  • Page 66
  • Page 67
  • …
  • Page 79
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.