Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
02Tháng Một
2021

Lễ Kính Thánh Danh Chúa Giêsu có ý nghĩa gì?

02/01/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0
Lễ Kính Thánh Danh Chúa Giêsu có ý nghĩa gì?
 
Ngày 3 tháng 1, phụng vụ sẽ kính Danh thánh Chúa Giêsu. Lễ này có ý nghĩa gì?
 
 
 
Thiết tưởng nên biết rằng với cuộc cải tổ lịch phụng vụ sau công đồng Vaticanô II, lễ kính Danh thánh Chúa Giêsu bị bãi bỏ, nhưng gần đây, với việc phát hành Sách lễ Rôma lần thứ ba (vào tháng 2 năm 2002), thì lễ này lại được du nhập như lễ nhớ nhiệm ý. Để tìm hiểu ý nghĩa của lễ này, chúng ta cần phân biệt ba khía cạnh. Thứ nhất là khía cạnh thần học: Danh thánh Chúa Giêsu có ý nghĩa gì? Thứ hai là khía cạnh lịch sử: lòng tôn kính Danh Thánh Chúa Giêsu trải qua thời đại. Khía cạnh thứ ba là lễ phụng vụ kính Danh Thánh Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ lần lượt đi từng điểm một.
 
 
Dưới khía cạnh thần học, Danh Thánh Giêsu có ý nghĩa gì?
 
Trong nguyên ngữ Do Thái, Giêsu – Jeshua là tiếng tắt của Jehoshua có nghĩa là “Giavê (Thiên Chúa) cứu chữa”. Theo Mt 1,21 và Lc 1,31, đây là tên mà thiên sứ truyền đặt khi Đức Maria bắt đầu mang thai. Thực ra tên này không phải là hoàn toàn mới lạ trong lịch sử Do Thái. Trước đó nhiều người đã mang tên đó rồi, chẳng hạn như ông Giosua (hay Giosuê), người kế vị ông Môsê lãnh đạo dân tộc Israel trên đường vào Đất hứa. Trong gia phả của Đức Giêsu được ghi lại ở Luca 3,29, ta thấy trong hàng tổ tiên cũng đã có người mang tên này. Tuy nhiên, nơi Đức Giêsu Nadarét danh hiệu này biểu lộ ý nghĩa trọn vẹn là “Thiên Chúa cứu chữa” bởi vì Người cứu nhân loại khỏi tội lỗi, đặc biệt nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh. Đức Giêsu được siêu tôn là Chúa, vì vậy khi nghe danh của Người mọi gối đều bái quỳ thờ lạy (Pl 2,10). Dù sao, danh Giêsu không chỉ gợi lên lòng tôn kính nhưng còn được kêu cầu cứu chữa. Thực vậy, chính Người đã khuyến khích các môn đệ hãy dùng danh của Người để cầu xin Chúa Cha (Ga 14,13; 15,16; 16,23): đây chẳng phải là lời bùa chú gì đâu, nhưng trong tục lệ Do Thái, tên gọi tượng trưng cho chính nhân vật mang danh đó. Cầu nguyện nhân danh Đức Giêsu có nghĩa là chính Đức Giêsu sẽ hiện diện với các môn đệ để dẫn họ đến với Chúa Cha. Một cách tương tự như vậy, Người cũng hiện diện với các môn đệ trong bước đường truyền giáo để chuyển ban ơn cứu độ cho những ai tin vào Người nhờ lời giảng dạy (Cv 4,11-12). Vì thế các tín đồ được gọi là “Kitô hữu” có nghĩa “thuộc về Đức Kitô”, hoặc là “những người kêu cầu danh Đức Kitô”.
 
 
Đó là khía cạnh thần học. Bây giờ sang khía cạnh tu đức: lòng sùng kính Thánh Danh có từ bao giờ?
 
Có thể nói được là lòng tôn kính Danh thánh Chúa Giêsu đã xuất hiện ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, như ta thấy chứng tích trong các tác phẩm của các giáo phụ, nhưng chỉ trở nên rầm rộ từ thời Trung Cổ. Sự phát triển việc tôn kính Danh Chúa Giêsu nằm trong bối cảnh của phong trào sùng kính nhân tính của Người, chú ý đến việc chiêm ngắm cuộc đời của Chúa Cứu thế, từ lúc Nhập thể, đến lúc Giáng Sinh, thời thơ ấu, lúc giảng đạo cũng như cuộc Thương Khó, với những cảnh tượng đau thương trên Thập giá. Các nhà thần học và giảng thuyết đã để lại nhiều văn phẩm giải thích ý nghĩa danh Giêsu là Chúa Cứu Chuộc, và từ đó, nhiều lời kinh được sáng tác để cầu xin Người cứu chữa chúng ta khỏi tội lỗi, và các sự dữ. Cách riêng, Thánh Bênađô dựa theo sách Diễm Ca, nói đến “Danh Người như dầu tỏa lan” để giải thích các công hiệu của việc suy gẫm và kêu cầu Danh thánh, đó là nó có sức chiếu sáng nhờ đức tin, có sức nuôi dưỡng tinh thần mỗi khi chúng ta nhớ đến, và có sức chữa trị mỗi khi chúng ta kêu cầu. Không lạ gì mà một bài thánh thi “Jesu, dulcis memoria” được gán cho Thánh Bênađô. Sang thế kỷ XIII, với sự ra đời của hai dòng Đaminh và Phan sinh, việc tôn kính danh Chúa Giêsu được phổ biến trong dân gian nhờ công cuộc giảng thuyết, cách riêng kể từ sau công đồng Lyon năm 1274. Công đồng này truyền phải tỏ lòng tôn kính đối với danh Chúa Giêsu, một cách cụ thể trong phụng vụ phải cúi đầu khi đọc danh cực trọng này. Đức Thánh Cha Grêgôriô X đã ủy thác cho Chân Phước Gioan Vercelli, tổng quyền dòng Đaminh việc chấp hành lệnh của công đồng nhờ các tu sĩ giảng thuyết và cổ động tập tục đó. Dù sao, các nhà giảng thuyết – Đaminh cũng như Phan sinh – không chỉ khuyến khích các tín hữu cúi đầu khi nghe danh thánh Giêsu, nhưng còn cổ động lòng yêu mến danh thánh qua việc khắc tên thánh Giêsu trên thân mình, trên cửa nhà, trên các tường thành, dưới ký hiệu JHS – ba chữ đầu tiên trong tiếng Hy-lạp Jesus nhưng được tán ra tiếng La-tinh là viết tắt của “Jesus hominum salvator” (Giêsu cứu chuộc nhân loại). Trong số những nhà giảng thuyết thời danh phải nhắc đến Thánh Bernardinô Siena (1380-1444). Bên cạnh việc tôn kính qua cử chỉ cúi đầu hoặc khắc tên thánh, nhiều kinh đọc cũng được sáng tác, đứng đầu phải kể Kinh cầu kính Tên Chúa Giêsu.
 
 
Dòng Tên có liên hệ gì với việc kính Danh Chúa Giêsu không?
 
Danh hiệu chính thức của Dòng này là Dòng Chúa Giêsu (Societas Jesu, viết tắt là SJ), nhưng ở Việt Nam được gọi là Dòng Tên. Lịch sử của Dòng này liên hệ mật thiết với việc tôn kính Danh Chúa Giêsu. Thánh Inhaxiô chọn ba chữ JHS làm ấn triện cho dòng mình, và chọn ngày 1 tháng giêng làm bổn mạng của Dòng, bởi vì ngày hôm ấy, người con của Mẹ Maria chịu cắt bì và được đặt tên là Giêsu. Ngôi nhà thờ lớn nhất của Dòng tại Rôma được mang tước hiệu là nhà thờ Chúa Giêsu. Các sử gia ghi nhận rằng vào thời Cải Cách, các nhà thần học Tin Lành thích dùng tước hiệu Kitô; đối lại, các cha Dòng Tên thích nói đến Đức Giêsu. Dù sao, chúng ta đừng nên lẫn lộn giữa Dòng Tên (Societas Jesu, trong tiếng Anh là Company of Jesus) với Hiệp Hội Kính Danh Chúa Giêsu (Confraternitas Sanctissimi Nominis Iesu), một hiệp hội giáo dân cổ động lòng sùng kính danh thánh, do các tu sĩ dòng Đaminh thành lập vào khoảng năm 1401 bên Đức, và một thế kỷ sau đó đã được truyền bá sang Tây ban nha và Bồ đào nha. Năm 1571, hiệp hội này được Đức Thánh Cha Piô V ủy thác cho dòng Đaminh điều khiển. Hội này sớm theo chân các cha truyền giáo Đaminh sang Trung hoa, Nhật bản. Tuy nhiên, nơi mà hội phát triển mạnh mẽ nhất là Hoa kỳ kể từ hậu bán thế kỷ XIX. Năm 1913, Đức Hồng Y Farley ra lệnh rằng mỗi giáo xứ trong tổng giáo phận New York đều phải thành lập một chi nhánh của hiệp hội, và năm 1917, hiệp hội đã có 1 triệu rưỡi hội viên trên toàn lãnh thổ Hoa kỳ, và tăng lên 5 triệu vào năm 1950. Mục tiêu của hội này (Holy Name Society) không chỉ giới hạn vào việc sùng kính danh thánh Chúa Giêsu, nhưng còn tham gia vào công tác tông đồ truyền giáo qua việc truyền bá đạo lý công giáo nữa. Nãy giờ, chúng ta đã nói đến lòng tôn kính Danh Chúa Giêsu nơi dân gian. Bây giờ chúng ta bước sang lãnh vực phụng vụ.
 
 
Lễ kính Danh Chúa Giêsu được ghi vào lịch phụng vụ từ bao giờ?
 
Các Sách Lễ xuất bản vào thế kỷ XV đã có một thánh lễ ngoại lịch kính “danh thánh rất ngọt ngào Chúa Giêsu”, nhưng chưa xác định một ngày lễ kính Danh Chúa. Cha Bernarđinô Busti dòng Phan-sinh (1450-1513) xin Giáo Hoàng Sixtô IV và Innocentê VIII thiết lập một lễ riêng, và cha tự ý soạn bản văn phụng vụ (xuất bản tại Milan năm 1492), nhưng cha không được toại nguyện trước khi qua đời (năm 1513). Mãi đến năm 1530, Đức Clêmentê VII mới cho phép dòng Phan-sinh cử hành lễ kính Thánh Danh hằng năm vào ngày 14 tháng giêng. Từ đó, nhiều dòng tu khác cũng xin phép Toà thánh được mừng lễ đó trong lịch riêng. Non hai thế kỷ sau (vào năm 1721), do lời thỉnh cầu của hoàng đế Đức quốc Karl VI, Đức Thánh Cha Innocentê XIII mới mở rộng lễ này cho toàn thể Hội Thánh, ấn định vào chúa nhật thứ hai sau lễ Hiển linh. Năm 1913, Đức Piô X chuyển sang chúa nhật giữa ngày đầu năm và lễ Hiển linh; năm nào không có thì mừng ngày 2 tháng giêng. Cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1970 đã dẹp lễ kính danh thánh Chúa Giêsu, bởi vì cho rằng lễ này đã được nhớ đến vào ngày 1 tháng giêng rồi, nghĩa là 8 ngày sau lễ Giáng Sinh, khi phụng vụ đọc đoạn Phúc Âm theo Thánh Luca “Khi Hài nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài nhi là Giêsu: đó là tên mà sứ thần đã đặt, trước khi Hài nhi thành thai trong lòng mẹ” (Lc 2,21). Tuy vậy Sách lễ Rôma vẫn duy trì một thánh lễ ngoại lịch kính Danh Thánh Giêsu. Không hiểu vì lý do gì khi Sách lễ Rôma được phát hành năm 2002 thì lại có lễ kính Danh thánh Chúa Giêsu, được ấn định vào ngày 3 tháng giêng (bởi vì ngày mồng 2 đã được dành kính hai thánh Basiliô và Grêgôriô Nazianzênô). Các lời nguyện được soạn lại hoàn toàn chứ không lấy từ lễ ngoại lịch. Lời nguyện chính như sau: “Lạy Chúa, Chúa đã thiết lập ơn cứu rỗi cho nhân loại nơi Ngôi Lời của Chúa Nhập thể, xin thương ban ơn lân tuất cho những ai kêu cầu, ngõ hầu họ nhận biết rằng không có danh nào phải kêu cầu ngoại trừ Danh của Con Một Chúa”. Ta thấy vang lên tư tưởng của Tông Đồ Công Vụ 4,12. Lời nguyện trên lễ vật thì dựa trên Phil 2,10, khi nhắc lại rằng cũng như Đức Kitô đã vâng phục cho đến chết và được ban tặng danh hiệu mang lại ơn cứu rỗi cho mọi người, thì xin cho chúng con được hưởng nhờ công hiệu của hồng ân đó. Sau cùng, kinh nguyện tạ lễ thì xin cho tên của chúng con được viết trên trời nhờ kết hiệp với Chúa Kitô. Như vậy việc kính Tên của Chúa Kitô Đấng Cứu thế cũng mang công hiệu cho tên của chúng ta, đó là nó được viết vào sổ trường sinh trên trời.
 
 
Lm. Phan Tấn Thành, O.P.
Read More
02Tháng Một
2021

8 cách tôn kính Danh Thánh Chúa Giêsu trong tháng Một

02/01/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

8 cách tôn kính Danh Thánh Chúa Giêsu trong tháng Một

 

Tháng Một có ý nghĩa gì đối với người Công Giáo và làm thế nào để tôn vinh ý nghĩa đó trong nhà bạn?

Bạn có biết rằng trong Giáo hội Công Giáo, mỗi tháng trong năm đều có một chủ đề để tôn kính? Tháng Một là tháng kính Danh Thánh Chúa Giêsu, và cũng là thời điểm lý tưởng để củng cố mối liên hệ của chúng ta với danh xưng tuyệt đẹp này của Chúa chúng ta. Thực ra, tất cả các tên gọi đều cần phải được trân trọng. Bạn có biết ý nghĩa tên gọi của bạn? Thật thú vị khi khám phá ý nghĩa ấy. Tên gọi biểu trưng cho phẩm giá của một con người và đặc biệt Danh xưng Giêsu phải được tôn kính ở mức độ cao nhất; chỉ được phép gọi và nghe Danh Thánh Giêsu cách thánh thiêng.

 

Danh xưng tuyệt đẹp “Giêsu” có nghĩa là “Chúa Cứu Chuộc”. Vì vậy, Thánh danh Giêsu không chỉ là tên của Đấng Cứu Chuộc mà còn, theo ý nghĩa của nó, nói lên mục đích sự hiện hữu của Người, nhắc chúng ta nhớ về ơn cứu độ rất đáng kinh ngạc. Do đó, chúng ta hãy dành cho Thánh danh Giêsu một sự tôn kính cao vời! Ngoài ra, chúng ta cũng hãy nhớ rằng Danh thánh Giêsu trong tiếng Aramaic là “Yeshua”. Chúa Giêsu đã được gọi bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình như thế (tên Joshua cũng bắt nguồn từ danh xưng này).

 

Tiếp tục loạt bài hằng tháng trình bày chủ đề Công giáo của mỗi tháng trong cuộc sống của bạn, dưới đây là 8 cách có thể thực hiện để tôn kính Danh thánh Chúa Giêsu trong tháng Một này.

 

  1. CHỐNG LẠI VIỆC KÊU DANH THÁNH CHÚA CÁCH VÔ Ý THỨC

 

Hãy chuyển kênh, tắt tivi hoặc bỏ ra khỏi rạp chiếu phim ngay khi bạn nghe thấy Danh Chúa bị gọi cách vô ý thức, điều mà vốn đã trở nên quá đỗi thường xuyên. Hãy khấn nguyện không bao giờ kêu Danh Thiên Chúa một cách vô ý vô tứ (nghe có vẻ như là một quyết tâm hoàn hảo cho Năm Mới!) và đền bù ngay lập tức nếu bạn vô tình làm hoặc bạn nghe thấy ai đó làm như vậy. Bạn phải đền bù như thế nào? Có thể đọc ngay lời cầu nguyện soạn sẵn đầy cảm hứng này (rất dễ nhớ): “Danh thánh Chúa thật đáng ca ngợi.” Lời cầu nguyện ca ngợi Danh thánh Chúa này – được ban cho nữ tu Marie Thánh Phêrô – cũng là lời cầu nguyện đền bù cho tội báng bổ.

 

  1. CÚI ĐẦU KHI NGHE DANH THÁNH CHÚA GIÊSU

 

Hãy áp dụng thực hành đạo đức (đã từng được phổ biến rộng rãi và phù hợp) là cúi đầu bất cứ khi nào bạn gọi hoặc nghe Danh thánh Chúa Giêsu (giống như chúng ta cúi đầu hoặc quỳ xuống trước Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa trong nhà tạm, hoặc làm dấu Thánh giá khi đi ngang qua một nhà thờ Công giáo). Kinh Thánh cho chúng ta biết: “Khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Phil 2,10). Công đồng Lyons năm 1274 tuyên bố: “Mỗi người nên thực hiện những gì đã được viết cho tất cả chúng ta, đó là khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu, mọi người phải bái quỳ; bất cứ khi nào Danh thánh đó được xướng lên, đặc biệt là trong Thánh lễ, mọi người nên quỳ gối trong lòng mình, điều mà ta có thể làm được ngay cả khi chỉ cúi đầu bên ngoài.” Sự sùng kính này cũng dùng để đền bù cho việc xúc phạm Danh Thánh Chúa.

 

  1. TRANG TRÍ TRÊN TẤM BẢNG CỦA BẠN

 

Trang trí bằng màu trắng (nửa đầu tháng Một là mùa Giáng Sinh theo Phụng vụ, được thể hiện qua màu màu trắng tinh khiết của Phụng vụ) và màu xanh lá cây (nửa cuối tháng Một bắt đầu Mùa Thường Niên với màu Phụng vụ là xanh lá, tượng trưng cho hy vọng như một hạt giống đang nảy mầm) và chữ IHS, được trang trí và đóng khung. Bạn có thể tự làm bằng bút chì màu, hoặc bút đánh dấu màu vàng và bạc. IHS là chữ viết tắt của tên Chúa Giêsu (kết hợp từ các chữ cái đầu tiên của Danh Thánh). Thánh Bernardino, một vị thánh tôn sùng Danh Thánh Chúa Giêsu, luôn giơ cao những chữ viết tắt Tên của Chúa – những kí tự “IHS” (được bao quanh bởi những tia sáng – để tôn kính. Tại sao không thử làm điều này trong chính ngôi nhà của bạn?)

 

  1. CỬ HÀNH LỄ KÍNH DANH THÁNH CHÚA GIÊSU NGÀY 3 THÁNG 1 BẰNG CÁCH THAM DỰ THÁNH LỄ HOẶC CHẦU THÁNH THỂ

 

Khi bạn cầu nguyện, hãy cố gắng chú ý đặc biệt đến những lời này của Kinh Lạy Cha, “Danh Người cả sáng”, và mục đích của việc sống theo lời dạy đó: giúp giữ sự thánh thiêng của Danh Chúa.

 

  1. VIẾT THÁNH DANH CỦA NGÀI LÊN NHÀ CỦA BẠN – ĐÚNG THEO NGHĨA ĐEN

 

Vì Người Con của Mẹ Maria được Ba Vua tôn vinh và thờ kính, chúng ta cũng hãy tôn thờ Ngài như vậy. Đúng nghĩa đen, hãy viết Danh thánh Chúa Kitô trên ngôi nhà của bạn khi bạn cử hành Lễ Hiển Linh! Đối với Lễ Hiển Linh, thật tuyệt vời khi chúc lành cho ngôi nhà của bạn với chữ “CMB” được viết bằng phấn trên cửa trước của bạn, không chỉ là viết tắt của Caspar, Melchior và Balthasar – tên truyền thống của Ba Vua, mà còn tên viết tắt của “Christus mansionem benedicat” (Xin Chúa Kitô chúc lành cho nhà này). Và khi việc chúc lành cho ngôi nhà được hoàn tất, tại sao không thưởng thức một ít Bánh Kem Lễ Hiển Linh, còn được gọi là Bánh Vua ở New Orleans (hoặc Galette des Rois trong tiếng Pháp), để mở ra mùa Mardi Gras dẫn đến Thứ Ba Béo, ngay trước khi bắt đầu Mùa Chay. Công thức làm bánh đã được đăng trực tuyến. Xin click vào đây.

 

  1. XIN SỰ CHUYỂN CẦU CỦA MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE MỖI NGÀY

 

Danh thánh Chúa Giêsu, có nghĩa là Đấng Cứu Chuộc, đã được tỏ lộ cho Thánh Giuse trong giấc mộng và cho Đức Mẹ lúc Truyền Tin. Hãy cầu nguyện với Thánh Giuse và Mẹ Maria để gia tăng tình yêu của bạn với Con của các Ngài, cùng với sự tôn kính của bạn đối với Danh Thánh của Ngài.

 

  1. THÊM MỘT LỜI CẦU NGUYỆN ĐẶC BIỆT TRONG THÁNG NÀY

 

Hãy cầu nguyện hoặc bắt đầu Tuần cửu nhật kính Thánh Bernardine thành Siena, vị thánh có lòng sùng kính đặc biệt đối với Danh Thánh Chúa Giêsu. Hoặc đọc một trong những lời cầu nguyện kính Danh Thánh Chúa Giêsu ở đây. Hoặc đọc kinh Mũi Tên Vàng để đền bù cho những lời báng bổ Thánh Danh cực trọng của Người.

 

  1. HÁT LÊN MỘT BÀI CA NGỢI

 

Hãy lắng nghe (hoặc hát theo) bài thánh ca Công giáo “Khi nghe Tên Thánh Chúa Giêsu” hay “Danh Thánh Đẹp Biết Bao”. Cả hai đều là những bài ca tuyệt vời để ca ngợi và tôn vinh Danh Thánh.

 

Theo Fr Lawrence Lew, O.P (Aleteia) / Lệ Thúy chuyển ngữ

Read More
31Tháng Mười Hai
2020

Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

31/12/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

1-Làm sao biết được Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời? 2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không? 3- Đức Mẹ có nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô hay không?

Assumption-of-Mary.jpg

Trả lời:

1-
 Trong Kinh Tin Kính Nicene   ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và  Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng  Chúa Giê-su Kitô, “ chết, sống lại,  lên trời và ngự bên  hữu Chúa Cha”.

Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế  Cai pha và  trước toàn thể thượng Hội Đồng  thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại  để tìm cách  buộc tội  Chúa với  án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa  xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.

 

Chúa đã trả lời như sau:  “ Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người  ngự bên hữu  Đấng  Toàn Năng và ngự  giá mây trời mà đến.”( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69)

 

Như  thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về  chỗ ngồi  của Chúa Kitô, bên hữu  Chúa Cha  trên Nước Trời  có nguồn gốc vững chắc  là chính lời Chúa  Giê su đã  nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây.

2– Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius  thuộc  Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi  cho rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ  của Chúa Giêsu  về phần nhân tính  mà thôi. Quan điểm lạc giáo này đã  bị Công Đồng Nicaea năm 325  A.D lên án  và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về  sự  đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là,  Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như  Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính ( humanity)  như  mọi  con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau. Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là  Mẹ Chúa  Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos)  như  các Giáo Phụ  dạy  và Giáo Hội sơ khai  đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ  5, (428 A.D) lại được tán đồng  bởi  Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức  Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để  phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos=  God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.

 

Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô  ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để  khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity  và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer)  như Giáo Hội đã dạy không sai  lầm

 

Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh :

 

Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người  chị em họ là  bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được  tràn đầy Thánh Thần,  liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa  ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này  Lc 43: 39- 43)

 

Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng  nên đã thốt ra những lời  trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì  là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).

 

Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa mà chỉ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ  ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh  một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ  lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate)  Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác,  được tôn kính ở mức Dulia.

 

Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa  là  cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết  sống  xứng đáng  là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự  phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ  đang  vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

 

Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì  phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy  Chúa trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính  ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh  nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ,  đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ  để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự  trong nhà tạm.

 

Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Chúa  là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.

3-
 Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?

Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin  Mẹ được diễm phúc  thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác  như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật  đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với  Ba  Ngôi  Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô  như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:

 

“ Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì
 Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.…” ( My Savior)
( Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1: 46-55)

 

Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ  khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như  mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được  giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ  Ngôi Lời nhập thể.

 

Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế  Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì “ ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ.” ( Cv 4 :12)

 

Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ  đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa,  mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.

 

Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều  vì Mẹ đã “ xin vâng” với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc  cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của  Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.

 

Vậy chúng  ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta  được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở  và đánh phá  của ma quỷ ,  cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì  bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta.

 

Lm. Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn.

Read More
11Tháng Mười Hai
2020

Bốn chân dung của Đức Maria

11/12/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Bốn chân dung của Đức Maria

 

Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình.

Một sự hiện diện ngấm ngầm

Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại. Cùng với những phụ nữ khác trong gia đình, bà cũng thấy sốc và ngạc nhiên khi gặp thấy thái độ kỳ lạ và khó hiểu của con ông Giuse người Nadarét (xem Mc 3, 31-35; 6, 3).

Mẹ của Emmanuel

Như Luca, Matthêô dành hai chương đầu cho các trình thuật về thời thơ ấu. Ông nhìn việc thụ thai Đức Giêsu từ quan điểm của Thánh Giuse, nhưng đánh dấu tường thuật của mình bằng một sự cắt đứt quan trọng. Bảng gia phả kết thúc với câu “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, mà từ bà đã sinh ra Đức Giêsu, cũng gọi là Đấng Kitô” (Mt 1, 16). Ta có thể nói thêm rằng, “chỉ” từ mình bà, vì Giuse không được bao hàm trong đó. Sau đó, Đức Maria là người mà Sứ thần của Thiên Chúa nói về bà với Thánh Giuse: bà là vị hôn thê trinh khiết được Thánh Thần thăm viếng và người mà ông phải đưa về nhà, là người mẹ sẽ sinh ra đấng Emmanuel (Mt 1, 20-23) và là người mà ông phải bảo vệ khi dẫn bà sang Ai Cập (Mt 2, 14). Phần còn lại Matthêô theo gần sát với Marcô.

Người đàn bà với Lời trong tâm hồn

Chúng ta nợ ngòi bút của Thánh Luca những trang tin mừng đẹp nhất về Đức Maria: Truyền tin, Thăm viếng, cuộc hạ sinh Đức Giêsu, Dâng Đức Giêsu vào Đền thờ, “cơn điên rồ” của Ngài vào năm 12 tuổi.  Dù rằng nhân vật chính vẫn luôn là Đức Giêsu, song Đức Maria vẫn đóng vai trò hàng đầu.

Trước hết là cuộc Truyền tin (Lc 1, 26-38). Đức Maria, hoàn toàn là một thiếu nữ trẻ, một vị hôn thê, đã có cuộc gặp gỡ rất kỳ lạ. Một tiếng nói đến từ nơi đâu đó, vang đến tận nơi thẳm sâu nhất của mình, làm cô bị xáo trộn hoàn toàn. Gabrien, vị thiên sứ, đã chào cô, báo cho cô một chương trình bất ngờ, điên rồ, một ý định của Thiên Chúa. Mang thai một Người Con, Đấng sẽ được gọi là “Con của Đấng Tối Cao” (c. 32)? Sứ giả của Thiên Chúa nói thế! Thế nhưng “Việc ấy xảy ra như thế nào?” (c. 34). “Như thế nào” chứ không phải “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy?” (Lc 1, 18), như Zacharia đã hỏi, ông cũng nhận được cuộc thăm viếng của sứ thần Gabrien. Ông muốn những bằng chứng trước khi tin rằng một người con trai có thể được ban cho ông vào lúc tuổi đã già. Nhưng Đức Maria thì không thế. Cô thấy câu trả lời của thiên thần rất bí nhiệm song vẫn tin toàn bộ ý định của Thiên Chúa khi nói rằng mình là tớ nữ của Ngài (c. 38). Làm sao từ chối công việc khôn tả của Chúa Thánh Thần trong cô?

Ngay sau đó Đức Maria lên đường. Cô viếng thăm bà chị già của mình, chào bà (Lc 1, 39-45). Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai thân xác, hai người con, tất cả được Chúa Thánh Thần bao phủ. Êlisabét đã nghe tận bên trong tâm hồn lời chúc tụng mà đối tượng là người em họ của mình, sự dễ bảo của cô trước Lời. Bà nhận biết Thiên Chúa cư ngụ trong cung lòng Đức Maria, như thể Thiên Chúa hiện diện trong Hòm Bia ngày xưa.[1]

Khi ấy, tâm hồn Đức Maria hát lên, cô cất tiếng hát bài ca Magnificat (Lc 1, 46-55). Cô không nói gì về việc mình có thai. Cô hét lên vì vui! Thiên Chúa đã đoái nhìn đến cô, người tớ nữ hèn mọn của Ngài, đã ân cần bao bọc lấy cô. Tất cả những ký ức của Israël đổ về trong những lời ngợi khen khi cô nhắc lại những sự kiện cao trọng mà Thiên Chúa làm cho dân mình. Ơn cứu rỗi của Ngài dành cho mọi người song tùy biến theo những cách thức phù hợp với mọi người, người bị bỏ rơi sẽ được kể đến, người bên lề sẽ được ở chỗ nhất. Về phần người giàu có sẽ nhận ân huệ được ra trống không, được làm cho thích hợp để mở mình ra với một Đấng Khác (un Autre), trong sự tự do mới.[2]

Chương 1 của Luca kết thúc bằng bài ca Benedictus của ông Zacharia. Thật đáng dừng lại chậm rãi ở các câu cuối cùng  (cc. 77-79). Dịch đúng với bản văn Hy Lạp sẽ như thế này: “Này con, đứa con nhỏ (nói về Gioan làm phép rửa) […] thật con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết ơn cứu rỗi dành cho dân mình qua sự tha thứ tội lỗi của họ, qua lòng dạ thương xót của Chúa chúng ta mà trong đó Vầng Đông từ trên cao sẽ viếng thăm chúng ta để soi sáng cho những ai ngồi trong âm u và bóng tối sự chết, để dẫn đưa chúng ta đến con đường bình an”. Rồi Đức Giêsu sinh ra (Lc 2,1-7).

Như thế, ơn cứu rỗi chuyển từ lòng dạ thương xót đến bụng dạ Đức Maria. Một thiếu nữ trẻ đơn sơ, qua ân sủng của sự sẵn sàng hoàn toàn đối với Thiên Chúa, cho phép ánh sáng cứu rỗi đi vào những uẩn khúc tối tăm nhất của tâm hồn nhân loại và những cảnh khốn cùng. Ơn gọi làm mẹ Đấng Cứu Thế chắc chắn là độc nhất, nhưng chẳng phải là tất cả chúng ta được mời gọi để biểu lộ trong đời sống chúng ta cũng một ơn cứu rỗi ấy, vì Thiên Chúa vui lòng biết bao khi được nói qua những khuôn mặt, bàn tay và từ ngữ nhân loại sao?

Sau khi các mục đồng thăm viếng, bản văn ghi chú lần đầu tiên – đây không phải là lần duy nhất – Đức Maria làm thế nào để “ghi nhớ tất cả những sự việc ấy trong lòng”, những lời những biến cố về người con của mình  (Lc 2, 19). Mẹ đã gìn giữ Ngôi Lời ở trung tâm hữu thể của mình (mang thai), như người ta gìn giữ ở nơi bí mật những gì quý giá nhất trong kho tàng. Mẹ làm điều đó cách tự nguyện, không phản đối những gì xem ra tăm tối đối với mình, cũng không thờ ơ như những người khác, như Phêrô chẳng hạn, ông đã không chịu nhận lãnh lời loan báo về sự từ chối của mình (Lc 22, 31-33). Và rồi … bốn mươi ngày sau đó, ông Simêon, trong Đền thờ, đã khâu lại toàn bộ ánh sáng, ơn cứu rỗi, vinh quang và đau khổ. Maria đã đón nhận sự xâu xé sắp đến, lưỡi gươm đâm thâu Mẹ như những chiếc đinh đâm thâu vào thân xác con mình sau này (Lc 2, 22-35).

Mười hai năm trôi qua. Giữa Maria và Giuse có một người con, con của họ. Nhưng từ khi trở về từ cuộc hành hương lên Giêrusalem, họ không còn nhận ra đứa con ấy nữa! Bồi hồi, lo lắng, tìm kiếm, trách mắng. Đối với Đức Maria, phải đón nhận một Lời mới, những lời đầu tiên của Đức Giêsu trong tin mừng này. Ngài gọi Cha của mình. Vào thời điểm mà Đức Giêsu đến tuổi trưởng thành tôn giáo, Ngài đã neo cuộc đời mình trong tư thế này và chẳng bao giờ rời xa nữa, tư thế người Con của Chúa Cha.  Đức Maria phải tuân theo, phải nhường con mình cho một Đấng Khác (un Autre). Mẹ không hiểu gì nhưng đã giữ những lời này trong tâm hồn mình (Lc 2, 41-52). Con đường này cũng được đề nghị cho chúng ta, khi chân trời trở nên u ám. Ta tìm thấy Đức Maria ở đây, ở đó, và giữa các môn đệ tụ họp lại sau ngày phục sinh (Cv 1, 14).[3] Con đường của mẹ là con đường của người đàn bà có Lời trong tâm hồn, được làm cho vững mạnh trong sự trung thành, qua những niềm vui và tăm tối, đau khổ và đôi khi chẳng hiểu gì cả.

Người Mẹ phổ quát

Với Tin Mừng Gioan, giọng điệu đã đổi khác, có một chút gây hoang mang. Chiều kích có tính tiểu sử đã biến mất để nhường chỗ cho sự thẳm sâu đi vào mầu nhiệm. Đức Maria không bao giờ được gọi bằng tên, dù rằng Mẹ chiếm một vị trí có tính chiến lược. Bản văn gọi Mẹ là “Mẹ Đức Giêsu”, trong khi Đức Giêsu gọi Mẹ là “Bà”. Có rất nhiều độc giả cảm thấy sốc, nhất là trong bản văn đầu tiên trong hai bản văn có Đức Maria xuất hiện, tiệc cưới ở Cana (Ga 2, 1-12), Đức Giêsu dường như đã hoàn toàn phủ nhận Mẹ mình.

Chúng ta đã nhắc đến vị trí chiến lược phải không?  Điều này đòi hỏi phải giải thích và quay trở lại một chút để hiểu kiến trúc khác thường của Tin Mừng Gioan. Một chuyên viên Kinh Thánh về tin mừng này[4] đã chứng minh rằng những dấu hiệu trong tin mừng thứ tư này được sắp xếp theo một trật tự phong phú lạ thường. Sáu trong bảy dấu hiệu phân tán trong trình thuật Gioan tương ứng từng cặp với nhau như để đưa vào trung tâm một dấu hiệu quý giá nhất, dấu hiệu thứ tư, nói về bánh. Mẹ của Đức Giêsu được kết hợp với dấu hiệu đầu tiên và dấu hiệu thứ bảy. Rượu tiệc cưới Cana, thứ rượu ngon đã được đưa ra nếm “bây giờ”[5] (“anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” – Ga 2,10) là nói về máu được đổ ra trên thập giá (Ga 19, 34). Cấu trúc xếp đặt các dấu hiệu như thế này đã mạc khải về thánh thể; nó đặt bánh và rượu ở những nơi quan trọng. Và ai nói “thánh thể” cũng là nói về “mầu nhiệm phục sinh”.

Nơi Tin Mừng Gioan, thập giá có nghĩa là sự trở về của người Con với Cha mình (Ga 13, 1), sự lên ngôi trong vinh quang trên chiếc ngai thập giá, nhưng cũng là nơi thực hiện sự sinh hạ từ trên cao được loan báo cho Nicôđêmô (Ga 3, 3). Đức Maria hầu như được kết hợp với tất cả những điều này. Ở Cana, không nói gì với Đức Giêsu, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào “tất cả những gì ông ấy nói”, Mẹ đã mở ra dấu hiệu đầu tiên (Ga 2, 5).

Suốt Tin Mừng của mình, Gioan đã gieo những viên đá sỏi, như những viên sỏi của “Petit Poucet”,[6] dẫn đến ngôi nhà mình: sự sinh hạ từ trên cao, Thánh Thần và nước  (Nicôđêmô,  Ga 3, 3.5); nước hằng sống được hứa với người phụ nữ Samari (Ga 4, 14), không là ai khác ngoài Thánh Thần (Ga 7, 37-39); những đau đớn khi sinh nở gợi lên điều sắp xảy ra (Ga 16, 21). Tất cả những điều này dẫn đưa đến thập giá (Ga 19, 25-37). Dưới chân thập giá có một người đàn bà. Người Con của mình đã trối bà làm mẹ của người môn đệ yêu dấu và người môn đệ làm con bà. Trong người môn đệ làm con ấy, tất cả nhân loại nhận lãnh một người mẹ. Người đã sinh Ngôi Lời thành xác phàm (Ga 1, 14) từ nay trở đi là người mẹ phổ quát và trở nên hình ảnh của Giáo Hội. Một người mẹ, một người con được sinh ra, từ nước, từ máu, và Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã phó mình: đó chính là sự sinh ra bởi Thánh Thần và nước![7] Ngôi nhà – thập giá đã trở thành ngôi nhà – sinh hạ. Và những lời trong phần Tựa ngôn đã được hiện thực: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1, 12-13).

Trong biến cố thập giá, có một Người đàn ông bị Philatô phó nộp cho dân chúng (Ga 19, 5) và một Người đàn bà (Ga 19, 26), những nhân vật nhắc lại thảm họa vườn Êden và là những nhân vật làm biến đổi thảm họa ấy.[8] Người đàn ông và Người đàn bà của vết thương đầu tiên trở thành Người đàn ông và Người đàn bà mới; công cuộc Tạo dựng đã đi đến hoàn thành.

Đức Maria hẳn nhiên là một nhân vật có tính thần học rất cao nơi Tin Mừng Gioan. Nhưng cũng chắc chắn rằng không phải do tình cờ mà trình thuật của Gioan đưa những dấu vết của mẹ Đức Giêsu vào trong bức tranh vĩ đại này. Cộng đoàn Gioan, nơi mà truyền thống đã kết hợp cộng đoàn này với Đức Maria, đã gìn giữ kỷ niệm về một người đàn bà hoàn toàn kết hôn với sứ mệnh của con mình. Và vì thế bà ngay bây giờ bà là mẹ của tất cả chúng ta.

BỐ CỤC CẤU TRÚC 7 “DẤU HIỆU” TRONG TIN MỪNG THỨ TƯ

  1. Dấu hiệu 1: nước và rượu (Ga 2,1-12)
  2. Dấu hiệu 2: chữa lành người hấp hối (Ga 4,46-54)
  3. Dấu hiệu 3: chữa lành người tàn tật (Ga 5,1-18)
  4. Dấu hiệu 4: hóa bánh ra nhiều (Ga 6,1-15)

C’. Dấu hiệu 5: chữa lành người tàn tật (Ga 9,1-6)

B’. Dấu hiệu 6: phục sinh người chết (Ga 11,1-4)

A’. Dấu hiệu 7: giấm chua, nước và máu (Ga 19,17-37)

Nguồn: gpquinhon.org

[1] Trình thuật Thăm Viếng được đặt song song với đoạn này nói về vua Đavít chuyển Hòm bia Giao Ước về thành đô Giêrusalem mới (2 S 6, 1-15). Nhiều điểm tương đồng giữa hai bản văn này bộc lộ ý hướng của tác giả tin mừng.

[2] Bản văn Hy Lạp viết rằng “Ngài làm cho người giàu có nên trống rỗng” chứ không phải “làm cho tay người giàu trở nên trống rỗng” (người giàu có trở về tay không). Tuy nhiên, gần như tất cả các bản dịch đều thêm từ “tay”, điều này làm giảm thiểu đi tính tận căn của sự biến đổi được thực hiện. Để đọc rõ hơn về bản văn này, xem Jean Delorme, Au risque de la parole: lire les évangiles, Paris, Seuil, 1991, tr. 190-201.

[3] Sách Tông đồ công vụ cũng được tác giả Tin Mừng Luca viết và là phần tiếp theo của Tin Mừng này.

[4] Marc Girard, “La composition structurelle des sept “signes” dans le quatrième évangile”, Studies in Religion / Sciences Religieuses, 9 (1980), tr. 315-324; Marc Girard, Évangile selon Jean. Structure et symboles Jean 1-9, Vol. 1, Montréal, Médiaspaul, 2017, tr. 27-38.

[5] Động từ “nếm” được chia ở thì parfait, trong tiếng Hy Lạp, để chỉ một hành động được bắt đầu và hiệu quả của nó kéo dài trong thời gian.

[6] “Le Petit Poucet”, chú bé tí hon hay “Ngón tay cái nhỏ bé”, là câu chuyện cổ tích dân gian được Charles Perrault (1628-1703) kể lại. Một người tiều phu nghèo không còn gì để nuôi sống 7 người con. Một đêm kia, khi những đứa con đi ngủ, hai vợ chồng bàn với nhau đem bỏ chúng trong rừng. May thay, đứa con út thường được gọi “Petit Poucet” vì nó nhỏ thó như ngón tay út, đã nghe được cuộc bàn luận. Nó chuẩn bị một túi nhỏ đầy những viên sỏi trắng. Khi các anh em bị đưa vào rừng, nó bỏ những viên sỏi dọc theo đường đi để rồi sau đó các anh em có thể lần theo mà trở về nhà, trong sự vui mừng của mọi người, cả cha mẹ chúng nữa bởi vì ông lãnh chúa vùng ấy đã tha nợ cho tất cả những tiều phu trong vùng khi chúng còn ở trong rừng (chú thích của người dịch).

[7] Xem Pierre Létourneau, “Le double don de l’esprit et la christologie du quatrième évangile”, Science et esprit, 44/3 (octobre – décembre 1992), tr. 281-306.

[8] Marc Girard, “La structure heptapartite du quatrième évangile”, Sciences religieuses 5 (1976), tr. 353.

Tác giả: Anne-Marie Chapleau
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 62
  • Page 63
  • Page 64
  • …
  • Page 78
  • Next page
Bài viết mới nhất
DƯ ÂM CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV TẠI CHÂU PHI
30/04/2026
ASSISI: THƯ CHUNG CỦA HỘI ĐỒNG CÁC BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN PHAN SINH GỬI GIA ĐÌNH PHAN SINH NHÂN KỈ NIỆM 800 NĂM THÁNH PHANXICÔ VỀ TRỜI
30/04/2026
LINH ĐẠO CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP
30/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.