2021
Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk
Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk
Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21?
1656-1680
Tìm Chúa
Ngày 21-10-2012 tại Rôma, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tuyên thánh cho một thiếu nữ 24 tuổi người da đỏ ở Bắc Mỹ, hoa trái của hoạt động truyền giáo của các thừa sai và tử đạo Dòng Tên.
Tiểu sử của chị được hai cha Dòng Tên người Pháp là Pierre Cholenec và Claude Chauchetière, phụ trách giáo điểm Kahnawake, soạn thảo ngay sau khi chị qua đời. Chị sinh năm 1656 tại làng Ossernenon, ngày nay là Auriesville, trong thung lũng Mohawk, tiểu bang New York, Hoa Kỳ.
|
Thung lũng Mohawk (đỏ) Miền bắc tiểu bang New York của Hoa Kỳ, phía đông hồ Ontario, gần biên giới Canada |
Vào thời của chị Tekakwitha, hầu hết các dân tộc bản địa ở khu vực Bắc Mỹ còn bán khai. Chẳng hạn họ giết và ăn thịt người. Cha chị là Kenneronkwa, một thủ lãnh Mohawk, thuộc sắc dân Iroquois, thù nghịch với sắc dân Algonquin sống trên lãnh thổ Canada ngày nay, và rất ghét đạo. Mẹ chị là Tagaskouita thuộc sắc dân Algonquin, theo đạo Công giáo, sinh trưởng và được học với các thừa sai Dòng Tên ở vùng Trois-Rivieres, trên đất Canada hiện nay. Trong một trận tấn công của dân Mohawk, bà bị bắt đem về làng Ossernenon cùng với một số người khác. Tại đây, bà kết hôn với viên thủ lãnh ngoại giáo. Hai người sinh được một con gái (là Tekakwitha) và một con trai. Lúc còn rất nhỏ, chị được mẹ kể chuyện về Chúa Giêsu và dạy đọc kinh. Năm chị 4 tuổi, một cơn dịch giết chết nhiều người trong vùng, trong đó có cha mẹ và em trai của chị. Bản thân chị bị rỗ mặt và mắt rất kém. Mồ côi, chị được cậu và hai dì nuôi dưỡng, theo thói quen mẫu hệ của dân Mohawk.
Sau trận dịch, cậu chị thay cha làm thủ lãnh, đưa dân làng đến định cư ở Caughnawaga, cách làng cũ gần 10 km, hiện nay là Fonda. Như các thiếu nữ Mohawk khác, chị được học may vá thêu thùa, kể cả làm dây thắt lưng bằng da thú. Chị học dệt chiếu, đan giỏ và hộp bằng sậy hay cói. Chị thông thạo chế biến thức ăn từ thú săn được hay từ nông sản. Chị cũng tham gia trồng tỉa hay nhổ cỏ theo thời vụ. Tóm lại, chị được dạy để trở nên một phụ nữ đảm đang trong gia đình. Có một điều hơi khác thường: người ta thấy cô bé Tekakwitha thường hay vào rừng một mình, không biết tại sao. Chị không quên những gì mẹ đã dạy: chị thích ở một mình để nhớ lại những điều mẹ kể và đọc các kinh mẹ dạy. Năm 13 tuổi, theo thói quen trong làng, chị được thúc giục lấy chồng, nhưng chị không chịu. Đây là điều lạ thường đối với các cô gái Mohawk.
Thời ấy dân Mohawk vừa thù nghịch với dân Algonquin vừa thù nghịch với người Pháp ở Canada. Tuy nhiên, họ suy yếu sau nhiều cuộc chiến và nhiều trận dịch. Năm 1673, Cha Lamberville đến dựng một nhà nguyện ở đó, vừa để giúp những người đã có đạo vừa để truyền giáo cho những người chưa theo đạo. Cậu của chị vốn ghét đạo nhưng phải chấp nhận vì sợ người Pháp. Chị đến nhà nguyện đọc kinh, dự lễ và học giáo lý. Lễ Phục Sinh năm 1674, chị được rửa tội với thánh danh Kateri, tức là thánh nữ Catarina.
Sau khi gia nhập Hội Thánh, chị bị chống đối mạnh mẽ từ gia đình đến dân làng. Hằng ngày chị bị trẻ em chế giễu và nhiều khi bị ném đá. Vì chị dành ngày Chúa Nhật để đi lễ và học giáo lý, không làm việc, nên gia đình không cho ăn. Chị bị đe doạ nếu không bỏ đạo sẽ bị đánh và giết. Vừa để tránh những hoạt động thù nghịch, vừa muốn hoàn toàn dâng mình cho Chúa, theo lời khuyên của cha phụ trách giáo điểm, 6 tháng sau ngày được rửa tội, chị cùng với mấy người quen trốn khỏi nhà, đi bộ hơn 2 tháng, vượt rừng vượt suối, băng qua hơn 320km đến giáo điểm Thánh Phanxicô Xaviê ở Sault Saint-Louis theo cách gọi của người Pháp, hay Kahnawake theo cách gọi của thổ dân, ngay cạnh thành phố Montreal. Giáo điểm này được các thừa sai Dòng Tên thành lập để truyền giáo cho dân Algonquin. Vào lúc thánh Kateri Tekakwitha đến, đời sống đạo ở giáo điểm đã khá ổn định. Chị đến ở nhà dài của bà Anastasia Tegonhatsiongo, một người bạn thân của mẹ chị, bên bờ sông Saint-Laurent. Cùng ở với bà Anastasia có một vài thiếu nữ khác: họ sống với nhau như một cộng đoàn nữ tu, nhưng không có tổ chức chi hết.
|
Kahnawake (đỏ) ở phía nam sông Saint-Laurent, phía đông hồ Saint-Louis bên kia sông là Montreal, thành phố đông dân thứ nhì ở Canada hiện nay |
Ngài Thuộc trọn về Chúa
Ở Kahnawake, ngay lập tức đời sống của chị được mọi người khen ngợi. Chị chăm chỉ đến nhà thờ đọc kinh dự lễ, nhiều khi ở một mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể lâu giờ. Chị siêng năng lần hạt Mân Côi và lúc nào cũng đeo tràng hạt ở cổ. Chị hiền lành, ít nói, chăm làm, hay giúp đỡ người khác. Lễ Giáng Sinh năm 1677, chị được rước lễ lần đầu.
Khẩu hiệu của chị Kateri là: “Ai sẽ cho tôi biết điều gì đẹp lòng Chúa nhất để tôi thực hiện?” Ngoài các việc đạo đức, chị thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ những người già cả và đau yếu trong làng. Chị cũng chỉ bảo các em bé về giáo lý và cầu nguyện theo như chị hiểu. Một thú vui của chị là trồng những cây Thánh Giá bằng gỗ trong rừng để nhắc nhở mình cũng như mọi người về việc cầu nguyện.
Cả ở Kahnawake, áp lực về hôn nhân vẫn còn. Ngày 25-3-1679, sau khi hỏi ý kiến cha phụ trách, chị tuyên khấn trọn đời sống khiết tịnh. Đây là điều chưa từng có trong các thổ dân địa phương. Chị muốn thuộc riêng và thuộc trọn về Chúa Giêsu. Cha Cholenec thuật lại lời chị: “Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con đã quyết định từ lâu rồi. Con muốn hiến thân trọn vẹn cho Chúa Giêsu, con của Mẹ Maria. Con chọn Người làm chồng, và chỉ mình Người cưới con làm vợ thôi.” Các cha đề nghị với các phụ nữ đạo đức một vài việc hãm mình nhỏ, không ngờ họ đi xa hơn nhiều. Do lòng đạo đức và quan niệm riêng, bà Anastasia hướng dẫn chị cũng như những người khác làm nhiều việc khổ chế để đền tội cho dân tộc mình và cầu nguyện cho dân tộc mình theo đạo.
Trong số những người bạn cùng sống ở nhà dài với chị có Maria Têrêxa Tegaiaguenta. Hai người gặp nhau lần đầu vào mùa xuân năm 1678. Vì lòng đạo đức, cả hai cùng bắt đầu bí mật đánh tội. Cha Cholenec sau này cho biết là mỗi lần họ dùng dây tua đánh tội từ 1.000 đến 1.200 cái. Chị Kateri đã thực hành như vậy hằng ngày cho đến chết. Một chị khác tên là Maria Skarichions cho biết về đời sống và hoạt động của các nữ tu. Họ quyết định cùng nhau xin cha phụ trách cho lập một dòng nữ. Các cha Dòng Tên cho là chưa thích hợp nên ngăn cản. Khi chị Maria Têrêxa rời nhóm, chị Kateri trở thành “thủ lãnh” của nhóm. Chị thường khuyên: (1) hãy can đảm, bất chấp những lời nói của những người không có đạo; (2) vững tin là chúng ta sống đẹp lòng Chúa và tôi sẽ giúp chị khi tôi lên với Chúa; (3) đừng bao giờ bỏ việc khổ chế.
Làng Kahnawake hiện nay
|
Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở đền Thánh Anna tại Baupré, Canada |
Vì thường xuyên hãm mình và khổ chế, sức khoẻ của chị Kateri suy giảm nhanh chóng. Đến Tuần Thánh năm 1680, chị kiệt sức. Cha Cholenec thuật lại buổi chiều Thứ Tư Tuần Thánh:
“3 giờ chiều, chuông nhà nguyện đổ để tập họp cộng đoàn, vì nhiều người muốn có mặt khi chị tắt thở. Chị thấy mọi người hiện diện đông đủ. Mọi người quỳ gối cầu nguyện. Sau nửa giờ ngắn ngủi, chị nói những lời cuối cùng: ‘Iesos! Wari!’ (Giêsu! Maria!) Rồi chị hơi nhép miệng bên phải. Chị ra đi như thể nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ và một lúc lâu chúng tôi chưa biết chị còn sống hay đã chết. Ít phút trước 4 giờ, khuôn mặt chị biến đổi trở nên rất xinh đẹp, tươi cười và rạng rỡ… Chị đã từ giã dân làng để lại hương thơm đức hạnh và thánh thiện. Mấy tiếng sau, trong lễ đưa chân, tôi nhắc mọi người về kho báu Chúa đã tặng cộng đoàn… Chị Kateri đã chết như chị đã sống, nghĩa là một vị thánh. Ai cũng tiên đoán một người đã sống như vậy thì sẽ chết thế nào, vì chị đầy ơn Chúa Thánh Thần…”.
Trên mộ chị Kateri, các cha phụ trách cho ghi dòng chữ: “Bông hoa xinh đẹp nhất xưa nay nở giữa dân da đỏ”. Cha Chauchetiere cho xây một nhà nguyện gần mộ chị. Từ năm 1684, khách hành hương bắt đầu đến cầu nguyện với chị.
Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21? Dường như giữa ngài với chúng ta không có một liên hệ nào. Tuy nhiên, trong một thế giới tục hoá, giữa bao nhiêu tiến bộ khoa học và ký thuật vẫn đầy mâu thuẫn này, hình như khuôn mặt đơn sơ và thánh thiện của ngài vẫn có thể thu hút và gợi hứng cho những người đang đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa, xây dựng một thế giới công bình và hoà bình.
Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở
Vương Cung Thánh Đường Chính Tòa giáo phận Santa Fe, Mêhicô
+ Gm. Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ
2021
Kinh nguyện gia đình: Lòng đạo đức bình dân trong mùa đại dịch
Để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, một phương thế được đặt ra: hạn chế tiếp xúc với người khác, có quan chức còn mạnh dạn đề nghị: “hãy coi người đối diện như người đang là F0”. Vâng dịch COVID-19 làm cho người ta sợ hãi và ngại tiếp xúc với nhau, tuy nhiên, người Kitô hữu chúng ta được sinh ra trong lòng Giáo hội, một cộng đoàn được Chúa quy tụ, chúng ta không thể không gặp gỡ Đức Kitô mỗi giây phút trong cuộc đời của chúng ta, bởi đức tin của người Kitô hữu hệ tại ở việc gặp gỡ Đức Kitô, vì Người là nguyên lý của sự sống, là cội nguồn của ơn cứu độ và là nền tảng của sự hiệp thông Giáo hội. Vì thế, mỗi gia đình Kitô hữu là môi trường để các thành viên trong gia đình gặp gỡ Đức Kitô qua kinh nguyện gia đình.
Vâng, hơn bao giờ hết, chính lúc này đây, các bậc làm cha mẹ phải làm cho gia đình trở thành cộng đoàn cầu nguyện qua việc cử hành kinh nguyện trong gia đình. “Quả vậy, trong Hội thánh tại gia, mục đích quan trọng của kinh nguyện là bước dẫn nhập tự nhiên cho trẻ em bước vào kinh nguyện phụng vụ của toàn thể Hội thánh, vừa chuẩn bị chúng đi vào kinh nguyện phụng vụ vừa mở rộng vòng kinh nguyện này vào trong lĩnh vực đời sống cá nhân, gia đình và xã hội”[1].
Kinh nguyện gia đình có những đặc tính riêng. Đó là kinh nguyện chung: vợ chồng cùng cầu nguyện với nhau, cha mẹ và con cái cùng cầu nguyện với nhau qua hai hình thức: kinh nguyện của Giáo hội gọi là Phụng vụ, hay kinh nguyện vay mượn những sắc thái đặc thù thuộc tinh hoa của một dân tộc hay một sắc tộc, nghĩa là thuộc văn hoá của họ được gọi là: lòng đạo đức bình dân.
Mặc dầu Phụng vụ là đỉnh cao trong lĩnh vực phụng tự của đời sống tín hữu và không có một hình thức cầu nguyện nào khác có thể so sánh được, nhưng các hình thức cầu nguyện thuộc hình thức “lòng đạo đức bình dân” cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người tín hữu kết hợp mật thiết với Chúa, qua cuộc gặp gỡ được diễn tả bằng những lời kinh, những tâm tình phù hợp với từng hoàn cảnh, ngôn ngữ và văn hoá của người tín hữu; nó khơi lên lòng đạo đức qua việc thực thi lời dạy dỗ của thánh tông đồ: “Hãy cầu nguyện không ngừng” (1Tx 5,17). Và như thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II khẳng định rằng, lòng đạo đức bình dân như là “kho tàng đích thực của dân Thiên Chúa”[2]. Bởi đó, các Giáo hội địa phương phải nỗ lực duy trì, cổ võ lòng đạo đức bình dân nơi hết thảy mọi người Kitô hữu.
Để đối phó với tình trạng giãn cách xã hội, không được tụ tập tại Nhà thờ nhằm tránh lây lan dịch bệnh, các gia đình Kitô hữu chúng ta phải cổ võ không ngừng đời sống cầu nguyện thuộc lĩnh vực lòng đạo đức bình dân như là phương thế hữu hiệu để nuôi dưỡng đức tin tại gia đình. Điều đó không là gì mới lạ, đó chỉ lập lại những kinh nghiệm lịch sử của một Giáo hội luôn đối diện với nhiều bách hại của những thù nghịch. Lịch sử chứng nhận rằng, đức tin của người tín hữu đã được nâng đỡ bởi những hình thức và thực hành đạo đức[3]. Lịch sử chung của Giáo hội toàn cầu cũng như lịch sử riêng của Giáo hội Việt Nam. Một thí dụ: nếu như không có lời kêu gọi khẩn thiết của Đức Giáo hoàng Piô V đến với mọi Kitô hữu trên thế giới về việc lần chuỗi Môi khôi để cầu xin cho cuộc chiến giữa đạo quân Hồi giáo và đạo quân Thánh giá, thì làm gì có cuộc chiến thắng lịch sử của đạo binh Thánh giá tại vịnh Lepante, vào 07/10/1511; hay là nếu không có những hình thức phụng tự được trình bày đơn sơ thuộc lĩnh vực lòng đạo đức bình dân, thì làm sao Giáo hội Việt Nam có thể đứng vững vượt qua cơn gian lao thử thách trong gần 300 năm? Quả thật “những thách đố nghiêm trọng mà thế giới phải đương đầu khi bước vào ngàn năm thứ mới, khiến chúng ta nghĩ rằng chỉ có sự can thiệp từ trên cao, có khả năng hướng dẫn tâm hồn những người sống trong những hoàn cảnh xung đột và những người nắm giữ vận mệnh các quốc gia, mới có thể cho chúng ta lý do để hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn”[4]. Sự can thiệp từ trên cao đến được từ những lời cầu nguyện đơn sơ được thể hiện trong những hình thức cầu nguyện thuộc lòng đạo đức bình dân, như chuỗi Môi khôi.
Mong sao việc đọc kinh tại gia đình được các gia đình Kitô hữu nghiêm túc thi hành, vì “gia đình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sứ mệnh trở nên tế bào đầu tiên và sống động của xã hội. Gia đình sẽ chu toàn được sứ mệnh đó nếu gia đình tỏ ra như một đền thờ của Giáo hội trong nhà mình nhờ yêu thương nhau và cùng nhau dâng cầu nguyện lên Thiên Chúa”[5]. Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II cũng khẳng định tầm quan trọng của việc đọc kinh chung trong gia đình. Bởi khi các thành viên trong gia đình cùng “đưa mắt hướng về Đức Kitô, cũng sẽ tìm lại được khả năng nhìn thẳng vào mắt nhau, tỏ tình liên đới, tha thứ cho nhau, và nhìn thấy giao ước tình yêu của họ được đổi mới trong Thần Khí của Thiên Chúa”[6].
Ngoài ra cần cổ súy giờ kinh nguyện gia đình cũng nên chú tâm vào trong việc cử hành Phụng vụ Các giờ kinh “vì đó là kinh nguyện công khai của Giáo hội, là nguồn mạch lòng đạo đức và là lương thực nuôi dưỡng kinh nguyện riêng”[7]. Trong việc khích lệ và bảo tồn lòng đạo đức bình dân, người tín hữu cần được chỉ dẫn cho biết về sự hiệp nhất trong Giáo hội, mọi hình thức phụng tự nên qui về cái chung hơn cái riêng. Trung tâm điểm của các hình thức phụng tự phải qui về chính là mầu nhiệm Chúa Kitô. Bởi đó việc đọc Các giờ kinh Phụng vụ vừa đáp ứng được tâm tình cầu nguyện riêng tư vừa cùng với Giáo hội cử hành hành vi Phụng vụ, tột đỉnh của mọi hình thức cầu nguyện. Quả thật, “Phụng vụ Các giờ kinh không phải là một hoạt động cá nhân hay riêng tư nhưng ‘thuộc về toàn thể Thân Mình Giáo hội[..]. Vì thế nếu các tín hữu được triệu tập để cử hành Phụng vụ Các giờ kinh và tụ tập cùng nhau hợp lòng hợp tiếng thì họ đang diễn tả Giáo hội đang cử hành mầu nhiệm Chúa Kitô’. Sự chú ý đặc biệt đến kinh nguyện phụng vụ này không tạo ra căng thẳng với kinh nguyện bản thân. Trái lại, Phụng vụ Các giờ kinh giả định và đòi phải có kinh nguyện bản thân liên kết tốt đẹp với các hình thức khác của kinh nguyện cộng đồng nhất là nếu các hình thức ấy được Giáo quyền nhìn nhận và khuyến khích”[8].
Khi mà cả xã hội Việt Nam đang căng mình ra chống dịch covid-19, chúng ta, những Kitô không những nỗ lực cộng tác với toàn thể xã hội chống dịch theo khả năng, đóng góp công sức ủng hộ phòng chống dịch, nhưng chúng ta còn phải ý thức về đức tin công giáo của mình. Hãy nhớ lời Chúa phán: “không có Thầy, các con không làm được gì” (Ga 15, 5). Vì thế, chúng ta hãy chuyên chăm cầu nguyện trong từng gia đình của chúng ta, thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nhắc nhở: “phẩm giá và trách nhiệm của gia đình Kitô hữu, xét như Hội thánh tại gia, chỉ có thể được sống với sự trợ giúp liên lỉ của Thiên Chúa, và sự trợ giúp này sẽ không bao giờ thiếu nếu người ta biết cầu nguyện khẩn xin với lòng tin cậy và khiêm tốn”[9].
(Trích tài liệu thường huấn dành cho giáo dân tháng 7/2021, Ủy ban Giáo Dân / HĐGMVN)
[1] Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Tông Huấn Familiaris Consortio, ban hành ngày 22/11/1981, số 61.
[2] Gioan-Phaolô II, Bài giảng trong phần cử hành Lời Chúa tại La Serena (Chile), 2 trong: Insegnamentali di Gioavanni Paolo II, X/1 (1987), cit., tr. 1078.
[3] Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật bí tích, Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ, số 11.
[4] Gioan-Phaolô II, Tông thư Rosarium Virginis Mariae, ban hành tại Roma ngày 16/10/2002, số 40.
[5] Công Đồng Vat. II , Sắc lệnh Tông đồ giáo dân (AA), số 11
[6] Gioan- Phaolô II, Tông thư “Rosarium Virginis Mariae”, số 41.
[7] Công đồng Vat. II, Hiến chế về Phụng vụ thánh (SC), số 90.
[8] Gioan-Phaolô II, Tông thư kỷ niệm 40 năm ban hành Hiến chế Thánh Công đồng về Phụng vụ thánh, số 14.
[9] Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Tông Huấn Familiaris Consortio, ban hành ngày 22/11/1981, số 61.
2021
Ngợi khen Thiên Chúa vì Thánh Cả Giuse
Ngợi khen Thiên Chúa vì Thánh Cả Giuse
Các nhà thần học phân biệt các loại thờ kính. Họ dành cho Thiên Chúa sự tôn sùng – gọi là Latria – sự phụng thờ. Đối với Mẹ Maria thì đó là Hyperdulia— sự tôn kính cao vời. Đối với các vị thánh thì đó là Dulia – sự tôn kính. Cuối cùng, Thánh Giuse nhân hậu có một dạng sùng mộ và tôn kính đặc biệt gọi là Protodulia—có nghĩa là, sự tôn kính hàng đầu! Theo một nghĩa nào đó, Thánh Cả Giuse có một đẳng cấp riêng cho mình, do sự thánh thiện, sự cao cả và sứ mệnh cao vời của Ngài!
Thánh Bernadette thành Siena và Thánh Phanxicô Salêsiô chỉ ra rằng Thiên Chúa sẽ luôn ban cho mỗi người những ân sủng cụ thể cần thiết để thực hiện sứ mệnh hoặc ơn gọi cụ thể của họ trong cuộc sống, một cách trung tín. Bí tích Hôn phối sẽ ban cho đôi vợ chồng đầy đủ ân sủng để yêu thương nhau cho đến khi họ lìa đời, chung thủy cho đến cuối cùng, chấp nhận và nuôi dạy con cái trong sự kính sợ Thiên Chúa và yêu mến thánh ý Ngài. Bí tích Truyền Chức Thánh sẽ giúp con người thi hành nhiệm vụ linh mục là rao giảng, cử hành Hy Tế Thánh Thể trong Thánh Lễ, và giao hòa các linh hồn với Thiên Chúa qua Bí tích Hòa giải với ân sủng và sự trọn lành. Dĩ nhiên những người lãnh nhận các Bí tích ấy phải trung tín, tương ứng với các ân sủng đặc thù liên kết với các Bí tích đó.
Thánh Giuse & Sứ mệnh của Ngài
Vì Thánh Giuse nhân lành đã được mời gọi thực hiện một sứ mệnh cao cả nhất, do đó Thiên Chúa chắc chắn đã ban cho Thánh Giuse những ân sủng tương xứng với sứ mệnh cao cả nhất của Ngài. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ không bao giờ ra lệnh cho bất kỳ ai thực hiện một sứ mệnh – dù là nhỏ bé hay cao cả – mà không ban cho người đó đủ ân sủng để thực hiện sứ mệnh đó một cách trung thành và với tình yêu lớn lao.
Hai nghĩa vụ cao cả của Thánh Giuse trong Sứ mệnh và Ơn gọi Duy nhất của Ngài
Sau Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria, không ai được trao cho một sứ mệnh và ơn gọi cao cả như Thánh Giuse. Trên thực tế, Thánh Giuse đã được trao cho hai trong số những nghĩa vụ cao cả nhất trong lịch sử nhân loại! Đó là những nghĩa vụ nào? Thánh Giuse được mời gọi làm chồng của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Thánh Giuse cũng được Thiên Chúa mời gọi làm cha nuôi của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống. Thật là một sứ mệnh và ơn gọi cao cả của Thánh Cả Giuse nhân lành.
Thế giới tuyệt vời nhất của hai thế giới
Đây chính là trường hợp này, Thánh Giuse cho đến nay vẫn là người chồng tốt lành nhất trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, tất cả những người nam đã chọn ơn gọi cao cả nhất là Hôn nhân Thánh thiện nên khiêm tốn cầu xin Thánh Giuse nhân lành nguyện hay cầu giúp ban ơn để sống trọn ơn gọi làm chồng của họ. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu có người nào đã chọn Bí tích Hôn phối Thánh thiện và khiêm tốn khẩn cầu và kêu xin sự chuyển cầu của Thánh Giuse nhân lành, thì vị Thánh thánh thiện này sẽ ban cho người ấy những ân sủng phi thường.
Thánh Têrêsa thành Avila nói rằng tất cả các vị thánh đều có quyền lực để giúp chúng ta. Tuy nhiên, thánh nữ không bao giờ nói rằng Thánh Giuse đã khiến thánh nữ thất bại khi kêu cầu sự hiện diện linh thiêng của Ngài. Hơn nữa, Thánh Têrêxa nói rằng một số vị thánh trì hoãn việc cầu bầu của các ngài, nhưng với Thánh Giuse nhân lành thì không như vậy. Ngài hành động nhanh chóng và hiệu quả!
Người cha tốt lành nhất trong những người cha
Thánh Giuse không những là người chồng tốt nhất, mà còn là người cha tốt lành nhất trong tất cả những người cha. Một lần nữa, những người nam đã chọn Bí tích Hôn phối Thánh thiện và mở ra cho sự sống, nghĩa là sinh sản và có con, phải cố gắng trở thành những người cha tốt nhất. Vì lý do này, những người nam này phải khiêm tốn kêu cầu Thánh Cả Giuse nhân lành để có được ân sủng thực hiện ơn gọi cao cả làm cha của họ với tình yêu, sự hiến thân, hy sinh và sẵn sàng chịu đau khổ. Nghĩa vụ chính của những người làm cha theo Kitô giáo là giúp con cái, và dĩ nhiên, giúp người vợ của họ về đến quê thiên đàng an toàn.
Đấng bảo vệ vợ & con
Một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời của Thánh Giuse nhân hậu là Ngài không chỉ chu cấp cho Thánh Gia, mà Ngài còn bảo vệ họ. Điều này được thấy rõ nhất khi vua Hêrôđê độc ác và ganh tị ra lệnh loại bỏ tất cả trẻ em nam từ hai tuổi trở xuống ở Bêlem và vùng phụ cận. Hêrôđê đã làm như vậy với nhiều Thánh Anh hài! Tuy nhiên, Thánh Giuse nhân hậu, được một thiên thần cảnh báo trong giấc mơ, đã nhanh chóng chỗi dậy trong đêm khuya lạnh giá, và mang theo cả Mẹ Maria và Chúa Hài đồng chạy trốn sang Ai Cập cho đến khi vua Hêrôđê băng hà và cơn nguy hiểm qua đi.
Thánh Giuse phù giúp chúng ta: những người chồng và người cha
Giờ đây, hơn bao giờ hết, có quá nhiều nguy cơ và hiểm họa cho gia đình, nên chúng ta thực sự cần Thánh Giuse nhân lành hơn bao giờ hết. Chỉ một vài trong số những nguy cơ và hiểm họa tột cùng mà những người cha hiện nay phải đương đầu và chiến thắng với sự giúp đỡ của Thánh Giuse nhân hậu là: chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa khoái lạc, ấn phẩm khiêu dâm, nỗi tuyệt vọng, hoạt động băng đảng, chương trình nghị sự đồng tính, não trạng ly hôn, chủ trương chết êm dịu, thuyết bất khả tri và chủ nghĩa vô thần hung hăng, sự nổi loạn và bất tuân (đặc biệt là ở giới trẻ), chủ trương tự do phóng túng, thuyết tương đối về mặt đạo đức và sự lầm lạc theo số đông.
Giờ đây, hơn bao giờ hết, những người nam được mời gọi sống đời sống gia đình, được mời gọi yêu thương vợ mình, được mời gọi yêu thương và bảo vệ con cái, phải ngước mắt, hướng trí óc, trái tim và linh hồn mình lên Thánh Giuse Vinh Hiển.
Chúng ta biết rằng không ai chạy đến kêu cầu sự bảo vệ của Thánh Giuse Vinh hiển mà lại không bao giờ được cứu giúp!
Niềm tin vào Thánh Cả Giuse
Vì vậy, tất cả chúng ta hướng về vị thánh vĩ đại này, là người đã được ban cho rất nhiều danh hiệu vinh quang — Bổn mạng các người cha, Bổn mạng các người chồng, Đấng bảo trợ các gia đình, Người trang trí cho cuộc sống gia đình, Gương mẫu cho người lao động, Đấng kiên nhẫn và thanh khiết, Bậc Thầy Đời sống nội tâm (của lời cầu nguyện), Nỗi kinh hoàng của ma quỷ, Hình mẫu của sự tuân phục, và Đấng bảo trợ chết lành và thánh thiện— và chúng ta khiêm tốn cầu xin Ngài giúp chúng ta hướng về Mẹ Maria, bạn trăm năm cùa Ngài và Mẹ thánh thiêng của chúng ta, và hướng về Chúa Giêsu, là Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của chúng ta, và chúng ta cầu xin cho chúng ta ơn bảo vệ đặc biệt nhất thoát khỏi mọi sự dữ, nhất là tội lỗi, và được ân sủng để sống một cuộc đời thánh thiện và chết một cái chết lành thánh. [1]
Các Thánh nói về Thánh Giuse
Với Thánh Giuse, chân lý hiển nhiên cổ xưa “Hành động thì lớn lao hơn lời nói.” – luôn luôn xuất hiện trong tâm trí của Ngài. Các vị thánh qua nhiều thế kỷ có lòng sùng kính Thánh Giuse đã biết tường tận điều đó và cho chúng ta thấy chúng ta cũng có thể có được tình bạn và sự đồng hành với Thánh Giuse như thế nào.
Thánh Têrêxa Avila rất sùng kính Thánh Giuse đến nỗi thánh nữ đặt tên tất cả các tu viện của mình theo tên Ngài. “Tôi coi Thánh Giuse vinh hiển là người bênh vực và lãnh chúa của tôi và tha thiết phó thác chính mình tôi cho Ngài; và tôi thấy rằng người cha và lãnh chúa này của tôi đã giải cứu tôi khỏi rắc rối này cũng như những rắc rối khác lớn hơn liên quan đến danh dự của tôi và sự hư mất linh hồn của tôi, và tôi thấy rằng Ngài đã ban cho tôi những ân phúc lớn hơn những gì tôi có thể xin Ngài ban.”
“Tôi thậm chí không nhớ rằng tôi đã có bao giờ xin Ngài bất cứ điều gì mà Ngài lại không cho. Tôi ngạc nhiên về những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã ban cho tôi qua vị thánh đầy ơn phúc này, và tôi ngạc nhiên trước những hiểm nguy mà Ngài đã giải thoát tôi, cả về thể xác lẫn tâm hồn.” – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ Hội Thánh.
“Đối với các vị thánh khác, Chúa dường như đã ban ân sủng để thu phục giúp đỡ chúng ta trong một số nhu cầu cần thiết của chúng ta, nhưng đối với vị thánh vinh hiển này, kinh nghiệm của tôi là Ngài giúp đỡ chúng ta trong tất cả các nhu cầu cầp thiết ấy và rằng Chúa muốn dạy chúng ta điều đó như chính Ngài là thần dân của Thánh Giuse trên trần thế (vì, Thánh Giuse là người giám hộ của Chúa Giêsu và được gọi là cha của Chúa Giêsu, nên Thánh Giuse có thể ra lệnh cho Chúa Giêsu), vì vậy ở trên Thiên đàng, Chúa Giêsu vẫn làm tất cả những gì Thánh Giuse yêu cầu. Đây cũng là kinh nghiệm của những người khác mà tôi đã khuyên họ nên tự phó thác mình cho Thánh Giuse; và thậm chí ngày nay có rất nhiều người có lòng sùng kính lớn lao đối với Thánh Giuse nhờ vừa mới trải nghiệm chân lý này.” – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ Hội Thánh.
“Từ vài năm nay, tôi nghĩ, tôi đã đưa ra một số lời khấn xin Ngài mỗi năm vào lễ của Ngài, và tôi đã luôn nhận được điều tôi xin đó. Nếu lời khấn xin của tôi không đúng chút nào, Ngài sẽ điều chỉnh lời khấn xin đó cho đúng vì lợi ích lớn lao cho hơn tôi.” – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ tiến sĩ Hội Thánh.
“Tôi ước mình có thể thuyết phục mọi người hết lòng với vị thánh vinh hiển này, vì tôi có kinh nghiệm tuyệt vời về những ân phúc mà Thánh Giuse có thể nhận được từ Thiên Chúa. Tôi chưa bao giờ biết bất cứ ai thực sự tận hiến cho Thánh Giuse và làm những việc kính mến Ngài cách cụ thể mà lại không tiến bộ về mặt nhân đức cách đáng kể, vì Thánh Giuse đã giúp đỡ rất thực cho những linh hồn phó thác mình cho Ngài ” – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ tiến sĩ Hội Thánh.
“Vì tình thương của Thiên Chúa, tôi van nài bất cứ ai không tin tôi cứ thử làm những gì tôi nói, và bằng kinh nghiệm, người ấy sẽ thấy những lợi ích to lớn nào xẩy đến từ việc phó thác bản thân mình cho vị tổ phụ vinh hiển này và có lòng sùng kính đối với Ngài.” – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ tiến sĩ Hội Thánh.
“Có rất nhiều vị thánh mà Thiên Chúa đã ban cho quyền năng để trợ giúp chúng ta trong những nhu cầu cần thiết của cuộc sống, nhưng quyền năng được ban cho Thánh Giuse là không giới hạn: Quyền năng được ban cho Thánh Giuse mở rộng cho mọi nhu cầu của chúng ta, và tất cả những ai có lòng tin mà cầu xin Ngài chắc chắn sẽ được lắng nghe.” – Thánh Tôma Aquinô, tiến sĩ Hội Thánh.
“Sẽ không có gì Thánh Giuse xin mà bị từ chối, dù là xin từ Đức Mẹ cũng như xin từ Người Con hiển vinh của Ngài.” – Thánh Phanxicô Salêsiô, tiến sĩ Hội Thánh.
“Không có gì phải nghi ngờ về điều đó: Cũng giống như Chúa Giêsu Kitô muốn phục tùng Thánh Giuse ở trần gian như thế nào, thì Ngài cũng muốn làm mọi điều thánh Giuse yêu cầu ở trên trời”. – Thánh Anphongsô Liguori, tiến sĩ Hội Thánh.
“Gương mẫu thánh thiện của Chúa Giêsu Kitô, khi còn ở trần gian, đã tôn kính Thánh Giuse rất mực và đã vâng phục Ngài trong suốt cuộc đời, đủ làm nức lòng mọi người cần phải sùng kính vị thánh này.” – Thánh Anphongsô Liguori, tiến sĩ Hội Thánh.
“Lòng sùng kính đối với Thánh Giuse là một trong những ân sủng tuyệt vời nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho một linh hồn. … Khi Thiên Chúa muốn nâng một linh hồn lên những tầm cao lớn lao hơn, Ngài đã kết hợp linh hồn đó với Thánh Giuse bằng cách ban cho linh hồn đó một tình yêu mãnh liệt dành riêng cho vị thánh nhân lành.” – Thánh Phêrô Julianô Eymard, Đấng thiết lập hội dòng các linh mục chuyên tôn thờ Thánh Thể.
“Khi bạn cầu khẩn Thánh Giuse, bạn không cần phải nói nhiều. Bạn biết Cha của bạn ở trên trời biết những gì bạn cần; thế thì, Thánh Giuse, bạn của Chúa Cha cũng biết những gì bạn cần. Hãy thưa với Thánh Giuse, ”Lạy Thánh Giuse, nếu Ngài ở vị trí của con, Ngài sẽ làm gì? Thôi thì, xin Ngài cầu nguyện điều này thay cho con.”- Thánh André Bessette.
“Trong khoảng thời gian sau hết này, một cuộc chiến khủng khiếp và ghê tởm nhất đã được tuyên bố chống lại Giáo hội của Chúa Kitô… chúng ta nên khẩn cầu lòng từ bi của Thiên Chúa một cách hiệu quả hơn qua công lao và sự chuyển cầu của Thánh Giuse…” – Chân phước Giáo hoàng Piô IX.
“Thánh Giuse, đã bảo vệ Chúa Giêsu với tình yêu thương và lòng quảng đại, cũng sẽ bảo vệ linh hồn bạn. Thánh Giuse đã bảo vệ Chúa Giêsu khỏi Hêrôđê, cũng sẽ bảo vệ linh hồn bạn khỏi ma quỷ, là Hêrôđê hung dữ nhất! Tất cả sự chăm sóc mà Thánh Tổ phụ Giuse dành cho Chúa Giêsu, Ngài cũng dành cho bạn và sẽ luôn giúp bạn bằng sự bảo trợ của Ngài. Ngài sẽ giải thoát bạn khỏi sự bắt bớ của Hêrôđê gian ác và kiêu ngạo, và sẽ không để cõi lòng bạn bị ghẻ lạnh xa khỏi Chúa Giêsu. Ite ad Ioseph! Hãy đến cùng Giuse! Hãy đến với Thánh Giuse với sự tin tưởng tột độ, bởi vì tôi cũng giống như Thánh Têrêxa Avila, không nhớ mình đã cầu xin Thánh Giuse điều gì mà lại chưa được điều đó một cách dễ dàng ”. – Thánh Piô Pietrelcina Năm Dấu (Padre Pio).
“Tôi không biết làm thế nào mà lại có người có thể nghĩ tưởng đến Nữ Vương các Thiên Thần, trong thời gian Mẹ chịu nhiều đau khổ với Chúa Hài Nhi Giêsu, mà không tạ ơn Thánh Cả Giuse về cách thế Ngài đã giúp đỡ họ”. – Thánh Têrêxa Avila, tiến sĩ Hội Thánh.
“Thánh Giuse là hình ảnh sống động của Người bạn trăm năm đồng trinh của Ngài; hai ngài giống nhau như hai viên ngọc trai. ” – Thánh Bernardine thành Siena.
“Thánh Giuse luôn luôn ủng hộ bằng cách bảo vệ đặc biệt những linh hồn nào ghi tên mình vào danh sách những người muốn sống theo chuẩn mực của Đức Maria.”
– Thánh Maria Mađalêna Pazzi.
“Trong thời đại của chúng ta, Đức Mẹ giúp chúng ta hiểu và yêu mến người chồng thân yêu và trinh khiết của Mẹ, là Thánh Giuse. Mẹ kể cho chúng ta nghe về mầu nhiệm chung quanh Thánh Giuse và về sự vĩ đại của Ngài. Mẹ đã cho chúng ta biết điều gì đó về tình yêu của Mẹ đối với Thánh Giuse, vị thánh đáng yêu nhất, người đã giữ Ngôi Lời đã hóa thành xác thịt trong vòng tay của mình nhiều năm.” – Chân phước Gabriele Allegra
“Một tôi tớ của Mẹ Maria thì sẽ có lòng sùng kính dịu dàng đối với Thánh Giuse, và bằng lòng tôn kính và tình yêu đạo hạnh của mình, người đó sẽ nỗ lực để xứng đáng với sự bảo vệ của vị thánh vĩ đại này.” – Chân phước William Joseph Chaminade
“Nếu quả thực Đức Trinh Nữ là Đấng gìn giữ mọi ân sủng trên trời, thì tình yêu của Mẹ dành cho những người được chọn là nguồn gốc của vinh quang và hạnh phúc của họ, thì điều gì phải là vinh quang của Thánh Cả Giuse, người mà Mẹ đã yêu thương trên hết các thánh, cũng giống như một người vợ tốt lành yêu thương chồng mình trên tất cả mọi người.” – Chân Phước Boleslava Lament.
“Xin Thánh Cả Giuse ban cho chúng ta khả năng của Thánh Đa Minh, Thánh Vincent Ferrer và Chân phước Alan de la Roche để cổ vũ Kinh Mân Côi.” – Chân phước Gabriele Allegra
“Xin Thánh Cả Giuse, Đấng đã cứu mạng sống của Đấng Cứu Độ của mình, chịu trách nhiệm bảo vệ con người của anh em. Xin Ngài gánh vác công việc cứu rỗi anh em.” – Chân phước William Joseph Chaminade.
“Xin Thánh Cả Giuse, người bảo trợ của gia đình bạn, và bạn sẽ sớm có bằng chứng hữu hình về bàn tay bảo vệ của Ngài.” – Thánh Peter Julian Eymard
“Thánh Cả Giuse là bằng chứng cho thấy để trở thành một môn đồ tốt và chân chính của Chúa Giêsu Kitô, không cần những điều cao cả – chỉ cần có những đức tính bình dân, giản dị và nhân bản là đủ, nhưng chúng cần phải chân chính và đích thực.” – Đức Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI.
“Hỡi những tôi tớ sùng mộ Thánh Giuse, hãy vui mừng lên vì anh em đã gần đến thiên đàng; bậc thang dẫn lên đó chỉ có ba bậc thang, Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse.” – Thánh Leonard of Port Maurice
“Tất cả vì Chúa Giêsu, tất cả nhờ Mẹ Maria, tất cả theo gương sáng của Thánh Giuse, Lạy Thánh Tổ Phụ Giuse.” – Đức Thánh Cha Piô X. [2]
Xin cho chúng con được ở cùng Thánh Cả Giuse trên trời để ca tụng và tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời. Amen.
Phêrô Phạm Văn Trung biên dịch.
[1] LM Ed Broom, OMV, catholicexchange.com.
[2] ncregister.com.
2021
Ý Nghĩa và Giá Trị của Sự Đau Khổ
Ý Nghĩa và Giá Trị của Sự Đau Khổ
Đau khổ là một thực tế hiển nhiên trong đời sống của con người, dù có niềm tin hay không.
Đây là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận hay tránh được trong cuộc sống trên trần gian này. Nào đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội, vì thiên tai, động đất, bão lụt. Nào đau khổ vì bị tù đầy, tra tấn, bị kỳ thị, khinh chê và cô lập (dân Untouchable bên Ấn Độ). Sau hết, đau khổ lớn lao nhất là chết chóc đau thương.
Vì đâu có đau khổ ?
Thực khó tìm được câu trả lời thỏa đáng theo suy nghĩ của con người cho câu hỏi này..
Tuy nhiên, có điều nghịch lý đáng nói ở đây là ở khắp nơi, và ở mọi thời đại, luôn có những kẻ gian ác, làm những sự dữ, sự tội, như giết người, trộm cắp, hiếp dâm, đặc biệt là cai trị độc ác và gây ra chiến tranh khiến hàng triệu người vô tội bị giết … nhưng những kẻ đó vẫn sống phây phây với địa vị và tiền bạc dư thừa của chúng, trong khi biết bao người lành, lương thiện, đạo đức lại nghèo khó, bệnh tật nan y hay gặp tai nạn xe cộ, tầu bè. Cụ thể, năm 2008, một xe buýt chở giáo dân ở Houston, Texas đị dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Carthage , Missouri đã gặp tai nạn khiến hàng chục người chết hoặc bị thương nặng ! trong khi những xe và phi cơ chở người đi đánh bạc ở Las Vegas, lake charles (Louisiana).. hoặc du hí ở các nơi tội lỗi như Cancun (Mexico) Thai lan, Kampuchia… thì chưa hề gặp tai nạn tương tự !! Lại nữa, những người nghiện rượu và thuốc lá thường dễ bị ung thư phổi, nhưng biết bao người không uống rượu và hút thuốc lá mà vẫn bị ung thư phổi , thi sao ? Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ bị ung thư ngực, nhưng có nữ tu không hề sinh đẻ mà vẫn bị ung thư ngực !
Vậy không lẽ Chúa phạt những người bị tai nạn hay bệnh tật kia???
Chắc chắn là không. Nhưng phải giải thích thế nào cho hợp lý và tìm ra ý nghĩa của sự đau khổ với con mắt đức tin của người tín hữu Chúa Kitô trong năm Đức Tin này.
Thật vậy, đau khổ là một thực trạng không thể tránh được trong trần gian này như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :’
“ Trong thế gian
Anh em sẽ phải gian nan khốn khó
Nhưng hãy can đảm lên
Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16: 33)
Nhưng trước khi Chúa đến trần gian để chia sẻ thân phận con người với nhân loại, sự đau khổ , sự dữ đã đầy rẫy trong trần gian như Kinh Thánh Cựu Ước đã ghi lại. Cụ thể ông Gióp (Job) là người “ vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và tránh xa điều ác.”( G 1: 1). Vậy mà ông đã gặp hoạn nạn, đau khổ lớn lao bất ngờ, không thể tưởng tượng được : nào con cái (bảy con trai ba con gái) bỗng chốc lăn ra chết hết trong một trận cuồng phong từ sa mạc thổi đến. Nào đàn gia xúc của ông gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số đông tôi tớ cũng bỗng chốc bị giết và cướp mất khỏi tay ông ! Nhưng trước tai ương khủng khiếp này , ông Gióp chỉ biết quỳ xuống than thở với Chúa như sau :
“ Thân trần truồng
Sinh ra từ lòng mẹ
Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng
ĐỨC CHÚA đã ban cho
ĐỨC CHÚA lại lấy đi
Xin chức tụng danh ĐỨC CHÚA ! (G1 : 21)
Chính vì lòng trung kiên yêu mến, kính sợ Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, như khi được mọi điều sung sướng và nhất là khi phải đau khổ vì tai ương bất ngờ, ông Gióp đã được Thiên Chúa khen lao và ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất: ông lại sinh được bảy con trai và ba con gái xinh đẹp nhất trong xứ sở và sống thọ thêm một trăm bốn mươi năm nữa . (cf.G 42: 12-17)
Như thế , sự đau khổ, tai ương là phương tiện hữu hiệu Thiên Chúa đã dùng để thử thách các tôi tớ trung kiên của Người như các ông Mô- sê, Ap-bra-ham Gióp và Tô-bia.
Ngươc lai, đôi khi Thiên Chúa cũng dùng tai ương, đau khổ để trừng phạt con người vì tội lỗi và ngoan cố không muốn ăn năn sám hối để được tha thứ. Đó là hinh phạt Đại hồng thủy trong thời Cựu Ước, đã cuốn đi vào lòng đai dương tất cả mọi người, mọi sinh vật trên mặt đất, trừ gia đình ông Nô-e và các sinh vật được ông đem vào tàu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu. ( St 6: & 7)
Lại nữa, Thiên Chúa đã dùng lửa và mưa sinh diêm từ trời xuống để hủy diệt thành Xô-đôm , vì ông Ap-bra-ham không tìm được người ngay lành nào trong thành tội lỗi đó, để xin Chúa tha chết cho thành ấy. ( Sđd : 19)
Nhưng khi dân thành Ni-ni-vê nghe theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-na ăn chay , cầu nguyện và xám hối thì Thiên Chúa đã tha không đánh phạt họ như Người đã ngăm đe. (. Gn 3: 1-10)
Như vậy , trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng đau khổ , gian nan khốn khó để thử thách các tôi tớ trung thành và cũng để đánh phạt những kẻ làm những sự dữ , tội lỗi mà không chiu xám hối và từ bỏ con đường gian ác.
Dân Do Thái, cho đến thời Chúa Giêsu xuống trần và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, vẫn quen nghĩ rằng sự khó, sự đau khổ và tai ương xảy ra cho ai thì tại tội lỗi của người đó hay của cha mẹ nạn nhân. Cho nên khi thấy một người mù từ bé, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Người như sau :
“ Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?( Ga 9 : 2). Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : “không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” ( Sđd 9; 3)
Việc của Thiên Chúa được tỏ hiện là Chúa Giêsu đã chữa cho anh mù được xem thấy để minh chứng Người là quả thực là Đấng Thiên Sai ( Mê-si-a ) đã đến trong trần gian để “ cho người mù được thấy. kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng..” ( Lc 7 : 22 ) .
Nhưng cũng trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu cũng nói với một người đã đau ốm lâu năm và Chúa đã chữa lành cho anh ta. Nhưng khi gặp lại anh này trong Đền Thờ sau đó, Chúa đã nói với anh điều đáng chú ý như sau :
“ Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước.” ( Ga 5: 14)
Như thế có nghĩa là tội lỗi cũng có thể là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người như Chúa đã nói trên đây. Kinh nghiệm thực tế ngày nay cũng chứng minh điều này. Kẻ trộm cắp cứ quen sống bất lương như vậy, sẽ có ngày gặp tai họa khi vào nhà ai để ăn trộm và có thể bị chủ nhà bắn chết. (ở Mỹ rất nhiều người dân có súng trong nhà để tự vệ). Người ngoai tình cũng có thể bị tình địch giết chết vì đã gian díu với vợ hay chồng của người khác. Lái xe ẩu, vượt đèn đỏ có thể gây ra án mạng cho người khác và cho chính người lái xe ẩu. Đúng là tội đâu vạ đấy như người Việt Nam chúng ta thường nói.
Tuy nhiên, là người tín hữu, chúng ta được dạy dỗ để tin rằng sự đau khổ về thể lý hay tâm hồn cũng là phương tiện mà Thiên Chúa dùng để cho chúng ta được thông phần sự thương khó đau khổ với Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi sự khốn khó cho đến chết đau thương trên thập giá để cho chúng ta được cứu độ và có hy vọng được hưởng hạnh phúc Nước Trời với Chúa sau hành trình đức tin trên trần thế này.
Thật vậy, Chúa Giê-su Kitô là Đấng Thiên Sai (Messaih) đã đến trần gian làm Con Người, đã chiu khốn khó ngay từ khi sinh ra trong cảnh cực kỳ khó nghèo nơi hang lừa máng cỏ, bị đe dọa giết chết bởi Hêrôđê khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải mang chậy trốn sang Ai Cập lúc đêm khuya.. Lớn lên, Người đi rao giảng Tin Mừng trong điều kiện rất khó nghèo, lang thang đó đây như kẻ vô gia cư đúng như Chúa đã nói với các môn đệ :“ con chồn có hang, chim trời có tổ , nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” ( Mt 8 : 20)
Là Đấng Thiên Sai, Chúa Kitô sẽ “phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục , các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.” ( Sđd 16: 21)
Phêrô, môn đệ được Chúa khen ngợi vì đã tuyên xưng đúng Người là “ Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.”. Nhưng khi nghe Chúa nói đến những đau khổ mà Người sắp phải chịu trước khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, Phêrô đã tìm cách can ngăn Chúa như sau : “ Xin Thiên Chúa thương đừng để cho Thầy gặp chuyên đó.”.( Sđd 16: 22)
Để trả lời cho Phêrô và cũng để dạy cho chúng ta biết giá trị của đau khổ, Chúa đã quở trách ông như sau: “Xa tan , hãy lui lại đàng sau Thầy ! anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” .( Sđd 16: 23)
Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng với suy tư của mọi người trần thế là không ai muốn chiu sự gì khốn khó, đau khổ. Ai cũng muốn được luôn khỏe mạnh, sung sướng , an nhàn, có nhiều tiền của và danh vọng ở đời. Không ai muốn bệnh tật, nghèo đói và bị khinh chê, tù đầy hay bắt bớ . Ước vọng được khỏe mạnh cũng rất chính đáng và đẹp lòng Chúa, như tác giả Sách Huấn Ca đã viết:
“ Người đã chết thì hết xưng tụng vì nó không còn nữa
Chỉ người đang sống và khỏe mạnh mới ca ngợi Đức Chúa.” ( Hc 17 : 28)
Vì thế, người đau ốm cầu xin Chúa cho được lành bệnh tật của thân xác:
“Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức
Chữa lành cho vì gân cốt rã rời
Toàn thân con rã rời quá đỗi
Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ? “. ( Tv 6 : 3-4)
Cầu xin cho được khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống là điều tốt phải xin Chúa và không có gì đáng chê trách. Nhưng bệnh tật và rủi ro thì không ai tránh được trong cuộc sống ở đời này. Người đạo đức, lương thiện và kẻ bất lương gian ác đều không ít thì nhiều phải đau khổ như bệnh tật, tai nạn bất ngờ, tang chế trong gia đình vì người thân mất đi…. Tuy nhiên, cứ xem gương Chúa Giêsu , Đức Mẹ và các Thánh thì người có đức tin phải hiểu rằng đau khổ có giá trị cứu rỗi và là phương thế hiệu nghiệm mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa và cải hóa con người, cũng như để thử thách lòng tin yêu của các tôi tớ trung kiên như trường hợp các ngôn sứ Mô-Sê, Abraham, Gióp và Tôbia đã nói ở trên.
Vì đau khổ có giá trị xin tha tội, nên ông Mô-sê đã xin hiến mạng sống mình làm của lễ để xin Thiên Chúa tha tội cho dân Do Thái xưa:
“ Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : “than ôi dân này đã phạm một tội lớn. Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng. Nhưng giờ đây ước gì Ngài miễn chấp tội họ. Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn Sách Ngài đã viết.” ( Xh 32 : 31-32)
Chính vì giá trị cứu chuộc của đau khổ mà Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai, Người Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, đã vui lòng “uống chén đắng” là vác thập giá, chịu mọi cực hình cho đến khi chết đau thương trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau. Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, không phải vì sự đau khổ của Chúa Kitô chưa đủ cho con người được cứu rỗi, mà vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn Chúa để được cứu chuộc hay bị loại vì đã tự ý khước từ ơn cứu rỗi đó để sống buông thả theo tính hư nết xấu của xác thịt và chậy theo những quyến rũ của thế gian đang tràn ngập với “văn hóa của sự chết” mà những kẻ không có niềm tin đang ngụp lặn trong đó.
Nếu con người không có thiện chí muốn cộng tác với ơn Chúa để sông theo đường lối của Chúa, thì Chúa không thể cứu ai được , mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu rỗi.
Tóm lại, không ai có thể tránh được đau khổ trong cuộc sống trên trần gian này. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, với người có niềm tin nơi Chúa thì đau khổ là phương thế tốt nhất cho ta được trở nên giống Chúa Kitô , Người đã đi vào vinh quang phục sinh qua khổ hình thập giá để dẫn đưa chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời, nếu chúng ta cũng vui lòng vác thập giá theo Người. Nghĩa là chúng ta phải vui lòng chấp nhận những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không kiêu căng đi tìm kiếm nhưng không hậm hực kêu trách Chúa khi gặp phải trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là cách chấp nhận đau khổ đẹp lòng Chúa, đúng theo lời dạy của chính Chúa Kitô, là “ ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16: 24).
Vác thập giá theo Chúa có nghĩa là vui lòng chịu mọi sự khó Chúa gửi đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.
Vậy chúng ta hãy can đảm và bằng lòng chịu những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không ai muốn kiếm tìm nhưng không tránh được, vì Chúa đã tha phép cho xảy ra để cho ta được thông phần sự thương khó của Chúa Kitô để đền tội mình và tội của người khác, cũng như để cầu xin cho nhiều người chưa biết Chúa được nhân biết và tin yêu Chúa để cùng hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
