Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
27Tháng Bảy
2021

Tại sao người Do Thái và người Samari bất hòa với nhau?

27/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tại sao người Do Thái và người Samari bất hòa với nhau?

 

Luôn cần đến một bối cảnh để hiểu được tại sao người ta lại khinh miệt kẻ khác.

Le Christ et la samaritaine Henri Martin musée de Cahors

Khi trở thành kẻ thù, hiếm khi chúng ta có suy nghĩ chín chắn. Chúng ta thường đáp lại bằng cảm xúc và phản ứng. Nếu họ có làm điều gì, chúng ta cũng chống lại họ. Họ có nói gì đi nữa cũng là nói sai. Mọi thứ họ mong muốn đều xấu xa. Cần phải ngăn chặn bất kỳ điều gì họ đang thực hiện.

Chúng ta dùng thái độ này đối với những kẻ địch của đất nước mình, cũng như với những người cạnh tranh tại nơi làm việc, những đối thủ chính trị, những người hàng xóm khó chịu, và cả những thành viên gia đình chèn ép chúng ta. Những kẻ này không đủ khả năng để làm điều gì đó tốt đẹp. Mọi thứ sẽ được cải thiện nếu họ biến mất lập tức.

Vào thời Kinh thánh, tư tưởng này gần như tóm lược mối quan hệ giữa người Do Thái và người Samari. Tình trạng căng thẳng giữa những nhóm người này quá phổ biến trong cả hai Giao ước đến nỗi khiến chúng ta không còn đặt câu hỏi: Chuyện gì xảy ra với người Samari? Tại sao họ bị ghét như vậy?

Luôn cần đến một bối cảnh để hiểu được tại sao người ta lại khinh miệt kẻ khác. Từ thời dân Israel tiến vào Canaan cho đến thế hệ Đức Giêsu, chuỗi sự kiện trong Kinh thánh tập trung vào mẩu chuyện về các chi tộc sinh sống ở dải đất kéo dài từ Galilê đến Biển Chết. Chúng ta gọi vùng đất này là Israel và ngỡ rằng 12 chi tộc gắn kết trong quan hệ huyết thống và sự trung thành – nhưng hãy rút lại quan điểm này.

Saul, vị vua đầu tiên của Israel, chỉ cai trị trên một số người. Đavít, người kế vị ông, đã đưa toàn bộ các chi tộc về dưới quyền mình. Salomon, con của Đavít, bất lực trong việc gìn giữ sự thống nhất. Khi Salomon qua đời vào năm 930 TCN, vương quốc chia cắt thành vùng Israel rộng lớn miền bắc và vùng Giuđa nhỏ bé ở phương nam. Miền bắc lấy Samari làm kinh đô của mình. Còn các vua của phương nam vẫn giữ lại kinh đô của Đavít tại Giêrusalem.

Như học giả Raymond Brown lưu ý, khoảng cách giữa Samari và Giêrusalem là 35 dặm – gần hơn khoảng cách giữa hai bang dùng chung một sân bay là Baltimore và Washington. Nhưng lân cận không hề đồng nghĩa với giao hảo.

Sau cùng, Samari trở thành tiêu ngữ để chỉ toàn bộ miền đất phía bắc. Tuy nhiên, cả thành phố và vùng đất được biết đến như là Samari đều không biểu thị cho lãnh thổ của “người Samari”. Họ xuất hiện sau này. Vào lúc ấy, những cuộc chạm trán xảy ra giữa hai miền bắc nam trong khoảng 200 năm, với các giai đoạn hợp tác ngắn ngủi.

Hãy nhớ rằng những người ở cả hai bên biên giới đều tuyên bố Abraham là cha và Môsê là nhà giải phóng của mình. Tất cả họ đều thờ phượng Thiên Chúa của Giacóp. Tất cả họ là con cái nhà Israel. Thuở ban đầu, những khác biệt giữa họ chỉ mang tính chính trị. Nhưng rồi chúng lại trở thành vấn đề văn hóa, vì thời gian phân ly khiến hai vương quốc ngày càng xa cách nhau.

Trở lại thời điểm Israel còn là một quốc gia thống nhất, Vua Đavít đã thiết lập Giêrusalam làm trung tâm chính trị và văn hóa. Salomon đã xây dựng Đền thờ tráng lệ ở đây. Sau khi vương quốc chia cắt, Giuđa vẫn còn Đền thờ. Vậy lúc này, các chi tộc Israel ở phương bắc sẽ thờ phượng tại đâu?

Vị vua đầu tiên của họ, Giêrôbôam, đã thiết lập các trung tâm thờ phượng tại Bethel và Đan với một con bê vàng lộng lẫy ở mỗi địa điểm. Con bê tượng trưng cho vị trí của Thiên Chúa – được hiểu tương đương với nơi đặt hòm bia giao ước tại Giêrusalem. Dĩ nhiên, con bê cũng nhắc nhớ chúng ta về câu chuyện thờ ngẫu tượng rất đáng tiếc trong sách Xuất hành. Tất nhiên những người Giuđa buộc tội những người phương bắc vì việc thờ tượng vàng. Trong thực tế, chẳng có điều gì tốt đẹp để những người Giuđa nói về các dân miền bắc, và vì người Giuđa viết ra phần lớn cuốn Kinh thánh mà chúng ta có, nên thật khó để biết liệu những chỉ trích của họ chính xác hay phóng đại. Đây là vấn đề của việc có kẻ thù: Sau một thời gian, thật khó để biết đâu là điều chiếm ưu thế giữa những mục tiêu khách quan và sự thù ghét.

Hãy đến với câu chuyện về đế chế Assyria tàn bạo. Chúng ta có thể tin vào đặc tính này, vì các ghi chép lịch sử thời kỳ này trình bày chi tiết những hành vi độc ác của người Assyria. Vào khoảng năm 722 TCN, Assyria thôn tính vương quốc Israel phương bắc, trục xuất 27.290 người từ Samari đến những nơi xa xôi. “Mười chi tộc thất lạc nhà Israel” chính thức bị lạc mất ở đây khi các chi tộc phương bắc phân tán. Tại quê nhà họ, Assyria gieo mầm lãnh thổ bằng những người Babylon và các dân vùng Lưỡng Hà khác. Những người Assyria bẻ gãy ý chí của các nhóm người bị chinh phục theo cách này, xóa bỏ căn tính, văn hóa và tôn giáo của họ.

Còn ở phương nam, nhà Giuđa chứng kiến địch thủ phương bắc bị tàn phá – nên nhớ, Giêrusalem chỉ cách đó 35 dặm. Chẳng có nhiều thời gian thanh thản để hả hê. Một thế kỷ sau, sức mạnh của Assyria suy yếu, và Babylon bước lên vị trí siêu cường mới trong khu vực. Năm 587 TCN, Babylon đè bẹp Giêrusalem, đưa tất cả những người giỏi nhất đi lưu đày.

Vậy điều gì xảy ra trong khi những người Giuđa còn đang lưu đày? Người khác đến cư trú. Giêrusalem là một đống đổ nát, chắc chắn, nhưng vẫn còn nhiều nơi hữu dụng nằm xung quanh. Khi những người Giuđa ở Babylon rốt cuộc cũng được tự do nhờ người Ba Tư vào năm 538 TCN, họ vẫn quan tâm đến Giêrusalem và trở về để tìm kiếm những người còn sót lại trong vùng. Họ khinh miệt “những người Samari” ở đây. Điều tồi tệ hơn nữa là những người trở về từ cuộc lưu đày chịu phụ thuộc bởi lãnh địa của người Ba Tư ở Samari lúc bấy giờ. Việc tranh giành quyền hành giữa Giuđa và Samari lại xuất hiện.

Một số học giả cho rằng những người Samari có lẽ là những người Israel đến từ xứ Samari, tản ra khắp lãnh thổ khi những người Giuđa vắng mặt. Một số lại cho rằng những người Samari không phải là dân Israel nhưng là hậu duệ của các sắc dân vùng Lưỡng Hà – những người ngoại quốc – do Assyria gieo rắc lên xứ sở. Những người khác mô tả những người Samari như hậu duệ của người Giuđa không bị lưu đày với những người còn lại – vì họ đã chạy trốn rồi quay về khi nguy hiểm qua đi. Hoặc bởi vì họ không có đủ kỹ năng hay học vấn để Babylon sử dụng, và do đó bị bỏ lại. Trong bất kỳ trường hợp nào, những người không bị lưu đày đã không chịu nỗi đau khổ của họ hàng và không đáng được xem như một phần trong số họ.

Điều chắc chắn là “những người ở xứ sở này” rất kỳ quặc. Họ không cử hành đúng các nghi lễ tôn giáo và có đủ thứ ý tưởng không thích hợp về Thiên Chúa. Những người Samari xem núi Garizim phương bắc thánh thiêng hơn núi Sion ở Giêrusalem. Họ chỉ thừa nhận Ngũ thư của Môsê – từ Sáng thế đến Đệ nhị luật – như là kinh thánh của họ. Những người hồi hương từ Babylon đã soạn tác các sách lịch sử và sưu tập các sách ngôn sứ để thêm vào sách thánh của mình. Một số các ngôn sứ – Amos, Isaia, Hôsê, Edêkien và Mica – chẳng có lời nào tốt lành về dân gốc Samari.

Những người lãnh đạo Giuđa cũng đã cố gắng giải quyết xung đột. Tư tế Étra nghĩ rằng có thể hòa giải hai nhóm người này. Nhưng thống đốc Giơrúpbaben lại tiếp cận theo lối phân biệt chủng tộc: Máu của chúng không tinh sạch. Chúng đơn giản “không phải là chúng ta”. Tranh cãi bằng lời nói dẫn tới sự xúc phạm, sự xúc phạm lại dẫn tới bạo lực.

Hai nhóm người chia rẽ. Những người Samari tập trung lại ở khu vực phía bắc Sikhem. Kế tiếp người Ba Tư, khi người Hy Lạp, rồi đến Ai Cập, và cuối cùng là Rôma kiểm soát khu vực này, xứ Samari ngày càng trở nên Hy hóa; nghĩa là càng giống với đế quốc hơn. Những người Giuđa bài xích những ảnh hưởng bên ngoài bằng mọi giá. Vào thế kỷ thứ I, “một tên Samari” là điều kinh khủng nhất bạn có thể gọi người Dothái – điều mà những kẻ gièm pha Đức Giêsu gọi Ngài trong Tin mừng Gioan.

Vậy nên thật táo bạo biết bao khi Đức Giêsu kể câu chuyện về người Samari nhân hậu! Ngài cũng tham gia cuộc trao đổi kéo dài với một phụ nữ Samari mà Ngài gặp bên bờ giếng, rồi sau đó chào đón cả cộng đoàn của cô khi họ tìm gặp Ngài. Cư dân Giuđa đã mất hàng thế kỷ để tách những người Samari ra khỏi xã hội của mình bằng luật lệ và sự ngược đãi. Đức Giêsu khởi xướng triển vọng đã đến lúc phải thừa nhận những kẻ bên lề này. Một ngàn năm cãi vả và chia rẽ có lẽ đã quá đủ. Khi thế hệ đầu tiên của Giáo hội sai Philipphê đi loan báo Tin mừng ở Samari, đó là một chủ trương đầy táo bạo và gây kinh ngạc. Và điều này đưa đến “niềm vui lớn lao trong thành ấy” (Cv 8,8).

Chúng ta căm ghét kẻ thù của mình vì nhiều lý do: chính trị, lịch sử, tôn giáo, huyết thống, sự lập dị, cảm giác bất bình, sự đối lập được kế tục.

Chúng ta ghét người khác vì họ không giống chúng ta, và điều đó làm chúng ta khó chịu. Chúng ta không bằng lòng việc họ lấy điều gì đó của chúng ta, hay điều mà họ có thể lấy nếu chúng ta để cho họ có cơ hội. Sự thù ghét bắt đầu từ đâu đó. Sự thừa nhận cũng vậy.

ALICE CAMILLE

 Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ

(gpquinhon.org / uscatholic.org)

Read More
27Tháng Bảy
2021

Chúa Giêsu có cử hành thánh lễ đầu tiên bằng tiếng Aram không?

27/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Chúa Giêsu có cử hành thánh lễ đầu tiên bằng tiếng Aram không?

 

Có thể Chúa Giêsu đã cử hành Bữa Tiệc Ly, Thánh lễ đầu tiên, bằng ngôn ngữ phổ biến của Ngài.

Bữa Tiệc Ly được người công giáo xem như bữa thiết lập Bí tích Thánh Thể chính thức, mở đầu cho việc cử hành phụng vụ Thánh Lễ.

Mặc dù ngày nay Thánh lễ được cử hành bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới, nhưng có thể Chúa Giêsu đã dùng công thức thiết lập Thánh Thể bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Vào thế kỷ I, ở Palestine, có ba ngôn ngữ được sử dụng trong dân chúng: Tiếng Aram, Hy Lạp và Do Thái. Mỗi ngôn ngữ đều có chức năng riêng của nó và được sử dụng bởi từng nhóm cụ thể.

Tiếng Aram được các học giả chấp nhận rộng rãi xem như ngôn ngữ chính mà Chúa Giêsu đã nói.

Tiếng Do Thái được duy trì bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo Palestine ở thế kỷ đầu, nhưng nó không phải là ngôn ngữ phổ biến mà ai cũng biết nói. Chúa Giêsu đã chứng minh rằng Ngài có thể đọc tiếng Do Thái khi cầm được cuộn sách trong hội đường (Lc 4, 16-30), nhưng hầu hết các môn đệ của Ngài đều mù chữ, không biết tiếng Do Thái.

Ngày nay tiếng Aram vẫn được sử dụng trong nghi lễ Maron (thuộc Liban).

Trong số các truyền thống phụng vụ của Giáo hội ngày nay, tiếng Aram vẫn được dùng cho các công thức thiết lập Thánh Thể theo nghi lễ Maron.

Theo Giáo phận thánh Maron [Eparchy of St. Maron], “Phụng vụ Maron là phụng vụ nguyên thủy được phát triển ở Antiôkia bằng tiếng Aram ngay sau thời các Tông đồ… Các ngôn ngữ trong phụng vụ Maron là tiếng Syro-Aram cổ được dùng trong một số phần cố định (Trisagion[1], Qadishat aloho; hai cách đến gần bàn thờ; truyền phép bánh và rượu).

Đó là cách độc nhất vô nhị để trải nghiệm phụng vụ, nghe công thức thiết lập Bí tích Thánh thể bằng ngôn ngữ mà Chúa Giêsu đã dùng.

Philip Kosloski

Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

(gpquinhon.org 26.07.2021)

[1] Trisagion: Tam Thánh Ca [(a) Lập lại ba lần tán dương Thiên Chúa, như trong sách Isaia 6,3 (b) Một loại ứng đáp hay tán tụng ngắn mà Giáo Hội đông phương thường dùng].

Read More
25Tháng Bảy
2021

Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

25/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

 

Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, “đừng sờn lòng nản chí”[1] và Ngài cũng lưu ý là “đừng lải nhải như dân ngoại”[2] vì không phải hễ nói nhiều là được nhận lời. Hiểu rõ ý nghĩa của việc cầu nguyện, thánh Biển Đức đã dạy các môn sinh của mình: “Chẳng phải do nhiều lời nhưng chỉ cần một tấm lòng thanh sạch, hòa với dòng lệ thống hối là được Chúa nhận lời. Vì thế, lời cầu nguyện phải ngắn gọn – tinh tuyền”.[3]

 

Truyền thống Giáo hội kể lại rằng: Vào khoảng thế kỷ III, từ các giáo phụ sống trong sa mạc cho tới nhóm người hành hương Nga, từ các vị đan tu Tây phương cho tới Ðông phương, tất cả chỉ có một ưu tư, một tìm kiếm say mê: đó là có thể thực hành một lời cầu nguyện kiên trì được rút từ một câu Kinh Thánh hoặc một lời dốc lòng để lặp đi lặp lại suốt ngày sống, thúc giục lòng yêu mến và sự kết hiệp mật thiết với Chúa. Do đó, đã xuất hiện một trào lưu cầu nguyện mới với tên gọi “lời nguyện tắt”, “lời nguyện bắn tên” hoặc nói theo kiểu của Cassien là “cầu nguyện bằng lửa”. Hình thức cầu nguyện này giúp cho các đan sĩ dễ dàng liên lỉ kết hợp với Chúa trong cô tịch và thanh vắng.

 

Trải dài suốt nhiều thế kỷ, hình thức cầu nguyện này đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn sống tràn đầy thiện hảo trong ân sủng và tương quan mật thiết với Chúa. Trong những ngày còn lại của tháng kính Thánh Tâm Chúa và tiếp tục trong đời sống thường ngày của chúng ta, hẳn chúng ta cũng nên dùng những “lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu” như những “mũi tên lửa” của tâm hồn khát khao tình yêu, bắn vào trái tim thương xót của Chúa Giêsu làm tuôn trào mạnh nguồn sự sống và dòng nước ân sủng, từ đó chúng ta được nuôi dưỡng, được “sống và sống dồi dào”.[4]

Kho tàng của Giáo hội ngập tràn những lời kinh nguyện vắn tắt và cô đọng, tuy nhiên chúng ta được đánh động bởi những lời cầu nguyện giúp ta dễ dàng sà vào cung lòng Chúa, nương ẩn nơi Trái Tim Rất Thánh của Chúa trong mọi nơi mọi lúc:

Khi chìm ngập trong lỗi tội, ta khao khát lòng thương xót bao dung, miệng và lòng ta thốt lên lời nguyện tắt: “Lạy rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con”.

Khi ta khô khan nguội lạnh, lúc ta chán nản muốn xa lìa Chúa, tim ta rung lên lời: “Lạy Trái Tim nhân lành Đức Chúa Giêsu, xin ban cho con kính mến Trái Tim Chúa mỗi ngày một hơn”.

Khi ta khó ứng xử giữa dòng đời vạn biến, ta lặp đi lặp lại lời nguyện: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa”.

Với việc suốt ngày chỉ lặp đi lặp lại cùng một lời kinh có vẻ như đơn điệu và nhàm chán, nhưng nhờ tác động yêu mến của con tim ta sẽ dần dần có được một cảm thức nhạy bén để “sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa”.[5] Linh phụ Jean Cas-si-en tin rằng, một lời kinh được lặp đi lặp lại, có sức thống nhất tâm hồn. Vì thế, để lời cầu nguyện chúng ta đạt kết quả tốt, chúng ta phải kết hợp suy nghĩ của khối óc với ước muốn trong con tim, và mọi tác động của giác quan sao cho thống nhất hài hòa.

 

Lời nguyện vắn tắt là phương thế giúp ta sống trong trạng thái cầu nguyện liên lỉ. Vì thế giáo phụ Caisianô nói: “Tột đỉnh của sự trọn lành là biến tất cả cuộc sống với mọi nhịp đập của con tim của chúng ta trở thành một lời cầu duy nhất không ngưng nghỉ”. Quả vậy, tim chạm vào tim, lòng chạm vào lòng, khát khao nên thánh và nên hoàn thiện của chúng ta chạm vào Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu bằng những lời nguyện tắt kết hiệp, lẽ nào không là việc của yêu mến hết tình ta dành cho Chúa sao?

Hỡi ai vất vả gánh gian nan

Đường đời khốn khổ ách lầm than

Đến đây Ta sẽ cho bổ sức

Nương náu Thánh Tâm chốn an nhàn.

Hãy học với Ta đức khiêm nhường

Hiền lành nhân hậu và dễ thương

Rồi ách của con, nên êm ái

Và gánh của con, sẽ nhẹ nhàng.

Xin Chúa cho con chỗ náu nương

Trong Thánh Tâm Chúa tràn yêu thương

Nghỉ ngơi, bổ dưỡng bằng Thánh Thể

Thần lực nuôi con suốt dặm trường.

Xin Chúa cho con học hiểu bài

Thực hành trong suốt cõi trần ai

Trở nên nhân chứng tình yêu Chúa

Đời đời danh Chúa rạng, chẳng phai.

 

Nt Maria Thérèse Minh Thùy, dòng Đaminh Rosa Lima

 

_______________________________________

1 Lc 21,36; Lc 18,1

2 Mt 6,7  

3 Tu luật thánh Biển Đức, chương 20,3-4

4 Ga 10,10

5 St 17,1

Read More
24Tháng Bảy
2021

CÁC THỪA TÁC VỤ TRONG GIÁO HỘI

24/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

GIÁO HỘI HỌC II – CHƯƠNG 13: CÁC THỪA TÁC VỤ TRONG GIÁO HỘI

Giáo hội của Ðức Kitô có một cơ cấu quản trị và chỉ đạo: Truyền thống gọi cơ cấu ấy là phẩm trật . Nhưng Tân Ước cho thấy là còn có nhiều hạng thừa tác viên khác nữa, với những tên gọi riêng; vậy, thử xem cho biết các danh xưng ấy mang ý nghĩa gì, và được xếp hạng theo trật tự nào.[1]

NHỮNG DANH HIỆU

Giáo hội sơ khai, tựa như một người sơ sinh, chưa tỏ rõ hết các chức năng, chưa phân biệt hết các chức vụ của mình; vậy, cũng như một cơ quan sống động: càng lớn lên thì càng tỏ rõ tài lực và chức năng của mình. Giáo hội cũng thế.[2]

Có những danh hiệu Tân Ước dùng đến, có thể được gọi là chung, vì áp dụng được cho tất cả; chẳng hạn như danh xưng đoũlos (“nô lệ, tôi tớ”) hoặc điákonos (“người phục vụ”), mà chính Ðức Giêsu cũng đã nói đến (x. Lc 17: 7). Mười hai tông đồ tự xưng là “tôi tớ” (x. Cv 4: 29), và thánh Phaolô đã dùng danh xưng ấy để giới thiệu mình (x. Rm 1: 1). Còn phận sự phục vụ nói chung thì được gọi là điakonía (“dịch vụ”), như thường đọc thấy trong Tân Ước (x. Cv 1: 17.27; 20: 24; 21: 19; Rm 11: 13, v.v.). Những thừa tác viên ngoài nhóm sứ đồ cũng được gọi như thế: Apollos là điákonos (x. 1Cr 3: 5) cũng như Tykhicos (x. Cl 4: 7; Ep 6: 1). Timôtêô và Êrastô là điákonoi của Phaolô (x. Cv 19: 22). Timôtêô là đoũlos (x. Pl 1: 1) và là điákonos của Thiên Chúa (x. 1Tx 3: 2), rồi cũng còn được gọi là ergátês (“người thợ:” 2Tm 2:15; x. 1Cr 16: 10), là “binh sĩ” (x. 2Tm 2: 3), như chính Phaolô đã nói về mình (x. 2Cr 10: 3). Lúc đầu, các danh xưng này chưa mang một ý nghĩa chuyên môn; nhiều lúc chỉ được dùng theo lối ẩn dụ.

CÁC THỪA TÁC VỤ

Khi đề cập đến các nhiệm vụ trong cộng đoàn, để “Nhờ đó, các thánh được chuẩn bị mà làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Ðức Kitô” (Ep 4: 12), thánh Phaolô đã dùng đến một số danh hiệu rút từ truyền thống Do thái mà lược kê ra.[3] Ngài chỉ dựa theo nhu cầu cụ thể mà kể ra, chứ không có ý liệt kê đầy đủ tất cả. Thường thì các danh hiệu ấy được chia ra làm ba loại như sau:

  1. Thừa Tác Vụ Lời Nói

Thánh Phaolô đặt các nhiệm vụ này ở đầu danh sách, vì đời sống kitô bắt đầu bằng đức tin và đức tin đón nhận được nhờ lời nói (x. Rm 10: 17). Sau “tông đồ ” thường là đến các tiên tri , [4]tức là những người khuyên bảo cộng đoàn (x. Cv 15: 32) và giải nghĩa những điều Thiên Chúa mạc khải.[5] Bên cạnh đức ái, đoàn sủng hay nhiệm vụ này được Phaolô ca tụng nhiều nhất, vì đóng vai tích cực xây dựng Giáo hội (x. 1Cr 14: 1-5) và được Chúa đặt cùng với các tông đồ, làm nền móng của “nhà Thiên Chúa” (x. Ep 2: 20; 3:5). Vậy, đứng đầu là thừa tác vụ sứ đồ, vì sứ đồ làm chứng cho Ðức Kitô phục sinh và rao giảng kerygma; thứ đến là các tiên tri có phận vụ đào sâu “mầu nhiệm” trong cộng đoàn. Mọi tín hữu đều có thể được ơn tiên tri, bởi đó là một đặc sủng căn bảøn. Tân Ước còn nêu lên trường hợp các nữ tiên tri (x. 1Cr 11: 5), như bốn cô con gái của Philipphê (x. Cv 21: 9). Giáo hội đã có các tiên tri như thế trong những thế hệ đầu. Trong thời sách Ðiđakhê (đầu thế kỷ 2), xem ra là các tiên tri đã cùng với các tiến sĩ, đóng giữ vai trò quản trị cộng đoàn và cử hành lễ bẻ bánh.[6]

Các tiến sĩ (điđáscalos) là những thầy dạy giáo lý.[7] Họ được liệt kê cùng với các tiên tri và các vị chăn chiên (x. Ep 4: 11), và dường như họ thuộc về cơ chế của cộng đoàn. Là những người biết dạy dỗ, biết diễn dịch và gìn giữ giáo lý, họ quả là tổ tiên của các giáo lý viên và các nhà thần học. Các giảng viên Tin mừng (euaggelistés Ep 4: 11) có lẽ là những người làm việc thừa sai, như Philipphê (x. Cv 21: 8) và Timôtêô (x. 2Tm 4: 5).

Các danh hiệu trên đây không chỉ về một chức vụ đặc biệt, nhưng là về một tác vụ, bởi một tông đồ có thể làm tất cả các công tác ấy, và mặt khác, những nhiệm vụ khác nhau cũng được gọi bằng các tên gọi đó (x. Cv 13: 1). Một tông đồ cũng là tiến sĩ (x. 1Tm 2: 7; 2Tm 1: 11), là tiên tri (x. Cv 2: 16tt) và là giảng viên Tin mừng (x. 1Cr 1: 17).

  1. Thừa Tác Vụ Cứu Tế Từ Thiện

Thánh Phaolô nói đến chức vụ này trong câu 1Cr 12: 28 (antílempsis): đó là nhiệm vụ của trợ tá (x. 1Tm 3: 8-12). Lúc đầu, chính các tông đồ lo việc từ thiện, nhưng sau đó, các vị đã ủy thác cho các trợ tá (x. Cv 6); sau này, Phaolô vẫn còn coi đó là nghĩa vụ của mình (x. 2Cr 8: 4; 9: 6). Những điákonoi này là những nhân viên – hoặc là nam hay là nữ (x. Rm 16: 1) – lo việc phân phát của cải cho người nghèo (x. Rm 12: 8). Những điáconoi đầu tiên cũng có thể giảng lời Chúa như Philippê và Stêphanô. Lịch sử cho thấy là nhiệm vụ này đã biến thành chức vụ phó tế.

  1. Thừa Tác Vụ Quản Trị

Những cộng đồng kitô dù là sơ khai thì cũng không phải là những đám đông “vô trật tự,” nhưng đã được tổ chức như các cộng đồng tương tự đương thời, nhất là như các cộng đồng hội đường Do thái. Phaolô đã nói về kybérnesis, việc “quản trị ,” tổ chức “hành chánh” (x. 1Cr 12: 28), hoặc là về những người “đứng đầu” (proistámenoi),[8] cũng như đã đề cập đến những kẻ chăn dắt các giáo hữu.[9] Dường như các “của đầu mùa” (những người đầu tiên gia nhập cộng đoàn kitô) nhắc đến trong 1Cr 16: 15-16, cũng có nhiệm vụ này. Thư Do thái nhủ các tín hữu phải vâng lời những “lãnh đạo” của họ (x. Dt 13: 7.17), nghĩa là những người điều khiển cộng đoàn. Phổ biến nhất là danh hiệu kỳ mục (presbýteros: trưởng lão), gặp thấy lần đầu tiên ở Giêrusalem, khi cộng đoàn tại đây trở thành một đoàn thể dưới sự lãnh đạo của thánh Giacobê.[10] Những kỳ mục cũng xuất hiện trong các Giáo hội do Barnaba và Phaolô sáng lập (x. Cv 14: 23; 20: 17), và trong hai ba thế hệ sau, chức vụ này đã rộng rãi có mặt ở khắp nơi.[11] Tuy nhiên, danh xưng này không hẳn chỉ về một chức vụ xác định, vì tông đồ Phêrô cũng tự xưng là “đồng kỳ mục” (sympresbýteros: 1Pr 5: 1) hệt như tác giả của các thứ hai và thứ ba của Gioan.

Nhiẹâm vụ kỳ mục là: chăn chiên Chúa (1Pr 5: 1; Cv 20: 28), coi sóc (1Pr 5: 2 = episcopéô, x. Cv 20: 28), chủ tọa cộng đoàn (1Tm 5: 17). Hình như họ hoạt động không theo kiểu riêng biệt nhưng là theo đường lối tập đoàn, vì thánh Phaolô thường dùng số nhiều để nói về họ, hệt như khi nói về các epíscopoi và điakónoi (1Ts 5: 12; Pl 1: 1).

Tình huống Giáo hội đã từ từ biến đổi như đọc thấy ở trong các thư mục vụ: tác giả nói về những kỳ mục, trong khi chỉ nói về một giám sư (epíscopos) duy nhất trong cộng đoàn.[12] Nhân vật này phải biết dạy dỗ (x. 1Tm 3: 2; Tt 1: 9), giữ phận vụ chủ tọa (x. 1Tm 3: 4-5), và được gọi là quản lý (oikonómos) của Thiên Chúa (x. Tt 1: 7) như chính Phaolô và Apollos (1Cr 4: 1) vậy. Tổ chức của Giáo hội ngày càng rõ ràng và quy củ hơn, tựa như tình trạng thánh Inhaxiô Antiôkia miêu tả hồi đầu thế kỷ thứ hai.

Các nhiệm vụ trên đây đều tiến hành hoạt động trong các cộng đoàn địa phương. Nhưng bao lâu còn sống, thì các tông đồ (ít nhất là thánh Phaolô) vẫn tiếp tục – hoặc là trực tiếp hay là gián tiếp qua ủy viên như Timôtêô và Titô – coi sóc các Giáo hội họ đã sáng lập. Về phận sự và quyền hạn của các chức vụ ấy thì chưa ai biết được gì rõ; chỉ biết là viên chức ấy thông phần vào phận vụ của các tông đồ tùy hoàn cảnh và tùy từng cá nhân. Nhưng, với thời gian thì càng thấy rõ là có một quy củ chung, chứ không phải chỉ để tùy sáng kiến của mỗi cộng đoàn. Quả vậy, từ rất xa xưa, các cộng đoàn kitô vẫn hằng cẩn trọng trung thành bước theo đường lối của “truyền thống” (x. 1Cr 11: 23; 15: 3).

Hãy thử xem phận sự của những nhiệm vụ chính.

  1. Tông Ðồ

Trong tất cả các danh sách liệt kê các nhiệm vụ, bao giờ tông đồ (apóstolos ) cũng đứng đầu; tất thảy các nhiệm vụ khác đều phát sinh từ tác vụ tông đồ (sứ đồ).

Nhưng, ai là “tông đồ”? Trong Tân Ước, có thể nhận ra hai cách quan niệm: đối với Luca, tông đồ là chứng nhân; còn Phaolô thì quan niệm tông đồ là thừa sai. Thánh Luca hiểu Nhóm Mười Hai là nhóm các tông đồ, và làm như chính Ðức Giêsu cũng đã gọi họ bằng danh hiệu ấy (x. Lc 6: 13).[13] Thực ra, trước ai hết, Phaolô đã nhận các vị là tông đồ (x. Gl 1: 17). Sách Khải huyền cũng tán đồng với Luca khi dùng đến cách xưng hô “mười hai tông đồ” (Kh 21: 14). Tuy nhiên, dường như danh hiệu này chỉ xuất hiện sau khi Ðức Giêsu đã lên trời.

Ngoài “mười hai môn đệ” ra, Tân Ước còn nói đến một số “tông đồ” khác. Phaolô kể ra những tông đồ lưng danh nhất (x. Gl 1: 17-19; 2: 8-9) là Phêrô, Gioan và Giacôbê (Giacôbê này không thuộc Nhóm 12). Sau đó thì có Phaolô và Barnaba (x. 1Cr 9: 5; Cv 14: 14). Vì apóstolos có nghĩa là sứ giả; thế nên, Tân Ước đã nói về những sứ giả của Ðức Kitô và những sứ giả của các Giáo hội (x. 2Cr 8: 23): như Eâpaphrôđitô (x. Pl 2: 25). Thánh Phaolô coi Anđrônicô và Giunia là những người “xuất sắc trong các tông đồ” (Rm 16:7; dù có lẽ nên dịch câu này là “xuất sắc cho các tông đồ”). Danh hiệu “tông đồ” được dùng rộng ra – và cả lạm dụng nữa – trong những thế hệ sau (x. Kh 2: 2): sách Ðiđakhê và thánh Clêmentê nói về những tông đồ còn hoạt động trong các Giáo hội; Clêmentê Alêxanđria († 215) gọi Clêmentê thành Rôma († 96) là tông đồ.[14] Mỉa mai, thánh Phaolô đã lấy tên “siêu sứ đồ” (2Cr 11:5: 12:11) mà đặt cho các “sứ đồ giả” (2Cr 11: 13). Vì thế, chỉ đơn thuần dựa theo danh hiệu “tông đồ” mà thôi, thì không thể biết được địa vị và phận vụ của những người được gọi như thế ở trong Giáo hội. Ðặc tính của các tông đồ “hàng đầu” hay nghĩa hẹp, là:

— Ðã tận mắt nhìn thấy Ðức Kitô phục sinh, và được gọi là “chứng nhân” (Cv 1: 2t; 1Cr 15: 5-7). Luca còn đòi hỏi thêm là đã từng “đồng hành” với Ðức Giêsu sinh tiền;

— Ðã được Chúa phái đi rao giảng Tin mừng (x. Rm 1: 1; 1Cr 1: 1-2; 2Cr 1: 1; Cl 1: 1; Ep 1: 1; Gl 1: 15-16);

— Ðã được phái đi với quyền của Ngài (x. Mt 28: 18t; Mc 16: 16; Lc 24: 27; Ga 13: 20; 20: 21-3);

— Làm nền móng của Giáo hội (x. Ep 2: 20).

Nhiệm vụ của các tông đồ cốt tại ở công tác rao giảng Tin mừng, vì đó là nhu cầu số một trong giai đoạn sáng lập Giáo hội; rồi còn phải rửa tội và thiết lập cộng đoàn. Trong Giáo hội, các ngài chủ tọa, tức là huấn dục các tín hữu, đứng đầu các bữa bẻ bánh và coi sóc việc từ thiện. Diễn đạt theo lối thần học, thánh Phaolô gọi đó là thừa tác vụ hòa giải (x. 2Cr 5: 18).

  1. Những Hợp Tác Viên Của Các Tông Ðồ

Quá trình thành tựu phẩm trật của Giáo hội bắt đầu với các tông đồ; rồi sau đó, các ngài chia sẻ phận vụ của mình với một số người hợp tác. Như vậy, phận sự tổng quát duy nhất của các tông đồ được chia thành nhiều phận vụ riêng biệt khác nhau; và cuối cùng, khi các ngài vắng mặt hoặc mất đi, thì những người hợp tác ấy kế nhiệm vào những phận vụ riêng biệt này.[15]

Trong cộng đoàn Giêrusalem , các tông đồ đã chia sẻ một phần của nhiệm vụ của mình cho bảy vị trợ tá (x. Cv 6: 6). Khi Giáo hội bị bách hại lần đầu (x. Cv 8: 1), các môn đồ di tản và nhiều cộng đoàn được sáng lập. Nhưng các tông đồ vẫn đảm nhận trách nhiệm về họ (x. Cv 8: 14t), dù các cộng đoàn ấy đã có người đứng đầu; chẳng hạn như ở Ðamát có Anania (x. Cv 9: 10). Một số năm sau, Giáo hội Giêrusalem có cả một đoàn kỳ mục dưới quyền lãnh đạo của Giacobê, người “anh em” Ðức Giêsu. Ðó là thể chế gốc hay mẫu của các địa phận: đặt dưới quyền cai quản của một giám mục với sự hợp tác của một linh mục đoàn.

Các kỳ mục xuất hiện trong nhiều Giáo hội. Trước hết là tại Giêrusalem (x. Cv 11: 30); sau đó, Barnaba và Phaolô bổ nhiệm kỳ mục trong Giáo hội lương dân (x. Cv 14: 23), dù có lẽ với danh hiệu khác. Thời các thư mục vụ, những kỳ mục là thành phần trong cơ chế của các Giáo hội địa phương.[16] Những “giám sự” (epískopos) được giới thiệu lần đầu tiên ở Cv 20: 28, dù có lẽ chính Phaolô chưa dùng đến danh xưng ấy. Nhưng Phaolô đã gọi họ như thế ở trong Ph 1:1. Trong tiếng Hy lạp, từø epískopos được dùng để gọi những người giám sát. Nhưng chắc chắn là trong Giáo hội, từ ấy mang ý nghĩa lấy từ thế giới Do thái. Trong Cựu Ước (bản LXX ), epískopos chỉ về một phụ tá cai quản một nhóm (x. Tl 9: 28), hoặc là một tướng tá (x. 31: 14), hay là người trông nom (x. 2V 11: 18). Thời các tông đồ, phái Êssêniô có chức vụ gọi là mebaqqer (Hy bá), tức epíscopos (Hy lạp), là viên giám sự quản trị một cộng đoàn. Ðương nhiên là về mặt đó, Giáo hội đã chịu ảnh hưởng của tổ chức này. “Giám sự” mà các thư mục vụ giới thiệu thì rất giống “giám mục ” của truyền thống kitô; và nhiệm vụ episkopê (“giám sát”) lại được miêu tả hệt giống nhiệm vụ của một tông đồ (x. Cv 1: 20) hoặc của một niêm trưởng (x. 1Pr 5: 2), tức là nhiệm vụ điều khiển cộng đoàn. Lúc đầu, tưởng chừng như hai danh hiệu này mang cùng một ý nghĩa, chỉ được dùng thay nhau tùy chỗ, nhưng dần dần rõ ràng là “giám sự” đã được dành để chỉ người có phận vụ lãnh đạo côïng đoàn, tức là “giám mục.”

Ðiákonos là tên gọi chung, có nghĩa: “tôi tớ, người hầu;” nhưng vào giữa thế kỷ thứ nhất, thư Philipphê 1: 1 đã liệt kê các điákonoi – mà thường được dịch ra là những phó teá – cùng với các epíscopoi. Vì thường đi liền theo sau các “giám sự,” trong những bản liệt kê, nên các điákonoi được coi là thuộc viên của “giám sự.” 1Tm 3: 8-13 cũng nói là các “phó tế” ấy ở dưới quyền của giám mục. Họ cũng làm thành một đoàn thể; nhưng thời ấy họ giữ phận vụ gì thì không ai rõ.[17]

Thể Chế Quản Trị Cộng Ðoàn

Giáo hội sơ khai có một thể chế tập đoàn.[18] Ðức Giêsu triệu tập Nhóm 12 tông đồ như một đơn vị riêng biệt; sau phục sinh, Mátthia thay thế Giuđa. Phêrô có một địa vị đặc thù, nhưng không dùng quyền cai quản các tông đồ khác. Toàn nhóm “Mười Hai” thiết lập bảy trợ tá (x. Cv 6: 2); “các tông đồ” cử Phêrô và Gioan đi Samaria (x. Cv 8: 14) và sau vụ Cornêliô, Phêrô minh trình sự việc và cách xử sự của mình trước “các tông đồ và các anh em” (x. Cv 11: 1t). Cung cách làm việc tập đoàn như thế tỏ lộ trong cuộc họp gọi là công đồng Giêrusalem : “các tông đồ và các kỳ mục” triệu tập, xét xử và quyết định (x. Cv 15: 2.4.6.22.23; 16: 4). Giáo hội Antiôkia cũng đã làm việc theo cung cách tập đoàn như vậy, nhưng lại không có tông đồ; thế nên “Giáo hội” đã phái gửi Barnaba và Phaolô đến, sau khi đặt tay trên họ (x. Cv 13: 2-3). Các văn kiện luôn luôn nói về các kỳ mục và giám sự trong số nhiều,[19] như là thuộc về cùng một đoàn nhóm, một trật bậc.

Thể chế tập đoàn này phát nguồn từ gốc Do thái. Thành ngữ “các tông đồ và các kỳ mục” là một dạng song song của cách nói “các thượng tế và các kỳ mục” (x. Cv 23: 14; 25: 15). Vì thế, có thể giả thiết là mỗi tập đoàn có một vị đứng đầu. Hình như “giám sự” là kỳ mục được chọn làm chủ tịch, nơi thì lần lượt hoặc theo nhiệm kỳ ngắn, nơi thì trong một thời gian dài hơn. Lúc đầu, “phẩm trật” chỉ có hai bậc: kỳ mục hay giám sự và trợ tá; và trong thời các thư mục vụ, thì đã thấy có ba bậc: giám sự, kỳ mục và trọ tá, dù những phâän vụ của họ chưa phân định cho rõ lắm. Ðầu thế kỷ thứ hai, ba bậc ấy đã được phân biệt rõ, và đó là các bậc: giám mục, linh mục, và phó tế.

Như thế, Giáo hội sơ khai đã có một phẩm trật sơ khai. Lúc đầu, trọng tâm là rao giảng Tin mừng, thứ đến mới lo đến việc tổ chức; và cơ cấu tổ chức biến phát cho đến thời trưởng thành, khi trong Giáo hội thấy xuất hiện rõ phẩm trật ba bậc. Chẳng thế mà L. Cerfaux đã chia quá trình tiến phát của Giáo hội ra ba giai đoạn như sau: “Giáo hội của sứ điệp; Giáo hội được tổ chức và quản trị, Giáo hội có phẩm trật.”[20]

[HTTH SỐ 20&21, NĂM THỨ TÁM (1998)]

[1] Xem “The Ministry in the New Testament. Recent Research,” Bibl.Theol.Bull. 3(1973) 133-176; Collins, J. N. , Diakonia, Re-interpreting the Ancient Sources, Oxford U.P. 1990

[2] Xem McKenzie, J.L. , “The Ministerial Structures in the New Testament,” Concilium 1972/8,13-22; Le ministère et les ministères, selon le Nouveau Testament, Paris: Seuil 1974; Bartlett, David , Ministry in the New Testament, Fortress: Minneapolis 1993.

[3] Xem 1Cr 12: 28-31; Rm 12: 6-8; Ep 4: 11; 1Pr 4: 10-11 cũng có danh sách tương tự.

[4] 1Cr 12: 28; Rm 12: 6; Ep 4: 11, cũng như ở Cv 11:27; 13:1; 21:10 và ở sách Ðiđakhé.

[5] 1Cr 14: 6.26.30; Ep 3: 5; Cv 13: 1.

[6] Ðiđakhê 10,15; 11,3,7-12; 13.1,3,6; 10,1.

[7] 1Cr 12: 28; Ep 4: 11; Rm 12: 7, cũng như Cv 13: 1, và Ðiđakhê 13,2.

[8] Rm 12: 8; 1Ts 5: 12-13

[9] Ep 4: 11; Cv 20: 28; xem 1Pr 5: 2, Ga 21: 16.

[10] Xem Cv 11: 30; 12: 17; 15: 2-6.22; 16: 4; 21: 8

[11] Xem Gcb 5: 14; 1Tm 5; Tt  1: 5; 1Pr 5: 1-5;  2Ga 1; 3Ga 1; xem Campbell, R. A. , The Elders: seniority within earliest Christianity, Edinburgh: T&T Clark 1994

[12] Xem 1Tm 5: 17-22; Tt 1: 5tt; 1Tm 3: 1-7; Tt 1: 7-9.

[13] Luca không gọi Phaolô là “tông đồ” trừ ra ở Cv 14: 4.14, mà L. Cerfaux cho là “c’est une distraction.” Xem thêm Agnew, F. , “The Origin of the New Testament Apostle-Concept: A Review of Research,” Journ.of Bibl. Lit. 105 (1986) 75-96.

[14] Xem Stromata 4.17.

[15] Lemaire, A. , Les Ministères aux origines de l’Église. Naissance de la triple hiérarchie: évêques, prêtres, diacres, Paris: Cerf 1971; Congar, Y. , Ministère et communion ecclésiale, Paris: Cerf 1971; Lohfink, G. , L’Église que voulait Jésus, Paris: Cerf 1985.

[16] Inhaxiô Antiokia nói về họ ở Tiểu Á, cũng như Clêmentê thành Rôma ở Corinthô, và phải giả thiết ở Rôma nữa.

[17] Xem Lecuyer, J. , Le diacre dans le monde et l’Église d’aujourd’hui, Paris: Cerf 1966, trg. 20-23.

[18] Xem Lyonnet, S. , “La collégialité épiscopale et ses fondements scripturaires,” trong Barauna, G. (ed), L’Église de Vatican II, Paris: Cerf 1966, trg. 829-846.

[19] Về những kỳ mục: Cv 20: 17; 21: 18; Tt 1: 5; Dt 11: 2; Gcb 5: 14; 1Pr 5: 1.5; 1Tm 4: 14 có presbyterion (hàng kỳ mục); về những giám sự: Cv 20: 28; Pl 1: 1.

[20] Cerfaux, L. , La théologie de l’Église suivant Saint Paul, 378-379.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 57
  • Page 58
  • Page 59
  • …
  • Page 79
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.