2021
Lễ Giáng Sinh có thật là kế tục một ngày lễ của dân ngoại không?
Lễ Giáng Sinh có thật là kế tục một ngày lễ của dân ngoại không?
Chủ đề này đã được bàn cãi rất nhiều, và hầu như cứ xuất hiện đi xuất hiện lại mỗi dịp Giáng Sinh về, và hầu hết đều kết luận rằng 25/12 là một ngày được chọn theo ngày lễ “Sinh nhật của Mặt Trời hùng mạnh” của dân ngoại thời đế quốc La Mã. Tuy nhiên,thực tế không đơn giản như vậy: Hội Thánh có căn cứ để mừng Chúa Giáng Sinh vào tháng 12, không phải lấy ngày của người ngoại rồi mừng kính ngây thơ.
Bằng chứng sử học
Theo sử liệu, hoàng đế Aurelianô của La Mã đã sáng lập lễ “Sinh nhật Mặt Trời hùng mạnh” vào ngày 25/12/274 SCN, nhằm cố gắng thay thế một ngày lễ quan trọng của Kitô Giáo đã có trước đó. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện một học giả Tin Lành Đức, tên là Paul Ernst Jablonski, khẳng định lễ Giáng Sinh là một ngày lễ du nhập từ dân ngoại, để chỉ trích Công Giáo đã làm suy thoái Kitô Giáo thời ban đầu. Không lâu sau đó, một tu sĩ dòng Bênêđictô tên là Dom Jean Hardouin cũng khẳng định lễ Giáng Sinh 25/12 là ngày được tiếp nhận từ dân ngoại, nhằm bênh vực cho Giáo Hội Công Giáo đã hội nhập văn hoá mà không làm sai lệch Tin Mừng. Thực tế, trước năm 274, lễ Mặt Trời được tổ chức vào ngày 9/8 và 28/8 và không phải là những lễ hội quan trọng. Hơn nữa, đó còn không phải là các lễ hội tôn giáo. Chính vua Aurelianô, người có ác cảm với Kitô Giáo, đã dời những lễ đó vào ngày 25/12 để đồng hoá một ngày lễ tôn giáo của người Kitô giáo. Dù vậy, khi lập lễ này, nhà vua không có ý mừng ngày đông chí như nhiều người vẫn nghĩ.
Hơn nữa, Rôma thời đó có rất nhiều lễ hội lớn, trải dài suốt 12 tháng trong năm, nên nói người Kitô Giáo nhất định đã chọn 25/12 làm lễ Giáng Sinh là không thuyết phục. Quả vậy, trong lịch tôn giáo Rôma cổ, ngày 5/1 là lễ thần Vica Pota, 9/1 lễ thần Janus, 27/1 lễ thần Song Tử, 1/3 lễ năm mới, 15/3 lễ thần Mercury, 21/4 lễ thành lập La Mã, 19/10 thần Mars, 17/12 thần Saturn, 25/12 thần Mặt Trời. Đó đều là các lễ hội lớn, không nhất thiết người Kitô Giáo phải chọn 25/12 để tổ chức Giáng Sinh.
Từ lâu trước đó, ngay từ những năm 100 SCN, các Kitô hữu đã bắt đầu cố gắng xác định ngày Chúa Giáng Sinh. Thời đó, truyền thống Do Thái cho rằng tất cả các ngôn sứ của Thiên Chúa đều có ngày được thụ thai hoặc ngày sinh trùng khớp với ngày qua đời. Do vậy, người ta cố gắng xác định ngày Chúa chịu chết để biết ngày Người được sinh ra hoặc được thụ thai. Kết quả, dựa vào thời điểm lễ Vượt Qua theo Tin Mừng mô tả, Giáo Hội Tây phương xác định 25/3 chính là ngày Chúa chịu đóng đinh, cũng là ngày Người được thụ thai trong lòng Mẹ, do vậy mà lễ Giáng Sinh phải rơi vào 25/12; trong khi các Giáo Hội Kitô Đông phương tin rằng ngày Người thụ thai là 6/4 và họ tổ chức Giáng Sinh vào 6/1. Thánh Augustinô ủng hộ quan điểm của Giáo Hội Tây phương, ngài viết: “Phải tin rằng Người đã được thụ thai vào ngày 25 tháng Ba, vào ngày đó Người cũng chịu khổ hình; như thế, lòng dạ của Đức Trinh Nữ đã cưu mang Người, nơi không có con người phải chết nào được cưu mang nữa, cũng phù hợp là ngôi mộ mới chôn cất Người, nơi không một người nào khác được chôn cất nữa, trước hay sau Người” (Augustine thành Hippo, “Về Chúa Ba Ngôi”).
Năm 204 SCN, Thánh Hippôlitô thành Rôma đã viết: “Trong lần đến thứ nhất của Chúa chúng ta trong xác thịt, Người sinh ra ở Bethlehem, là vào ngày 25 tháng Mười Hai, một ngày thứ tư trong tuần, khi Augustô đang ở năm thứ 42 của ông.” Thánh Hippôlitô viết những đoạn này 70 năm trước khi Aurelianô thiết lập lễ Sinh nhật Mặt Trời, và Thánh nhân không nói gì về lễ Mặt Trời nào cả, chứng tỏ khi đó nó chưa tồn tại vào ngày 25/12. Như vậy, trước khi có lễ Mặt Trời, người Kitô Giáo đã cử hành một ngày độc lập với mọi cử hành ngoại giáo. Năm 221, sử gia Kitô Giáo có uy tín Sextus Julius Africanus cũng xác nhận Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25/12.
Cuộc cử hành lễ Giáng Sinh đầu tiên được ghi nhận vào 25/12/336 SCN, sau khi La Mã đã thiết lập lễ Mặt Trời. Năm 350, Giáo Hội thiết lập lễ Sinh Nhật Chúa Kitô chính thức vào ngày 25/12, dưới thời Đức Giáo Hoàng Julius I. Thánh Gioan Kim Khẩu (349-407) viết rằng: “Nhưng Chúa chúng ta, cũng vậy, đã sinh ra vào tháng Mười Hai, tám ngày đếm về trước tính từ ngày đầu tháng Giêng… Nhưng nhiều người gọi đó là ‘Sinh nhật của hùng mạnh’… Thực sự thì ai hùng mạnh bằng Chúa chúng ta?… Hay họ cũng gọi đó là ‘Sinh nhật của mặt trời’, chính Chúa là Mặt Trời Công Chính!”
Xét về thần học, các đấng Giáo Phụ vẫn thường nói: Chúa Giêsu chính là Mặt Trời công chính, Mặt Trời cứu độ. Sách tiên tri Malakhi có nói: “Với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, Mặt Trời công chính sẽ mọc lên cho các ngươi” (Ml 4,2). Tin Mừng Luca thì nói: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Dương tự chốn cao vời viếng thăm ta” (Lc 1,78). Và trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu phán rằng: “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Chính vì vậy, nếu có chọn ngày đông chí – ngày mà dân ngoại tôn vinh thần Mặt Trời – để làm ngày Giáng Sinh, thì cũng là để nhấn mạnh Chúa Giêsu quả thật là Mặt Trời soi sáng thế gian.
Bằng chứng Kinh Thánh
Bây giờ đến bằng chứng Kinh Thánh. Chúng ta biết rõ Thiên sứ Gabriel hiện ra với ông Dacaria để truyền tin sinh Ngôn sứ Gioan khi ông vào Đền Thờ để dâng hương. Truyền thống thánh, được Thánh Gioan Kim Khẩu ủng hộ, xác nhận ông vào Đền Thờ vào lễ Xá Tội, Yom Kippur, ngày mồng 10 tháng Tishrei Âm lịch Do Thái, thường rơi vào giữa tháng 9-10 Dương lịch. Khi bà Êlisabét có thai được 6 tháng thì Thiên sứ Gabriel hiện ra với Đức Maria để truyền tin Mẹ chịu thai, như Tin Mừng Luca chương 1 kể. 6 tháng sau tháng Tishrei là tháng Nissan, tương đương giữa tháng 3 và tháng 4 DL; lễ Truyền Tin được chọn vào 25/3 là hợp lý. Đức Mẹ mang thai 9 tháng thì sinh con, rơi vào tháng Tevet, tức khoảng cuối tháng 12, đầu tháng 1 DL. Vậy là tương ứng với truyền thống Giáng Sinh 25/12. Tuy có nhiều lập luận khác phủ nhận việc ông Dacaria vào Đền Thờ dâng hương đúng vào lễ Xá Tội, khiến Giáng Sinh vào 25/12 là không đáng tin cậy, nhưng truyền thống kể trên do chính Thánh Gioan Kim Khẩu khẳng định, nên đáng tin tưởng hơn các nguồn khác.
Nhiều người dựa vào việc có các người chăn chiên ở ngoài đồng vào đêm Chúa sinh ra, theo Tin Mừng tường thuật, để cho rằng ngày Giáng Sinh không phải là vào mùa đông. Tuy nhiên, một chuyên gia viết trên Aleteia rằng: các mục đồng được nhìn thấy cùng với đàn chiên của họ vào mọi thời điểm trong năm, do vậy chi tiết về mục đồng không khẳng định được vấn đề thời gian. Có điều là mùa đông ở Do Thái không có tuyết như người ta tưởng tượng.
Kết luận
Như thế, nguồn gốc việc tổ chức lễ Giáng Sinh vào 25/12 có trước khi La Mã xưa chào mừng lễ thần Mặt Trời của họ, nhưng trớ trêu là người hiện đại, nhất là người Công Giáo, thường tin điều ngược lại, cho rằng ngày Giáng Sinh “kế tục” một ngày mừng của dân ngoại. Lầm tưởng này phần nào khiến lễ Chúa Giáng Sinh mất phần ý nghĩa và giá trị, vì thiếu tính chân thực. Điều nên tin là Hội Thánh được Chúa Thánh Thần soi sáng, và như Chúa Giêsu hứa rằng Thánh Thần sẽ “dẫn đưa anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13), Hội Thánh hẳn không mừng một lễ ngoại đạo tưng bừng như vậy. Dù sao, việc Chúa có thực sự sinh ra vào ngày 25/12 hay không vẫn còn là vấn đề được tranh luận. Chỉ cần biết đó là một sự thật lịch sử, không phải là huyền thoại; điểm nhấn của câu chuyện ở đây không phải là nó khi nào xảy ra mà là nó đã xảy ra. Lễ Noel phản ánh một chân lý rằng: Thiên Chúa trên trời đã xuống làm một con người dưới đất, để con người dưới đất được lên nơi của Thiên Chúa trên trời (Thánh Athanasiô).
Nguồn tham khảo:
– insidethevatican.com
Gioakim Nguyễn
2021
Vì sao chúng ta mừng lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12?
Vì sao chúng ta mừng lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12?
Sau Phục Sinh, Noel là ngày lễ quan trọng thứ nhì trong lịch phụng vụ, mở đầu năm phụng vụ. Và đó cũng là một trong ba Sinh nhật được Giáo hội công giáo mừng, hai ngày sinh kia là ngày sinh của Thánh Gioan-Baotixita, ngày 24 tháng 6 và ngày Đức Mẹ sinh ra, ngày 8 tháng 9.
Chữ Noel đến từ tiếng la-tinh “dies natalis” hay ngày sinh ra, vì thế chữ Noel luôn viết hoa khi nhắc đến ngày sinh của Chúa. Nhưng điểm quan trọng không phải ở đây, các tín hữu kitô mừng sự kiện sinh ra, chứ không phải mừng ngày sinh nhật. Đây là một tiến trình thần học chứ không phải lịch sử.
Tại sao Noel lại là ngày 25 tháng 12?
Đúng ra trong các sách vở, người ta không tìm ra dấu vết ngày sinh của Chúa Giêsu! Không tìm ra ngày, cũng không tìm ra năm… Dù trong Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm nói rõ nhất về chuyện này thì chỉ biết các mục đồng ngủ ban đêm ở ngoài đồng với đàn chiên của mình… như thế không phải là vào mùa đông! Ngày 25 tháng 12 là ngày Đức Giáo hoàng Libere chọn vào năm 353, thế kỷ thứ 4!
Ngày đông chí được ấn định trong lịch juliên có hiệu lực vào thời Chúa Giêsu sinh ra ngày 25 tháng 12… trùng với ngày 7 tháng 1 của lịch gregoria hiện nay. Điểm này giải thích các giáo hội chính thống giáo cũng theo lịch phụng vụ juliên để mừng ngày sinh của Chúa Kitô cũng vào ngày này.
Tín hữu kitô xem Chúa Giêsu là “ánh sáng cho thế gian”, phù với ngày đông chí, ngày mặt trời sống lại là hoàn toàn tự nhiên. Năm 2004, giám mục giáo phận Arras giải thích: “Việc mừng Noel nhằm vào ngày lễ lương dân đông chí là một dấu hiệu tuyệt vời. Các tia sáng mặt trời ở điểm thấp nhất trong độ nghiêng của nó. Dần dần mặt trời lấy chỗ của đêm tối. Và ánh sáng đã chiến thắng”.
Phúc Âm Thánh Gioan (8, 12) nói đến ẩn dụ một ánh sáng mới soi sáng thế gian. Noel năm 2007, Đức Bênêđictô XVI cũng nhắc lại: “Trong hang lừa ở Bêlem, trời và đất giao thoa. Mặt trời đến trên mặt đất. Vì thế, ánh sáng chiếu cho mọi thời; chính vì vậy thắp sáng niềm vui”.
Noel, để mừng một kỷ nguyên mới
Năm 425, hoàng đế phương Đông Théodose II chính thức hệ thống hóa các ngày mừng lễ Noel. Vì ngày này không trùng với lịch Hêbrơ, khác với ngày Phục Sinh và lễ Hiện Xuống là những ngày lễ theo âm lịch, ngày mừng Chúa Kitô sinh ra theo dương lịch.
Đến thế kỷ thứ 6, tu sĩ sử gia Denis le Petit tìm năm để quyết định năm Chúa Giêsu sinh ra. Theo các tính toán của tu sĩ, ông ấn định đó là năm 1, năm khởi đầu kitô giáo. Từ đó năm 1 là mốc để đánh dấu các thế kỷ trước Chúa Kitô sinh ra và sau Chúa Kitô sinh ra. Nhưng người ta nghĩ tu sĩ đã tính sai, theo lẽ Chúa Giêsu sinh ra 6 hoặc 7 năm trước năm 1.
Và theo Phúc Âm, Chúa Giêsu chết vào một ngày thứ sau khi người do thái mừng lễ Vượt qua. Theo các con số tính toán của họ, đa số các sử gia đều cho đó là ngày thứ sáu 7 tháng 4 năm 30. Lúc đó Chúa Giêsu khoảng 36 tuổi.
Noel, ngày lễ của các gia đình
Từ thế kỷ thứ 4 đã có truyền thống dâng ba thánh lễ Noel: một thánh lễ Nửa khuya, một thánh lễ Rạng đông và một thánh lễ Ban ngày. Bây giờ không buộc phải dâng thánh lễ đúng nửa đêm nhưng nửa đêm vẫn là giây phút quan trọng lúc Chúa sinh ra. Vì được xem là “lễ của các gia đình” nên thánh lễ được cử hành vào buổi tối với các bài phụng vụ của lễ nửa đêm, chứ không phải bài phụng vụ của ngày canh thức Noel. Thánh lễ Noel nói lên tinh thần ngày lễ Noel như bài hát danh tiếng Đêm thánh:
Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với trời. Se chữ đồng. Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa. Ơn châu báu vô bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền!
Ôi Chúa Thiên đàng. Cảm mến cơ hàn. Nhấp chén phiền. Vương phong trần. Ôi Thiên Chúa thương người đến quên mình. Canh khuya giáng sinh trong chốn cơ hàn. Ơn châu báu vô bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền.
(Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch, phanxico.vn 17.12.2017/
fr.aleteia.org, Marie Le Goaziou, 2017-10-07)
2021
Mẹ Maria và Thánh Thể
Mẹ Maria và Thánh Thể
Có nhiều bậc thánh nhân, như thánh Phêrô Damien, thánh Bênađô , thánh Bônaventura, thánh Bernadine . . . đã đồng thanh nói rằng, Chúa Giêsu đã thành lập Bí tích Thánh Thể, trước hết cho Mẹ Maria, rồi qua Mẹ Maria, Đấng trung gian mọi ân sủng, cho tất cả chúng ta.
Vì thế, xuất thân từ Đức Maria về thể lý, Chúa Giêsu đã đến để Ngài được ban cho chúng ta ngày qua ngày; và trong Chúa Giêsu, thịt vô nhiễm và máu trinh nguyên của Mẹ Người luôn luôn thấm nhập vào chúng ta, và làm cho linh hồn chúng ta say men tình ái.
Dựa vào lời xác tín của các thánh nói trên, chúng ta cùng suy niệm chủ đề: Mẹ Maria trong tương quan với Bí tích Thánh Thể . Phần suy niệm này xoay quanh khuôn khổ: Thịt bởi thịt tôi, máu bởi máu tôi.
- GIỜ CỦA MẸ – GIÁNG SINH – NHÀ BÁNH
- Giáng Sinh.
Nhìn vào bối cảnh Giáng Sinh, chúng ta nhận thấy Giáng Sinh là một mầu nhiệm đơn sơ, nhưng gây ngỡ ngàng, được diễn ra ở Bêlem như lời tiên báo của ngôn sứ Mica: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi, vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”. (Mk 5, 1).
Bêlem là chi tộc nhỏ nhất mà Chúa ưa thích. Thiên Chúa ưa thích chọn những gì bé nhỏ để biểu dương ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa như bị thu hút bởi sự yếu hèn của loài người chúng ta. Bởi đó, “từ nơi ngươi, hỡi Bêlem, sẽ xuất hiện vị cứu tinh…”.
- Nhà bánh.
Bêlem có nghĩa là ngôi nhà làm bánh. Ở đó, các cô gái đang nhồi bột làm bánh cho ngày Sabbat, bánh của ngày lễ. Cũng ở đó, như một bức ảnh in chồng lên, Maria, người nội trợ của Giáo Hội đang nhồi bánh của Thiên Chúa, chiếc bánh cho ngày Sabbat, một chiếc bánh mới để rạng sáng ngày Phục Sinh: Chúa Giêsu, chiếc bánh được ban cho chúng ta.
- Giờ của Maria.
Tại Bêlem, ngôi nhà bánh, giờ của Mẹ đã đến.
Theo lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augustô, Giuse và Maria trở về Bêlem để khai tên vào sổ bộ. “Khi hai người đang ở đó, thì Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa”. (Lc 2, 6).
Giờ của Maria đã đến, giờ của ngày Giáng Sinh. Tấm bánh đã được làm ra.
“Khi sinh con, người đàn bà cảm thấy lo buồn, vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui, vì một người con đã sinh ra trong thế gian”. (Ga 16, 21). Khi nói lời này, Chúa Giêsu muốn so sánh giờ Giáng Sinh với giờ Thương Khó, đó là hai huyền nhiệm, nhưng chỉ là một thực tại. Ở giờ Thương khó, Chúa Giêsu, Bánh Thánh Thể chính thức được ban cho Giáo Hội mãi mãi.
Cha Stêphanô Manelli nói rằng: “Thánh Thể là Bánh từ trời đã đến qua Mẹ chúng ta. Đó là bánh do Mẹ chế biến từ bột của xác thịt vô nhiễm, và được nhào trộn với sữa trinh nguyên của Mẹ”. Và thánh Augustinô đã nói: “Chúa Giêsu lấy thân xác của Người từ thân xác của Mẹ Maria”.
Đối lại với Giờ của Mẹ Maria, thì ba mưoi ba năm sau là Giờ của Chúa Giêsu, diễn ra qua cuộc Thương Khó. Lúc đó, Chúa Giêsu là Tấm Bánh được bẻ ra.
- GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU – THƯƠNG KHÓ – TẤM BÁNH ĐƯỢC BẺ RA
- Giờ của Chúa Giêsu.
Phúc âm thánh Gioan có ghi: “Trước lễ vượt qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Và Người còn nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
Do đó, trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã bắt đầu một hy lễ mới, để tiếp tục ở lại với những kẻ thuộc về Người. Khi Người lập Bí tích Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén rượu, tạ ơn, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là chén Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”. Hy lễ này rồi sẽ được hoàn tất nơi cuộc Thương Khó.
- Thương Khó.
Chúa Giêsu bắt đầu cuộc hiến tế từ chiều nay, thứ năm, để chiều mai, thứ sáu, Người hoàn tất trên thập giá, vì lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá chỉ là một. Trong cả hai, Chúa Giêsu đã hiến mình làm lễ vật dâng hiến Chúa Cha:
* Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hiến tế cách mầu nhiệm và bí tích. Trên thập giá, Chúa Giêsu hiến tế bằng chính Mình Máu mình.
* Trong bữa tiệc ly, ý muốn hiến thân của Chúa Giêsu đã được biểu lộ qua một cử chỉ bề ngoài: Người cương quyết dấn thân chịu hy sinh đẫm máu trên thập giá. Ở đó, tấm bánh đã được bẻ ra.
- Tấm bánh được bẻ ra.
Tấm bánh được bẻ ra như thế nào ?
Trên thập giá, Chúa Giêsu chịu hiến tế: “Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có Mẹ Người, chị của Mẹ Người là bà Maria vợ ông Clôpas và bà Maria Macdala” (Ga 19, 25).
Mẹ Maria đã trung thành hợp nhất với Con cho đến bên thập giá. Tấm bánh mà Mẹ đã làm ra ở ngày Giáng Sinh, hôm nay, sau 33 năm, Mẹ tiến dâng trên thập giá. Mẹ đã hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng Mẹ sinh ra, để tấm bánh ấy được bẻ ra và trao ban.
Đúng vậy, Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế về Giáo Hội đã nhắc nhỡ chúng ta nhớ lại lòng trắc ẩn của Mẹ Maria: trong tim Mẹ dội lại tất cả những gì Chúa Giêsu chịu đựng trong thân xác và linh hồn, đề cao lòng mong muốn của Mẹ được chia sẻ với hy lễ cứu chuộc của Con, và nối kết sự đau đớn tình mẹ của Mẹ với sự hiến dâng tư tế của Con. (LG 58)
Quả là một hành động yêu thương đích thực, qua đó, Mẹ dâng Con mình như của lễ hy sinh đền tội cho toàn thể nhân loại. Đến đây, ta thấy lóe lên một vấn nạn.
- Vấn nạn.
Lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá là một. Vậy, tại sao dưới chân thập giá có Mẹ Maria hiện diện, còn trong bữa tiệc ly Mẹ lại vắng mặt ?
Đức Hồng Y James Hickey đã giải thích như sau: Chúa Giêsu đã yêu Mẹ rất nhiều, yêu hơn hết mọi sự, Người muốn cho chúng ta một bài học đích đáng, qua việc không đưa Mẹ Người vào trong bữa tiệc ly. Đó là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến nguồn gốc “tặng ân đến từ bên ngoài” (Extra nos) của chức tư tế trong Tân ước.
Chức tư tế trong Tân ước không do bởi tương quan huyết nhục, không do cha truyền con nối, cũng không do bởi tình trạng thánh thiện của vị tư tế, nhưng đó là “một tặng ân đến từ bên ngoài”, nghĩa là một tặng ân đến từ Chúa Cha, qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Nó làm cho vị tư tế có thể hoạt động trong ngôi vị Chúa Kitô (in persona Christi). Bản tính và quyền năng của chức linh mục trong Tân ước được tỏ lộ nơi Chúa Kitô và duy nơi mình Người.
Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội nói rằng: chức tư tế chung của tín hữu và chức tư tế thừa tác khác nhau, không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính, tuy nhiên, cả hai đều bổ túc cho nhau. (LG 10). Sự bổ túc cho nhau của chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung được biểu lộ rõ nét ở dưới chân thập giá. Ở đó, có thánh Gioan, là một linh mục đang đứng bên Mẹ Maria.
Như vậy, Sự tách biệt nơi bữa tiệc ly là nhằm để chứng minh bản tính phẩm trật của Giáo Hội, được đi theo bởi một tổng hợp ở dưới chân thập giá. Dưới chân thập giá, có Mẹ Maria và Gioan, mỗi người như là một khía cạnh của bản tính Giáo Hội, vẫn tách biệt, nhưng cả hai được sắp đặt và cấu tạo để bổ túc cho nhau:
– Gioan được ban cho Mẹ Maria.
– Mẹ Maria được ban cho Gioan.
III. HIỆP LỄ CÓ MẸ.
Mỗi khi chúng ta rước lấy Mình Máu Chúa Giêsu, chúng ta nên ý thức rằng có sự hiện diện của Mẹ Maria.
- Lưu lại.
“Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì luôn lưu lại trong Ta, và Ta ở trong người ấy”. (Ga 5, 56). Lưu lại là sự kết hiệp thật sâu xa đến nỗi sự kết hiệp nầy có tính cách thường hằng và bền vững. Được kết hiệp với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta kết hiệp với Thịt và Máu Chúa Giêsu, được lấy từ thịt và máu của Mẹ Maria. Do đó, mỗi khi chúng ta rước lễ là có sự hiện diện dịu dàng và huyền nhiệm của Mẹ Maria, Đấng liên kết bất khả phân ly với Chúa Giêsu trong hình bánh hình rượu.
Chúa Giêsu là người con mà Mẹ hằng tôn thờ. Người là xác thịt của xác thịt Mẹ. Xưa kia, Adong có thể gọi Evà, khi bà được lấy từ xương sườn của ông, rằng: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23), thì nay, Mẹ Maria cũng có thể có lý để gọi Chúa Giêsu là “thịt bởi thịt tôi và máu bởi máu tôi”.
Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Được lấy từ Đức Nữ Đồng Trinh, xác thịt của Chúa Giêsu là xác thịt thuộc mẫu tính của Mẹ Maria”.
Thánh Augustinô đã dạy: “ Trong Bí tích Thánh Thể, Mẹ Maria nối dài, và làm cho tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ mãi mãi tồn tại”.
Thánh Albertô Cả ân cần khuyên: “Bạn ơi, nếu bạn muốn có kinh nghiệm về tình thân mật với Đức Maria, bạn hãy để chính bạn được ôm ấp trong cánh tay của Mẹ.
.Hãy bước đi với tư tưởng tinh tuyền khôn tả này tới bàn tiệc của Thiên Chúa, rồi bạn sẽ tìm thấy được sự nuôi dưỡng của người Mẹ bằng bữu huyết của người Con”.
- Kinh nghiệm thực hành trong Giáo Hội.
Thể hiện những tư tưởng trên, chúng ta nhận thấy rõ nét, ở kinh nghiệm thực hành các việc tôn sùng trong Giáo Hội, qua nhiều cuộc biểu dương lòng sùng kính Mẹ Maria, được kết thúc bằng việc tôn thờ Thánh Thể và Phép Lành Mình Thánh Chúa.
Đó là kết quả hợp tình hợp lý: Lòng tôn kính Mẹ Maria đã dẫn đưa các tín hữu đến lòng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô.
KẾT
Để kết thúc bài suy niệm này, tôi xin mượn lời kinh AVE, VERUM CORPUS để ca ngợi Đức Mẹ Thánh Thể:
Con kính lạy Mình Thánh Chúa Giêsu,
Xưa bởi lòng rất thánh Đức Bà Maria,
Trọn đời đồng trinh mà ra,
Chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá,
Cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long,
Chảy hết máu cùng nước ra.
Con xin ngày sau, khi con qua đời,
Xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con.
Ôi Giêsu khoan thay,
Ôi Giêsu nhân thay,
Con rất thánh mẫu Maria. Amen
(bản dịch trích từ sách kinh của Giáo phận Qui Nhơn)
Lm And. Phạm văn Bé
2021
14 Câu Kinh Thánh chứng tỏ chúng ta được cứu độ nhờ Bí tích Rửa Tội
14 Câu Kinh Thánh chứng tỏ chúng ta được cứu độ nhờ Bí tích Rửa Tội
“Bí tích Rửa Tội là việc sinh ra trong đời sống mới trong Đức Kitô. Theo ý muốn của Chúa, bí tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu độ cũng như chính Hội Thánh mà bí tích Rửa Tội tháp nhập vào.” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1277)
Kinh Thánh liên kết trực tiếp Bí tích Rửa Tội với ơn cứu độ:
Mc 16,16: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.”
Ga 3,5: “Đức Giêsu đáp: ‘Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.’”(x. Ga 3,3: “nếu không được sinh ra một lần nữa…”)
Cv 2,38-41: “Ông Phêrô đáp: ‘Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi.’ Ông Phêrô còn dùng nhiều lời khác để long trọng làm chứng và khuyên nhủ họ. Ông nói: ‘Hãy tự cứu mình khỏi thế hệ gian tà này.’ Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.” (x. Cv 9,17-18; 1Cr 12,13: cả hai đều liên kết Chúa Thánh Thần với Bí tích Rửa Tội)
Cv 22,16: “Vậy bây giờ anh còn chần chừ gì nữa? Anh hãy đứng lên, chịu phép rửa và thanh tẩy mình cho sạch tội lỗi, miệng kêu cầu danh Người.” (x. Cv 9,17-18)
Rm 6,3-4: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta mới có thể sống một đời sống mới.”
1Cr 6,11: “Trước kia, có vài người trong anh em đã là như thế. Nhưng anh em đã được tẩy rửa, được thánh hoá, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta!”
Tt 3,5: “Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu độ chúng ta nhờ phép rửa tái sinh và đổi mới trong Chúa Thánh Thần…”
1Pr 3,21: “…phép rửa nay cứu thoát anh em.”
Chỉ trong Cv 2,38-41, chúng ta mới biết rằng Bí tích Rửa Tội mang lại: (1) “ơn tha tội;” (2) sự ngự trị của Chúa Thánh Thần, điều mà chỉ có những ai đã được tái sinh mới có được; (3) ơn cứu độ (“hãy tự cứu mình”); và (4) được xếp vào hàng ngũ những “linh hồn” đã được cứu độ (x. Gl 3:27).
Rm 6,3-4 kết hợp máu và cái chết cứu chuộc của Chúa Giêsu vào Bí tích Rửa Tội bằng cách đề cập đến “cái chết” của Người. Điều tương tự cũng đã được đề cập đến trong một đoạn dài hơn ở 1Pr 3,14-22;4,1.
Thánh Phêrô khẳng định rằng “phép rửa…cứu thoát” chúng ta (1Pr 3,21). Nếu có một cuộc tranh luận nảy sinh về việc liệu “phép rửa có cứu được” chúng ta hay không, thì một đoạn Kinh Thánh được linh hứng chỉ ra rằng “phép rửa sẽ cứu được”, và Mc 16,16 cũng khẳng định rằng: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ.” – tất cả chẳng phải là những câu trả lời cho chính vấn đề đang được đặt ra hay sao? Làm thế nào để có thể tìm được thêm những câu trả lời nào khác rõ ràng và hiển nhiên hơn chính những câu trả lời này được?
Đoạn văn dài hơn trong 1Pr 3 rất có tính soi dẫn. Kinh Thánh thường sử dụng những điều tự nhiên làm biểu tượng cho những điều siêu nhiên – ví dụ, ngôn sứ Giôna ở trong bụng cá voi ba ngày và sau đó thoát ra mà vẫn còn sống là một biểu tượng của việc Chúa Giêsu chịu chết trong ba ngày và sau đó sống lại; nhiều dụ ngôn cũng sử dụng lối diễn tả song song như vậy.
“Được cứu” khi tham chiếu về Con tàu của Nôê có nghĩa là “sự cứu thoát” cách thể lý và hoàn toàn tự nhiên khỏi việc chết đuối. Nhưng sau đó Thánh Phêrô sử dụng từ này như một hình ảnh minh họa cho Bí tích Rửa Tội siêu nhiên, bí tích này “tương ứng” với Con tàu của Nôê như một phép loại suy (Con tàu là nguyên mẫu tự nhiên của một điều siêu nhiên).
Thánh Phêrô không nói rằng việc Bí tích Rửa Tội này “cứu thoát” chúng ta cũng chỉ đơn thuần là mang tính biểu tượng. Thánh Phêrô không hề nói như vậy! Ngài nhấn mạnh rằng Bí tích Rửa Tội này không chỉ đơn thuần là “tẩy sạch bụi bẩn khỏi cơ thể” (không chỉ đơn thuần là một điều tự nhiên, thuộc thể lý), mà còn liên quan đến việc chịu đau khổ (3,14.16-17;4,1) và được phục sinh cùng với Đức Kitô (3:21), giống như những lời Thánh Phaolô đã dạy (thậm chí còn rõ ràng hơn) trong Rm 6,3-4.
Trong khắp Tân Ước, Bí tích Rửa Tội được xem là lệnh truyền và là phương tiện mà để qua đó Giáo Hội sơ khai có thể nhận biết một người nào đó có người thuộc về đoàn chiên của mình hay không. Điều này cũng đúng với Thánh Phaolô (Cv 22,16; x. 9,17-18). Ngay sau khi được “thuyết phục” theo Kitô giáo, việc đầu tiên Thánh Phaolô làm là chịu phép rửa để tẩy sạch tội lỗi củamình.
Cv 8,12-13: “Nhưng khi họ tin lời ông Philipphê loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa và về danh Đức Giêsu Kitô, thì họ đã chịu phép rửa, có cả đàn ông lẫn đàn bà. Cả ông Simôn nữa cũng đã tin theo, và sau khi chịu phép rửa, ông cứ theo sát ông Philipphê,…”
Cv 8,34-38: “Viên thái giám ngỏ lời với ông Philipphê: ‘Xin ông cho biết: vị ngôn sứ nói thế về ai? Về chính mình hay về một ai khác?’ Ông Philípphê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Đức Giêsu cho ông.Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: ‘Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?’ Ông Philipphê đáp: ‘Nếu ngài tin hết lòng, thì được.’ Viên thái giám thưa: ‘Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.’ Ông truyền dừng xe lại. Ông Philipphê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Philipphê làm phép rửa cho ông quan.”
Bí tích Rửa Tội dành cho toàn bộ “người trong gia đình” cũng ngụ ý mạnh mẽ đến Bí tích Rửa Tội của trẻ sơ sinh:
Cv 16,14-15: “Có một bà tên là Lyđia, quê ở Thyatira, chuyên buôn bán vải điều. Bà là người tôn thờ Thiên Chúa; bà nghe, và Chúa mở lòng cho bà để bà chú ý đến những lời ông Phaolô nói. Sau khi bà và cả nhà đã chịu phép rửa,…”
Cv 16,32-33: “Hai ông liền giảng lời Chúa cho viên cai ngục cùng mọi người trong nhà ông ấy. Ngay lúc đó, giữa ban đêm, viên cai ngục đem hai ông đi, rửa các vết thương, và lập tức ông ấy được chịu phép rửa cùng với tất cả người nhà.”
Cv 18,8: “Ông Cơrítpô, trưởng hội đường, tin Chúa, cùng với cả nhà. Nhiều người Côrintô đã nghe ông Phaolô giảng cũng tin theo và chịu phép rửa.”
1Cr 1,16: “Tôi còn làm phép rửa cho gia đình Têphana nữa…”
(Bản dịch Kinh Thánh có tham khảo của nhóm Phiên dịch các Giờ kinh Phụng vụ)
Tác giả: Dave Armstrong
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
