2021
Tại sao Công đồng Vatican II thấy cần phải cải cách phụng vụ?
Tại sao Công đồng Vatican II thấy cần phải cải cách phụng vụ?
Đây là bài đầu tiên trong loạt bài về việc cải cách phụng vụ Giáo hội.
Ngày 16/7/2021, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ban hành một Tông thư [dưới dạng Tự sắc có tựa đề Traditionis Custodes (Những người gìn giữ truyền thống)] hạn chế việc cử hành thường gọi là Thánh lễ Latinh (Latin Mass) hay hình thức ngoại thường (extraordinary form)*. Hình thức ngoại thường là cử hành những nghi thức của Giáo hội theo các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II bao gồm Sách lễ năm 1962 của Đức Gioan XXIII.
* Sau cuộc cải cách Phụng vụ năm 1970 của thánh Giáo hoàng Phaolô VI, các linh mục vẫn có thể cử hành thánh lễ như hiện nay bằng tiếng Latinh, được gọi là “Thánh lễ bằng tiếng Latinh” (Mass in latin). Trong khi đó, “Thánh lễ Latinh” (Latin Mass), “Thánh lễ Triđentinô” hay “Thánh lễ hình thức ngoại thường” có nguồn gốc từ Sách lễ được Đức Giáo hoàng Piô V phê chuẩn năm 1570 sau Công đồng Triđentinô, và sau này được Đức Gioan XXIII tái công bố năm 1962. Thánh lễ hiện nay theo Sách lễ Rôma 1970 được gọi là “hình thức thông thường”.
Đối với nhiều người Công giáo, điều này nêu lên một vấn đề then chốt. Tại sao phải cải cách phụng vụ như thế? Việc cải cách đã diễn ra thế nào?
Việc canh tân Phụng vụ đã bắt đầu sôi nổi trước Công đồng Vatican II. Nó vừa có chiều kích học thuật vừa mang tính mục vụ.
Bối cảnh
Vào cuối thế kỷ XIX và đầu XX, thần học bắt đầu trở lại xem xét các nguồn thần học. Chủng sinh và sinh viên thần học bắt đầu đọc không chỉ các sách giáo khoa nêu bật tư tưởng của thánh Augustinô và thánh Tôma Aquinô, mà còn bắt đầu đọc chính [tác phẩm của] các tác giả này.
Việc “trở về nguồn” thần học như vậy bao gồm việc nghiên cứu phụng vụ thánh. Các nhà sử học công nhận rằng những lời nguyện trong phụng vụ không phải từ trời rơi xuống. Các bản văn lời nguyện này đã phát triển dần dần theo thời gian.
Hơn nữa, những thực hành như rước lễ dưới hai hình bánh rượu đã là quy tắc trong Giáo hội sơ khai. Tuy nhiên, không người Công giáo đã rửa tội nào rước Máu thánh nơi nhà thờ giáo xứ của mình. Tác phẩm Mass of the Roman Rite (Thánh lễ Nghi thức Rôma – 1948) của nhà phụng vụ-tu sĩ dòng Tên người Áo – Josef Jungmann, đã có đôi chỗ sai sót, nhưng không bao giờ thiếu những trình thuật xuất sắc về sự phát triển của phụng vụ Thánh Thể Rôma.
Việc trở về nguồn này không chỉ nối kết với lịch sử phụng vụ, đúng hơn nó cũng liên kết với thần học. Trong tác phẩm Catholicism: Christ and the Common Destiny of Man – 1938 (Giáo hội Công giáo: Đức Kitô và vận mạng chung của con người), nhà thần học Dòng Tên là Henri de Lubac lập luận rằng Giáo hội không chỉ là một tổ chức gồm có giáo hoàng, giám mục, linh mục và giáo dân. Đúng hơn, Giáo hội là sự hiệp thông phụng vụ hay Thánh Thể. Qua việc cử hành phụng vụ, Giáo hội xuất hiện như một cộng đoàn của những người được tạo dựng để chúc tụng và tôn thờ Thiên Chúa hằng sống. Cộng đoàn chúc tụng Thiên Chúa này phải hoạt động như là men giữa lòng xã hội, dẫn đưa mọi người trở nên điều mà các tín hữu lãnh nhận trong Bí tích Thánh Thể cực thánh. Mình và Máu Đức Kitô đã đổ ra để thế gian được sống.
Việc trở về nguồn thần học được liên kết chặt chẽ với một cuộc canh tân mục vụ. Kể từ thời Cải cách, Giáo hội Công giáo Rôma nhận thức được tầm quan trọng của các nghi thức phụng vụ để canh tân Giáo hội. Nhiều nghi thức – chẳng hạn như rửa tội cho trẻ sơ sinh hoặc hôn phối – được cử hành một phần bằng tiếng địa phương. Điều này giả định rằng mọi người nên hiểu những gì diễn ra nơi những nghi thức này.
Nhưng vào cuối thế kỷ XIX, rõ ràng là nền văn hóa Kitô giáo vững mạnh từng tồn tại ở châu Âu đang dần phai nhạt. Các nghi lễ diễn ra trong bối cảnh lòng đạo đức bình dân đang nở rộ lại trở nên buồn tẻ khi người ta đổ xô đến các thành phố nơi việc công nghiệp hóa và phát triển kinh tế đã thành tôn giáo mới. Ngoài ra, một cung cách cử hành Lễ đọc (Low Mass)** đã có trong Giáo hội Công giáo Rôma vào đầu thế kỷ XX. Thay vì hát, trong thánh lễ [Lễ đọc] chủ tế đọc thầm (sotte voce) những phần riêng (như kinh Vinh danh hoặc kinh Thánh, Thánh, Thánh…). Từ đó đã phát xuất mong muốn tham dự Thánh lễ với sách lễ bản ngữ. Nhưng ngoại trừ lúc truyền phép và thỉnh thoảng lúc rước Mình Thánh Chúa [phải đọc bằng tiếng Latinh], ít người hiểu chính xác tại sao người Công giáo lại chú trọng đến phụng vụ thánh như vậy.
** Lễ đọc: Low Mass hay Read Mass, một trong hai hình thức chính của Thánh lễ bằng tiếng Latinh trước Công đồng Vatican II, hình thức còn lại là Lễ hát (High Mass hay Sung Mass).
Canh tân mục vụ
Việc canh tân mục vụ đối với phụng vụ thánh được thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau. Tại Đức, đã bắt đầu thử nghiệm hát các thánh thi (hymn) trong Thánh lễ. Dom Prosper Guéranger, tu viện trưởng Solemnes ở Pháp từ năm 1837–75, đã xuất bản một loạt sách có tựa đề Năm Phụng vụ (The Liturgical year). Bản văn mục vụ của loạt tài liệu này nhằm mời gọi giáo dân nhận thức sâu sắc hơn các nghi thức của Giáo hội.
Trên khắp Âu châu, những nhân vật của thế kỷ XX như tu sĩ Dòng Biển Đức người Bỉ Lambert Beauduin và triết gia-thần học gia người Đức gốc Ý là Romano Guardini đã tìm cách phản ứng với chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa dân tộc thông qua sự đổi mới chú ý đến thần học và cử hành phụng vụ. Nếu mọi người đều hiểu được những diễn tiến trong phụng vụ, tham gia đầy đủ vào hành vi cầu nguyện, thì Giáo hội Công giáo có thể tạo ra một nền văn hóa mới, có khả năng ứng phó với những thách đố thời hiện đại.
Việc canh tân mục vụ và học thuật trong phụng vụ thánh được gọi là phong trào phụng vụ. Phong trào này được du nhập vào Hoa Kỳ bởi tu sĩ Dòng Biển Đức Virgil Michel, người thường xuyên trao đổi với những nhân vật như Dorothy Day, nữ sáng lập phong trào Công nhân Công giáo.
Những nhận định của Đức Giáo hoàng
Tuy nhiên, phong trào phụng vụ đã trở thành một phần trong huấn quyền chính thức của Giáo hội. Việc cải cách và canh tân phụng vụ bắt đầu với thánh Piô X: hạ thấp tuổi rước lễ, khuyến khích tham gia thường xuyên các nghi thức của Giáo hội và canh tân sách kinh Thần vụ vì lợi ích của hàng giáo sĩ. Trong Tông thư về thánh nhạc, Tự sắc Tra Le Sollecitudini – 1903, thánh Piô X là vị giáo hoàng đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tham gia tích cực” trong một văn kiện. Tông thư nhằm thúc đẩy sự đổi mới của thánh nhạc trong phụng vụ và khuyến khích tất cả các tín hữu hát những phần riêng của Thánh lễ.
Đức Giáo hoàng Piô XII thậm chí còn đi xa hơn, khi với Thông điệp Nhiệm Thể Chúa Kitô (Mystici Corporis Christi – 1943), ngài trở lại quan điểm xem Giáo hội như là Thân thể Chúa Kitô trên trần gian, một sự hiện diện thực sự nơi phụng vụ Thánh Thể. Thông điệp Đấng Trung Gian của Thiên Chúa (Mediator Dei – 1947) của ngài bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với phong trào phụng vụ, khuyến khích tham gia bên trong lẫn bên ngoài vào phụng vụ thánh vì lợi ích canh tân đời sống trong Đức Kitô. Huấn thị Thánh nhạc (Musicae Sacrae – 1955) của Đức Piô XII một lần nữa đề cao giá trị của thánh nhạc trong phụng vụ, cũng như cổ võ thánh ca tiếng địa phương bên ngoài các cử hành phụng vụ chính thức của Giáo hội.
Do đó, phong trào phụng vụ đã tìm cách đề cao kinh nguyện phụng vụ nơi tâm điểm của lòng đạo đức Công giáo và của việc đổi mới văn hóa. Tại Công đồng Vatican II, do thánh Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập, tầm nhìn này về kinh nguyện phụng vụ đã được đưa vào Hiến chế Phụng vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium – 1963), là hiến chế đầu tiên được các nghị phụ Công đồng phê chuẩn. Kinh nguyện phụng vụ được trình bày không chỉ như những nghi thức và lễ nghi của Giáo hội. Đúng hơn, phụng vụ là cách diễn tả đầy đủ nhất về Giáo hội với tư cách chiêm niệm và hoạt động, một cộng đoàn thần linh hoạt động như muối men tốt lành trong lịch sử.
Văn kiện này trình bày mong muốn canh tân phụng vụ thánh. Công việc này được thực hiện do một Ủy ban thành lập năm 1964, gồm các thần học gia, các nhà phụng vụ và các giám mục. Hiến chế đã tham khảo kiến thức lịch sử để canh tân kinh nguyện phụng vụ. Những cải cách này diễn ra trên phạm vi rộng. Chẳng hạn, trong phụng vụ Thánh Thể, đã có nhiều lựa chọn hơn về các Kinh Tiền tụng trước Kinh nguyện Thánh Thể. Các Kinh nguyện Thánh Thể bổ sung đã được soạn ra, mô phỏng từ các bản văn kinh nguyện lịch sử trong Giáo hội. Trong thập niên tiếp theo, những nghi thức này đã được phê chuẩn và ban hành.
Cũng ngay sau Công đồng, các giám mục yêu cầu phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương. Điều này được chấp thuận cho cả thế giới, và một tiến trình dịch thuật được triển khai xoay quanh các nghi thức trong Giáo hội. Ngay cả ngày nay, khi Rôma phát hành một ấn bản nghi thức mới thì ấn bản đó phải được một ủy ban chuyên viên dịch thuật, được các giám mục địa phương, rồi Rôma [tức là Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích] chấp nhận.
Do đó, việc cải cách và canh tân phụng vụ bắt nguồn từ mong muốn là Giáo hội đáp ứng với thời hiện đại qua tầm nhìn mầu nhiệm và bí tích của đời sống Giáo hội. Vấn đề còn tồn tại là liệu cuộc cải cách và canh tân này có lợi ích cho Giáo hội hay không.
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Tất cả phải cảm thấy được chào đón”
“Phụng vụ đưa ra giải đáp sâu sắc và hiệu quả nhất cho niềm khát khao gặp gỡ Chúa. Cách đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, nơi đó chúng ta được thông phần với hy tế của Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Người. Tuy nhiên, các mục tử phải đảm bảo rằng lương tâm mình được thấm nhập ý thức mầu nhiệm. . . . Đặc biệt, nhiệm vụ của các chủ chăn là cổ võ những việc cử hành xứng đáng, dành sự quan tâm thích đáng đến các hạng người khác nhau: trẻ em, người trẻ, người lớn, người già và người khuyết tật. Tất cả họ phải cảm thấy được tiếp đón khi qui tụ, để họ có thể hít thở bầu khí của cộng đoàn tín hữu đầu tiên là ‘chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện’ (Cv 2,42)”.
(Số 12 – Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư Spiritus et Sponsa – 2003 đánh dấu kỷ niệm 40 năm Hiến chế về Phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II).
Timothy P. O’Malley
Ban học tập Sao Biển chuyển ngữ
2021
Thi hành chức vụ Giám mục giáo phận từ khi nào?
Thi hành chức vụ Giám mục giáo phận từ khi nào?
Đôi khi có những thắc mắc liên quan đến vị tân Giám mục giáo phận; hỏi rằng, khi một linh mục được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận, thì ngài là Giám mục giáo phận chưa; ngài đã có quyền tài phán trên Giáo phận mà ngài được bổ nhiệm hay chưa; tên của ngài đã được nêu trong kinh nguyện Thánh thể hay chưa.
Trước tiên cần phân biệt “chức thánh” Giám mục, linh mục, phó tế với “chức vụ” mà các vị ấy đảm nhiệm.
Đối với Giáo hội địa phương là một giáo phận, Đức Giáo hoàng ra Tông sắc bổ nhiệm một linh mục, với “chức vụ”, hoặc:
– Giám mục giáo phận;
– Giám mục phó;
– Giám mục phụ tá.
Khi mới ra Tông sắc bổ nhiệm một linh mục làm Giám mục giáo phận mà thôi thì:
a- Linh mục đó chưa có “chức thánh” Giám mục và cũng chưa nhận “chức vụ” Giám mục giáo phận, hay Giám mục phó, Giám mục phụ tá;
b- Ngài chưa có quyền lãnh đạo hay tài phán trên giáo phận;
c- Tên của ngài có thể nêu trong kinh nguyện Thánh Thể, tuy không buộc.
Xin lý giải như sau:
1- Chưa là Giám mục, chưa là Giám mục giáo phận
Tiến chức Giám mục phải được tấn phong Giám mục thì mới có chức Thánh Giám mục. Điều này thì khá rõ.
Còn việc thi hành quyền lãnh đạo hay tài phán, Giáo luật quy định là không được thi hành chức vụ trước khi đảm nhận giáo phận, nghĩa là trước khi nhậm chức:
Điều 382
- l. Giám mục được tiến chức không được xen vào việc thi hành chức vụ đã được trao phó trước khi đảm nhận giáo phận theo Giáo luật; tuy nhiên, ngài có thể thi hành các chức vụ ngài đã giữ trong giáo phận đó trước khi được tiến chức, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của điều 409§2.
Điều 382§l, tuy không có quy định là “vô hiệu” nếu tiến chức “xen vào việc thi hành chức vụ“, nhưng nếu tìm hiểu những quy tắc luật khác, thì sẽ thấy việc thi hành chức vụ ấy là vô hiệu. Và như vậy, khi chưa nhậm chức thì tiến chức Giám mục giáo phận chưa có quyền lãnh đạo hay quyền tài phán trên giáo phận.
Có thể căn cứ vào những điều luật như sau:
a- Nhậm chức là cần thiết để thành sự
Việc nhậm chức là rất cần thiết để “trở thành” Giám mục giáo phận hay Giám mục phó. Vì lẽ, nếu Giám mục phó mà đã không nhậm chức hợp lệ thì ngài không thể trở thành Giám mục phó và cũng không trở thành Giám mục giáo phận khi Tòa Giám mục khuyết vị, theo như quy định của điều 409§1.
Điều 409
- 1. Khi toà Giám mục khuyết vị, Giám mục phó tức khắc trở thành Giám mục của giáo phận vì đó mà ngài đã được đặt lên, miễn là ngài đã nhậm chức hợp luật.
b- Liên quan đến khuyết vị
Sự nhậm chức vô hiệu có thể do Tòa chưa khuyết vị:
Điều 153
- 1. Việc trao ban một chức vụ mà không khuyết vị theo luật thì vô hiệu do chính sự kiện, và không trở thành hữu hiệu do sự khuyết vị sau đó.
Hãy thử xét một trường hợp cụ thể: Đức Giáo hoàng ban Tông sắc thuyên chuyển một Giám mục giáo phận A đến giáo phận B, và bổ nhiệm một linh mục làm tân Giám mục giáo phận cho giáo phận A.
Khi Giám mục giáo phận A chưa “nhậm chức” ở giáo phận B do thuyên chuyển, thì tòa A “chưa bị khuyết vị”, như điều 418§1 quy định:
Điều 418
- 1. Trong vòng hai tháng kể từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển, Giám mục phải đến giáo phận mà ngài được sai đến và nhậm chức theo Giáo luật; và kể từ ngày ngài nhậm chức trong giáo phận mới, giáo phận cũ của ngài trở thành khuyết vị.
Mà khi Tòa chưa khuyết vị thì sự trao ban hay bổ nhiệm một chức vụ vào Tòa đó sẽ không hữu hiệu, căn cứ vào điều 153§1 kể trên.
Điều này chứng tỏ rằng, khi Tông sắc được ban ra, nó không hữu hiệu tức thời, nghĩa là linh mục được tiến chức Giám mục giáo phận không tức khắc trở thành Giám mục giáo phận. Khi giáo phận chưa khuyết vị thì làm sao tiến chức, có thể là Giám mục giáo phận với quyền lãnh đạo hay tài phán hữu hiệu ở giáo phận đó được.
c- Giá trị Tông sắc
Phản biện có thể cho rằng:
Vậy Tông sắc của Đức Giáo hoàng lại không có giá trị hay sao?
– Tông sắc của Đức Giáo hoàng tất nhiên là có giá trị (valide) hoàn toàn, nhưng hiệu lực (effetto) của Tông sắc lại còn tùy thuộc những nguyên tắc luật hay những điều kiện khác.
Rõ ràng nhất là Giáo luật có quy định là bổ nhiệm trước, rồi hiệu lực đến sau, kể từ ngày chức vụ bị khuyết vị.
Điều 153
- 2. Tuy nhiên, nếu là một chức vụ, chiếu theo luật, được trao ban (conferito) trong một thời gian nhất định, thì việc trao ban có thể được thực hiện trong vòng sáu tháng trước khi hết hạn, và có hiệu lực (effetto) kể từ ngày chức vụ khuyết vị.
Cũng tương tự, bộ Giáo luật được thiết lập (istituita) khi được công bố trên Công báo của Tòa Thánh (Acta Apostolicae Sedis), nhưng chỉ có hiệu lực (in vigore) sau ba tháng kể từ ngày được công bố trên Công báo. Còn luật địa phương thì chỉ hiệu lực sau khi công bố được một tháng (đ. 8).
Vậy sự chưa có hiệu lực của một sắc lệnh, một bộ luật… là tùy theo quy định luật. Không được cho rằng sắc lệnh đó là không có giá trị khi thấy nó chưa hay không hiệu lực.
Hơn nữa, có thể kể vài điều kiện liên quan đến sự hữu hiệu như:
Chức vụ Giám mục giáo phận sẽ vô hiệu nếu chức thánh linh mục của tiến chức là giả hoặc linh mục ấy chưa được Rửa tội. Nên biết: Hành vi pháp lý hễ bị vô hiệu thì cho dù do sự lầm lẫn hay không biết, hành vi ấy vẫn là vô hiệu (đ.15§1).
Chức vụ Giám mục giáo phận cũng sẽ vô hiệu, nếu tiến chức đã lãnh nhận vô hiệu chức thánh phó tế hay chức thánh linh mục. Ví dụ, được truyền chức linh mục bởi một vị tưởng là Giám mục mà thực sự là không có chức thánh Giám mục.
Các nhà chú giải cũng đồng ý rằng, khi chưa nhận quyền theo giáo luật, vị tiến chức Giám mục giáo phận nếu có thi hành quyền lãnh đạo thì cũng vô hiệu. S. Sipos trong quyển Bách khoa tự điển Giáo luật giải thích rằng, để có thể thực hiện quyền tài phán cách hữu hiệu (valide), cần phải có sự nhậm chức trước (ut iurisdictio per institutionem canonicam iam obtenta excercere valide possit, nessaria est introdutio in possessionem, quae est verbali set realis), (S. SIPOS, Enchiridion iuris canonici, §50, 205. Cf. F.X. WERNZ – P VIDAL, Ius Canonicum, n 597, 629.)
- Nêu danh tiến chức Giám mục trong Kinh nguyện Thánh Thể
Trong quyển Nghi thức của các Giám mục (Cerimoniale dei Vescovi) có quy định:
- Dal giorno della presa di possesso del vescovo, tutti i sacerdoti che celebrano la messa nella sua diocesi, anche nelle chiese e negli oratori degli esenti, devonoinserire il suo nome nella preghiera eucaristica.
- Kể từ ngày nhận chức của Giám mục, tất cả các linh mục cử hành thánh lễ trong giáo phận của ngài, ngay cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của những dòng miễn trừ, đều phảinêu tên ngài trong kinh nguyện Thánh Thể.
Có người cho rằng chỉ nêu tên Giám mục sau khi ngài đã nhậm chức, căn cứ vào chính quy định của số 1147 này.
Tuy nhiên, cần phân biệt, đây là quy định đòi “phải” (devono), chứ không là quy định “cấm”. Quy định 1147 đòi “phải” nêu tên khi ngài đã nhậm chức, nhưng không cấm nêu tên khi chưa nhậm chức. Việc này cũng tương tự như trong một giáo phận, nếu có Giám mục đã về hưu hoặc Giáo mục nào khác, chúng ta cũng thường cầu nguyện cho cả Giám mục giáo phận và các Giám mục đó trong kinh nguyện Thánh Thể.
J.B. Lê Ngọc Dũng
2021
Sự hình thành của ngày lễ Giáng Sinh
SỰ HÌNH THÀNH CỦA NGÀY LỄ GIÁNG SINH
Christel Juquois
Noel là ngày lễ phổ biến nhất của người Kitô hữu hôm nay. Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu của Kitô giáo, nó không tồn tại. Chu kỳ Phụng vụ về ngày lễ Giáng Sinh đã được hình thành dần dần qua các thế kỷ, qua việc qua lại liên tục giữa các truyền thống Đông phương và Tây phương.
Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, người ta chưa cử hành ngày sinh của Chúa Giêsu. Người ta chỉ tưởng nhớ sự Phục Sinh của Ngài, mỗi năm một lần. Chỉ từ thế kỷ thứ IV, vào thời điểm có những tranh cãi ngày càng gay gắt về bản tính thần linh và nhân linh của Chúa Kitô, mới có nhu cầu mừng lễ Sinh Nhật của Chúa Giêsu, được định nghĩa là “người thật và Thiên Chúa thật”, cũng như mừng mầu nhiệm Nhập Thể.
Các Tin Mừng không nói gì về ngày sinh của Chúa Giêsu. Ở Alexandria và nơi một số Giáo hội Đông phương, từ thế kỷ II người ta bắt đầu cử hành lễ Hiển Linh vào ngày 6/1. Phải chăng cần cử hành lễ Sinh Nhật của Chúa Giêsu vào ngày đó ? Đó là những gì mà Giáo hội Tông truyền Armênia vẫn còn thực hiện ngày nay. Ở Tây phương, nhiều ngày khác đã được đề nghị, và người ta thích ngày 25/12 hơn, đó là ngày Đông Chí theo lịch Julianô đang có hiệu lực vào thời đó.
Quả thế, ngày đó là ngày lễ đối với nhiều tín ngưỡng phổ biến ở Đế quốc Rôma: chẳng hạn, người ta đã cử hành ở Rôma ngày sinh của thần Mithra, một vị thần đến từ Ba Tư, cũng như Sol invictus (Mặt Trời chiến thắng). Nơi các nước nói tiếng Đức, đó là ngày lễ Yule, trong đó thần Heimdall thưởng quà cho những đứa trẻ có hành động tốt.
Đối với các Kitô hữu tuyên xưng Chúa Giêsu là “ánh sáng thế gian” (Ga 8, 12) và “Mặt trời công chính” (Ml 4, 2), ngày Đông Chí thắng thế dần dần. Việc cử hành được xác nhận lần đầu tiên về lễ Sinh Nhật của Chúa Giêsu, ngày 25/12, đã diễn ra ở Rôma vào năm 336.
Noel, ngày lễ bắt buộc vào năm 506
Vào thế kỷ IV, hoàng đế Constantin I (272-337) nắm quyền chỉ huy Đế quốc, và với chiếu chỉ Milan năm 313 ông đã thiết lập một kỷ nguyên hòa bình đối với Kitô giáo. Các cuộc hành hương Đất Thánh bắt đầu, trong đó, người ta tìm cách xác định những sự kiện khác nhau trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Các đền thánh được xây dựng.
Vào năm 325, Constantin xin mẹ mình là bà Hêlêna, cho xây dựng ba vương cung thánh đường: vương cung thánh đường Anastasis (Phục Sinh) và Tử đạo (Mộ Thánh hiện nay), nơi được cho là ngôi mộ của Chúa Giêsu; vương cung thánh đường Eleona, ở nơi Chúa Lên Trời (hiện nay là nhà thờ Pater Noster trên núi Oliviers); cuối cùng, ở Bêlem, vương cung thánh đường Giáng Sinh, nơi Chúa Giêsu sinh ra.
Trên mỗi địa điểm hành hương, một Phụng vụ được soạn thảo thích nghi với địa điểm và với sự kiện được cử hành, cũng như lịch Phụng vụ theo trình tự thời gian của các Tin Mừng, vốn sẽ ảnh hưởng việc thực hành của các Giáo hội khác. Suốt dòng thời gian, chu kỳ Noel bắt đầu. Mùa Vọng xuất hiện vào cuối thế kỷ IV, tương ứng với Mùa Chay đi trước lễ Phục Sinh. Từ sáu tuần lúc đầu, nó được cố định còn bốn tuần. Chu kỳ khép lại bằng lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, được cử hành vào tuần tiếp sau ngày 6/1, ngày lễ Chúa Hiển Linh.
Vào năm 506, công đồng Agde biến lễ Noel thành một lễ bắt buộc. Vào năm 529, qua sắc lệnh của hoàng đế Justinô, ngày 25/12 trở thành ngày nghỉ việc. Lễ Giáng Sinh được mở rộng dần dần trong toàn Châu Âu. Nó đến Gaule vào thế kỷ VI, và đến các nước Slavơ vào thế kỷ X.
2021
8 cách thức để tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tháng 12
8 cách thức để tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tháng 12
Đâu là ý nghĩa của tháng 12 đối với người Công giáo và làm thế nào để vinh danh thời gian này bằng cuộc sống của bạn trong năm nay?
Tháng 12 là tháng dành riêng cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và là thời điểm lý tưởng để củng cố mối liên hệ của chúng ta với Đức Mẹ. Từ bao đời nay, Giáo hội đã giảng dạy về Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng vào năm 1854, Đức Piô IX đã tuyên bố một cách không sai lầm tín điều này, rằng Đức Trinh Nữ Maria “ngay từ giây phút đầu thai, nhờ đặc ân của Thiên Chúa toàn năng và công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội”.
Giáo huấn này ám chỉ đến việc Đức Maria được thụ thai trong cung lòng của mẹ ngài là Thánh Anna. Ơn cứu rỗi đã được áp dụng cho người Mẹ đầy ơn phúc của chúng ta ngay từ khi được thụ thai, do công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, con Mẹ; một thực tại thực sự đáng kinh ngạc. Được gìn giữ khỏi vết nhơ, Mẹ Maria đã được gọi là “niềm vinh phúc duy nhất của chúng ta cho bản tính nhân loại sa ngã” theo cách nói của thi sĩ William Wordsworth. Trong suốt cuộc đời, Mẹ Maria vẫn không vương vấn tội nhơ. Việc tôn vinh sự trinh khiết của Mẹ trở thành liều thuốc giải độc mạnh mẽ đối với điều xấu mà tất cả chúng ta vẫn thường gặp trong thế giới đầy tội lỗi này.
Dưới đây là 8 cách thức mà bạn có thể tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tháng 12 này.
- KHẤN XIN SỰ BẦU CỬ CỦA THÁNH ANNA VÀ GIOAKIM, SONG THÂN ĐỨC MARIA
Hãy chiêm ngưỡng bức họa tuyệt tác: “Cuộc gặp gỡ tại Cổng Vàng” của Giotto (1304-1306) diễn tả cảnh cha mẹ thánh thiện của Đức Maria gặp gỡ nhau với nụ hôn lành thánh khi biết tin bà Anna mang thai. Hai khuôn mặt tràn đầy cảm xúc hòa trộn với nhau trong nụ hôn ấy. Vậy giờ đây hãy cầu nguyện với ông bà ngoại của Chúa Giêsu hay với lời kinh tuần cửu nhật kính song thân Đức Maria.
- DỌN DẸP VÀ TRANG HOÀNG ĐỂ TÔN VINH ĐỨC MARIA
Để tôn vinh Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, tại sao chúng ta không dọn dẹp thanh tẩy như một cách thức để thực hành đức khiêm nhường, để đôi tay làm được những việc có ý nghĩa và để nhắc nhở mình về sự tinh khiết của Đức Maria? Giáng Sinh sẽ đến vào cuối tháng. Những hành động yêu thương nhỏ bé và khiêm tốn của chúng ta qua việc dọn dẹp, chùi bóng và sắp xếp ngăn nắp mà không phàn nàn, nếu làm với tâm tình cầu nguyện, có thể dâng lên Đức Mẹ. Dù tháng 12 là thời gian trang hoàng lễ Giáng sinh, nhưng đừng quên đó cũng là tháng dâng kính Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên Tội, và vì vậy chúng ta cũng có thể tô điểm tâm trí mình với Đấng Vô nhiễm Nguyên Tội. Hãy phủ khăn bàn màu trắng và đặt một bó hoa hồng trắng gần ảnh hoặc tượng Đức Maria.
- THANH TẨY TÂM HỒN VÀ TÂM TRÍ CỦA BẠN
Được thúc đẩy bởi vẻ đẹp của Đức Mẹ Vô nhiễm, trong tháng 12 này, chúng ta hãy “thanh tẩy” tâm hồn qua việc xưng tội; giúp đỡ người nghèo, thực thi các công việc bác ái. Hãy ý thức rằng chúng ta được bao bọc bởi vẻ đẹp đích thực và thức ăn tinh thần.
Trong nỗ lực làm cho tâm trí, tâm hồn chúng ta trong sạch hơn để tôn vinh Đức Mẹ và để có thể đẹp lòng Chúa hơn, chúng ta hãy ra sức để trở thành Đền thờ đích thực của Chúa Thánh Thần, hãy cân nhắc những chương trình truyền hình chúng ta xem, những gì chúng ta đọc và nhìn thấy. Chúng ta hãy tra vấn lương tâm và từ bỏ các tật xấu, gia tăng nhân đức. Chúng ta hãy cố gắng sống theo lời khuyên của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Philípphê: “Cuối cùng, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh và đáng khen, thì xin anh em hãy để ý ” (Pl 4,8).
Một vài gợi ý cho bạn trong mùa này: hãy trở nên ấm áp như một tách trà ấm, tách trà sôcôla hoặc rượu táo và như tấm chăn; hãy đọc sách thiêng liêng như Gương Chúa Giêsu và Hạnh tích các thánh; hãy quây quần gia đình để cùng nhau thắp sáng Vòng hoa Mùa Vọng và sau đó cùng đọc Kinh Thánh, lần hạt Mân Côi; cùng chia sẻ một bữa ăn bổ dưỡng, sau đó xem và thảo luận bộ phim Giáng sinh như phim It’s a Wonderful Life (Cuộc đời tuyệt vời) của đạo diễn Frank Capra.
- TÌM HIỂU NHỮNG BIỂU TƯỢNG ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NƠI NHỮNG BẢN NHẠC VÀ TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT NỔI TIẾNG
Theo dòng lịch sử nghệ thuật, vẫn có một số biểu tượng hình ảnh minh họa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Những tác phẩm này mô phỏng những điều điễn tả nơi Đức Mẹ Lộ Đức hiện ra, là đấng đã phán “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Nếu bạn có một bức ảnh hoặc tượng Đức Mẹ Lộ Đức, thì đây là tháng thích hợp để tôn vinh ảnh và tượng này nơi nhà của bạn. Nhiều bức họa nổi tiếng trong lịch sử diễn tả Đức Maria hướng lên trời với lòng biết ơn và đầy kinh ngạc. Chân Mẹ đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao (Kh 12,1-2). Bạn cũng sẽ thấy thường có sự hiện diện của các thiên thần trẻ thơ, hoa hồng, hoa loa kèn và những đám mây đầy những tia sáng màu vàng.
Hãy cùng lắng nghe bài “Immaculate Mary” một bài thánh ca về Đức Mẹ Lộ Đức, và nếu bạn thuộc thì hãy hát theo!
Ngoài ra, còn có một bài thánh ca tôn vinh Đức Maria trong giờ Kinh Chiều lễ trọng kính Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, đó là bài “Ave Maris Stella”.
Vậy tại sao lại không kết thúc một ngày sống bằng bài thánh ca tuyệt vời này trong suốt cả tháng 12? Vả lại, Đức Mẹ còn nói với thánh Birgitta “Hãy cùng quy tụ lại và hát vang bài Ave Maris Stella và Mẹ sẽ bảo vệ các con khỏi mọi hiểm nguy”.
- HÃY NGHĨ RA Ý TƯỞNG ĐỂ TÔN VINH, DÂNG KÍNH ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
Để tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, bạn hãy nghĩ ra một cách thức đặc biệt để tôn kính Mẹ Maria. Có thể bạn là một nghệ sĩ và có thể dâng tặng Mẹ một bức tranh, bài hát thơ hoặc bài hát. Có thể bạn là chủ doanh nghiệp và có thể đóng góp cho một quỹ từ thiện để vinh danh Mẹ. Bạn có thể nghĩ ra một công việc yêu thương tuyệt vời nhân danh Mẹ. Cách tôi đã chọn để tôn vinh và khen ngợi Mẹ; đó là một cuốn sách về Đức Mẹ Mân côi. Đó cũng là một món quà Giáng sinh tuyệt vời.
- HÃY DÂNG HIẾN BẢN THÂN CHO MẸ MARIA!
Để làm được điều đó, hai cuốn sách này là đề xuất tuyệt vời dành cho bạn:
33 Ngày dành cho việc cầu nguyện buổi sáng của Lm. Michael Gaitley và Sự tôn sùng đích thực Mẹ Maria của Thánh Louis de Montford.
Hãy trao phó bản thân cho Mẹ Maria với lời cầu nguyện nổi tiếng của Thánh Maximillianô Kolbê.
- TÔN VINH, CỔ VÕ VÀ MANG MỀ ĐAY ĐỨC MẸ HUYỀN NHIỆM
Mề đay Đức Mẹ huyền nhiệm có những dòng chữ này: “Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi hằng chạy đến kêu xin Mẹ.” Đức Mẹ đã nói với Thánh nữ Catarina Labourê: “Tất cả những ai đeo Mề đay này, đặc biệt là những ai đeo Mề đay này quanh cổ hằng ngày, sẽ nhận được nhiều ơn lành từ Mẹ. Những ai lặp lại lời cầu nguyện sau đây một cách sốt sắng sẽ được Mẹ bảo vệ một cách đặc biệt. Mọi ơn lành cao cả sẽ tuôn đổ đầy tràn xuống những ai có đầy lòng cậy trông.” Hãy tự hào khi đeo Mề đay Đức Mẹ huyền nhiệm, hãy mua một vài mề đay nếu chưa có, hãy tặng mề đay này cho gia đình, bạn bè và tất cả những ai cần đến sự chúc phúc.
Bạn có thể viết dòng chữ trên Mề đay Đức Mẹ huyền nhiệm vào một tấm thẻ và đặt nó trên bàn thờ của bạn như một ước nguyện hằng ngày hoặc đặt thêm một mề đay nữa, thậm chí là hình Mề đay Đức Mẹ huyền nhiệm ở một nơi dễ thấy. Hãy đọc câu chuyện về cuộc đời của Thánh Maximilianô Kolbê, người sáng lập Đạo binh và Hiệp sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội vì ngài đã tận hiến rất nhiều cho Đức Mẹ Mề đay huyền nhiệm. Hãy cầu nguyện cùng thánh Maximilianô và xin ngài giúp đỡ nhằm làm gia tăng lòng sùng kính đối với Đức Mẹ.
“Hãy ban phát Đức Mẹ Mề đay huyền nhiệm ở khắp mọi nơi. Tất cả mọi người, từ người già đến trẻ nhỏ, hãy mang Mề đay này quanh người mỗi ngày để nhận được mọi ơn lành từ Mẹ Maria để chống lại mọi cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống này. Việc phân phát Đức Mẹ Mề đay huyền nhiệm cần được mở rộng đến cả những ai không thường xuyên tham dự thánh lễ, không đến với tòa giải tội, những người thường xuyên chế giễu đức tin Công giáo, và cho cả những ai ở ngoài Giáo hội…Nhiều người đã được cứu rỗi, thậm chí cả những người không muốn đón nhận Đức Mẹ Mề đay huyền nhiệm. Hãy cầu nguyện cho họ mỗi ngày, sớm hay muộn thì Mẹ Maria cũng sẽ đến với họ.”
- THỂ HIỆN LÒNG YÊU MẾN ĐẤT NƯỚC, GIÁO PHẬN BẰNG LỜI CẦU NGUYỆN!
Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là bổn mạng của một số quốc gia, giáo phận và giáo xứ… Tháng này thật là dịp thích hợp nhắc nhớ chúng ta cầu nguyện với Mẹ Maria, xin Mẹ phù hộ cho đất nước, cho giáo phận, giáo xứ… Trong chuyến tông du đầu tiên đến Hoa Kỳ của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ngài đã dâng hiến nước Hoa Kỳ cho Đức Nữ Trinh và đã đọc lời kinh dâng hiến tại Vương cung thánh đường quốc gia Đền thờ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ở Washington, DC vào ngày 7 tháng 10 năm 1979.
Trong suốt tháng này, chúng ta hãy cùng dâng ngày với kinh Dâng mình đền tạ Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ:
Lạy Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, ngày hôm nay con xin dâng mình con, dâng sự sống con, dâng các việc lành con làm, dâng hết mọi sự thuộc về con, nhất là con xin bằng lòng chịu mọi sự khó Chúa định, có ý đền tạ Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội và đau đớn Mẹ, bù lại những tội lỗi con, và tội lỗi mọi người xúc phạm đến Trái tim Mẹ, cùng Trái tim Chúa Giêsu Con Mẹ, cũng là như chính Trái tim Mẹ vậy.
Con xin hợp cùng những kẻ dâng mình đền tạ liên tiếp Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Nguyện xin Mẹ cho chúng con được vào ẩn náu trong Trái tim Mẹ, và nhờ Trái tim Mẹ mà đến cùng Trái tim cực thánh Chúa Giêsu Con Mẹ.
Lại xin Mẹ bầu cử cùng Chúa đổ ơn tha thứ, và ơn thương xót xuống cho mọi người trên thế gian, cùng làm cho mọi người nhận biết và kính mến Trái tim Mẹ ở đời này, để ngày sau được hợp cùng Trái tim Mẹ, hát mừng tạ ơn Chúa Ba Ngôi trên nơi vĩnh phúc đời đời. Amen
Tổng hợp từ https://aleteia.org/ và các nguồn khác
Nhóm Sao Biển
