Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
24Tháng Một
2022

Tản mạn về giọng đọc kinh Qui Nhơn

24/01/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tản mạn về giọng đọc kinh Qui Nhơn

Dẫn nhập: Tưởng như nghe chim hót

Một trong những điều ấn tượng nhất đối với giáo sĩ Đắc Lộ khi vừa cập bến Đàng Trong năm 1624 đó là tiếng nói, nhất là âm giọng của đồng bào ta, như ngài đã ngỡ ngàng nhận xét: nghe nói mà “như nghe chim hót”: “Chúng tôi khỏi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và mười chín ngày thì tới Đàng Trong. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông thạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu… Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được”[1].

Vâng, người Việt Nam chúng ta, Đất nước Việt Nam có nhiều điều đáng để tự hào; và một trong những điều đó chính là tiếng nói, chính là âm giọng cưu mang “một cái hồn đầy nhạc tính”, một “cái âm sắc rất riêng” làm nên chính con người Việt Nam, đất nước Việt Nam mà ca khúc “Đất Nước” của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn đã thâm thúy khắc họa bằng những biểu tượng âm nhạc bàng bạc qua từng giai điệu:

Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu…

Lao xao trưa hè một giọng ca dao

Lao xao trưa hè một giọng ca dao….

Xin hát về người đất nước ơi,

Xin hát về mẹ Tổ Quốc ơi, tảo tần chung thủy.

Như những câu hò lắng trong tiếng sáo,

Đêm lại dặt dìu tiếng mẹ ru con…

Và khi Đạo Chúa được tiếp nhận trên mảnh đất hình chữ S nầy, nhất là khi đã lan tỏa qua cả hai vùng Đàng Trong (1615) tới Đàng Ngoài (1627), thì ngôn ngữ Tin Mừng cũng mang “dáng đứng Việt Nam”, cũng được chuyển tải, diễn đạt, cử hành bằng cái “tiếng” nói mang đầy nhạc tính, bằng những âm giọng của “giọt đàn bầu”, của “giọng ca dao”, của “tiếng mẹ ru con”…; của một thứ tiếng nói với đầy đủ sáu âm giọng “sắc, hỏi, không, huyền ngã, nặng” dễ gì gặp được nơi các dân tộc khác; với ba âm sắc vui, thương, mừng diễn đạt ba chiều kích tâm lý, nội tâm cốt lỏi của mỗi một con người: bừng sáng tin yêu (vui), đau buồn khốn khó (thương); mừng rỡ hân hoan (mừng)…

Chắc chắn đã có không ít các nhà chuyên môn nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, về ngôn ngữ học Việt Nam, về chữ Quốc ngữ…; riêng lãnh vực “lịch sử kinh nguyện Công Giáo” thì gần như chưa có một nghiên cứu chuyên đề nào xuất hiện. Trong giới nghiên cứu hiện nay, thì mới đây, năm 2004, có tác phẩm “Lời Kinh và Ý Nghĩa” của nữ tu Marie Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, tập chú vào việc “giải nghĩa các từ cổ” trong Sách Kinh của các giáo phận thuộc Giáo tỉnh Hà Nội[2]. Riêng tại Đàng Trong-Qui Nhơn, có một tác giả linh mục, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu… được nhắc đến đó là cha Pierre Trần Lục, người đóng vai trò không nhỏ trong việc nhuận chính và soạn tác các kinh nguyện của giáo phận Qui Nhơn[3].

Ở đây, chỉ xin tản mạn một khía cạnh nhỏ về “giọng đọc kinh giáo phận Qui Nhơn” để: một phần nhắc nhở thế hệ cháu con thái độ “uống nước nhớ nguồn” khi trân trọng những nét đẹp của những lời kinh xưa mà cha ông đã soạn tác và biết bao thế hệ đã ứng dụng thực hành đức tin; một phần để vận dụng những giá trị tối ưu kho tàng đức tin phong phú đó vào lãnh vực kinh nguyện và phụng vụ của thời hôm nay như một ứng xử khôn ngoan mang tính “thừa thượng tiếp hạ”.

  1. ĐÀNG TRONG – QUI NHƠN MỘT THỜI MỞ CÕI
  2. Cội nguồn Quốc ngữ và kinh nguyện Qui Nhơn

Có một điều không thể chối cải là trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ đã dần dần được thuyết phục chấp nhận địa chỉ Nước Mặn thuộc giáo phận Qui Nhơn hiện nay chính là “một trong những “cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ”; và được coi là “cái nôi sớm nhất”[4]. Thật vậy, theo báo cáo của các linh mục thừa sai Dòng Tên thì cư sở Nước Mặn chính là “cư sở chính thức đầu tiên” của Dòng Tên được thiết lập ngay từ năm 1618[5]; nghĩa là sau 3 năm lần đầu tiên đặt chân lên vùng đất Đàng Trong. Và đây cũng là ngôi trường đầu tiên đã được các thừa sai thiết lập để học và nghiên cứu tiếng Việt mà các “học viên” nơi “ngôi trường làng đặc biệt” đó, sau nầy đều là những tên tuổi lừng danh góp phần vào việc hình thành chữ Quốc ngữ trong giai đoạn nền móng ban đầu hay phát triển nền văn hóa Hán Nôm: Buzomi, Cristofo Borri, Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes, Gaspar Luis, Antonio de Fontes , Emmanuel Borges, Giovanni di Leira, Gaspar Luis, Girolamo Majorica …[6].

Phải chăng vì yếu tố “địa phương” nầy mà “phương ngữ Qui Nhơn-Bình Định hay “Bình Định-Phú Yên” đã chiếm một vị trí nhất định trong các tác phẩm tự vị Quốc ngữ đầu tiên như Tự điển Việt-Bồ-La của cha Đắc Lộ (1951), tự điển Anamitico-Latinum của Đức Cha Bá Đa Lộc (1773), tự điển Anamitico-Latinum (1838) của Đức cha Tabert[7].

  1. Khái quát về Kinh nguyện Qui Nhơn và cung giọng Qui Nhơn

2.1. Kinh nguyện Qui Nhơn và địa bàn mục vụ:

Kể từ năm 1850, với sắc lệnh Postulat Apostolici của Đức Giáo Hoàng Pio IX ban hành ngày 27.8.1850, giáo phận Đông Đàng Trong (Cho tới năm 1924 Tòa Thánh đổi tên thành giáo phận Qui Nhơn) bao gồm 6 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận và vùng Tây nguyên[8]. Nếu xét về mặc ngữ âm, có thể nói dân của miền 6 tỉnh nầy tương đối gần nhau; tuy rằng cách phát âm có một số dị biệt (chẳng hạn cách phát phát âm của dân Quảng Nam và Quảng Ngãi). Chính vì yếu tố mang tính “địa bàn mục vụ” nầy mà hệ thống kinh nguyện của giáo phận Qui Nhơn đã chi phối trên các cộng đoàn giáo xứ từ Quảng Nam tới Bình Thuận và suốt mấy tỉnh Tây nguyên[9]. Bằng chứng cụ thể của sự “thống nhất kinh nguyện” nầy chính là hai cuốn sách Kinh: Sách Kinh nguyện ngày thường và ngày Chúa Nhật (1925) và Sách Mục Lục (1931) được in tại nhà in Làng Sông và phổ biến trên toàn giáo phận[10].

Lịch sử cho thấy, vùng đất Qui Nhơn từ thế kỷ 15, đúng hơn từ năm 1471 trở về trước, là lãnh địa của người Champa; và sau “chiến dịch Đồ Bàn 1471 của vua Lê Thánh Tôn”[11] mới thuộc Đại Việt. Phải chăng vì thế mà ngữ âm của người dân thuộc miền nầy là sự pha trộn nhất định của dân Champa bản địa và lưu dân Đại Việt từ Bắc vào. Chính sự “lai tạp ngôn ngữ” mang tính chiến tranh, di dân trôi nổi và phiêu lưu đi tìm đất mới, đã khiến tiếng nói của dân “miền Trung và Nam Trung bộ” nầy mang âm sắc thoải mái, giản đơn, không cầu kỳ nghi lễ. Chính vì thế, tiếng của vùng nầy chỉ có “5 dấu: sắc, hỏi, không, huyền, nặng; mà không có dấu “ngã” như người dân Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, nhờ nền tảng “Quốc ngữ Latin” được phổ biến sớm từ trung tâm Nước Mặn nên các vị tiền nhân đã soạn tác Kinh nguyện bằng chữ Quốc ngữ khá sớm và cũng khá chuẩn. Xin nhường việc phân tích mang tính chuyên đề về ngữ học cho các nhà chuyên môn. Ở đây, chỉ xin dừng lại một cách khái quát về ba cung giọng chính trong các kinh nguyện của giáo phận Qui Nhơn. Đó là ba cung giọng Vui, Thương, Mừng.

2.2. Kinh nguyện, phụng vụ và mầu nhiệm đức tin:

Kinh nguyện của Hội Thánh Công Giáo thường chuyên chở hai ý nghĩa: một là: Kinh để biểu lộ đức tin như một lời tuyên tín, như một ghi khắc các chân lý, các tín điều… (Có người đặt tên cho loại kinh nầy là “Kinh Bổn”) như kinh Tin Kính, Kinh Tin, Cậy, Mến, Kinh Ngày Chúa Nhật…; hai là: Kinh để bày tỏ tâm tình cầu nguyện với Chúa, thân thưa nguyện xin, cảm tạ, tôn vinh (Người ta đặt tên cho loại kinh nguyện nầy là “Kinh Nguyện”). Kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, Ăn năn tội, kinh Cảm ơn… Cùng với hai ý nghĩa trọng tâm “mang tính chủ đích” đó, các kinh nguyện hầu hết là để nhắc nhớ các mầu nhiệm đức tin: Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người, mầu nhiệm Ngôi hai chịu chết và sống lại, mầu nhiệm Đức Mẹ, Các Thánh, các mùa Phụng vụ, Bí tích Thánh Thể, Thánh Tâm Chúa Giêsu, Cầu hồn…; hay các dịp đặc biệt và các nhu cầu trong Hội Thánh: Kinh Năm Toàn Xá, Kinh cầu mùa…

Hội Thánh với kho tàng kinh nguyện phong phú suốt 2000 năm đã lưu truyền rất nhiều kinh nguyện truyền thống từ đời nầy qua đời khác như những “di chúc tinh thần” cao quý. Cha ông chúng ta, từ khi các thừa sai mang hạt giống Tin Mừng vào mảnh đất “hình chữ S” nầy, đã dần dần được tiếp cận với kho tàng kinh nguyện truyền thống của Mẹ Giáo Hội, hoặc bằng các bản dịch Hán Nôm, nhất là sau nầy, bằng chữ Quốc ngữ, hoặc được chính các ngài soạn tác.

Có một điều thật may mắn đó chính là khi chân lý đức tin hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam đã mang lấy những đặc tính độc đáo của người Việt; trong đó, ngôn ngữ, giọng nói chính là yếu tố quan trọng. Vâng, tiếng Việt chuyển tải ý nghĩa các mầu nhiệm đức tin không chỉ bằng “mặt chữ” mà còn bằng âm giọng; vận dụng âm giọng của tiếng Việt để soạn, dịch kinh đó chính là một lựa chọn đầy thông minh và hợp lý của cha ông chúng ta.

  1. VUI, THƯƠNG, MỪNG VÀ MẦU NHIỆM ĐỨC TIN

Trong kiến thức hạn chế về lãnh vực âm nhạc, tôi láng máng hiểu rằng, trong kết cấu âm giai (gamme) hay điệu thức (mode) của hệ thống âm nhạc thế giới (cả hệ thống Thất cung – Heptatonic lẫn hệ thống Ngũ cung – Pentatonic), thức “trưởng” (Majeur) hay “thứ” (Mineur) chính là tố chất định hình nền tảng của mỗi giai điệu hay của cả bài ca, khúc nhạc.

Thông thường, một bài ca, khúc nhạc được kết cấu, xây dựng và phát triển trên cái nền điệu thức trưởng thì đều mang âm sắc vui tươi, trong sang, hoan hỉ vui mừng… Trong khi đó, đa phần, các bài ca, khúc nhạc được viết trên nền điệu thức thứ thường mang âm sắc man mác buồn, day dứt… Dĩ nhiên, vẫn có những “ngoại lệ”.

Chung chung, kinh nguyện thuộc giáo phận Qui Nhơn (ít ra, kể từ năm 1924), gần như cũng phản ảnh quy luật nền tảng đó. Các kinh nguyện liên quan đến các mầu nhiệm mang chiều kích vui (Giáng Sinh, Nhập Thể…) hay mừng (Phục Sinh, Thăng Thiên…) thì được cha ông ta soạn tác với các ngữ âm trên nền nhạc điệu thức trưởng (majeur) theo kết cấu của âm nhạc (thất cung hay ngũ cung); một cái “chất trưởng” với kết cấu âm giai và cung thể cao, bừng sáng, tươi tắn, vươn cao hay tỏa sáng với niềm vui thánh thiện, mừng vui tôn quý… Trong khi đó, mầu nhiệm Thương Khó, Khổ nạn…, hay những gì liên quan đến sám hối, hy sinh, chết chóc, đau khổ… thì kinh nguyện chọn lựa điệu thức thứ (mineur) với âm sắc buồn, trầm lắng, day dứt. Rất tiếc, thế hệ giáo dân Qui Nhơn trẻ hôm nay, gần như xa lạ hoặc không biết gì về cung giọng kinh nguyện truyền thống của bao thế hệ cha ông. Họ đọc kinh Truyền Tin, lần hạt Năm sự Vui, Thương, Mừng ngang ngang như nhau; chẳng phân biệt thế nào là “vui”, thế nào là “thương”, thế nào là “mừng”…

Sau đây, xin mạo muội trình bày đôi nét về những nét độc đáo của các cung giọng Vui, Thương, Mừng và một số các cung giọng đặc biệt của làng kinh nguyện Qui Nhơn.

  1. Kinh nguyện “mùa Vui”:

Sau đây, xin đơn cử hai kinh nguyện thuộc cung vui: Kinh suy niệm Mân Côi gẫm tắt Năm Sự Vui (Rê trưởng) và kinh kính nhớ mầu nhiệm Nhập thể -Giáng Sinh Truyền Tin (Si giáng trưởng):

Khi đọc kinh Truyền Tin và suy niệm mầu nhiệm Năm Sự Vui với đúng cung giọng “vui” như cha ông ta đã soạn tác và bao thế hệ tín hữu Qui Nhơn đã thực hành qua bao năm tháng, chúng ta sẽ cảm nhận được chiều kích bừng sáng tin yêu của mầu nhiệm Nhập Thể Giáng Sinh, của sứ điệp “Tin Mừng vĩ đại” mà các thiên sứ đã báo cho các mục đồng thành Bê lem (Lc 2,8-14), của niềm vui rạng rỡ thánh thiện trong tâm hồn và trên môi miệng của Mẹ Maria, của bà thánh Isave, mà kinh Magnificat mãi mãi là một chứng từ đi cùng năm tháng !

Có rất nhiều kinh khác có thể xếp vào nhóm “vui” nầy; và cũng được soạn tác ngữ âm trên nền điệu thức trưởng; chẳng hạn như kinh Kính Mừng, kinh Tin Kính, các kinh Tin, Cậy, Mến; kinh cầu Đức Mẹ, kinh Linh hồn tôi tán tụng (Magnificat), kinh Thân lạy ông Thánh Giuse… Những ai là giáo dân Qui Nhơn thuộc thế hệ “U Tám mươi” trở về trước, nhất là thuộc các giáo xứ truyền thống, thuần dân địa phương…, hầu chắc còn đọc đúng cung giọng “vui” khi thể hiện các kinh nguyện nầy.

  1. Kinh nguyện “Mùa Thương”.

2.1. Giọng thương và điệu thức “thứ” phổ thông:

Trong hệ thống “Ngủ Cung” của nhạc cố Trung Hoa hay Việt Nam, căn bản gồm các cung giọng: CUNG, THƯƠNG, GIỐC, CHỦY, VŨ (tương ứng: ĐÔ, RÊ, FA, SOL, LA). Trong đó, cung “Thương” có đặc tính âm điệu: “thuộc Kim, u buồn nặng nề, không bị bẻ cong. Loại âm nhạc này ảnh hưởng phổi (phế) nếu nghe thường xuyên thì người ta sẽ trở nên chân chính và thân thiện…”[12].

Phải chăng cha ông ta khi soạn hoặc dịch kinh nguyện sang Quốc ngữ sẽ chọn cung THƯƠNG để chuyển tải ý nghĩa liên quan đến mầu nhiệm Thương Khó, Khổ nạn, tâm tình thống hối ăn năn hay những dịp đau buồn tang chế. Để diễn tả âm sắc buồn của cung “Thương” không gì thích hợp với nền nhạc Tây phương cho bằng âm giai mang điệu thức thứ (mineur).

Sau đây xin đan cử hai Kinh “Năm sự Thương” và kinh “Ăn năn tội” với âm giai điệu thức thứ (La mineur).

Riêng kinh “Ca vịnh 129 vua Đa-vít”, một giọng “Thương” tiêu biểu lại được xây dựng trên nền cung FA thứ”

 

2.2. Những giọng kinh thương đặc biệt:

Những kinh giọng “Thương” phổ thông theo điệu thức thứ như phân tích ở trên trong sách Mục Lục Qui Nhơn thì nhiều lắm; nhất là những kinh đọc trong Mùa Chay và Mùa Thương Khó; nói chung, những kinh liên quan đến mầu nhiệm Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô như: Kinh Gẫm Đàng Thánh giá, kinh Mười Lăm sự Thương Khó, Kinh Bảy sự thương khó Đức Mẹ, Kinh Năm Dấu Thánh…

Tuy nhiên, có những kinh giọng thương đặc biệt và thường là được thể hiện trong những thời điểm phụng vụ đặc biệt, như Mùa Chay, Tuần Thánh.

2.2.1. Mùa Chay với kinh Hồng Ân:

Kinh “HỒNG ÂN” là một kinh với giọng “thương” độc đáo được đọc khi phụng vụ bước vào Mùa Chay Thánh; đây có thể nói được là cả một “bài ca đi cùng năm tháng” trong sinh hoạt đức tin của Dân Chúa. Riêng cách thể hiện kinh nầy cũng độc đáo: vừa đồng diễn (phần đầu dành cho toàn thể cộng đoàn) vừa xướng đáp (phần giữa một người xướng và cộng đoàn đáp), phần cuối cộng đoàn chung nguyện. Về âm giọng thì kinh Hồng Ân mang một âm sắc rất riêng; gần như có sự pha trộn giữa chất dân ca Huế vừa phảng phất chất dân ca bài chòi Nam Trung Bộ nhưng được cải biên theo giọng kinh cung thương của nhà đạo.

Xin giới thiệu Kinh Hồng Ân được xây dựng trên nền cung MI THỨ với ba đoạn: Đoạn đầu cả cộng đoàn đọc chung; đoạn giữa một người xướng và cộng đoàn đáp câu chung (theo cách xướng đáp của lời nguyện tín hữu); và đoạn cuối là lời nguyện kết dành cho cả cộng đoàn. Nền nhạc của đoàn đầu và đoạn giữa giống nhau; và là cung giọng đặc biệt của kinh Hồng Ân. Đoạn cuối trở về giọng thương phổ thông như đã phân tích ở trên và được xây dựng trên nền cung LA THỨ.

2.2.2. Tuần Thánh và Kinh Lễ Đèn:

Trong Phụng vụ của Hội Thánh, nếu thời gian “Tuần Thánh” là tuần cao điểm của Năm Phụng vụ, là thời gian đỉnh điểm của việc cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua[13], thì ngoài các cử hành Phụng vụ truyền thống đầy trang trọng, nhất là cử hành Tam Nhật Thánh, tuần lễ nầy còn được ghi đậm dấu ấn của lòng đạo đức bình dân thông qua những cử hành suy niệm đặc biệt, trong đó có việc cộng đoàn họp nhau tại nhà thờ để “Suy gẫm Mười Lăm Sự Thương Khó” mà giáo phận Qui Nhơn gọi là giờ “Kinh Lễ Đèn”[14].

Việc “than Kinh Lễ Đèn” của giáo phận Qui Nhơn xem ra đơn giản hơn các giáo phận vùng phía Bắc, xét về mặt cung giọng kinh sách và cách thế thể hiện.

Ỏ đây, xin đơn cử giọng kinh Lễ Đèn với hai giọng tiêu biểu: Giọng kinh gợi nhớ hay “kể” lại “sự kiện” Mười Lăm sự Thương Khó (gọi chung là “cung kể”) và giọng kinh suy niệm mang tính chủ quan, cá nhân sau khi đọc các gợi ý suy niệm Sự Thương Khó (gọi chung là “cung than”).

Giọng “cung kể” thì đọc chậm rãi theo cung “thương” phổ thông trên nền tảng cung thể La Thứ. Các phân câu, mệnh đề cần được phân biệt rõ rang, mạch lạc qua “dấu nghỉ”.

Xin đan cử một đoạn “kinh kể” tiêu biểu:

Trong khi đó kinh “cung than” sau phần lược kể Tin Mừng lại mang tính “tự sự”, than than trách phận, sám hối tội lỗi và thái độ khuất phục trước uy linh Chúa để trông cậy vào lòng Chúa khoan dung. Cung than tương đối khó và ngày nay, chỉ các bậc cao niên, từng được trui rèn trong cái nôi truyền thống cố cựu của Qui Nhơn mới may ra còn than đúng cách. Ở đây, chỉ mạo muội ghi lại cách đan thanh một đoạn tiêu biểu của “kinh than ngày Lễ Đèn nhứt” trên nền cung thể RÊ THỨ (chủ yếu ngũ cung):

Kinh giọng thương còn rất nhiều thể thức đa dạng khác. Đây chỉ là một vài gợi ý để những ai chuyên môn và có kinh nghiệm về cung giọng kinh Qui Nhơn sẽ bổ túc thêm.

  1. Kinh nguyện mùa “Mừng”:

Trong nhịp sống đức tin của Giáo Hội Công Giáo, chiều kích “mừng vui hoan hỉ” luôn chiếm một vị trí ưu tiên; đến đổi vị Tôi Tớ Chúa, Đức cố Hồng Y F.X. Nguyễn Văn Thuận, đã từng phát biểu: “Trong tự điển của người Công Giáo không có từ “buồn” ! Và khi nói đến “mừng vui” thì phải nhắc đến hai từ “Phục Sinh”; lễ Phục Sinh là đại lễ của vui mừng và “nỗi mừng Phục Sinh” là nỗi mừng trọn hảo nhất mà bài ca “Exultet” (Mừng Vui Lên) vang lên trong nghi thức khai mạc Đêm Vọng Phục Sinh là một chứng từ rõ nét !

Ngoài những kinh nguyện thuộc giọng “Vui” và “Thương” như chúng ta vừa đề cập đến, kinh nguyện Qui Nhơn còn một giọng thứ ba cũng độc đáo không kém; đó là kinh nguyện với cung giọng “Mừng”, một cung giọng diễn tả đầy ắp cái chất “Phục sinh” mà Phụng vụ cũng như mọi linh đạo của Hội Thánh luôn đề cao như là “hòn đá tảng” của đức tin Kitô.

Như đã nói ngay từ đầu, âm nhạc Tây phương lẫn Đông phương luôn mặc nhiên coi âm giai với điệu thức “Trưởng” là cái nền để xây dựng âm sắc mang chiều vui mừng, hoan hỉ.

Xin được đan cử hai kinh nguyện tiêu biểu mang cung “Mừng” đó là Kinh “Lạy Nữ Vương Thiên đàng” và kinh mầu nhiệm Mân Côi gẫm tắt Năm sự mừng được soạn tác theo điệu thức trưởng của âm giai ngũ cung: ĐÔ RÊ MI SOL LA ĐÔ…

Đại khái kinh giọng “Mừng” là như thế; và có rất nhiều kinh được xây dựng trên nền âm sắc mừng đó như các kinh thuộc mùa Phục Sinh, Kinh cầu Đức Bà, kinh Thân lạy Thánh Giuse, Kinh Nghĩa Đức Tin, Mười Điều răn, Sáu điều răn Hội Thánh… Có thể được thay đổi về luyến láy, nhấn nhả…, nhưng cái “chất mừng” căn bản âm vang na ná nhau.

  1. Những kinh giọng đặc biệt:

Ngoài ba giọng kinh “Vui, Thương, Mừng” cơ bản đó, các kinh nguyện thuộc địa phận Qui Nhơn còn nhiều thể loại tế vi khác mà khả năng hạn chế về “âm học”, “ngữ học” hay “nhạc lý” không cho phép được giải thích nhiều hơn. Nhưng, đặc biệt, không thể không nhắc đến các loại “Kinh Chầu”; tức những kinh tập trung hướng về một “đối tượng thánh” để giúp cộng đoàn khi đọc lên là để nuôi giữ tâm tình suy niệm, cầu nguyện sốt sắng. Trong số đó có những kinh về Chúa như Kinh “Lễ Đức Chúa Giêsu Thăng Thiên”, kinh “Kính Nguyện Chúa Thánh Thần”, các kinh Chầu Giờ Thánh hay Phép lành: Kinh “Ớ lưỡi phải ngợi khen”, “Ớ Núi thánh Sion”, Kinh Phạt Tạ, kinh Đền tạ Thánh Tâm…

Đặc biệt, những kinh loại nầy, khi đọc có thêm âm nhấn nhá “ớ” nhịp đều sau từng tiếng, hơi giống cách nhấn nhá của cách tụng kinh nhà Phật theo giọng gõ mõ !

Xin đan cử một đoạn trong kinh “Kính nguyện Đức Chúa Thánh Thần” như một giọng tiêu biểu của cung kinh đặc biệt này:

Kết: Kinh nguyện và đức tin truyền thống

Dĩ nhiên, ngoài chất giọng, âm sắc sẵn có của tiếng Việt, các tác giả soạn kinh, dịch kinh chắc chắn phải nắm vững quy luật ngữ âm, chọn lựa thanh điệu phù hợp trong kết cấu câu chữ để lời kinh vừa phù hợp ý nghĩa mầu nhiệm diễn tả vừa ăn khớp với ngữ âm thể hiện. Quả thật, kho tàng kinh nguyện mà chúng ta được thừa hưởng từ công khó và tài hoa của cha ông thật là vĩ đại. Cảm ơn các ngài đã để lại cho chúng ta kho tàng kinh nguyện vô giá.

Điều còn lại đó là chúng ta trân trọng và biết sử dụng đúng cách, đúng bài gia tài thiêng liêng cao quý nầy. Nói nôm na, đó là cần đọc kinh cho đúng cung, đúng giọng. Những kinh thuộc “Mùa Vui” mà đọc theo giọng “Thương khó” thì ai chịu cho được. Cũng vậy, ở giữa Tuần Thánh, khi gẫm đàng Thánh Giá mà lại đọc giọng vui sang sảng thì chỉ để “tấu hài” chứ suy niệm gì nỗi ! Riêng, mầu nhiệm Phục Sinh, niềm vui Chúa sống lại phải được lan tỏa, tràn ngập cuộc sống của người Kitô hữu; không phải qua quất cho xong, mà phải thấm nhuần trong từng lời kinh câu hát mỗi ngày.

Chính vì thế, khi mỗi người, mỗi cộng đoàn cùng ý thức vẽ đẹp và ý nghĩa của từng lời kinh và đọc suy niệm theo đúng cung giọng, chắc chắn sẽ là cách diễn tả đức tin truyền thống đẹp nhất, căn bản nhất; và cũng là cách thế để chúng ta sống mầu nhiệm cứu độ, mầu nhiệm đức tin cách trọn hảo.

Trương Đình Hiền (Viết xong ngày 20 tháng Chạp Tân Sửu)

 

[1] ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions), bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ, nxb Hồng Đức 2020, tr. 84-85.

[2] NT. MARIE THERESE BÙI THỊ MINH THÙY, OP, Lời kinh & Ý nghĩa, Giải thích các từ cổ trong các kinh, nxb An Tôn & Đuốc sáng 2004, Lời nói đầu, tr. 9.

[3]  CHÂU YẾN LOAN, Chữ Quốc ngữ năm 1906 ở Bình Định qua tác phẩm Ấu học của Pierre Lục, Kỷ yếu hội thảo, nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2016, tr. 476: Pierre Trần Lục là một Linh mục, nhà Giáo dục, nhà Văn thời chữ Quốc ngữ mới phổ biến đầu thế kỷ XX. Ông ra đời năm 1868 tại thôn Tùng Sơn, địa phận Phú Thượng, xã Hòa Sơn, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 13km. Thuở nhỏ ông rất thông minh, lanh lợi nên năm 13 tuổi được vào học trường La Tinh tại Làng Sông – Qui Nhơn. Năm 1885, trường Làng Sông bị phong trào Văn Thân phá hủy, ông được chọn gởi sang học ở Pinang. Năm 1889 ông trở về Việt Nam đi giảng đạo tại Phan Rang, dạy tiếng tại Phan Thiết. Năm 1892 về học Lý đoán tại Làng Sông. Năm 1898 được phong Linh mục. Năm 1904 ông làm việc tại nhà in Làng Sông đến năm 1906. Tại đây ông đã viết sách Ấu học, Trung học. Năm 1911-1914 trở vô Làng Sông dạy Quốc văn và giúp việc cho tòa Giám mục. Ông mất khuya ngày 23/12/1927 tại bệnh viện Qui Nhơn, an táng tại Làng Sông. Linh mục Pierre Trần Lục là người thông minh, cương trực, có tài văn chương, giàu lòng thương người. Ông còn để lại các sách: Ấu học, Trung học, Thánh giáo tự lễ, tiểu thuyết Song nghĩa tự, Đồ của Hời, Hai chị em lưu lạc, cùng nhiều sách nhỏ về đạo lý luân thường, ông đã đặt nhiều kinh văn dễ đọc, dễ hát trong những ngày lễ”. website https://vannghedanang.org.vn/pierre-tran-luc-nguoi-da-nang-viet-sach-giao-duc-bang-chuquoc-ngu-dau-tien-cua-nuoc-ta-chau-yen-loan-6231.html, đăng ngày 8.7.2016.

[4] GS. PHAN HUY LÊ, Tổng kết hội thảo khoa học “Bình Định với chữ Quốc ngữ”, Kỷ yếu hội thảo, sđd, tr. 717: “Trên quan niệm như vậy, tôi nghĩ rằng trong buổi đầu, nhiều giáo sĩ Dòng Tên, đi tiên phong là người Bồ, người Ý, đã tham gia vào quá trình Latin hóa chữ viết của người Việt, để lại những chữ Quốc ngữ đầu tiên. Ba trung tâm đã góp phần vào quá trình này là Nước Mặn, Hội An, Dinh Chiêm với tên tuổi của Cristoforo Borri, Francisco de Pina trong những năm 1618-1623 rồi tiếp theo là Alexandre de Rhodes, Gaspar Luis, Antonio de Fontes những năm 1625-1626. Có thể coi đó là ba dòng suối đầu tiên tạo nên dòng sông chữ Quốc ngữ. Nếu xem xét sâu hơn về những chứng cứ văn bản có chữ Quốc ngữ thì trong ba trung tâm đó, trung tâm Nước Mặn có phần sớm hơn với sự hiện diện của chữ Quốc ngữ trong cuốn sách của Borri năm viết 1621 và xuất bản lần đầu năm 1631…”.

[5] BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, nxb An Tôn & Đuốc Sáng, đăng ký Bản quyền tại Hoa Kỳ tháng 06.2017, tr. 48-55.

[6] GS. PHAN HUY LÊ, sđd, tr. 616: “Nước Mặn cũng là trung tâm học tiếng Việt hình thành rất sơm ở Đàng Trong. Năm 1622 giáo sĩ Emmanuel Borges, Giovanni di Leira, rồi năm 1624, giáo sĩ Gaspar Luis, Girolamo Majorica đều đến Nước Mặn học tiếng Việt”.

[7] TS. NGUYỄN NGỌC OANH, PGS, TS. NGUYỄN CÔNG ĐỨC, Một vài chỉ dấu của phương ngữ Bình Định – Nam Trung bộ trong tự điển Việt –Bồ – La của Alexander de Rhodes, Kỷ yếu hội thảo, sđd, tr. 467-474.

[8] BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, sđd, tr. 210.

[9] Hai giáo phận “Tây Đàng Trong” và “Bắc Đàng Trong” vì cùng xuất phát từ giáo phận Đàng Trong nên kinh sách của hai giáo phận nầy (và của các giáo phận sau nầy tách ra từ đó) cũng có nhiều điểm tương đồng với giáo phận Qui Nhơn.

[10] PHAOLÔ NGUYỄN MINH CHÍNH, Sách Nhà in Làng Sông Qui Nhơn, website Giáo phận Qui Nhơn, link: Sách Nhà in Làng Sông và Qui Nhơn (gpquinhon.org), đăng ngày 17/7/2021.

[11]

[12] BIÊN KHẢO: GIÒNG BÁCH VIỆT, Ngũ cung Việt nam trong hệ thống nhạc lý, website Microsoft Word – Tìm Hiểu về Ngũ Cung VN.doc (wordpress.com).

[13] SÁCH LỄ RÔMA: “Tam Nhật Vượt Qua kính nhớ Chúa chịu nạn và Sống lại là điểm cao chói lọi của Năm Phụng Vụ”.

[14] SÁCH KINH LỚN ĐỊA PHẬN QUI NHƠN, Năm 1958, Phép lần hột ba ngày lễ Đèn, tr. 262.

Read More
24Tháng Một
2022

Xin cho biết tiêu chuẩn chọn Bài đọc cho lễ một vị Thánh

24/01/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Xin cho biết tiêu chuẩn chọn Bài đọc cho lễ một vị Thánh

 

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Đâu là phương pháp của việc chọn các bài đọc Thánh lễ cho các ngày trong tuần và cuối tuần? Liệu là đúng để sử dụng các bài đọc trong Sách Bài Đọc, được thiết lập cho ngày lễ một vị thánh, hoặc chỉ dùng các bài đọc tiêu biểu cho ngày lễ? Nghĩa là, liệu các bài đọc dành cho lễ thánh Maria Goretti (5-7) được sử dụng, chẳng hạn, thay vì dùng bài đọc của ngày thứ Hai của tuần thứ 14 Mùa Thường Niên, nếu Sách Lịch không liệt kê các bài đọc riêng cho lễ vị Thánh? Tôi nghe một chủng sinh nói rằng chỉ có các bài đọc “được duyệt” trong Sách Lịch mới có thể được sử dụng trong Thánh Lễ vào một ngày cụ thể, và rằng bởi vì chúng đi theo trật tự mỗi ngày, hoặc vì một chủ đề đặc biệt, chúng không thể thay đổi với các bài đọc của một ngày lễ vị Thánh, và rằng một Sách Bài Đọc mới hơn có thể không còn có các bài đọc đặc biệt cho ngày lễ một vị Thánh nữa. – T. G., Hartford, Connecticut, Mỹ.

Đáp: Đối với bài đọc ngày thường trong năm, có một nguyên tắc chung về việc đọc liên tục Kinh Thánh, vốn cho phép một số trường hợp ngoại lệ. Mục đích chung của sự sắp xếp này được giải thích trong tài liệu Dẫn nhập Sách Bài Đọc:

“60. Thứ tự hiện tại của các bài đọc cho Thánh Lễ là một sự sắp xếp các bài đọc Kinh Thánh, vốn cung cấp cho các tín hữu một kiến thức của toàn bộ lời Chúa, trong một mô hình phù hợp với mục đích. Trong suốt năm phụng vụ, nhưng nhất là trong mùa Phục Sinh, Mùa Chay, và Mùa Vọng, sự lựa chọn và thứ tự của các bài đọc là nhằm giúp các tín hữu của Đức Kitô một nhận thức ngày càng sâu hơn của đức tin, mà họ tuyên xưng và của lịch sử cứu độ. Theo đó, thứ tự của các bài đọc tương ứng với các yêu cầu và lợi ích của Kitô hữu”.

Về việc sắp xếp các bài đọc cho các ngày trong tuần và lễ các thánh, tài liệu này tiếp tục nói:

“69. Các bài đọc ngày trong tuần đã được sắp xếp theo cách sau đây.

“1. Mỗi Thánh Lễ có hai bài đọc: bài đọc thứ nhất là lấy từ Cựu Ước hay từ một vị Tông Đồ (nghĩa là, hoặc từ một thư hoặc từ Sách Khải Huyền), và trong mùa Phục Sinh, từ sách Công Vụ Tông Đồ; bài đọc thứ hai lấy từ các sách Tin Mừng.

“2. Chu kỳ hàng năm cho Mùa Chay có các nguyên tắc sắp xếp riêng, vốn có tính đến đặc điểm phép rửa và thống hối của mùa này.

“3. Chu kỳ cho các ngày trong tuần của Mùa Vọng, mùa Giáng sinh, và mùa Phục Sinh, cũng là hàng năm, và do đó các bài đọc vẫn như nhau mỗi năm.

“4. Đối với ba mươi bốn tuần của Mùa Thường Niên, các bài đọc Tin Mừng ngày thường được sắp xếp trong một chu trình đơn giản, được lặp lại mỗi năm. Tuy nhiên, bài đọc thứ nhất được sắp xếp trong một chu kỳ hai năm, và do đó được đọc mỗi hai năm một lần. Năm I được sử dụng trong các năm lẻ; và Năm II, trong các năm chẵn.

“Giống như thứ tự cho các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ, thứ tự các bài đọc ngày trong tuần được qui định bởi sự áp dụng tương tự của các nguyên tắc về sự hài hòa và việc đọc bán liên tục, đặc biệt là trong trường hợp của các mùa với đặc tính riêng của mùa.

“70. Hai loạt các bài đọc được cung cấp cho Thánh lễ các Thánh.

“1. Phần Riêng của các Thánh cung cấp loạt bài đầu tiên, cho lễ trọng, lễ kính, hoặc lễ nhớ, và đặc biệt khi có các bản văn thích hợp cho lễ này hoặc lễ kia. Tuy nhiên, đôi khi trong phần Riêng, có một quy chiếu đến bản văn thích hợp nhất trong phần Chung, như là bản văn được ưu tiên.

“2. Phần Chung của các Thánh cung cấp loạt thứ hai và mở rộng hơn của các bài đọc. Trước tiên, có các bài thích hợp cho các nhóm khác nhau của các thánh (tử đạo, mục tử, trinh nữ, …), sau đó có nhiều bản văn bàn về sự thánh thiện nói chung. Chúng có thể được tự do lựa chọn, bất cứ khi nào phần Chung được chỉ định như là nguồn cho sự lựa chọn các bài đọc.

“71. Như là trình tự của chúng, tất cả các bản văn trong phần này của thứ tự các bài đọc xuất hiện theo thứ tự, mà chúng được đọc trong Thánh Lễ. Vì thế các bản văn Cựu Ước được đọc trước, rồi đến thư các Tông đồ, sau đó là Thánh vịnh và câu đáp giữa các bài đọc, và cuối cùng là các bản văn từ Tin Mừng. Lý do của sự sắp xếp này là rằng, trừ khi có ghi chú thể khác, linh mục chủ tế có thể tùy ý chọn từ các bản văn đó, tùy theo nhu cầu mục vụ của cộng đoàn tham gia Thánh lễ ấy”.

Về các tiêu chuẩn sử dụng trong việc lựa chọn bài đọc thích hợp nhất, tài liệu Dẫn nhập Sách Bài Đọc nói:

“82. Sự sắp xếp các bài đọc ngày trong tuần cung cấp bản văn cho tất cả các ngày trong tuần suốt cả năm. Do đó, trong hầu hết các trường hợp, các bài đọc này phải được sử dụng vào các ngày được chỉ định, trừ khi một lễ trọng, lễ kính hoặc lễ nhớ với các bài đọc riêng diễn ra.

“Trong việc sử dụng thứ tự các bài đọc cho các ngày trong tuần, phải chú ý để xem liệu một bài đọc này hay bài đọc khác từ cùng sách trong Kinh thánh sẽ phải bị bỏ qua, vì một Thánh lễ nào đó diễn ra trong tuần. Với sự sắp xếp các bài đọc cho cả tuần cần được nhớ tới, linh mục trong trường hợp đó nên sắp xếp để bỏ qua các đoạn ít quan trọng hơn, hoặc kết hợp chúng một cách thích hợp nhất với các bài đọc khác, nếu chúng góp phần vào cái nhìn toàn thể của một chủ đề đặc biệt.

“5) Lễ các Thánh

“83. Khi chúng tồn tại, các bài đọc riêng được đưa ra cho lễ các Thánh, nghĩa là, các đoạn Kinh Thánh về vị Thánh hoặc mầu nhiệm mà Thánh lễ đang cử hành. Ngay cả trong trường hợp của một lễ nhớ, các bài đọc này phải chiếm chỗ của các bài đọc ngày trong tuần cho cùng ngày ấy. Thứ tự các bài đọc cần lưu ý rõ ràng cho mỗi trường hợp của các bài đọc riêng cho một lễ nhớ.

“Trong một số trường hợp, có các bài đọc được thích ứng, nghĩa là các bài đọc nêu bật một khía cạnh của đời sống thiêng liêng của vị Thánh hoặc việc làm của vị Thánh ấy. Việc sử dụng các bài đọc này dường như không ràng buộc, ngoại trừ vì các lý do mục vụ thuyết phục. Đối với phần lớn, các qui chiếu được đưa ra cho các bài đọc trong phần Chung, để tạo điều kiện dễ dàng cho sự lựa chọn. Nhưng đây là các gợi ý đơn thuần: thay vì một bài đọc được thích ứng hoặc một bài đọc đặc biệt được đề nghị từ phần Chung, bất kỳ bài đọc khác được nhắc đến từ phần Chung có thể được chọn.

“Sự quan tâm đầu tiên của một linh mục cử hành với một cộng đoàn là các lợi ích thiêng liêng của các tín hữu, và ngài phải cẩn thận không áp đặt sở thích cá nhân của mình trên họ. Trên hết, ngài sẽ đảm bảo không bỏ qua quá thường xuyên, hoặc không có lý do chính đáng, các bài đọc được chỉ định cho mỗi ngày trong Sách Bài Đọc ngày trong tuần: Giáo Hội mong muốn rằng một bàn tiệc xa hoa của lời Chúa được dọn ra trước mặt các tín hữu.

“Cũng có các bài đọc chung, nghĩa là, các bài đọc được đặt trong phần Chung, hoặc dành cho một nhóm các Thánh (tử đạo, trinh nữ, mục tử), hoặc cho các Thánh nói chung. Bởi vì trong các trường hợp này, nhiều bản văn được liệt kê cho cùng một việc đọc, nên linh mục có quyền chọn bài đọc nào thích hợp nhất cho người nghe.

“Trong tất cả lễ các Thánh, các bài đọc có thể được lấy, không chỉ từ phần Chung, mà các qui chiếu nêu rõ cho từng trường hợp, mà còn từ phần Chung của các Thánh Nam Nữ, khi có lý do đặc biệt để làm như vậy”.

Do đó, để tóm lược phần trên đây, chúng tôi có thể nói rằng Giáo Hội không thích làm gián đoạn quá thường xuyên việc đọc liên tục Kinh Thánh được đưa ra trong Thánh Lễ hàng ngày. Tuy nhiên, việc đọc liên tục này sẽ bị gián đoạn, bất cứ khi nào có các bài đọc riêng cho một ngày nhất định, chẳng hạn như lễ trọng, lễ kính và mỗt số lễ nhớ của các vị Thánh với các bài đọc riêng (chẳng hạn như các thánh được nhắc đến trong chính bài đọc, như thánh Maria Mađalêna).

Vào các ngày lễ nhớ khác, vốn không có các bài đọc buộc riêng, linh mục có thể lấy các bài đọc từ phần riêng của vị Thánh, hoặc từ phần Chung của các Thánh, nếu vì một lý do mục vụ chính đáng, ngài quyết định rằng cần đề cao một vị Thánh nào đó. Thí dụ, nếu một giáo xứ ở Mỹ, Úc hoặc Ý có một số đông tín hữu đến từ Philippines tham dự Thánh Lễ hàng ngày, linh mục có thể quyết định cử hành lễ thánh Lawrence Ruiz, vị tử đạo đầu tiên của đất nước họ (ngày 28-9), trong một đặc biệt bằng cách lấy các bài đọc từ phần Chung của các Thánh Tử Đạo.

Để trả lời câu hỏi của độc giả chúng tôi: Các bài đọc riêng cho thánh Maria Goretti có thể được sử dụng, nếu có một lý do mục vụ chính đáng để làm như vậy. Quyết định này là do vị chủ tế. Giáo Hội chỉ khuyến nghị rằng điều này không nên thực hiện cho mọi vị Thánh, để đừng làm gián đoạn chu kỳ bình thường quá thường xuyên. Thông tin được cung cấp bởi chủng sinh trên là không chính xác, và không thích hợp với các qui định đã nêu ở trên.

(Nguyễn Trọng Đa/ Zenit.org 15-9-2015)

Read More
23Tháng Một
2022

Những gì các Tu Sĩ và Phó Tế được hay không được phép làm trong các Giáo xứ

23/01/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Những gì các Tu Sĩ và Phó Tế được hay không được phép làm trong các Giáo xứ

 

Hỏi: xin cha giải đáp những thắc mắc sau đây :

1-    Tại sao Phó tế không được rửa tội cho người lớn và sức dầu cho bệnh nhân ?

2-    Các Tu sĩ có được phép giảng, chứng hôn, rửa tội và sức dầu bệnh nhân không ?

Trả lời :

Trước hết, cần nói qua về hàng Giáo sĩ và Tu sĩ trong Giáo Hội như sau:

1- Hàng Tu sĩ nam nữ ( Religious, consecrated men and women) là những người có lời khấn khó nghèo ( poverty) khiết tịnh ( chastity) và vâng phục  ( obedience) trong  một Tu Hội hay Nhà Dòng  được thành lập hợp pháp ( theo giáo luật)  để hoạt động trong Giáo Hội,

Giáo sĩ ( clerics)  là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ khác với Tu sĩ  ở một điểm là  giáo sĩ không phải khấn khó nghèo, chỉ khấn vâng phục và khiết tịnh hay độc thân ( celibacy) mà thôi.

Các Tu sĩ thuộc quyền của Bề Trên Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Nhưng khi làm việc trong một giáo hội địa phương  hay địa  phận ( Diocese) thì  lại trực thuộc quyền  và cho  phép của giám mục  giáo phận. Nghĩa là nếu giám mục không cho phép  thì không Tu Hội hay Nhà Dòng  nào được phép hoạt động trong  một  giáo hội địa phương. ( địa phận).

Các giáo sĩ ( phó tế, linh mục ) trực thuộc một Giám mục địa phương . Giám mục ( cũng là giáo sĩ  hay tu sĩ) trực thuộc và chịu trách nhiệm trước  Đức Thánh Cha, tức Giám mục Rôma, và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Đấng duy nhất thay mặt Chúa Kitô trong sứ mệnh và trách nhiệm cai quản Giáo Hội , nối nghiệp Thánh Phêrô

Các giáo  sĩ là những người được tuyển chọn và  huấn luyện để lãnh các chức thánh như  Phó Tế, Linh mục và Giám mục để giảng dạy, thánh hóa và coi sóc dân Chúa được trao phó cho các ngài chăm lo về mặt thiêng liêng.

Đứng đầu một  Giáo Phận hay Địa  Phận ( Diocese) là một Giám mục  do Đức Thánh Cha bổ nhiệm để trong coi một giáo hội địa phương hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ và vâng phục Đức Thánh Cha cũng là Thủ lãnh của Giám mục Đoàn ( College of  Bishops).

Giám mục địa phận  được gọi là Giám mục chính tòa ( Ordinary=Diocesan Bishop). Giám mục chính tòa có thể có một, hai hay 3 Giám mục phụ tá( Auxiliary Bishops), phụ giúp để điều hành một Giáo phận hay Tổng Giáo phận ( Archdiocese). Giáo mục phụ tá không có quyền kế vị khi Giám mục chính tòa về hưu hay qua đời ( giáo luật số 403, triệt 1).Chỉ có Giám mục Phó ( Coadjutor) được quyền kế vị mà thôi. ( x giáo luật số  403, triệt 3  )

Giám mục chính tòa được sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và Phó tế trong Địa phận. Chí có linh mục và Giám mục thuộc hàng Tư Tế ( Sacerdos),  phó tế chỉ là giáo sĩ được thụ phong để phụ giúp linh mục và giám mục trong những nhiệm vụ được giáo phó.

Cụ thể, phó tế có năng quyền được công bố Phúc Âm khi giúp lễ cho linh mục hay Giám mục.Phó tế cũng được phép chia sẻ lời Chúa với sự cho phép của linh mục trực thuộc. Phó tế được chứng hôn, cử hành nghi thức an táng khi không có linh mục chủ sự Thánh lễ an táng.. Phó tế cũng được  làm phép nước thánh và làm phép các ảnh tượng với công thức  trong Nghi thức làm phép của Giáo Hội. Sở dĩ thế, vì nước thánh ( holy water) và các Ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ  và các Thánh không phải là các Bí tích mà chỉ là Á bí tích thôi ( Sacramentals) nên Phó tế được phép làm. Thêm nữa, Phó tế  được rửa tội  cho trẻ em, không cho người lớn (adults) vì người lớn là tân tòng ( catechumens) nên phải học đạo trong chương trình gọi la RCIA ( Rites of Christian Initiation  for Adults) để chịu 3 Bí Tích Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể một lượt. Do đó, Phó tế không rửa tội cho người lớn vì không được phép Thêm sức cho họ sau khi rửa tôi. Chỉ có  giám mục là thừa tác viên chính của bí tích Thêm sức và có thể ủy nhiệm ( delegate ) cho các  linh mục  trực thuộc cử hành bí tích này.Lai nữa , phó tế không được xức dầu bệnh nhân vì chỉ có linh mục hay giám mục là thừa tác viên của bí tích này mà thôi. Cũng cần nói thêm là  chỉ có linh mục và giám mục thuộc hàng tư tế ( sacerdos) nên mới có năng quyền cử hành các bí tích thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, và Sức dầu bệnh nhân. (x. giáo luật số 1007). Phó tế không thuộc hàng tư tế  nên không có năng quyền để cử hành các bí tích Thánh Thể, Hòa giái, và Sức dầu bệnh nhân.

Đó là trong trường hợp bình thường.Ngược lại, trong trường hợp nguy tử khi không có linh mục, thì phó tế hay bất cứ giáo dân nào- kể cả người chưa rửa tội- cũng được phép rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi theo ý Giáo Hội. ( x SGLGHCG số  1256  ; giáo luật số 861,triệt 2, số 868 triệt 2 )

2-   Về câu hỏi thứ hai, xin được giải thích như sau:

Tu Sĩ  nam có thể trở thành giáo sĩ khi được lãnh nhận các chức thánh như Phó tế, Linh mục hay Giám mục.( Đức đương kim Giáo Hoàng Phanxicô là tu sĩ Dòng tên=Jesuit)

Thí dụ , các cha ĐaMinh, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Tên ( Jesuits) Dòng Ngôi Lời, Dòng Đồng Công  v.v.

Các ngài vừa là Tu sĩ vì có lời khấn Dòng vừa là giáo sĩ vì có chức thánh linh mục hay Giám mục.Các linh mục giáo phận-  hay còn gọi là các linh mục Triều- chỉ là giáo sĩ mà thôi, không phải là Tu sĩ đích danh,vì không có lời khấn Dòng như đã nói ở trên.

Do đó, nếu là linh mục, thì tu sĩ có thể cử hành tất cả các bí tích trừ bí tích truyền chức thánh ( Holy Orders) dành riêng cho Giám mục. Ngược lại, nếu tu sĩ chỉ có lời khấn Dòng mà không có chức thánh thì không được cử hành bất cứ bí tích nào ( trừ Rửa tội trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử) không được giảng Phúc Âm, chứng hôn và cử hành nghi thức an táng, không được  làm phép nước thánh và các Ảnh tượng.

Cần nói rõ điều nay, vì có linh mục chánh xứ kia đã  cho một nữ tu giảng trong Thánh Lễ và rửa tội cho trẻ em. Đây là điều không được phép làm.

Sở dĩ thế, vì lời khấn –dù là khấn trọng, khấn vĩnh viễn- thì  cũng  không phải là chức thánh như  chức phó tế, linh mục hoặc giám mục, nên không có chức năng  ( competence) để cử hành một bí tích nào, trừ bí tích rửa tội trong trường hợp nguy tử và không có linh mục hay phó tế có mặt.

Lời  khấn của các tu sĩ có thể được tháo gỡ ( dispense) bởi giám mục địa phương nếu Tu Hôi hay Dòng thuộc địa phận. Nếu không thuộc Giáo phận thì Bề Trên Tổng Quyền của Dòng hay Tu Hôi sẽ tháo lời khấn theo đơn xin với lý do chính đáng. Các linh mục, ngược lại, muốn vô hiệu hóa chức thánh để hồi tục ( defrocking) thì phải có phép của Đức Thánh Cha.

Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

Lm . Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Read More
20Tháng Một
2022

Câu “Chúa gọi về” có đúng không?

20/01/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0
Câu “Chúa gọi về” có đúng không?
 
“Khi có người nào qua đời, chúng ta thường nghe: Chúa đã gọi họ về với Ngài. Đó là câu nguy hiểm. Liệu chúng ta có ngầm hiểu Chúa quyết định chúng ta sẽ chết?”, một độc giả thắc mắc.
 
 
Câu trả lời của linh mục Alain Bandelier.
 
Họ cho tôi một ví dụ đau nhói: “Hôm qua tôi nói chuyện ở hành lang với hai phụ nữ thiện cảm ở một dịch vụ gần với dịch vụ của tôi. Họ đề cập đến Đức tin. Một bà nói với tôi: “Tôi, tôi có những chuyện tôi không nuốt trôi được! Anh trai tôi, 47 tuổi, có 4 người con, năm ngoái qua đời vì căn bệnh quái ác. Nỗi đau đã tàn phá chúng tôi. Và khi trong đám tang, tôi nghe linh mục nói, Chúa gọi anh về với Ngài, tôi muốn hét lên chống Chúa…” Và bà nói thêm: “Linh mục này sẽ nói gì nếu người này tự tử?”
 
Đây là một khó khăn nhiều người đã biết, đã lên tiếng. Tôi có nên viết thêm về chủ đề này không? Để phản ánh và có nguy cơ gây sốc cho nhiều người hơn nữa, tôi muốn đưa ra quan điểm ngược lại với những phản hồi thông thường. Vì vậy, tôi sẽ không nói, Chúa không liên quan gì đến việc này. Muốn bào chữa cho Ngài quá nhiều, cuối cùng chúng ta loại trừ Ngài. Giây phút lâm tử của tôi là giây phút quá quan trọng để Chúa không quan tâm đến, để Chúa vắng mặt. Còn hơn thế, trong trường hợp cái chết dữ dội, chết yểu hay đặc biệt thương tâm.
 
“Không phải Chúa giết tôi”
 
Cuộc sống của tôi và cái chết của tôi không phải ngẫu nhiên, cũng không phải là một cần thiết. Trong khôn ngoan và sức mạnh Tình yêu của Ngài, Thiên Chúa ban ý nghĩa và giá trị cho từng khoảnh khắc trong đời tôi, kể cả giây phút lâm chung, giây phút mà mọi người cho là hoàn toàn vô nghĩa và tiêu cực. Hoặc đi xa hơn: chúng ta hãy dám tin rằng, trong Lòng Thương Xót của Ngài, Chúa canh, để cái chết làm chúng ta ngỡ ngàng lúc này là điều thích hợp hơn cho chúng ta, và điều mà chỉ một mình Ngài đo lường được.
 
Dĩ nhiên, không phải Chúa giết tôi. Giây phút lâm chung của tôi, về mặt lịch sử và thế gian được xác định bởi những nguyên nhân có thể xác định được.
 
Chẳng hạn tuổi tác: nhất thiết phải có lúc “bộ máy” quá mòn không thể tiếp tục. Hoặc bệnh tật: không phải tất cả vi khuẩn và vi-rút đều đầu hàng trước các điều trị y khoa dù tinh vi đến đâu. Và tai nạn: không ai an toàn trước một chuỗi con số thống kê không đoán trước được và đôi khi không thể lường trước được, dẫn đến những thảm kịch không tránh khỏi và đôi khi khó nhận thấy; ám ảnh thời nay là bằng mọi giá phải tìm cho ra thủ phạm mỗi khi có tai ương, như thế chỉ nói lên sự lo lắng tột độ của con người, và nhu cầu loại nó; họ không chấp nhận có những chuyện thoát khỏi kiến thức và quyền lực của họ.
 
Và đúng: câu “Chúa gọi về” nghe không được vui cho lắm. Nó lướt trong im lặng những gì liên quan đến các sự kiện của thế gian (cái mà các triết gia gọi là nguyên nhân thứ cấp) và có nguy cơ làm giảm đến mức thấp của những bối cảnh thuộc về thứ trật khôn ngoan và quan phòng của Chúa (nguyên nhân đầu tiên). Không nên trộn lẫn mọi thứ!
 
Nhưng chúng ta có phải tách mọi thứ ra không? Chúa có phải là khán giả nhìn cuộc đời chúng ta, vui cũng như buồn không? Chúng ta nên thừa nhận đây không phải là một vai trò dễ chịu! Dù sao đây không phải là cách Kinh thánh nhìn mọi thứ. Còn phần chúng ta, chúng ta cũng không là tù nhân của số phận mình, không lý do, không kháng cáo. Điều này cũng không vui cho lắm.
 
Gọi là nhấn mạnh một nối kết; nhắc lại vết thương của sự nhổ bứt ra
 
Tôi đoán được ý kiến phản đối: rất dễ bị chỉ trích, nhưng thay vào đó bạn đề xuất điều gì? Tôi đề nghị nói: “Thiên Chúa mời gọi họ trở về nhà Chúa.” Sự khác biệt rõ ràng là nhỏ, chỉ một chữ cái, nhưng sự khác biệt là đáng kể (trong tiếng Pháp rappeler và appeler). Trong ý tưởng của việc nhắc lại, có một cái gì đó mang tính nhà binh và độc đoán: quân nhân A, ra khỏi hàng ngũ! Nó cũng làm tôi nghĩ đến tiếng còi của trọng tài thông báo trận đấu đã kết thúc. Ngược lại, lời mời gọi là khái niệm chính xuyên suốt Kinh thánh. Chúa Giêsu nói: “Hãy đến và theo Ta”; Ngài là Mục Tử Nhân Lành, đàn chiên nghe tiếng Ngài và chúng theo Ngài; tiếng Ngài gọi vang suốt cuộc đời chúng ta, ngày này qua ngày khác, kể cả ngày cuối của chúng ta. Nhắc lại là nhấn mạnh đến vết thương bị nhổ bứt (chúng ta cảm nhận điều này trong phản ứng dữ dội nói ở đoạn đầu). Mời gọi là nhấn mạnh một kết nối.
 
Tuy nhiên, những câu này có nhược điểm là nói những điều theo quan điểm của Chúa, như thể chúng ta ở vị trí của Ngài. Nói chung, tôi thích những câu khiêm tốn hơn, khởi đi và nói về chúng ta: “Chúng ta phó người đã rời chúng ta vào ơn Chúa”. Chúng ta cũng có thể nói khởi đi từ chính người đã khuất: “Anh, chị đã đi gặp Thiên Chúa của họ”.
 
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 45
  • Page 46
  • Page 47
  • …
  • Page 78
  • Next page
Bài viết mới nhất
QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HÔN PHỐI ÁP DỤNG CHO TOÀN GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM
11/04/2026
NẾN PHỤC SINH: LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA
08/04/2026
BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÙA PHỤC SINH
07/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.