2022
Đâu Là Sự Khác Biệt Giữa Thánh Truyền Và Thánh Kinh?
Đâu Là Sự Khác Biệt Giữa Thánh Truyền Và Thánh Kinh?
Thánh Kinh chỉ là một cách nói khác để chỉ bộ “Kinh Thánh.” Thánh Truyền đề cập đến những gì không được viết ra nhưng những điều ấy cũng được mặc khải thiêng liêng như Thánh Kinh. Cách tốt nhất để hiểu khái niệm mặc khải của Công Giáo là xem mặc khải như là Lời Thiên Chúa đã được tỏ lộ. Thánh Kinh là Lời được ghi chép và Thánh Truyền là Lời không được ghi chép ra thành văn tự hoặc Lời truyền khẩu. Cả Lời được hay không được ghi chép làm nên toàn bộ mặc khải của Thiên Chúa.
Điều này không có nghĩa là Thánh Kinh và Thánh Truyền cạnh tranh với nhau. Trên thực tế, vì cả hai đều đến từ cùng một nguồn mạch là Thiên Chúa, nên không thể mâu thuẫn với nhau được. Thánh Truyền có trước Thánh Kinh, vì Lời không được ghi chép này đã được nói từ hàng thế kỷ và nhiều thế hệ trước khi nó được chép ra. Trẻ em Do Thái được ông bà và cha mẹ kể về Ađam và Evà, Cain và Aben, Nôê và con tàu, Abraham và Isaac, v.v… Thời xưa, không có sách hay kinh sách nào cả. Môsê có thể là người đầu tiên viết sách Sáng Thế, nhưng nội dung của Sáng Thế Ký đã được biết đến nhiều thế kỷ trước khi ông sinh ra. Người ta nói về những lời đã được mặc khải của Cựu Ước; chỉ sau đó những lời đó mới được tác giả thánh viết nên.
Ngay cả trong Tân Ước, Thánh Truyền cũng có trước bản văn Phúc Âm. Lúc đầu, các tông đồ chỉ kể lại cho dân chúng những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm (rao giảng). Sau đó, các tác giả Phúc Âm mới viết bản văn Tin Mừng. Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan đã không ghi chép gì ngay khi Chúa Giêsu rao giảng hoặc làm phép lạ. Truyền khẩu có trước và sau đó là lời được ghi chép; cả hai đều chứa cùng một sứ điệp.
Ngay cả Phúc Âm Gioan cũng kết thúc bằng câu: “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21,25). Những điều khác là phần của Thánh Truyền. Việc Chúa Giêsu không bao giờ kết hôn không được nói rõ trong Thánh Kinh, nhưng bất cứ nơi nào Thánh Kinh im lặng hoặc mơ hồ, thì Thánh Truyền sẽ lấp đầy khoảng cách ấy. Theo Thánh Truyền thì Chúa Giêsu không bao giờ lập gia đình và cũng không có con cái. Truyền thống tin là Đức Trinh Nữ Maria đồng trinh suốt cuộc đời và không có người con nào ngoài Chúa Giêsu. (Để biết thêm về vấn đề này, xem Câu hỏi 31.) Thánh Truyền xác định sách nào thuộc về Kinh Thánh và sách nào không.
Thay vì tách đôi giữa Thánh Kinh (Kinh Thánh) và Thánh Truyền, thì cả hai giống như hai lá phổi trong một thân thể, hoặc hai mặt của một đồng tiền. Cả hai đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và cả hai đều được Hội Thánh giải thích một cách chân thực.
Thánh Truyền ngang bằng với Thánh Kinh vì cả hai đều bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Mặc khải thần linh xuất phát từ cả hai phương thế của cùng một nguồn mạch (Thiên Chúa). Nếu có mâu thuẫn xuất hiện giữa Thánh Kinh và Thánh Truyền, thì đó là do việc sao chép, chuyển ngữ, hay giải thích bản văn. Vì bản thân Thánh Kinh không bao giờ đưa ra một danh sách đầy đủ về những cuốn sách nên hay không nên được xem là một phần của Thánh Kinh, chỉ có Thánh Truyền mới có thể nói cách không sai lầm cuốn sách nào được linh hứng và cuốn nào không. Không có cuốn sách nào được linh hứng viết rằng “tôi được linh hứng,” và không tác giả thánh nào biết được rằng mình đã được linh hứng vì không ai nói như vậy bao giờ.
Thánh Truyền khác với truyền thống của con người. Truyền thống bắt nguồn từ tiếng Latin artumon, nghĩa là “truyền lại.” Truyền thống của con người thì bất toàn, thiếu sót, có thể sai lầm, và có thể thay đổi. Nhiều phong tục tôn giáo của người Do Thái và Kitô hữu đều là truyền thống của con người, nghĩa là, do con người tạo ra. Thánh Truyền bắt nguồn từ Thiên Chúa và được Thiên Chúa tạo nên. Nó không thể thay đổi. Đó là lý do tại sao sẽ không bao giờ có thêm một cuốn sách nào được bổ sung vào bộ Thánh Kinh. Thánh Truyền nói rằng mặc khải đã kết thúc với cái chết của Thánh Gioan- người được thương mến (khoảng năm 100). Bất kỳ bản viết nào được khám phá sau đó sẽ không bao giờ được đưa vào trong các phiên bản tương lai của bộ Thánh Kinh. Chẳng hạn các Ngụy thư của phái Ngộ đạo, như Phúc âm của Thánh Maria Mađalena được viết vào thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư.
Có một sự khác biệt giữa những gì Giáo Hội nhìn nhận về Thánh Truyền và những gì đơn thuần chỉ là truyền thống con người. Thánh Phaolô nói trong Thư 2 Thêxalônica 2,15: “Vậy, thưa anh em, anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em, bằng lời nói hay bằng thư từ.” Từ ngữ Hy Lạp ban đầu được Thánh Phaolô sử dụng là paradoiseis, nghĩa là “các truyền thống.” Điều này không mâu thuẫn với những gì ngài nói trong Thư 2 Timôthê 3,16: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính,” vì Thánh Phaolô không bao giờ nói chỉ Thánh Kinh (sola scriptura) hoặc chỉ trong Thánh Kinh mới được thấy sự linh hứng, như quan điểm của Martin Luther. Chính Thánh Phaolô là tác giả của Thư 2 Thêxalônica 2,15 và 2 Timôthê 3,16, và cả hai thư này đều nằm trong Thánh Kinh và được coi là bản văn được linh hứng. Ngài cũng nói trong Thư 1 Côrintô 11,2 ” Tôi có lời khen anh em đã nhớ đến tôi trong mọi dịp và nắm giữ các truyền thống tôi đã để lại cho anh em.”
Với những câu được trích dẫn như trên, Thánh Phaolô không gặp vấn đề gì với Thánh Truyền. Ngài quan tâm đến truyền thống và phong tục của con người đã được khởi đi từ bối cảnh hoặc được chú ý nhiều hơn và ưu tiên hơn các truyền thống có nguồn gốc thần linh. Trong Mátthêu 15,3 Chúa Giêsu khiển trách những người Pharisêu: “Tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa?” Chìa khóa ở đây là từ “của các ông.” Khi Chúa Giêsu nói về “truyền thống của các ông,” nó phân biệt và tách biệt khỏi truyền thống “thần linh” hay “thiêng liêng.” Các truyền thống của con người, do con người tạo ra mà người Pharisêu giữ gìn cẩn thận thì không cao hơn hay thậm chí không ngang bằng với các truyền thống bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 37-39.
2022
Thánh Kinh Hay Giáo Hội Có Thẩm Quyền Tối Thượng?
Thánh Kinh Hay Giáo Hội Có Thẩm Quyền Tối Thượng?
Martin Luther bắt đầu cuộc Cải Cách Tin Lành (vào thế kỷ 16) với khái niệm sola scripture (duy Thánh Kinh); xem Thánh Kinh có thẩm quyền tối thượng về những vấn đề mang tính giáo thuyết. Công đồng Tren-tô được triệu tập cùng thế kỷ này đã xác định một cách long trọng rằng: Giáo Hội, hay chính xác hơn, Huấn Quyền của Giáo Hội Công Giáo có tính tối thượng và chung cuộc- không phải bởi vì Giáo Hội là thượng cấp của Thánh Kinh, nhưng bởi vì toàn bộ mạc khải thánh, từ Thánh Kinh tới Thánh Truyền, được trao phó cho Giáo Hội để bảo vệ và diễn giải cách chính xác.
Không có nơi nào trong Thánh Kinh cho biết Chúa Giêsu nói là phải đọc, nhưng Ngài thường ra lệnh chúng ta nghe. Lời được viết ra không xuất hiện ngay lập tức; nhưng những lời nói và những lời không được viết ra đã có sau khi Chúa Giêsu thực hiện những phép lạ của Người. Matthêu 16, 18-19 là một đoạn trích nổi tiếng, ở đó Chúa Giêsu nói với Simon, “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” Từ ngữ Hy Lạp ekklesia được dịch là “giáo hội.” Đoạn trích cho thấy rõ ràng rằng: Giáo Hội được Chúa Kitô thiết lập nên. Giáo Hội là Giáo Hội của Chúa Kitô, và Giáo Hội có quyền ràng buộc và “tháo cởi” trên trời cũng như dưới đất. Làm thế nào Lời Chúa có thể đi ngược lại với ý muốn của Ngài? Nếu chính Chúa Giêsu là Đấng đã thiết lập Giáo Hội và Ngài ban cho Giáo Hội thẩm quyền đầy đủ để dạy dỗ nhân danh Người, thì không có sự cạnh tranh nào giữa Thánh Kinh và Giáo Hội cũng như không có bất cứ sự đối nghịch nào giữa Thánh Kinh và Thánh Truyền.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 40.
2022
Tôi Nên Đọc Bản Thánh Kinh Nào?
Tôi Nên Đọc Bản Thánh Kinh Nào?
Người Kitô hữu Tin Lành muốn có một cuốn Thánh Kinh của Tin Lành, trong khi người Kitô hữu Công Giáo muốn có một cuốn Thánh Kinh của Công Giáo.
Tục ngữ Ý nói: “traduttorre traditore,” nghĩa là “dịch giả là kẻ phản bội.” Điều này có thể hiểu đơn giản như sau: bạn càng đi xa ngôn ngữ gốc của bản văn bao nhiêu, bạn càng dễ bị mắc sai lỗi bấy nhiêu. Chỉ có những bản văn gốc của các thánh ký được bảo đảm là linh hứng và không thể sai lầm. Nhưng nếu bạn không thể nói và chẳng có thể đọc được tiếng Hy Lạp, Do Thái hoặc Latin thì cách tốt nhất là sử dụng bản Thánh Kinh đã được dịch sang ngôn ngữ bản xứ của bạn. Những bản dịch có thể giúp ích nhưng cũng có thể gây trở ngại về một số phương diện nào đó.
Sự tương đương có tính uyển chuyển [hay năng động] và sự tương ứng về hình thức là hai phương pháp dịch bản văn thánh kinh từ ngôn ngữ gốc sang một ngôn ngữ bản địa. Sự tương đương có tính uyển chuyển nhấn mạnh vào điều tác giả muốn nói và có ý định nói, rồi sử dụng cách diễn đạt đương thời để trình bày chứ không dùng ngôn ngữ theo nguyên bản; mục đích là để độc giả đương thời có thể hiểu tốt hơn. Tiếng Hy Lạp cổ sử dụng cụm từ “en gastri echousa” (in utero habens trong tiếng Latin) vốn được tìm thấy trong Matthêu 1,18. Theo nghĩa đen, cụm từ này có nghĩa là “có ở trong bụng,” một số người ngày nay, cũng có thể hiểu cụm từ đó như vậy. Vì thế, kiểu dịch tương đương có tính uyển chuyển sử dụng một cách diễn đạt phù hợp để truyền tải sứ điệp tương tự; do vậy mà cụm từ “đã có thai” đã được sử dụng và có ý nghĩa hơn đối với chúng ta. Tiếng Do Thái cổ cũng không có hình thức so sánh hơn hay so sánh nhất. Tiếng Anh hiện đại có thể nói “yêu ít hơn” hoặc “yêu nhiều hơn,” nhưng tiếng Do Thái cổ chỉ có thể dùng một kỹ thuật của ngôn ngôn Sê-mit là lối nói cường điệu [hay phép ngoa dụ] mà thôi.
“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Phải chăng Đức Giêsu có ý nói, theo nghĩa đen, chúng ta phải “ghét” cha mẹ của chúng ta? Liệu kiểu nói như thế không vi phạm đến những giới răn sao? Một lối dịch theo kiểu tương đương có tính uyển chuyển sẽ đọc cùng một trích đoạn ấy như sau: “Nếu ai đến với tôi mà yêu mến cha mẹ, vợ con, anh chị em và ngay cả mạng sống mình hơn yêu tôi, người ấy không thể là môn đệ tôi được.” Ở đây, ý nghĩa được diễn đạt là người tin phải yêu mến Chúa Giêsu hơn tình yêu mà người ấy dành cho cha mẹ, chứ không có ý nói người ấy phải ghét cha mẹ mình. Bản Thánh Kinh Giêrusalem cũng như của New English Bible (NEB) là những bản dịch theo kiểu tương đương có tính uyển chuyển.
Kiểu dịch tương ứng về hình thức không nhấn mạnh vào việc sử dụng các kiểu diễn đạt [hay cách dùng những thành ngữ]. Kiểu dịch này tìm dịch từng từ một, từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ hiện đại. Luca 21,2 là trích đoạn mô tả Chúa Giêsu thấy “một bà góa nghèo bỏ 2 đồng tiền nhỏ” vào trong thùng quyên góp. Từ “đồng tiền nhỏ” là leptos trong tiếng Hy Lạp; và lối dịch từ- sang- từ vẫn giữ nguyên điều đó. Lối dịch theo kiểu diễn tả đổi đồng tiền nhỏ (mite, leptos) thành xu (“penny”) hoặc đồng xu (“copper coin”). Các phiên bản Revised Standard Version, Catholic Edition (RSVCE), The Douay-Rheims, New American Bible (NAB), và King James Version (KJV) là những bản dịch theo kiểu tương ứng về hình thức.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 39-40.
2022
Những bài học Mùa Chay từ sự hoán cải của Thánh Phaolô
Những bài học Mùa Chay từ sự hoán cải của Thánh Phaolô
Chi tiết từ “Cuộc hoán cải trên đường đến Đamát” (1600-01) của Caravaggio
Douglas Bushman[1]
Trong vô số những bài học Mùa Chay có thể thu thập được từ việc suy ngẫm về sự hoán cải của Thánh Phaolô, và đặc biệt là hoa trái của sự hoán cải đó thể hiện trong giáo huấn của ngài, trước hết chúng ta hãy tập trung vào việc ngài nhận mình là người tội lỗi nhất trong số tất cả các tội nhân, và tiếp đến, với sự trợ giúp của truyền thống lớn lao trong Hội Thánh, chúng ta sẽ tập trung vào vị trí của đau khổ trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và trong sự hoán cải không ngừng của đời sống Kitô hữu.
Ðức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. (1Tim 1, 15)
Thánh Phaolô không giới thiệu mọi khẳng định đức tin mà ngài đưa ra trong lá thư của mình bằng những lời lẽ trang trọng. Chúng được giới thiệu trước câu vừa được trích dẫn: “Ðây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: đó là Ðức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi” (1Tm 1, 15). Lời giới thiệu này là một bản tóm tắt hiểu ngầm về sứ mệnh của Đức Kitô và Phúc âm mà Thánh Phaolô đã được sai đi rao giảng. Bản tóm tắt này âm vang lời của chính Chúa Giêsu: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2, 17); “Tôi đến… để cứu thế gian” (Ga 12, 47).
Thánh Phaolô tuyên bố rằng mình là người tội lỗi nhất, người đứng đầu trong số những tội nhân, không chỉ 1 lần mà là 2 lần. Và với lời khẳng định lần thứ hai, ngài đưa ra lý do: “Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Ðức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời.” (1Tm 1, 16). Thánh Phaolô nhận ra sự khôn ngoan của Thiên Chúa khi đã chọn ngài, một kẻ bắt bớ Hội thánh của Đức Kitô, để rao truyền Tin Mừng cho dân Israel và các dân nước. Biết rằng người ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng mình không có hi vọng được tha thứ, ngài đưa ra một lập luận chặt chẽ: Nếu Thiên Chúa có thể tha thứ cho tôi, thì Ngài có thể tha thứ cho tất cả mọi người.
Không có tội lỗi nào tạo thành tội ác lớn đến mức vượt quá quyền năng tha thứ của Thiên Chúa. Thánh Phaolô hẳn đã biết rằng hành động xưng thú tội lỗi đòi hỏi một mức độ sâu thẳm của sự khiêm nhường, nhưng người ta thường thích bận rộn với những bận tâm trần thế để tránh khoảnh khắc sự thật trong lương tâm. Hoặc, họ tự thuyết phục mình rằng họ sẽ giải quyết việc đó sau, nhưng đây là hành động trái ngược với sự khôn ngoan của Vua Đavít: “Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người, các ngươi đừng cứng lòng” (Tv 95, 7–8).
Giả như đã có một cuộc tranh luận lớn tại một trong những trường đại học lớn của thế kỷ XIII, như Đại học Paris, để xem Thánh Phaolô và Thánh Phêrô trả lời ra sao câu hỏi: Ai là tội nhân lớn nhất? Chắc chắn, Thánh Phêrô là một trường hợp đáng quan tâm. Nhưng có lẽ trong quá trình tranh luận của các ngài, điều có thể xảy ra với cả hai vị là tội lỗi gắn liền với tội nhân đến nỗi bất cứ ai trực diện với nó mà không tự phụ hoặc tìm cách bào chữa, thì đều tuyên bố rằng mình là tội nhân lớn nhất. Chúng ta thường có khuynh hướng không cho người khác biết chi tiết nào đó, tưởng tượng ra bất kỳ tình huống giảm nhẹ nào có thể làm giảm khả năng chịu tội. Nhưng, khi trở về với chính mình, không có nơi nào để trốn. Trong lương tâm của mình, chúng ta minh bạch với bản thân, trần trụi và phơi bày trước sự thật là tại một thời điểm nhất định, đơn giản là tôi đã quyết định gạt Thiên Chúa và chân lý của Ngài sang một bên. Có điều gì đó mà tôi nhất định nghĩ, hoặc nói, hoặc làm, kể cả khi biết rằng điều đó là trái với luật của Chúa, tôi vẫn đã tiến tới.
Đây là điều mà Kinh thánh gọi là khinh dể, khinh miệt hoặc khinh thường lời của Thiên Chúa, như Nathan nói với Đavít: “Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Ðức Chúa mà làm điều dữ trái mắt Người?” (2Sm 12, 9). Trong mọi tội lỗi, đều có sự khinh miệt đối với lời của Thiên Chúa. Vì chúng ta biết những đòi hỏi cụ thể của lời Thiên Chúa qua sự phán quyết của lương tâm, nên trong mọi tội lỗi đều có hành động bạo lực chống lại chân lý theo sự phán quyết của lương tâm. Đây là lý do tại sao Giáo hội tông truyền hiểu sự cứu độ trong Đức Kitô như là hồng ân của một lương tâm được thanh tẩy bởi bửu huyết— nghĩa là tình yêu vượt qua — của Đức Kitô (Dt 9, 9. 14). Hồng ân này được ban tặng qua Bí tích Rửa tội (Dt 10, 20–22; 1Pr 3, 21).
Mùa Chay là mùa chuẩn bị cho Bí tích Rửa tội, và đối với những người đã được rửa tội, Mùa Chay là thời gian đào sâu các ân sủng của bí tích rửa tội qua việc xét mình, ăn năn và hoán cải. Bằng cách này, tất cả các thành viên của Giáo hội làm chứng cho lòng thương xót vượt trội của Thiên Chúa và tham gia vào sứ mệnh của Thánh Phaolô là làm chứng nhân cụ thể về mức độ của lòng thương xót, để những người khác có thể được củng cố trong hy vọng khi họ đối đầu với tội lỗi của chính mình. Dấu Thánh Giá trên trán vào Thứ Tư Lễ Tro có ý nghĩa và mạnh mẽ biết bao đối với một thế giới bị đánh dấu bằng việc đánh mất cảm thức về tội lỗi và lương tâm, và do đó bị giam cầm trong tuyệt vọng!
Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta. (Cv 9, 16)
Thiên Chúa nói những lời trên với Khanania, người mà Ngài đã chọn để làm phép rửa cho Phaolô. Khanania đắn đo suy nghĩ, khi thông báo cho Đức Chúa (như thể Ngài cần được thông báo!) về “tất cả những điều ác người ấy đã làm cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem” (Cv 9, 13). Chúa trấn an Khanania rằng tất cả đều theo kế hoạch của Ngài: “Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Israel. Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta” (Cv 9, 15–16).
Thật vậy, Thánh Phaolô ý thức sâu sắc về vị trí của đau khổ và sự chết trong kế hoạch của Thiên Chúa. Nhưng nhận thức này chỉ đến sau khi tâm trí ông được đổi mới (Rm 12, 2; Ep 4, 23) bằng đức tin vào Đức Kitô, vào sứ mệnh của Ngài là cứu độ tội nhân, và vào sự phục sinh của Ngài. Khi bắt bớ các môn đệ đầu tiên của Đức Kitô, Saulo, một người biệt phái, cho thấy ông quyết liệt chống lại bất kỳ định nghĩa nào về Đấng Mêsia được hứa ban mà lại hàm nghĩa rằng sứ mệnh của Ngài phải được hoàn thành qua đau khổ và cái chết.
Trước khi trở lại, Phaolô rất giống Phêrô, người bị Chúa Giêsu khiển trách vì suy nghĩ như một người phàm chứ không như Thiên Chúa. Điều này xảy ra trong bối cảnh Phêrô đáp lại điều mặc khải đầu tiên của Chúa Giêsu rằng “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21). Sự hiểu biết này về Đấng Mêsia đau khổ dường như là một trong những giáo huấn chính của Chúa Phục sinh (x. Lc 24, 7. 26. 46) và là trọng tâm chính của đức tin của Giáo hội tông truyền (x. Cv 3, 18; 17, 3; 26, 23; 1Pr 1, 11).
Ai có thể hiểu được sự cần thiết thần linh này về sự đau khổ của Đấng Mêsia? Tội nhân, những người “nhìn thấy trên thập giá một sự phản ánh chính xác của tội lỗi khôn lường của họ” (Balthasar). Trong đức tin, người ta phải thấy mối tương quan nhân-quả giữa tội lỗi của chính mình (nguyên nhân) và sự đau khổ của Con Thiên Chúa (hậu quả). Chìa khóa này mở cánh cửa để hiểu được vị trí của đau khổ trong chương trình của Thiên Chúa, bởi vì lúc này người ta không còn nhìn vào Thập giá nữa mà nhìn từ Thập giá, nghĩa là nhìn từ viễn tượng của Chúa Giêsu, với đôi mắt của Chúa Giêsu, Đấng mà duy mình Ngài biết được sự thật trọn vẹn về tội lỗi, sự dữ và đau khổ.
Điều này giải thích làm thế nào mà Thánh Phaolô có thể vui mừng trước sự đau khổ của ngài – bởi vì ngài coi đó là sự tham dự vào đau khổ cứu độ của Chúa Kitô (Cl 1, 24). Và Thánh Phêrô đã biến nó thành một nguyên tắc của đời sống Kitô hữu: “Chính vì Ðức Kitô đã chịu đau khổ trong thân xác, nên anh em cũng lấy tư tưởng này làm khí giới…” (1Pr 4, 1); “Ðược chia sẻ những đau khổ của Ðức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ” (1Pr 4, 13); “Nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Kitô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó” (1Pr 4, 16).
Lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi. Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Ðức Kitô, thì tôi cũng cam lòng. (Rm 9, 1–3)
Chắc chắn, Thánh Phaolô đã trải qua những đau khổ lớn lao về thể xác, thậm chí giống như Ðức Kitô đã trải qua. Nhưng thánh nhân nói rõ rằng việc ngài thông phần vào sự đau khổ của Ðức Kitô, trên hết mọi sự là nỗi đau khổ về sự khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là đau khổ vì gánh lấy đau khổ của các tội nhân, những người mà chính xác bằng việc phạm tội, đã từ chối tình yêu của Thiên Chúa. Đó là bước một cách ý thức vào khoảng trống vắng tình yêu như một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa, Đấng lấy làm hài lòng và được tôn vinh không phải bằng đau khổ đơn thuần, nhưng bằng cách thế mà những ai nhận biết đường lối của Ngài phải đau khổ.
Hình thức căn bản của đau khổ đối với tội nhân là sự hối hận của lương tâm. Sự hối hận của lương tâm là sự trừng phạt chính đáng vì tội lỗi. Nền tảng của nó là sự phán quyết rằng tôi đã sử dụng sai quyền tự do của mình, vốn dành cho tình yêu có trách nhiệm trong chân lý. Vì yêu bản thân cách vô trật tự, tôi đã coi thường chân lý của Thiên Chúa. Như lời của Thánh Augustinô: Yêu bản thân đến mức khinh thường Thiên Chúa. Đó là luận lý của tội lỗi khi sống ngoài tình yêu của Thiên Chúa vì mọi tội lỗi đều là hành động không tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa, và sự bất tuân này bắt nguồn từ sự nghi ngờ và khước từ tình yêu của Ngài. Điều này phù hợp với nguyên tắc được đặt ra trong sách Khôn Ngoan: “phạm tội làm sao thì bị phạt làm vậy” (Kn 11,16). Thánh Augustinô đã từng nói như thế này: “Tình yêu thất thường là hình phạt của chính nó”.
Khi sự đau khổ này, sự hối hận này của lương tâm được liên kết bởi đức tin vào Đức Kitô và mầu nhiệm vượt qua của Ngài, khi nó hàm chứa ý thức về việc phải chịu trách nhiệm về sự đau khổ và cái chết của Ngài, thì “chúng ta cùng chịu đau khổ với Người” (Rm 8, 17). Phẩm giá bí tích thanh tẩy của chúng ta là tham gia vào sự đau khổ của chính Thiên Chúa trước sự dữ của tội lỗi. “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26, 38). Thiên Chúa mạc khải dứt khoát phản ứng của Ngài đối với tội lỗi trong sự đau khổ và cái chết của Đức Giêsu Kitô. “Khi Thần chân lý cho phép lương tâm con người chia sẻ nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, thì nỗi đau khổ của lương tâm trở nên đặc biệt sâu sắc, nhưng cũng đặc biệt cứu độ.
Sau đó, bằng một hành động ăn năn hoàn hảo, sự hoán cải đích thực của con tim được thực hiện: đây là ‘sám hối’ theo Phúc âm” (St. Gioan Phaolô II, Dominum et Vivificantem, 45).
Đây là sự đau khổ do ý Thiên Chúa mà Thánh Phaolô viết: “thì nay tôi lại vui mừng, không phải vì đã làm cho anh em phải ưu phiền, nhưng vì nỗi ưu phiền đó đã làm cho anh em hối cải. Thật thế, anh em đã phải ưu phiền do ý Thiên Chúa… Quả vậy, nỗi ưu phiền do ý Thiên Chúa làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ” (2 Cr 7, 9–10). Sự đau buồn đạo đức của lương tâm này là yếu tố trung tâm của sự trừng phạt chính đáng đối với tội lỗi. Nó xuất phát từ chính bản chất của tội lỗi, và chúng ta phải cố gắng để chấp nhận sự đau buồn như một ân sủng (GLCG, 1472–73). Làm như vậy là biến đổi hình phạt vì tội lỗi thành hành động chuộc tội. Bởi vì, khi sự trừng phạt tội lỗi được đón nhận với ý thức tự do, cụ thể là hiểu biết vị trí của hình phạt trong kế hoạch của Thiên Chúa được mạc khải trọn vẹn trong Chúa Giêsu Kitô, thì điều đó trở nên thoả đáng. Đức tin và đức ái biến hình phạt thành sự đền tạ — dự phần vào sự đền tạ của chính Chúa Giêsu Kitô.
Và với điều này, chúng ta có thể hiểu lời khẳng định gây sửng sốt của Thánh Phaolô: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức” (Cl 1, 24). Tin rằng nỗi buồn vì tội lỗi là một ân sủng và là một bước cần thiết để ăn năn và hoán cải có nghĩa là chúng ta có thể coi đó như là một điều tốt lành. Tiếp nối Thánh Augustinô, Thánh Tôma dạy rằng “một người có thể không hài lòng khi phạm tội, và lấy làm vui về sự không hài lòng của mình cùng với hy vọng được tha thứ, để nỗi buồn của anh ta là một vấn đề vui mừng. Do đó, Augustinô nói “Hối nhân phải luôn đau buồn và vui mừng trước sự đau buồn của mình” (ST III, Q. 84, a. 9, ad 2).
Dưới ánh sáng này, chúng ta hiểu Sách Giáo lý khi dạy về “sự đau khổ và buồn phiền hữu ích được các Giáo phụ gọi là nỗi thống khổ của tâm hồn, sự cắn rứt của trái tim” (GLCG, 1431) vốn đồng hành với nẻo đường hoán cải thường xuyên của người Kitô hữu. Đặc biệt trong Mùa Chay, chúng ta đón nhận những gì Thiên Chúa đã mạc khải nơi Đức Kitô và qua Thánh Phaolô về nỗi ưu phiền do ý Thiên Chúa và sự đau buồn thánh thiện hoặc sự hối hận về tội lỗi, như được phát triển cách đặc biệt trong truyền thống tâm linh Đông phương:
“Nỗi ưu buồn do ý Thiên Chúa” và những thứ tương đương của nó sẽ là biểu hiện cao nhất của niềm vui như dưới đây: karopoion penthos. Mối phúc Phúc âm được thực hiện trong thế giới này: “Phúc cho [những ai than khóc], vì họ sẽ được an ủi“. “Than khóc” giờ đây sẽ tương đương với niềm an ủi, thậm chí còn hơn thế nữa, với niềm hạnh phúc [x. Irénée Hausherr, Penthos. Học thuyết về sự ăn năn trong Kitô giáo Đông phương (Kalamazoo, MI: Cistercian Publications, Inc., 1982), 23].
Mùa Chay là mùa của nỗi đau khổ thần linh, mùa tham dự vào đau khổ của Chúa Kitô và cũng tham dự vào niềm vui đang ở trước mặt Người, và vì niềm vui ấy Người đã cam chịu khổ hình thập giá (Dt 12, 2), nhờ đó hoàn thành sự cần thiết mầu nhiệm của đau khổ và sự chết trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa để cứu thế giới khỏi tội lỗi, thoả mãn tình yêu của Thiên Chúa bằng cách tự mình gánh lấy hình phạt chính đáng của tội lỗi thế gian.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: Catholic World Report 19. 3. 2022
[1] Douglas Bushman nổi tiếng với tư cách là giám đốc trước đây của Viện Thần học Mục vụ tại Đại học Ave Maria và Đại học Dallas và với các khóa học về Giáo hội học, Tu đức Công giáo, John Paul II, Vatican II, Thần học Mục vụ và Tân Phúc âm hóa. Ông là tác giả cuốn Theology of Renewal for His Church: The Logic of Vatican II’s Renewal in Paul VI’s Encyclical Ecclesiam Suam, and Its Reception in John Paul II and Benedict XVI (Wipf and Stock, sắp xuất bản).
