2022
Để tham dự Tam Nhật Vượt Qua cách trọn vẹn
Trong Tam Nhật Vượt Qua – từ Thứ Năm Tuần Thánh đến Chúa Nhật Phục Sinh – điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra. Hàng triệu Kitô hữu trên khắp thế giới quy tụ lại để tôn kính sự chịu sỉ nhục, đánh đập, và đóng đinh của Chúa Giêsu Kitô. Trong một nền văn hóa toàn cầu thường tôn vinh quyền lực, sức mạnh và vẻ đẹp, thì sự tôn kính công khai đối với một điều quá khủng khiếp như vậy luôn gây ra một chút sửng sốt. Phải chăng điều lôi cuốn người ta trong tường thuật về Cuộc Khổ nạn lại chính là tính dễ bị tổn thương của Thiên Chúa?
Theo một nghĩa nào đó, trong biến cố xảy ra nơi Đức Kitô, Thiên Chúa rời bỏ sự an toàn và vinh quang của trời cao và ôm lấy những giới hạn của thân phận con người, cảm nhận bằng xương bằng thịt, cả danh dự lẫn bi kịch của bản tính của chúng ta, nhưng không hề phạm tội. Vào tuần cuối cùng của cuộc đời, Chúa Giêsu hoàn toàn giao nộp chính mình cho chúng ta. Trong việc rửa chân và Thánh Thể, trong sự đánh đập và đóng đinh, Con Thiên Chúa yêu chúng ta hoàn toàn nhưng không, vô điều kiện, và vô thời hạn. Cho dù chúng ta chấp nhận, từ chối hay phớt lờ Tình yêu Thần linh này, Chúa Giêsu không bao giờ thay đổi lập trường căn bản của Người đối với chúng ta.
Trong thần thoại La Mã và Hy Lạp, các vị thần luôn âm mưu thao túng nhân loại để phục vụ cho những mục đích ích kỷ thường tồn và những kế hoạch tự cao tự đại của họ. Nơi Đức Kitô, chúng ta chạm phải sự đánh đổ đầy kịch tính đối với kế hoạch đàn áp ấy. Chính Thiên Chúa phục vụ chúng ta! Với sự khiêm nhường, tự nguyện, dễ bị tổn thương và lòng thương xót tuyệt đối, Thiên Chúa đã đến để yêu thương, tha thứ và cứu độ chúng ta.
Sự yếu đuối của thập giá, sự bình dị của Thánh Thể, sự dịu dàng của việc rửa chân, tình yêu tìm cách ôm lấy kẻ phản bội, kẻ trộm cắp, và kẻ hèn nhát vượt lên trên tầm nhận thức của quyền lực chính trị; vòng xoáy của sự ngạo mạn xã hội; và thế giới của sự tham lam trần tục khiến chúng ta bị choáng ngợp. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các vị vua chúa phải câm lặng trước sự hiện diện của Người Tôi Tớ Đau khổ, như Isaia đã loan báo.
Nếu Thiên Chúa đã có thể trở nên nghèo khó, khiêm nhu và dễ bị tổn thương như thế để yêu thương tôi, thì làm sao tôi có thể tự phụ về chính mình được? Tuần này, chúng ta ca tụng những điều kỳ diệu nhất: sự yếu đuối trở nên mạnh mẽ, tình yêu chiến thắng sự sợ hãi, nỗi tuyệt vọng đau khổ biến thành niềm hy vọng phục sinh và sự chết trầm luân nhường chỗ cho sự sống vĩnh cửu. Tất cả là do một người bị kết án chết trần truồng vật ngã trên cây thập giá cách đây 2.000 năm, và Người đã ôm lấy nó như thể đó là chiếc giường tân hôn của mình.
Chúng ta hãy để cho Đức Chúa yêu thương chúng ta trong Tuần Thánh. Nhành lá mà chúng ta giơ cao hôm Chúa Nhật Lễ Lá phải là biểu tượng của sự ca ngợi, tôn kính và tình yêu của chúng ta đối với Vị Thầy khiêm nhường, Đấng đã cứu độ và giải thoát chúng ta.
Thánh Lễ Tiệc Ly vào tối Thứ Năm Tuần Thánh là dịp để nếm trải ân sủng tuyệt vời của Thánh Thể và qui phục sự an ủi của việc rửa chân.
Việc lắng nghe bài Thương Khó và suy tôn Thánh giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh cho chúng ta cơ hội để đón nhận thập giá trong cuộc đời mình, cho dù thập giá có thể diễn ra dưới bất cứ hình thức nào. Hãy biết rằng mầu nhiệm đau khổ trong cuộc đời chúng ta là chiếc thang thánh liêng mà trên đó chúng ta sẽ bước tới sự tuyệt mỹ của Vương quốc.
Thứ Bảy Tuần Thánh là khoảng thời gian linh thánh của sự an nghỉ và tĩnh lặng, khi Đức Chúa ngủ trong ngôi mộ và mọi tạo vật đang chờ đợi ơn cứu độ mà mình chưa nhận thức được. Một bản văn cổ tuyệt đẹp từ thời Giáo hội sơ khai phác họa Chúa Giêsu rảo quanh nơi cư trú của người chết vào ngày này, cởi trói cho Ađam và Eva cũng như tất cả các linh hồn, là những người đã chờ đợi ơn cứu chuộc từ khi sáng thế. Hãy cầu xin Đức Chúa giải thoát bạn khỏi sợ hãi, tội lỗi và vị kỷ đang trói buộc bạn.
Quy tụ chung quanh lửa Phục sinh trong đêm Canh thức, chúng ta nhớ lại cách chúng ta đã bắt đầu hành trình Mùa Chay được đánh dấu bằng tro bụi của tội lỗi, thất bại và suy vong, nhưng giờ đây bạn đã được tràn ngập lửa – sức lực phi thường của Chúa Kitô Phục sinh và sức mạnh can đảm của Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta công bố sự phục sinh của Chúa Kitô như là chân lý cao đẹp và ý nghĩa biến đổi của lịch sử nhân loại, hãy tin rằng Đức Chúa bước đi cùng bạn, yêu thương bạn, và dẫn bạn đạt tới sự viên mãn của niềm vui và bình an.
Những biến cố gây kinh ngạc, kỳ diệu và mạnh mẽ của Tuần Thánh sẽ đưa chúng ta đến với những giọt nước mắt và tiếng cười, lòng biết ơn và sự ngợi khen, khiêm tốn nhận thức về sự yếu đuối của mình và vui mừng tung hô chiến thắng của Thiên Chúa. Tam Nhật Vượt qua là thời điểm để Thiên Chúa mở rộng tâm hồn chúng ta, để dòng nước ân sủng của Lòng Thương Xót tuôn chảy từ cạnh sườn Đức Kitô chịu đóng đinh tẩy rửa chúng ta nên tinh tuyền, tha thứ tội lỗi, và dẫn chúng ta ngày càng sâu hơn vào sự sáng tạo mới nơi sự chết và phục sinh của Đấng cứu độ chúng ta.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: simplycatholic.com
[1] Đức cha Donald J. Hying là Giám mục của Giáo phận Madison, Wisconsin, Hoa Kỳ.
2022
Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống
Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống
Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu là đỉnh cao của nghi lễ phụng vụ trong Giáo hội Công giáo. Cuộc thương khó này bắt đầu từ biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem cho đến lúc Chúa Giêsu được mai táng trong mồ. Trong đó, các bản văn Tin Mừng đều thuật lại Bữa tiệc ly như là nghi thức quan trọng không chỉ vì là dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, nhưng còn vì đó là nơi Chúa Giêsu cùng với các môn đệ cử hành “thánh lễ đầu tiên”, nơi mà Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể, và bí tích Truyền Chức Thánh. Bữa tiệc ly trong Tin Mừng nhất lãm ngắn gọn hơn so với Gioan. Tuy vậy, cả bốn Tin Mừng đều cho thấy những nét tương đồng ít nhiều về bữa tiệc này.
Để chú giải bản văn (Mt 26,17–29), chắc chắn chúng ta cần đi vào truyền thống lịch sử của ngày lễ Vượt Qua, để qua chú giải về mặt văn chương và lịch sử, sự phong phú của bản văn được làm nổi bật. Trên hết, khi đi vào từng lớp nghĩa của bản văn, tôi muốn cho thấy Bữa tiệc ly thực sự là nguồn mạch sự sống mà Thiên Chúa dành cho con người ở cả chiều kích chú giải bản văn cũng như chiều kích phụng vụ.
- Bối cảnh lịch sử của bữa tiệc ly
Hầu hết các học giả đều cho rằng Bữa tiệc ly thuộc về dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, một bữa ăn tối đặc biệt như lời giải thích của rabbi Gamaliel (sống ở thế kỷ 1): “Nhiệm vụ của mỗi người ở mọi thế hệ cần nhắc nhớ mình về việc được giải thoát khỏi ách thống trị ở bên Ai Cập”.[1] Sách Xuất Hành cũng ghi lại chi tiết về một bữa tối sau cùng ở Ai Cập: “Trong ngày ấy, ngươi sẽ kể lại cho con của ngươi rằng: Sở dĩ như vậy là vì những gì Đức Chúa đã làm cho cha khi cha ra khỏi Ai Cập.” (Xh 13,8). Ngoài ra, Gamaliel còn cho biết mục đích của bữa tối như là thời gian để dân Do Thái ngợi khen, chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa đã giải phóng họ khỏi ách nô lệ: từ đau thương đến niềm vui, từ buồn sầu đến hân hoan của ngày lễ, từ bóng tối đến ánh sáng. Việc hát Thánh Vịnh có thể lột tả được những tâm tình này.
Về mặt thời gian, vì Bữa tiệc ly nằm trong dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái nên đó là ngày 14 tháng Ni-xan. Dịp này người dân thường hành hương lên đền thờ Giêrusalem để tham dự lễ hiến tế con chiên. Hình ảnh con chiên cũng nhắc nhở dân rằng mệnh lệnh của Thiên Chúa dành cho dân trước đêm rời khỏi Ai Cập (x. Xh 11,10-14). Đây là buổi lễ vượt qua mà chính Chúa Giêsu cũng lên Giêrusalem, như nhiều lần trước, để tham dự. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình trong dịp lễ này. Chính Ngài cũng chuẩn bị cho bữa tối này trong bí mật.[2] Dường như Chúa Giêsu cũng cảm thấy mối nguy hiểm từ phía Thượng Hội đồng, Tin Mừng nhất lãm đều cho thấy Chúa Giêsu gửi các môn đệ đi nhận phòng dùng cho bữa tối[3]. Trong mạch văn này, chúng ta nhận thấy hôm ấy chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ.[4]
Ngay từ câu 17, Mátthêu cho biết thời gian và bối cảnh của Bữa tiệc ly: “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men-ἄζυμος.” Ngày này đúng ra bắt đầu từ sau bữa ăn Vượt Qua (chiều ngày 14 tháng Ni-xan, x. Xh 12,1; 23,14). Tuy nhiên, kiểu nói của Mátthêu cũng cho thấy bữa ăn cuối cùng này đối với Chúa Giêsu cũng là ăn lễ Vượt Qua. Thánh Gioan thì cho rằng lúc này là thời gian canh thức chờ ngày lễ Vượt Qua (Ga 13,1). Lúc đó, chính Chúa Giêsu sẽ là con chiên hiến tế trong đền thờ (Ga 19,31. 42). Vượt Qua là một trong những lễ lớn của người Do Thái, nên chắc chắn đám đông sẽ đổ về Giêrusalem để mừng trong những ngày này. Hơn nữa, sẽ có những nghi thức mà Chúa Giêsu và các môn đệ cũng sẽ cử hành trong dịp này.
Về giờ cụ thể cho Bữa tiệc ly, bản dịch của các Giờ Kinh Phụng Vụ (2011) dùng từ: “Chiều đến”. Cần hiểu rằng văn hóa của người Palestine, họ không dùng bữa tiệc Vượt Qua trước khi mặt trời lặn; nghĩa là trời tối, họ mới ăn bữa Vượt Qua. Bản Hy Lạp dịch: “Khi trời đã tối-Ὀψίας-when evening came”; và theo mạch văn, bữa tiệc Vượt Qua diễn ra ở nội thành Giêrusalem[5].
- Thiết lập Bí Tích Thánh Thể
Bữa tiệc Vượt Qua thường rất dài với nhiều nghi thức phụng vụ và cả món ăn, thức uống theo truyền thống của người Do Thái. Trước khi phân tích những điều này, về bản văn, chúng ta thấy chính Chúa Giêsu thông báo về một người sẽ nộp Ngài. Giọng văn cho thấy Chúa Giêsu đã biết trước ai là người phản bội mình, nên nói: “Thầy bảo thật cho anh em, một người trong anh em sẽ nộp thầy.” (Mt 26,20). Dĩ nhiên đây là một tin rất sốc cho các môn đệ, bởi không ai có thể tưởng tượng được người nào dám làm chuyện này. Các môn đệ buồn sầu và nhiều người đã hỏi Chúa Giêsu. Câu trả lời của Ngài là: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với thầy, đó là kẻ nộp thầy.” Câu nói này gợi nhớ lại lời thánh vịnh: “Cả người bạn thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con!” (Tv 41,10). Ở câu 25, Mátthêu nêu đích danh người phản bội Chúa Giêsu chính là Giuđa Ítcariốt với lời xác nhận của Chúa Giêsu: “Chính anh nói đó!” Trong bối cảnh này, sự than vãn của Chúa Giêsu “khốn-οὐαὶ cho kẻ nào nộp Con Người” cần hiểu theo hai nghĩa: 1. thể hiện sự khốn cùng của Giuđa, 2. đồng thời cũng nói lên nỗi đau đớn của chính Chúa Giêsu, vì bị người môn đệ phản bội. Kiểu nói: “Thà người đó đừng sinh ra thì hơn” chỉ là cách Chúa Giêsu lên án tội lỗi của Giuđa, chứ không phải là nguyền rủa người môn đệ này.
Mátthêu và Máccô bắt đầu Bữa tiệc ly bằng việc Chúa Giêsu nói về người môn đệ phản bội. Tuy nhiên, Luca lại chỉ tập trung vào việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Gioan thì cho rằng Bữa tiệc đó không có mặt Giuđa. Như vậy, theo mạch văn của Mátthêu, chúng ta không biết Giuđa có ở lại dùng bữa tối đến cuối không. Trong sự phân biệt này, Giáo hội sơ khởi giải thích cách hiểu của Gioan khi cho rằng Giuđa vắng mặt là: “Không nên rước Mình Thánh Chúa một cách bất xứng.” Về mặt thần học, rõ ràng Gioan cho thấy sự vắng mặt của Giuđa ngay từ đầu bữa tiệc, bởi sự phản bội bao giờ cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tình yêu liên vị.[6]
Tạ ơn và chúc tụng
Tuy Mátthêu không trình bày chi tiết nghi thức của bữa tiệc Vượt Qua, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu nhóm của Chúa Giêsu cũng quen với những nghi thức của bữa tiệc này. Chẳng hạn, câu 26 và 27 Mátthêu nhấn mạnh đến hai điểm nổi bật: việc bẻ bánh, như là cử chỉ đầu tiên và nâng chén rượu nho, như là cử chỉ sau cùng. Với việc bẻ bánh, Chúa Giêsu dâng lời chúc tụng (εὐλογήσας), với việc nâng chén rượu, Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn (εὐχαριστήσας).
Lời chúc tụng là nghi thức quen thuộc dành cho người gia trưởng, người trụ cột trong gia đình đọc cho mọi người nghe. Sau đó họ truyền chén rượu lần một và chia thịt cừu với rau đắng cho mọi người (nghi thức này gợi nhớ lại bữa ăn bên Ai Cập). Chén rượu thứ hai, người trẻ nhất sẽ hỏi về ý nghĩa của ngày lễ. Lúc này, vị gia trưởng kể về nguồn gốc và ý nghĩa của lễ Vượt Qua (הַגָּדָה –Haggadah). Sau đó, họ hát Thánh Vịnh trong lúc chia sẻ rượu cho nhau. Chén rượu thứ ba, vị gia trưởng dâng lời chúc tụng và chia sẻ bánh không men cho mọi người. Như vậy theo Mátthêu, lúc “Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng”, là thời điểm của tuần rượu thứ ba. Trong tuần rượu thứ tư (cuối cùng), họ hát phần thứ hai của Thánh Vịnh, tức Ha-lê-lui-a (Tv 113-118). Như vậy theo Mátthêu “hát thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra núi Ô-liu” (Mt 26,30) là lúc kết thúc Bữa tiệc ly.
Nhiều nhà chú giải cho rằng trong khi Chúa Giêsu nâng chén rượu và bẻ bánh, ngài đều dâng lời chúc tụng, tạ ơn[7]. Thực ra trong lời chúc tụng cũng nói lên tâm tình tạ ơn (εὐχαριστήσας), bởi ngôn ngữ Hy Lạp hai từ này có chung tiền tố: “εὐ-tốt lành”. Từ sự tốt lành này, những lễ vật dâng lên Thiên Chúa như là của lễ tạ ơn mà chính Chúa Giêsu đang cử hành trong bữa tiệc ly này. Cũng vì ý nghĩa tạ ơn này, nên từ thời Giáo hội sơ khai Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn (εὐχαριστία), vì đây chính là việc tạ ơn Thiên Chúa.[8]
Bánh và Mình Thánh Chúa Giêsu
Một trong những đồ ăn chính của bữa tiệc Vượt Qua là bánh không men. Không hẳn bánh này có thể cung cấp dồi dào chất dinh dưỡng, nhưng đúng hơn, bánh không men gợi nhớ đến biến cố Thiên Chúa giải thoát dân khỏi Ai Cập. Do đó trong bất cứ gia đình Do Thái nào, tiệc Vượt Qua phải có bánh không men, mà nhóm của Chúa Giêsu cũng theo truyền thống của người Do Thái. Tuy nhiên, lúc này thay vì Chúa Giêsu trao bánh cho các môn đệ thì ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra. Liền sau đó, Chúa Giêsu nhìn nhận bánh này không còn là bánh nhưng còn là chính thịt, mình của Ngài. Bản văn gốc tiếng Hipri dùng chữ bāśār (thịt), tuy nhiên bản dịch Hy Lạp thay vì dịch là σάρκα (thịt, x. Ga 6,54-56) lại dùng chữ sôma (mình, thân thể-σῶμά) trong câu tuyên bố của Chúa Giêsu: “Đây là mình Thầy–τοῦτό ἐστιν τὸ σῶμά μου”. Các nhà chú giải cho rằng “thân thể” cũng có nghĩa là “thịt”, tức là toàn thể cuộc đời, sự sống của Chúa Giêsu.
Nếu ngày xưa dân ăn bánh không men trước đêm Vượt Qua, thì hôm nay, chính Chúa Giêsu trao mình Ngài cho các môn đệ. Thánh Luca diễn tả việc hiến tế này của Chúa Giêsu: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em.” (Lc 22,19). Nếu như ngày xưa dân giết con chiên để ăn lễ Vượt Qua, thì hôm nay chính Chúa Giêsu hóa nên thịt để nuôi sống các môn đệ. “Anh em hãy cầm lấy mà ăn” không chỉ như là sự chia sẻ sự sống của Chúa Giêsu với các môn đệ, nhưng trong ngôn ngữ Kinh Thánh, việc “cầm lấy mà ăn” còn thể hiện sự linh thiêng, thần linh vốn được sách Khải Huyền diễn tả: “Tôi đến gặp thiên thần và xin người cho tôi cuốn sách nhỏ. Người bảo tôi: Cầm lấy mà nuốt đi! Nó sẽ làm cho bụng dạ ông phải cay đắng, nhưng trong miệng ông, nó sẽ ngọt ngào như mật ong.” (Kh 10,9).
Chén rượu và Máu Thánh Chúa Giêsu
Rượu là thức uống không thể thiếu trong các bữa tiệc. Nhất là bữa Vượt Qua, rượu như là biểu tượng của máu con chiên bôi trên cửa trong biến cố Vượt Qua. Hôm nay, chính Chúa Giêsu cũng dùng rượu như là thức uống để biến hóa thành máu của chính mình. Chúa Giêsu cầm lấy chén rượu và nói: “Đây là máu thầy, máu giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26,28). Ở đây Mátthêu dùng lối diễn tả “bao trùm”, nghĩa là “tất cả anh em hãy cầm lấy mà uống” và “muôn người-πολλῶν được tha tội”. Lối diễn tả này cho thấy rượu mà Chúa Giêsu đang dâng lên chính là máu của Ngài sẽ đổ ra, nhất là trên cây thập giá (Ga 19,34). Nhờ cái chết và sự phục sinh này mà muôn người sẽ được cứu độ.[9]
Ở đây, Mátthêu cho thêm thuộc tính vào danh từ “máu-αἷμά”, đó là “máu giao ước-διαθήκης”. Thánh Luca viết rõ hơn: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22,20). Hoặc “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới.” (1Cr 11,25). Tuy nhiên, Mátthêu dường như nhấn mạnh đến tính chất tha tội của giao ước mà tiên tri Giêrêmia và Êdêkien đã nhắc đến trong Cựu Ước[10], vốn giao ước gắn liền với ơn tha tội, hơn là tính từ “mới-καινὴ”. Dẫu sao ở đây Máu Chúa Giêsu cũng gợi nhớ đến giao ước cũ vốn được Đức Chúa ký ước với dân ở núi Sinai (Xh 24,3-8); hôm nay, Ngài thiết lập giao ước mới, bí tích Thánh Thể vốn dành tặng cho muôn người.
Như vậy, bánh và rượu với lời tạ ơn chúc tụng của Chúa Giêsu, đã trở nên thịt và máu của Ngài[11]. Các nhà chú giải, cũng như truyền thống Giáo hội đều cho rằng hành động này nói lên việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể[12]. Trong Thánh Lễ đầu tiên này, Chúa Giêsu là linh mục tiên khởi, là thượng tế tối cao, đã trao hiến trọn vẹn con người mình cho các môn đệ đang dùng bữa tối với Ngài. Hơn nữa, Tin Mừng nhất lãm còn cho thấy cuối Bữa tiệc ly, ngoài lời trăn trối (thầy không còn uống sản phẩm này), Chúa Giêsu còn nhắc đến một Thánh Lễ, một Tiệc Thánh Thể ở Nước Trời (Lc 22,18; Mt 26,29). Theo đó, truyền thống Giáo hội cũng cho rằng “bữa ăn này cũng nói lên sự tiền dự vào Bữa Tiệc Cưới Con Chiên tại Giêrusalem trên trời.” (GLGTCG 1329).
- Mình Máu Thánh Chúa Kitô! Amen
Sau khi chú giải về Bữa tiệc ly, David L. Turner nhận xét rằng: “Bí tích Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu không phải là việc tưởng nhớ một cách cứng nhắc, nhàm chán, hoặc là nguồn ân sủng tự động tuôn chảy đến mỗi người. Trên hết, khi đón nhận trong đức tin, Bí tích này củng cố, nâng đỡ và có sức năng động cho cộng đoàn tín hữu Chúa Kitô.”[13] Vì lý do này, ngay từ Giáo hội sơ khai, bí tích Thánh Thể luôn là trung tâm đời sống đức tin của các tín hữu. Ngoài việc thực hiện lại lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, các tín hữu còn cử hành lễ bẻ bánh này như là bữa tiệc của tình yêu[14].
Do đó, đặc biệt ngày thứ Năm Tuần Thánh, Giáo hội không chỉ cử hành Thánh lễ Truyền Dầu, nhớ lại bí tích Truyền Chức Thánh, mà còn cử hành lại Bữa tiệc ly. Nơi đó, bốn tác giả Tin Mừng đều cho thấy chính Chúa Giêsu đã, đang và sẽ trở nên Mình và Máu để nuôi dưỡng những ai đón nhận Ngài. Hoặc như Thánh Gioan Vianney nhắn nhủ rằng: “Không rước lễ thì giống như chết khát bên dòng suối.” (Youcat 211). Hình ảnh thật đẹp biết bao khi dòng người lên đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong mỗi thánh lễ!
Với Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo hội còn gọi Thánh Lễ là bữa tiệc vui mừng. Đây là bữa tiệc của Chúa Giêsu với mỗi người tham dự. Nơi đó, Chúa Giêsu tiếp tục hiến tế chính mình Ngài trên bàn thờ. Ngoài việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ, Giáo hội còn cho thấy đây là phụng vụ thần linh, mầu nhiệm thánh. Nghĩa là việc cử hành Thánh Thể là thời gian hân hoan giữa Hội thánh trên trời và dưới đất. Đây là bí tích cực thánh vì trong bánh và rượu có sự hiện diện của chính Chúa Giêsu.
Ước gì trong khi tìm hiểu về Bữa tiệc ly cũng là dịp để mỗi người trân quý món quà này của Chúa Giêsu. Đây là điều sống còn dành cho các tín hữu; bởi trên đường dương thế, chúng ta sẽ chẳng đủ sức nếu không đón nhận của ăn thần linh này. Lời Chúa Giêsu hằng đảm bảo cho mỗi người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” (Ga 6,54).
Khi linh mục nói: Mình Máu Thánh Chúa Kitô, người rước lễ thưa: Amen. “Ἀμὴν-Amen” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là: “Đúng như thế, thật vậy” (Mt 26,21). Đây là một lời tuyên bố xác nhận điều gì đó. Trong Cựu Ước, Amen còn mang nghĩa: “mong được như thế”, để làm cho mong ước hoạt động của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn, hoặc để liên kết với lời ca tụng Thiên Chúa. Amen còn biểu lộ sự đồng tình với một lời nói (x. Gr 28,6), hoặc chấp nhận một sứ mạng (Gr 11,5). Trong Tân Ước, Amen được dùng để tăng cường cho kết luận của lời cầu nguyện. Chính Chúa Giêsu cũng là Amen của Thiên Chúa Cha, vì Ngài thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa. (2Cr 1,19–20).
Với những ý nghĩa trên, chúng ta thấy lời tuyên xưng Amen khi đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô thật đẹp biết bao. Khi đó, người rước lễ cùng với thừa tác viên cho rước lễ xác tín mình đón nhận cả “con người” Chúa Giêsu.[15] Về mặt vật lý, dù họ chỉ nhận một tấm bánh, một chút rượu, nhưng về mặt bí tích, họ xác tín mình đang rước trọn vẹn Chúa Giêsu vào tâm hồn. Khi đó, họ được nên một cùng với Ngài (x. Ga 6,56). Hoặc nói như thánh Phanxicô Salêsiô: “Trong Thánh Thể, ta nên một với Thiên Chúa, như lương thực nên một với thân xác.” (YouCat 211).
Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã trao ban Mình Máu Ngài cho con nơi Bí Tích Thánh Thể, trong Bữa Tiệc Ly. Đó là nguồn mạch sự sống dành cho mỗi người chúng con. Ngài đã trở nên của ăn thần linh nuôi sống con trên cuộc đời dương thế. Con mời Chúa vào tâm hồn con lúc này. Nhờ đó, Mình Máu Thánh Chúa thánh hóa cuộc đời con nên nhân chứng giữa đời. Amen.
[1] Ortensio da Spinetoli, Máté-Az egyház evangéliuma, Agapé, Szeged, 1998, 707.
[2] Về khoảng cách thì phòng tiệc ly gần với nhà Cai-Pha làm thượng tế năm đó. Đấy cũng là nơi Thượng Hội Đồng đang tìm bắt Chúa Giêsu. (Mt 26, 57). Lính tráng sẵn sàng võ trang để truy tìm Thầy lúc này. Bởi đó Thầy trò Giêsu cần bí mật bởi chốn này là “tai vách mạch dừng”.
[3] Mt 26,18; Mc 14,13; Lc 22,10.
[4] Stuhlmacher, Peter: Az Újszövetség bibliai teológiája 1. Alapvetés. Jézustól Pálig (ford. Koczó Pál), Kálvin Kiadó, Budapest, 2017, 138.
[5] Frank E. Gaebelein (editor), Expositors Bible Commentary, Volume 8, Regency, 1984, 531.
[6] Dr Jakubinyi György, Máté Evangélium, Szent István Társulat, Budapest, 1991, 290.
[7] Dr Jakubinyi György,Máté Evangélium, Szent István Társulat, Budapest, 1991, 293.
[8] “Tân Ước dùng các từ Hy Lạp eucharistein (x. Lc 22,19; 1Cr 11,24) và eulogein (x. Mt 26,26; Mc 14,22), gợi nhớ lại việc người Do Thái, đặc biệt trong bữa ăn, ca ngợi Thiên Chúa vì những kỳ công Người đã thực hiện: sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.” (GLHTCG số 1328).
[9] Frank E. Gaebelein (editor), Expositors Bible Commentary, Volume 8, Regency, 1984, 538.
[10] Gr 31,31-34; Ed 36,26-28.
[11] Mt 26,26-28; Mc 14,22-24; Lc 22,19; 1 Cr 11,23-25.
[12] GLHTCG 1323.
[13] Robert W. Yarbrough and Robert H. Stein (editors), Baker Exegetical Commentary on the New Testament, Baker Academic, 2008, 626.
[14] X. Cv 2,42; 20:7–12; 1Cr 11,20–22; 2Pr 2,13.
[15] Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận nhắn với các linh mục rằng: “Mỗi khi trao Chúa Giêsu Thánh Thể cho giáo dân, con hãy ý thức trao cả đời con, thời giờ của con, sức khỏe, tài năng, tiền của, nghĩa là máu thịt con cùng với Mình Máu Thánh Chúa làm của nuôi mọi người và mỗi người không phân biệt ai.” (Đường Hy Vọng 376.) Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Thứ Năm Tuần Thánh 2022
2022
Việc bái gối trước Thánh Giá được hiểu ra sao?
Việc bái gối trước Thánh Giá được hiểu ra sao?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi 1: Có người hỏi tại sao người Công Giáo bái gối trước Thánh giá từ Thứ Sáu Tuần Thánh đến Thứ Bảy Tuần Thánh, bởi vì hành động bái gối chỉ được dành riêng cho Phép Thánh Thể trong giờ chầu. Như vậy, việc bái gối trước Thánh giá phải chăng là hành vi của thờ ngẫu tượng? – M. U., Lagos, Nigeria.
Hỏi 2: Trong Thứ Sáu Tuần Thánh, phụng vụ của buổi cử hành này nói rằng một phần của buổi cử hành là nghi thức Thờ lạy (adoration) Thánh Giá, với ba lần cộng đoàn thưa: “Ta hãy đến thờ lạy…” Con nhớ lại rằng trước đây nghi thức được gọi là Suy tôn (Veneration) Thánh Giá. Các tín hữu Tin lành thường cáo buộc người Công Giáo thờ phượng các ảnh và tượng. Con đã luôn trả lời cho họ rằng chúng tôi chỉ thờ lạy Chúa, và chúng tôi có thể “suy tôn” các biểu tượng khác. Từ ngữ “thờ phượng” (worship) có xu hướng ủng hộ lập trường của họ. Xin cha cho một lời giải thích về việc dùng từ ngữ này. – J. D., Williams Lake, British Columbia, Canada.
Đáp: Tiêu đề chính thức của nghi thức này là “Suy Tôn Thánh Giá”, và câu đáp cho lời mời gọi: “Đây là cây Thánh giá, nơi treo Đấng Cứu Độ Trần Gian” là “Ta hãy đến thờ lạy” (“Venite adoremus”).
Từ “thờ phượng” (worship) trong tiếng Anh hiện đại thường là, mặc dù không phải là chuyên thuộc, dành riêng cho việc thờ Chúa.
Đúng là Giáo Hội không đưa ra một hành động thờ lạy một tượng gỗ, nhưng thờ lạy Chúa Kitô. Cũng vậy, nghi thức tôn thờ Thánh giá vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh được mặc một cường độ đặc biệt, vốn là khác với việc kính trọng đối với thánh giá trong suốt phần còn lại của năm. Điều này được diễn tả bởi sự việc rằng, từ lúc cử hành cuộc Thương Khó và Thứ Bảy Tuần Thánh đến lễ Vọng Phục Sinh, mọi người bái gối trước Thánh Giá (Cross) hay Thánh giá có hình Chúa (Crucifix), được sử dụng trong buổi cử hành.
Sự bái gối (genuflection, từ tiếng Latinh “genu flectere”, nghiêng gối) là một cử chỉ thể hiện một loạt thái độ suy tôn và kính trọng. Ngày nay, hành động bái gối được liên kết chặt chẽ đến hành động thờ lạy Thiên Chúa. Thật vậy, đây là nghĩa duy nhất được đề cập trong Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma (GIRM):
“274. Bái gối, nghĩa là gối phải nghiêng đụng đất, là cử chỉ thờ phượng, do đó dành cho Thánh Thể và Thánh Giá từ khi được tôn kính trọng thể trong phụng vụ thứ Sáu Thánh tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa, cho đến bắt đầu Vọng Phục Sinh” (Bản dịch Việt ngữ của Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần, Giáo Phận Nha Trang).
Trong khi lời này là đúng, hành động bái gối đã được giải thích cách rộng rãi hơn, và không phải chỉ dành cho sự thờ lạy. Sự bái gối là một bổ sung khá gần đây vào thực hành phụng vụ, và chỉ trở nên bắt buộc sau năm 1502. Ngoài việc sử dụng hành động này như là một hành động thờ lạy Phép Thánh Thể, việc bái gối được quy định khi tín hữu đọc câu “Người đã nhập thể” trong Kinh Tin Kính ngày lễ Giáng sinh, và ngày lễ Truyền Tin. Việc bái gối cũng được dự kiến cho bất kỳ sự suy tôn Thánh Giá Thật nơi công cộng, và trong Tam nhật thánh như đã thấy ở trên. Cho đến gần đây, việc bái gối được chỉ định trong sự hiện diện của một Giáo hoàng, và bất cứ khi nào Giám mục giáo phận đi tới, khi Ngài chủ trì một buổi lễ.
Bên ngoài phụng vụ, lòng đạo đức bình dân đã có nhiều dịp cho việc bái gối. Thí dụ, nhiều người Công Giáo có thói quen bái gối, khi đi Đàng Thánh giá, lúc đọc “Adoramus Te, Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy Chúa, và chúng con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ”.
Ngoại trừ các việc bái gối nay đã bỏ (trong hình thức thông thường) đối với Đức Giáo Hoàng và Giám mục, tất cả các lần bái gối khác, một cách nào đó, phản ảnh sự thờ lạy Chúa Kitô, hoặc thực sự hiện diện trong Phép Thánh Thể, hoặc được biểu trưng bằng một cách đặc biệt.
Do đó, bởi vì cử chỉ bái gối là không chỉ dành cho sự thờ lạy Chúa, việc bái gối vào Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh không hề ngụ ý bất kỳ hình thức ngẫu tượng nào.
Từ viễn tượng lịch sử, lý do cho sự sử dụng cử chỉ suy tôn đặc biệt này, có lẽ là do nghi thức suy tôn Thánh giá có nguồn gốc tại Giêruxalem vào cuối thế kỷ IV, và tại Rôma vào thế kỷ VII, và được hướng tới các di tích chính của Thánh Giá Thật, vốn được lưu giữ tại các thành phố này.
Chỉ sau đó, khi nghi thức trở thành phổ biến, sự bái gối là dấu hiệu của sự suy tôn, thường được dành riêng cho Thánh Giá Thật, được mở rộng đến Thánh giá có hình Chúa được sử dụng trong buổi lễ.
Trong khi đối tượng thờ lạy hoặc thờ phượng luôn luôn là Chúa Kitô, sự suy tôn đặc biệt Thánh giá vào các ngày này dường như muốn nói rằng, mặc dù nhà tạm trống rỗng, tất cả các ảnh khác được che phủ, và Giáo Hội âm thầm chờ đợi Chúa sống lại, sự hiện diện của Chúa được biểu tượng bởi hình ảnh Thánh giá, mà nhờ đó Ngài đã cứu chúng ta khỏi tội lỗi của mình.
Bằng cách tập trung vào hình ảnh Thánh giá, Giáo Hội, như Louis Bouyer đã nói, “làm cho chúng ta nhận ra những gì không thể được phát hiện bởi ‘các quyền lực’ đã đóng đinh Chúa Vinh Hiển, chính trên Thánh giá của Ngài là sự vinh hiển của chúng ta”.
(Nguyễn Trọng Đa/ Zenit.org 11-4-2017)
2022
Điều gì đã xảy ra với Simon thành Kyrênê sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh?
Điều gì đã xảy ra với Simon thành Kyrênê sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh?
Người ta biết rất ít về những gì đã xảy ra với Simon thành Kyrênê sau khi ông giúp Chúa Giêsu vác cây thập tự đến nơi bị đóng đinh.
Chỉ có một cá nhân duy nhất trong lịch sử thế giới đã thực sự giúp Chúa Giêsu vác thập giá của mình. Ông được nhắc đến với cái tên Simon xứ Kyrênê và rất ít người biết về ông, hoặc những gì đã xảy ra cho ông sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh.
Các sách Tin Mừng chỉ đề cập đến một số chi tiết về người đàn ông bí ẩn này.
“Đang đi ra, thì chúng gặp một người Kyrênê, tên là Simon; chúng bắt ông vác thập giá của Ngài” (Mátthêu 27:32)
“Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Simon, gốc Kyrênê. Ông là thân phụ hai ông Alêxanđê và Ruphô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Chúa Giêsu” (Máccô 15:21)
Về cơ bản, chúng ta biết rằng Simon gốc ở Kyrênê, một khu vực ở Bắc Phi đã trở thành thuộc địa của La Mã và có một lượng lớn người Do Thái.
Bản thân văn bản dường như nói rằng Simon bị buộc phải vác thập giá của Chúa Giêsu, có nghĩa là ông không có ý muốn bị liên kết với “tội phạm” này.
Anne Catherine Emmerich, một nhà thần bí từ thế kỷ 19, tuyên bố trong cuốn “Khổ nạn đau thương” của mình rằng Simon là một người ngoại giáo.
- Đúng lúc đó, Simon xứ Kyrênê, một người ngoại giáo, tình cờ đi ngang qua, dẫn theo ba đứa con của ông. Ông ta là một người làm vườn, vừa trở về nhà sau khi làm việc trong một khu vườn gần bức tường phía đông của thành phố, và mang theo một bó củi khô. Những người lính nhìn qua cách ăn mặc của ông ta cho rằng ông ta là một người ngoại giáo, bắt ông ta và ra lệnh cho ông ta hỗ trợ Chúa Giêsu vác thập giá của Ngài. Lúc đầu, ông từ chối, nhưng nhanh chóng bắt buộc phải tuân theo, mặc dù các con của ông, sợ hãi, khóc lóc và gây ồn ào, một số phụ nữ xoa dịu chúng và lãnh trách nhiệm trông nom chúng. Simon đã rất khó chịu, và tỏ ra hết sức bực dọc khi bị bắt buộc phải đi cùng một người đàn ông trong tình trạng bẩn thỉu và khốn khổ thảm hại như vậy;
Hơn nữa, Emmerich cũng tuyên bố rằng trải nghiệm này đã thay đổi các con trai của Simon, sau này trở thành Kitô hữu.
- Các con của ông mặc áo chẽn lưng may bằng nhiều mảnh vải đủ mầu sắc. hai anh lớn, tên là Ruphô và Alêxanđê, sau đó gia nhập vào đoàn các môn đệ; người thứ ba trẻ hơn nhiều, nhưng một vài năm sau đã đến sống với Thánh Stêphanô. Simon đã không vác thập giá theo Chúa Giêsu một khoảng thời gian lâu dài nào trước khi ông cảm thấy lòng mình được ân sủng đánh động sâu sắc.
Một số nhà sử học Kinh thánh tin rằng Ruphô và Alêxanđê có thể nổi tiếng trong cộng đoàn Kitô giáo sơ khai, đó là lý do tại sao tên của họ được nhắc đến trong sách Tin mừng.
Ví dụ, Thánh Phaolô đề cập đến một “Ruphô” trong lá thư của ông gửi cho tín hữu Rôma, “Xin gửi lời thăm anh Ruphô, người được Chúa chọn, và thăm mẹ của anh, cũng là mẹ của tôi.” (Rôma 16:13).
Điều gì đã xảy ra với Simon?
Không biết điều gì đã xảy ra với Simon, người đã vác thập giá của Chúa Giêsu theo đúng nghĩa đen. Ông không được tôn kính rộng rãi như một vị thánh, mặc dù thật khó tin rằng việc ở gần Chúa Giêsu đến thế lại không thay đổi được gì nơi ông. Một số truyền thống tôn vinh ông là Thánh Simon xứ Kyrênê, với một ngày lễ vào ngày 1 tháng Mười Hai.
Dù số phận của ông thế nào đi nữa, chúng ta có thể cố gắng chấp nhận cách sẵn lòng thập giá của mình từ Thiên Chúa và để cho sự đau khổ của Chúa Giêsu biến đổi cuộc đời của chúng ta.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ
