2022
Thánh nữ Catarina Siena: Vài gợi ý cho Kitô hữu ngày nay
THÁNH NỮ CATARINA SIENA: VÀI GỢI Ý CHO KITÔ HỮU NGÀY NAY
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Đã hơn 600 năm kể từ khi qua đời, nhưng sự thánh thiện, trí tuệ, và tình yêu của thánh nữ Catarina Siena vẫn luôn trường tồn theo dòng thời gian. Vài chi tiết trong cuộc đời của thánh nữ khơi lên một số gợi ý có thể áp dụng cho các Kitô hữu ngày nay.
- Trung thành với lời mời gọi của Thiên Chúa
Chưa bao giờ là một nữ tu, nhưng chỉ là một thành viên Dòng Ba Đa Minh, thánh Catarina đã luôn kiếm thời gian để cầu nguyện, suy ngẫm và sống cô tịnh, và chính đời sống tâm linh phong phú này đã tiếp thêm sinh lực và hướng dẫn những nỗ lực hoạt động của thánh nữ: Luôn cẩn thận nhận định ý muốn của Thiên Chúa và sau đó kiên trì thực hiện, ngay cả khi đối diện với áp lực.
Thật thế, trong suốt cuộc đời, thánh Catarina đã gặp phải nhiều sự phản đối từ nhiều nguồn khác nhau, một ví dụ điển hình về một trong những nguồn này là từ cha mẹ của thánh nữ: Khi 12 tuổi, cha mẹ đã thúc giục Catarina để ý và xem xét một người chồng phù hợp, nhưng Catarina tránh mặt những người cầu hôn, bắt đầu nhịn ăn và thậm chí còn cắt phăng mái tóc óng ả để khiến mình trở nên kém hấp dẫn hơn. Cha mẹ thánh nữ đã cố gắng chống lại động thái trốn tránh hôn nhân này, nhưng không thành công.
Việc thiếu nữ Catarina kiên trì từ chối vâng lời cha mẹ trong vấn đề này có vẻ như là sự ngoan cố, nhưng thật ra đó là vì thánh nữ nhận thức rằng Thiên Chúa có những kế hoạch khác dành cho mình, nên ngay cả sự hiếu thảo cũng sẽ không khiến thánh nữ quay lưng với ý muốn của Thiên Chúa.
Phải chăng, khi ngày nay chúng ta nói đến việc “lắng nghe tiếng nói nội tâm”, thì nếu tiếng nói nội tâm này là “tiếng thầm thì” của Thiên Chúa đang nói trong lương tâm chúng ta, thì giống như thánh Catarina, chúng ta cần can đảm và kiên trì tuân theo dù có phải đối diện với vô vàn khó khăn, bất lợi?
- Đứng lên cho sự thật ngaytrong thời điểm xung đột
Nếu cho rằng nền chính trị trong thời hiện tại gây chia rẽ và nguy hiểm, thì chúng ta nên nhìn vào bối cảnh của thành Siena vào những năm 1300! Các phe phái tham chiến đã chia cắt bán đảo Ý, và hầu hết những người nắm quyền đều bị lôi kéo vào các cuộc tranh chấp gay gắt.
Trong bối cảnh này, thánh Catarina đã không ngại đứng lên đấu tranh cho hòa bình, cho lòng thương xót, cho đức ái chân chính. Chẳng hạn, khi phải đối diện với đại dịch, cũng chính đôi tay rộng mở và trái tim cảm thương, thánh nữ đã lăn xả vào việc chăm sóc, và chôn cất các nạn nhân của bệnh Dịch hạch.
Chắc chắn không phải lúc nào việc làm chứng cách mạnh mẽ cho đòi hỏi của Tin Mừng cũng làm thánh nữ được yêu mến, và không phải lúc nào tiếng nói của ngài cũng được lắng nghe, nhưng không có sự chống đối, vu khống, chối bỏ nào ngăn cản ngài thi hành nghĩa vụ của mình như là một Kitô hữu.
Phải chăng, khi biết cân bằng sự thánh thiện tâm linh với những nỗ lực cụ thể ngay cả khi đối mặt với những chống đối để bênh vực cho sự thật của Đức Kitô, thánh nữ Catarina đã gợi hứng và là tấm gương cho tất cả chúng ta?
- Phụcvụvương quốc của Thiên Chúa ngay trên trái đất này
Người ta dễ dàng đón nhận, hoặc phớt lờ những tai ương, khó khăn hiện tại với ý nghĩ rằng: “Tất cả sẽ được đền đáp ở kiếp sau!”. Nhưng Thánh Catarina hoàn toàn không áp dụng cách tiếp cận này. Trái lại, thánh nữ đã tham gia cách tích cực và hiệu quả vào nền chính trị dân sự cũng như Giáo hội trong thời đại của mình.
Sống trong thời kỳ hỗn loạn của cuộc đại ly giáo phương Tây khi ngai toà giáo hoàng bị dời từ Roma đến Avignon, nước Pháp; của biến động chính trị lớn và chiến tranh ngay trên quê hương nước Ý, của việc Giáo hội có 2 giáo hoàng… Với sự thánh thiện và trí tuệ được Thiên Chúa soi dẫn, thánh nữ đã mang lại cảm giác tự tin và ảnh hưởng rất lớn tới các giáo hoàng, quý tộc và thường dân.
Thánh nữ trao đổi thư từ với nhiều tầng lớp để kêu gọi hòa bình tại những nơi có chiến tranh; nhắc nhở về sự khiêm tốn phục vụ nơi những người nắm giữ quyền lực; Thậm chí, dù luôn nhìn nhận Đức giáo hoàng là Đại diện của Chúa Kitô, thánh nữ không ngần ngại tư vấn, chỉ ra những khuyết điểm của ngài, đây quả là cách tiếp cận rất khác biệt, mà chỉ có sự thánh thiện nổi tiếng của thánh nữ mới khiến cho cách tiếp cận như vậy được chấp nhận.
Cứ như thế, với tình yêu nồng cháy dành cho Giáo hội, thánh nữ không ngừng cầu nguyện và ăn chay để tìm kiếm một giải pháp hài hòa của giai đoạn Giáo hội có 2 vị giáo hoàng được bầu hợp lệ. Nhưng Thiên Chúa có những kế hoạch khác, vào ngày 29.4.1380, thánh nữ Catarina qua đời vì kiệt sức, kết thúc cuộc đời 33 năm tận hiến cho Thiên Chúa, cho sự thánh thiện của Giáo hội, và cho hạnh phúc của con người.
Phải chăng, chính sự nhiệt tâm của thánh Catarina nhắc nhở chúng ta rằng: Là Kitô hữu, chúng ta không chỉ chu toàn bổn phận đạo đức của riêng mình cách nghiêm túc là đủ mà còn phải góp phần mình vào việc thực thi công lý và hòa bình ngay trong môi trường sống của mình?
(Theo: aleteia.org và simplycatholic.com)
2022
Tại sao Chúa Giêsu nhúng một miếng bánh và đưa cho Giuđa?
Tại sao Chúa Giêsu nhúng một miếng bánh và đưa cho Giuđa?
Khi tuân giữ Lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu có thể nhớ lại sự phản bội của các anh em ông Giuse trong Cựu Ước.
Bữa Tiệc Ly do Chúa Giêsu và các môn đồ cử hành được liên kết với lễ Vượt Qua của người Do Thái, bao gồm một loạt các hành động biểu tượng.
Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu tuyên bố rằng một trong các môn đồ của Ngài sẽ phản bội Ngài .
Khi Chúa Giêsu phán như vậy, thì trong tâm hồn Ngài bối rối, và làm chứng rằng: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Gioan 13: 21)
Chúa Giêsu trả lời, “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy.” Rồi Ngài chấm một miếng bánh, trao cho Giuđa, con ông Simon Iscariốt. Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y. Chúa Giêsu bảo y: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Gioan 13: 26-27)
Tại sao Chúa Giêsu chấm một miếng bánh” và đưa nó cho Giuđa?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về hành động này, nhưng có một khả năng là Chúa Giêsu đang thực hiện một phần Lễ Vượt Qua của người Do Thái gợi nhớ lại sự phản bội đối với ông Giuse trong Cựu Ước .
Đây là những gì DT Lancaster gợi ý trong bài báo của mình, “Bữa ăn tối cuối cùng: Bài đọc của người Do Thái trong Bữa ăn tối cuối cùng.”
Sau ly rượu đầu tiên, những người tham gia Bữa ăn tối Vượt qua rửa tay và sau đó tham gia một nghi lễ gọi là karpas. Nghi thức bao gồm việc nhúng một loại rau xanh hai lần vào giấm rượu vang đỏ. (Ở những Bữa ăn tối cuối cùng hiện đại, nước muối thường thay thế cho giấm rượu). Ý nghĩa của nghi lễ này rất khó hiểu, nhưng theo một số ý kiến, nó tượng trưng cho sự phản bội đối với ông Giuse, người mà những anh em của ông đã nhúng áo khoác của ông vào máu dê — sự kiện khởi đầu cho cuộc di cư vào Ai Cập. Nó cũng có thể tượng trưng cho việc nhúng cây hương thảo vào máu cừu non.
Shlomo Riskin cũng giải thích về nghi lễ này trong một bài báo trên Israel Times .
Điều thú vị là ở nhiều cộng đồng Yemen có phong tục nhúng rau karpas, thường là mùi tây hoặc cần tây hoặc hành tây sống, hoặc khoai tây luộc, vào charoset, là hỗn hợp rượu, các loại hạt và đôi khi là chà là, mà Jerusalem Talmud nói rằng nó gợi nhớ đến máu. Do đó, cũng giống như việc hai anh em nhúng chiếc áo choàng nhiều màu của Giuse vào máu của một con dê để nói với cha họ rằng Giuse đã bị thú dữ xé xác; chúng tôi nhúng karpas của chúng tôi vào charoset.
Tất cả mọi thứ trong Phúc âm đều có lý do, ngay cả một chi tiết nhỏ của Chúa Giêsu như nhúng một miếng bánh và đưa nó cho Giuđa.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ.
theo Philip Kosloski, aleteia.org
2022
Để tham dự Tam Nhật Vượt Qua cách trọn vẹn
Trong Tam Nhật Vượt Qua – từ Thứ Năm Tuần Thánh đến Chúa Nhật Phục Sinh – điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra. Hàng triệu Kitô hữu trên khắp thế giới quy tụ lại để tôn kính sự chịu sỉ nhục, đánh đập, và đóng đinh của Chúa Giêsu Kitô. Trong một nền văn hóa toàn cầu thường tôn vinh quyền lực, sức mạnh và vẻ đẹp, thì sự tôn kính công khai đối với một điều quá khủng khiếp như vậy luôn gây ra một chút sửng sốt. Phải chăng điều lôi cuốn người ta trong tường thuật về Cuộc Khổ nạn lại chính là tính dễ bị tổn thương của Thiên Chúa?
Theo một nghĩa nào đó, trong biến cố xảy ra nơi Đức Kitô, Thiên Chúa rời bỏ sự an toàn và vinh quang của trời cao và ôm lấy những giới hạn của thân phận con người, cảm nhận bằng xương bằng thịt, cả danh dự lẫn bi kịch của bản tính của chúng ta, nhưng không hề phạm tội. Vào tuần cuối cùng của cuộc đời, Chúa Giêsu hoàn toàn giao nộp chính mình cho chúng ta. Trong việc rửa chân và Thánh Thể, trong sự đánh đập và đóng đinh, Con Thiên Chúa yêu chúng ta hoàn toàn nhưng không, vô điều kiện, và vô thời hạn. Cho dù chúng ta chấp nhận, từ chối hay phớt lờ Tình yêu Thần linh này, Chúa Giêsu không bao giờ thay đổi lập trường căn bản của Người đối với chúng ta.
Trong thần thoại La Mã và Hy Lạp, các vị thần luôn âm mưu thao túng nhân loại để phục vụ cho những mục đích ích kỷ thường tồn và những kế hoạch tự cao tự đại của họ. Nơi Đức Kitô, chúng ta chạm phải sự đánh đổ đầy kịch tính đối với kế hoạch đàn áp ấy. Chính Thiên Chúa phục vụ chúng ta! Với sự khiêm nhường, tự nguyện, dễ bị tổn thương và lòng thương xót tuyệt đối, Thiên Chúa đã đến để yêu thương, tha thứ và cứu độ chúng ta.
Sự yếu đuối của thập giá, sự bình dị của Thánh Thể, sự dịu dàng của việc rửa chân, tình yêu tìm cách ôm lấy kẻ phản bội, kẻ trộm cắp, và kẻ hèn nhát vượt lên trên tầm nhận thức của quyền lực chính trị; vòng xoáy của sự ngạo mạn xã hội; và thế giới của sự tham lam trần tục khiến chúng ta bị choáng ngợp. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các vị vua chúa phải câm lặng trước sự hiện diện của Người Tôi Tớ Đau khổ, như Isaia đã loan báo.
Nếu Thiên Chúa đã có thể trở nên nghèo khó, khiêm nhu và dễ bị tổn thương như thế để yêu thương tôi, thì làm sao tôi có thể tự phụ về chính mình được? Tuần này, chúng ta ca tụng những điều kỳ diệu nhất: sự yếu đuối trở nên mạnh mẽ, tình yêu chiến thắng sự sợ hãi, nỗi tuyệt vọng đau khổ biến thành niềm hy vọng phục sinh và sự chết trầm luân nhường chỗ cho sự sống vĩnh cửu. Tất cả là do một người bị kết án chết trần truồng vật ngã trên cây thập giá cách đây 2.000 năm, và Người đã ôm lấy nó như thể đó là chiếc giường tân hôn của mình.
Chúng ta hãy để cho Đức Chúa yêu thương chúng ta trong Tuần Thánh. Nhành lá mà chúng ta giơ cao hôm Chúa Nhật Lễ Lá phải là biểu tượng của sự ca ngợi, tôn kính và tình yêu của chúng ta đối với Vị Thầy khiêm nhường, Đấng đã cứu độ và giải thoát chúng ta.
Thánh Lễ Tiệc Ly vào tối Thứ Năm Tuần Thánh là dịp để nếm trải ân sủng tuyệt vời của Thánh Thể và qui phục sự an ủi của việc rửa chân.
Việc lắng nghe bài Thương Khó và suy tôn Thánh giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh cho chúng ta cơ hội để đón nhận thập giá trong cuộc đời mình, cho dù thập giá có thể diễn ra dưới bất cứ hình thức nào. Hãy biết rằng mầu nhiệm đau khổ trong cuộc đời chúng ta là chiếc thang thánh liêng mà trên đó chúng ta sẽ bước tới sự tuyệt mỹ của Vương quốc.
Thứ Bảy Tuần Thánh là khoảng thời gian linh thánh của sự an nghỉ và tĩnh lặng, khi Đức Chúa ngủ trong ngôi mộ và mọi tạo vật đang chờ đợi ơn cứu độ mà mình chưa nhận thức được. Một bản văn cổ tuyệt đẹp từ thời Giáo hội sơ khai phác họa Chúa Giêsu rảo quanh nơi cư trú của người chết vào ngày này, cởi trói cho Ađam và Eva cũng như tất cả các linh hồn, là những người đã chờ đợi ơn cứu chuộc từ khi sáng thế. Hãy cầu xin Đức Chúa giải thoát bạn khỏi sợ hãi, tội lỗi và vị kỷ đang trói buộc bạn.
Quy tụ chung quanh lửa Phục sinh trong đêm Canh thức, chúng ta nhớ lại cách chúng ta đã bắt đầu hành trình Mùa Chay được đánh dấu bằng tro bụi của tội lỗi, thất bại và suy vong, nhưng giờ đây bạn đã được tràn ngập lửa – sức lực phi thường của Chúa Kitô Phục sinh và sức mạnh can đảm của Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta công bố sự phục sinh của Chúa Kitô như là chân lý cao đẹp và ý nghĩa biến đổi của lịch sử nhân loại, hãy tin rằng Đức Chúa bước đi cùng bạn, yêu thương bạn, và dẫn bạn đạt tới sự viên mãn của niềm vui và bình an.
Những biến cố gây kinh ngạc, kỳ diệu và mạnh mẽ của Tuần Thánh sẽ đưa chúng ta đến với những giọt nước mắt và tiếng cười, lòng biết ơn và sự ngợi khen, khiêm tốn nhận thức về sự yếu đuối của mình và vui mừng tung hô chiến thắng của Thiên Chúa. Tam Nhật Vượt qua là thời điểm để Thiên Chúa mở rộng tâm hồn chúng ta, để dòng nước ân sủng của Lòng Thương Xót tuôn chảy từ cạnh sườn Đức Kitô chịu đóng đinh tẩy rửa chúng ta nên tinh tuyền, tha thứ tội lỗi, và dẫn chúng ta ngày càng sâu hơn vào sự sáng tạo mới nơi sự chết và phục sinh của Đấng cứu độ chúng ta.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: simplycatholic.com
[1] Đức cha Donald J. Hying là Giám mục của Giáo phận Madison, Wisconsin, Hoa Kỳ.
2022
Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống
Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống
Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu là đỉnh cao của nghi lễ phụng vụ trong Giáo hội Công giáo. Cuộc thương khó này bắt đầu từ biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem cho đến lúc Chúa Giêsu được mai táng trong mồ. Trong đó, các bản văn Tin Mừng đều thuật lại Bữa tiệc ly như là nghi thức quan trọng không chỉ vì là dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, nhưng còn vì đó là nơi Chúa Giêsu cùng với các môn đệ cử hành “thánh lễ đầu tiên”, nơi mà Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể, và bí tích Truyền Chức Thánh. Bữa tiệc ly trong Tin Mừng nhất lãm ngắn gọn hơn so với Gioan. Tuy vậy, cả bốn Tin Mừng đều cho thấy những nét tương đồng ít nhiều về bữa tiệc này.
Để chú giải bản văn (Mt 26,17–29), chắc chắn chúng ta cần đi vào truyền thống lịch sử của ngày lễ Vượt Qua, để qua chú giải về mặt văn chương và lịch sử, sự phong phú của bản văn được làm nổi bật. Trên hết, khi đi vào từng lớp nghĩa của bản văn, tôi muốn cho thấy Bữa tiệc ly thực sự là nguồn mạch sự sống mà Thiên Chúa dành cho con người ở cả chiều kích chú giải bản văn cũng như chiều kích phụng vụ.
- Bối cảnh lịch sử của bữa tiệc ly
Hầu hết các học giả đều cho rằng Bữa tiệc ly thuộc về dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, một bữa ăn tối đặc biệt như lời giải thích của rabbi Gamaliel (sống ở thế kỷ 1): “Nhiệm vụ của mỗi người ở mọi thế hệ cần nhắc nhớ mình về việc được giải thoát khỏi ách thống trị ở bên Ai Cập”.[1] Sách Xuất Hành cũng ghi lại chi tiết về một bữa tối sau cùng ở Ai Cập: “Trong ngày ấy, ngươi sẽ kể lại cho con của ngươi rằng: Sở dĩ như vậy là vì những gì Đức Chúa đã làm cho cha khi cha ra khỏi Ai Cập.” (Xh 13,8). Ngoài ra, Gamaliel còn cho biết mục đích của bữa tối như là thời gian để dân Do Thái ngợi khen, chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa đã giải phóng họ khỏi ách nô lệ: từ đau thương đến niềm vui, từ buồn sầu đến hân hoan của ngày lễ, từ bóng tối đến ánh sáng. Việc hát Thánh Vịnh có thể lột tả được những tâm tình này.
Về mặt thời gian, vì Bữa tiệc ly nằm trong dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái nên đó là ngày 14 tháng Ni-xan. Dịp này người dân thường hành hương lên đền thờ Giêrusalem để tham dự lễ hiến tế con chiên. Hình ảnh con chiên cũng nhắc nhở dân rằng mệnh lệnh của Thiên Chúa dành cho dân trước đêm rời khỏi Ai Cập (x. Xh 11,10-14). Đây là buổi lễ vượt qua mà chính Chúa Giêsu cũng lên Giêrusalem, như nhiều lần trước, để tham dự. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình trong dịp lễ này. Chính Ngài cũng chuẩn bị cho bữa tối này trong bí mật.[2] Dường như Chúa Giêsu cũng cảm thấy mối nguy hiểm từ phía Thượng Hội đồng, Tin Mừng nhất lãm đều cho thấy Chúa Giêsu gửi các môn đệ đi nhận phòng dùng cho bữa tối[3]. Trong mạch văn này, chúng ta nhận thấy hôm ấy chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ.[4]
Ngay từ câu 17, Mátthêu cho biết thời gian và bối cảnh của Bữa tiệc ly: “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men-ἄζυμος.” Ngày này đúng ra bắt đầu từ sau bữa ăn Vượt Qua (chiều ngày 14 tháng Ni-xan, x. Xh 12,1; 23,14). Tuy nhiên, kiểu nói của Mátthêu cũng cho thấy bữa ăn cuối cùng này đối với Chúa Giêsu cũng là ăn lễ Vượt Qua. Thánh Gioan thì cho rằng lúc này là thời gian canh thức chờ ngày lễ Vượt Qua (Ga 13,1). Lúc đó, chính Chúa Giêsu sẽ là con chiên hiến tế trong đền thờ (Ga 19,31. 42). Vượt Qua là một trong những lễ lớn của người Do Thái, nên chắc chắn đám đông sẽ đổ về Giêrusalem để mừng trong những ngày này. Hơn nữa, sẽ có những nghi thức mà Chúa Giêsu và các môn đệ cũng sẽ cử hành trong dịp này.
Về giờ cụ thể cho Bữa tiệc ly, bản dịch của các Giờ Kinh Phụng Vụ (2011) dùng từ: “Chiều đến”. Cần hiểu rằng văn hóa của người Palestine, họ không dùng bữa tiệc Vượt Qua trước khi mặt trời lặn; nghĩa là trời tối, họ mới ăn bữa Vượt Qua. Bản Hy Lạp dịch: “Khi trời đã tối-Ὀψίας-when evening came”; và theo mạch văn, bữa tiệc Vượt Qua diễn ra ở nội thành Giêrusalem[5].
- Thiết lập Bí Tích Thánh Thể
Bữa tiệc Vượt Qua thường rất dài với nhiều nghi thức phụng vụ và cả món ăn, thức uống theo truyền thống của người Do Thái. Trước khi phân tích những điều này, về bản văn, chúng ta thấy chính Chúa Giêsu thông báo về một người sẽ nộp Ngài. Giọng văn cho thấy Chúa Giêsu đã biết trước ai là người phản bội mình, nên nói: “Thầy bảo thật cho anh em, một người trong anh em sẽ nộp thầy.” (Mt 26,20). Dĩ nhiên đây là một tin rất sốc cho các môn đệ, bởi không ai có thể tưởng tượng được người nào dám làm chuyện này. Các môn đệ buồn sầu và nhiều người đã hỏi Chúa Giêsu. Câu trả lời của Ngài là: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với thầy, đó là kẻ nộp thầy.” Câu nói này gợi nhớ lại lời thánh vịnh: “Cả người bạn thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con!” (Tv 41,10). Ở câu 25, Mátthêu nêu đích danh người phản bội Chúa Giêsu chính là Giuđa Ítcariốt với lời xác nhận của Chúa Giêsu: “Chính anh nói đó!” Trong bối cảnh này, sự than vãn của Chúa Giêsu “khốn-οὐαὶ cho kẻ nào nộp Con Người” cần hiểu theo hai nghĩa: 1. thể hiện sự khốn cùng của Giuđa, 2. đồng thời cũng nói lên nỗi đau đớn của chính Chúa Giêsu, vì bị người môn đệ phản bội. Kiểu nói: “Thà người đó đừng sinh ra thì hơn” chỉ là cách Chúa Giêsu lên án tội lỗi của Giuđa, chứ không phải là nguyền rủa người môn đệ này.
Mátthêu và Máccô bắt đầu Bữa tiệc ly bằng việc Chúa Giêsu nói về người môn đệ phản bội. Tuy nhiên, Luca lại chỉ tập trung vào việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Gioan thì cho rằng Bữa tiệc đó không có mặt Giuđa. Như vậy, theo mạch văn của Mátthêu, chúng ta không biết Giuđa có ở lại dùng bữa tối đến cuối không. Trong sự phân biệt này, Giáo hội sơ khởi giải thích cách hiểu của Gioan khi cho rằng Giuđa vắng mặt là: “Không nên rước Mình Thánh Chúa một cách bất xứng.” Về mặt thần học, rõ ràng Gioan cho thấy sự vắng mặt của Giuđa ngay từ đầu bữa tiệc, bởi sự phản bội bao giờ cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tình yêu liên vị.[6]
Tạ ơn và chúc tụng
Tuy Mátthêu không trình bày chi tiết nghi thức của bữa tiệc Vượt Qua, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu nhóm của Chúa Giêsu cũng quen với những nghi thức của bữa tiệc này. Chẳng hạn, câu 26 và 27 Mátthêu nhấn mạnh đến hai điểm nổi bật: việc bẻ bánh, như là cử chỉ đầu tiên và nâng chén rượu nho, như là cử chỉ sau cùng. Với việc bẻ bánh, Chúa Giêsu dâng lời chúc tụng (εὐλογήσας), với việc nâng chén rượu, Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn (εὐχαριστήσας).
Lời chúc tụng là nghi thức quen thuộc dành cho người gia trưởng, người trụ cột trong gia đình đọc cho mọi người nghe. Sau đó họ truyền chén rượu lần một và chia thịt cừu với rau đắng cho mọi người (nghi thức này gợi nhớ lại bữa ăn bên Ai Cập). Chén rượu thứ hai, người trẻ nhất sẽ hỏi về ý nghĩa của ngày lễ. Lúc này, vị gia trưởng kể về nguồn gốc và ý nghĩa của lễ Vượt Qua (הַגָּדָה –Haggadah). Sau đó, họ hát Thánh Vịnh trong lúc chia sẻ rượu cho nhau. Chén rượu thứ ba, vị gia trưởng dâng lời chúc tụng và chia sẻ bánh không men cho mọi người. Như vậy theo Mátthêu, lúc “Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng”, là thời điểm của tuần rượu thứ ba. Trong tuần rượu thứ tư (cuối cùng), họ hát phần thứ hai của Thánh Vịnh, tức Ha-lê-lui-a (Tv 113-118). Như vậy theo Mátthêu “hát thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra núi Ô-liu” (Mt 26,30) là lúc kết thúc Bữa tiệc ly.
Nhiều nhà chú giải cho rằng trong khi Chúa Giêsu nâng chén rượu và bẻ bánh, ngài đều dâng lời chúc tụng, tạ ơn[7]. Thực ra trong lời chúc tụng cũng nói lên tâm tình tạ ơn (εὐχαριστήσας), bởi ngôn ngữ Hy Lạp hai từ này có chung tiền tố: “εὐ-tốt lành”. Từ sự tốt lành này, những lễ vật dâng lên Thiên Chúa như là của lễ tạ ơn mà chính Chúa Giêsu đang cử hành trong bữa tiệc ly này. Cũng vì ý nghĩa tạ ơn này, nên từ thời Giáo hội sơ khai Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn (εὐχαριστία), vì đây chính là việc tạ ơn Thiên Chúa.[8]
Bánh và Mình Thánh Chúa Giêsu
Một trong những đồ ăn chính của bữa tiệc Vượt Qua là bánh không men. Không hẳn bánh này có thể cung cấp dồi dào chất dinh dưỡng, nhưng đúng hơn, bánh không men gợi nhớ đến biến cố Thiên Chúa giải thoát dân khỏi Ai Cập. Do đó trong bất cứ gia đình Do Thái nào, tiệc Vượt Qua phải có bánh không men, mà nhóm của Chúa Giêsu cũng theo truyền thống của người Do Thái. Tuy nhiên, lúc này thay vì Chúa Giêsu trao bánh cho các môn đệ thì ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra. Liền sau đó, Chúa Giêsu nhìn nhận bánh này không còn là bánh nhưng còn là chính thịt, mình của Ngài. Bản văn gốc tiếng Hipri dùng chữ bāśār (thịt), tuy nhiên bản dịch Hy Lạp thay vì dịch là σάρκα (thịt, x. Ga 6,54-56) lại dùng chữ sôma (mình, thân thể-σῶμά) trong câu tuyên bố của Chúa Giêsu: “Đây là mình Thầy–τοῦτό ἐστιν τὸ σῶμά μου”. Các nhà chú giải cho rằng “thân thể” cũng có nghĩa là “thịt”, tức là toàn thể cuộc đời, sự sống của Chúa Giêsu.
Nếu ngày xưa dân ăn bánh không men trước đêm Vượt Qua, thì hôm nay, chính Chúa Giêsu trao mình Ngài cho các môn đệ. Thánh Luca diễn tả việc hiến tế này của Chúa Giêsu: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em.” (Lc 22,19). Nếu như ngày xưa dân giết con chiên để ăn lễ Vượt Qua, thì hôm nay chính Chúa Giêsu hóa nên thịt để nuôi sống các môn đệ. “Anh em hãy cầm lấy mà ăn” không chỉ như là sự chia sẻ sự sống của Chúa Giêsu với các môn đệ, nhưng trong ngôn ngữ Kinh Thánh, việc “cầm lấy mà ăn” còn thể hiện sự linh thiêng, thần linh vốn được sách Khải Huyền diễn tả: “Tôi đến gặp thiên thần và xin người cho tôi cuốn sách nhỏ. Người bảo tôi: Cầm lấy mà nuốt đi! Nó sẽ làm cho bụng dạ ông phải cay đắng, nhưng trong miệng ông, nó sẽ ngọt ngào như mật ong.” (Kh 10,9).
Chén rượu và Máu Thánh Chúa Giêsu
Rượu là thức uống không thể thiếu trong các bữa tiệc. Nhất là bữa Vượt Qua, rượu như là biểu tượng của máu con chiên bôi trên cửa trong biến cố Vượt Qua. Hôm nay, chính Chúa Giêsu cũng dùng rượu như là thức uống để biến hóa thành máu của chính mình. Chúa Giêsu cầm lấy chén rượu và nói: “Đây là máu thầy, máu giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26,28). Ở đây Mátthêu dùng lối diễn tả “bao trùm”, nghĩa là “tất cả anh em hãy cầm lấy mà uống” và “muôn người-πολλῶν được tha tội”. Lối diễn tả này cho thấy rượu mà Chúa Giêsu đang dâng lên chính là máu của Ngài sẽ đổ ra, nhất là trên cây thập giá (Ga 19,34). Nhờ cái chết và sự phục sinh này mà muôn người sẽ được cứu độ.[9]
Ở đây, Mátthêu cho thêm thuộc tính vào danh từ “máu-αἷμά”, đó là “máu giao ước-διαθήκης”. Thánh Luca viết rõ hơn: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22,20). Hoặc “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới.” (1Cr 11,25). Tuy nhiên, Mátthêu dường như nhấn mạnh đến tính chất tha tội của giao ước mà tiên tri Giêrêmia và Êdêkien đã nhắc đến trong Cựu Ước[10], vốn giao ước gắn liền với ơn tha tội, hơn là tính từ “mới-καινὴ”. Dẫu sao ở đây Máu Chúa Giêsu cũng gợi nhớ đến giao ước cũ vốn được Đức Chúa ký ước với dân ở núi Sinai (Xh 24,3-8); hôm nay, Ngài thiết lập giao ước mới, bí tích Thánh Thể vốn dành tặng cho muôn người.
Như vậy, bánh và rượu với lời tạ ơn chúc tụng của Chúa Giêsu, đã trở nên thịt và máu của Ngài[11]. Các nhà chú giải, cũng như truyền thống Giáo hội đều cho rằng hành động này nói lên việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể[12]. Trong Thánh Lễ đầu tiên này, Chúa Giêsu là linh mục tiên khởi, là thượng tế tối cao, đã trao hiến trọn vẹn con người mình cho các môn đệ đang dùng bữa tối với Ngài. Hơn nữa, Tin Mừng nhất lãm còn cho thấy cuối Bữa tiệc ly, ngoài lời trăn trối (thầy không còn uống sản phẩm này), Chúa Giêsu còn nhắc đến một Thánh Lễ, một Tiệc Thánh Thể ở Nước Trời (Lc 22,18; Mt 26,29). Theo đó, truyền thống Giáo hội cũng cho rằng “bữa ăn này cũng nói lên sự tiền dự vào Bữa Tiệc Cưới Con Chiên tại Giêrusalem trên trời.” (GLGTCG 1329).
- Mình Máu Thánh Chúa Kitô! Amen
Sau khi chú giải về Bữa tiệc ly, David L. Turner nhận xét rằng: “Bí tích Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu không phải là việc tưởng nhớ một cách cứng nhắc, nhàm chán, hoặc là nguồn ân sủng tự động tuôn chảy đến mỗi người. Trên hết, khi đón nhận trong đức tin, Bí tích này củng cố, nâng đỡ và có sức năng động cho cộng đoàn tín hữu Chúa Kitô.”[13] Vì lý do này, ngay từ Giáo hội sơ khai, bí tích Thánh Thể luôn là trung tâm đời sống đức tin của các tín hữu. Ngoài việc thực hiện lại lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, các tín hữu còn cử hành lễ bẻ bánh này như là bữa tiệc của tình yêu[14].
Do đó, đặc biệt ngày thứ Năm Tuần Thánh, Giáo hội không chỉ cử hành Thánh lễ Truyền Dầu, nhớ lại bí tích Truyền Chức Thánh, mà còn cử hành lại Bữa tiệc ly. Nơi đó, bốn tác giả Tin Mừng đều cho thấy chính Chúa Giêsu đã, đang và sẽ trở nên Mình và Máu để nuôi dưỡng những ai đón nhận Ngài. Hoặc như Thánh Gioan Vianney nhắn nhủ rằng: “Không rước lễ thì giống như chết khát bên dòng suối.” (Youcat 211). Hình ảnh thật đẹp biết bao khi dòng người lên đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong mỗi thánh lễ!
Với Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo hội còn gọi Thánh Lễ là bữa tiệc vui mừng. Đây là bữa tiệc của Chúa Giêsu với mỗi người tham dự. Nơi đó, Chúa Giêsu tiếp tục hiến tế chính mình Ngài trên bàn thờ. Ngoài việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ, Giáo hội còn cho thấy đây là phụng vụ thần linh, mầu nhiệm thánh. Nghĩa là việc cử hành Thánh Thể là thời gian hân hoan giữa Hội thánh trên trời và dưới đất. Đây là bí tích cực thánh vì trong bánh và rượu có sự hiện diện của chính Chúa Giêsu.
Ước gì trong khi tìm hiểu về Bữa tiệc ly cũng là dịp để mỗi người trân quý món quà này của Chúa Giêsu. Đây là điều sống còn dành cho các tín hữu; bởi trên đường dương thế, chúng ta sẽ chẳng đủ sức nếu không đón nhận của ăn thần linh này. Lời Chúa Giêsu hằng đảm bảo cho mỗi người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” (Ga 6,54).
Khi linh mục nói: Mình Máu Thánh Chúa Kitô, người rước lễ thưa: Amen. “Ἀμὴν-Amen” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là: “Đúng như thế, thật vậy” (Mt 26,21). Đây là một lời tuyên bố xác nhận điều gì đó. Trong Cựu Ước, Amen còn mang nghĩa: “mong được như thế”, để làm cho mong ước hoạt động của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn, hoặc để liên kết với lời ca tụng Thiên Chúa. Amen còn biểu lộ sự đồng tình với một lời nói (x. Gr 28,6), hoặc chấp nhận một sứ mạng (Gr 11,5). Trong Tân Ước, Amen được dùng để tăng cường cho kết luận của lời cầu nguyện. Chính Chúa Giêsu cũng là Amen của Thiên Chúa Cha, vì Ngài thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa. (2Cr 1,19–20).
Với những ý nghĩa trên, chúng ta thấy lời tuyên xưng Amen khi đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô thật đẹp biết bao. Khi đó, người rước lễ cùng với thừa tác viên cho rước lễ xác tín mình đón nhận cả “con người” Chúa Giêsu.[15] Về mặt vật lý, dù họ chỉ nhận một tấm bánh, một chút rượu, nhưng về mặt bí tích, họ xác tín mình đang rước trọn vẹn Chúa Giêsu vào tâm hồn. Khi đó, họ được nên một cùng với Ngài (x. Ga 6,56). Hoặc nói như thánh Phanxicô Salêsiô: “Trong Thánh Thể, ta nên một với Thiên Chúa, như lương thực nên một với thân xác.” (YouCat 211).
Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã trao ban Mình Máu Ngài cho con nơi Bí Tích Thánh Thể, trong Bữa Tiệc Ly. Đó là nguồn mạch sự sống dành cho mỗi người chúng con. Ngài đã trở nên của ăn thần linh nuôi sống con trên cuộc đời dương thế. Con mời Chúa vào tâm hồn con lúc này. Nhờ đó, Mình Máu Thánh Chúa thánh hóa cuộc đời con nên nhân chứng giữa đời. Amen.
[1] Ortensio da Spinetoli, Máté-Az egyház evangéliuma, Agapé, Szeged, 1998, 707.
[2] Về khoảng cách thì phòng tiệc ly gần với nhà Cai-Pha làm thượng tế năm đó. Đấy cũng là nơi Thượng Hội Đồng đang tìm bắt Chúa Giêsu. (Mt 26, 57). Lính tráng sẵn sàng võ trang để truy tìm Thầy lúc này. Bởi đó Thầy trò Giêsu cần bí mật bởi chốn này là “tai vách mạch dừng”.
[3] Mt 26,18; Mc 14,13; Lc 22,10.
[4] Stuhlmacher, Peter: Az Újszövetség bibliai teológiája 1. Alapvetés. Jézustól Pálig (ford. Koczó Pál), Kálvin Kiadó, Budapest, 2017, 138.
[5] Frank E. Gaebelein (editor), Expositors Bible Commentary, Volume 8, Regency, 1984, 531.
[6] Dr Jakubinyi György, Máté Evangélium, Szent István Társulat, Budapest, 1991, 290.
[7] Dr Jakubinyi György,Máté Evangélium, Szent István Társulat, Budapest, 1991, 293.
[8] “Tân Ước dùng các từ Hy Lạp eucharistein (x. Lc 22,19; 1Cr 11,24) và eulogein (x. Mt 26,26; Mc 14,22), gợi nhớ lại việc người Do Thái, đặc biệt trong bữa ăn, ca ngợi Thiên Chúa vì những kỳ công Người đã thực hiện: sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.” (GLHTCG số 1328).
[9] Frank E. Gaebelein (editor), Expositors Bible Commentary, Volume 8, Regency, 1984, 538.
[10] Gr 31,31-34; Ed 36,26-28.
[11] Mt 26,26-28; Mc 14,22-24; Lc 22,19; 1 Cr 11,23-25.
[12] GLHTCG 1323.
[13] Robert W. Yarbrough and Robert H. Stein (editors), Baker Exegetical Commentary on the New Testament, Baker Academic, 2008, 626.
[14] X. Cv 2,42; 20:7–12; 1Cr 11,20–22; 2Pr 2,13.
[15] Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận nhắn với các linh mục rằng: “Mỗi khi trao Chúa Giêsu Thánh Thể cho giáo dân, con hãy ý thức trao cả đời con, thời giờ của con, sức khỏe, tài năng, tiền của, nghĩa là máu thịt con cùng với Mình Máu Thánh Chúa làm của nuôi mọi người và mỗi người không phân biệt ai.” (Đường Hy Vọng 376.) Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Thứ Năm Tuần Thánh 2022
