2022
Tại sao ngày 29 tháng 6 là ngày lễ buộc đối với một số người Công giáo?
Tại sao ngày 29 tháng 6 là ngày lễ buộc đối với một số người Công giáo?
Ở Anh, Scotland và xứ Wales, Lễ trọng mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô là một ngày lễ buộc, trong khi đây không phải là một ngày lễ buộc ở Hoa Kỳ.
Trong Giáo Hội Công Giáo Rôma, ngày 29 tháng 6 được cử hành như một ngày Lễ trọng mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô và đã là một phần của niên lịch phụng vụ từ thế kỷ III hoặc IV. Ngày này được xem như một ngày lễ nền tảng của Giáo Hội, vì ngày này làm nổi bật hai trong số những trụ cột của Giáo Hội sơ khai, là Thánh Phêrô Tông đồ và Thánh Phaolô Tông đồ.
Trong nhiều thế kỷ, ngày lễ này được coi là một ngày lễ buộc và cho nay vẫn còn là như thế ở nhiều nơi trên thế giới, chẳng hạn như ở Anh, Scotland và xứ Wales.
Bộ Giáo Luật 1983 liệt kê ngày này là ngày lễ buộc.
Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa Nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Giáo Hội toàn cầu. Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và sau cùng là lễ các thánh.
(Điều 1246 §1)
Thế nhưng, Điều 1246 §2 còn thêm rằng , “Tuy nhiên, với sự phê chuẩn trước của Tòa Thánh, Hội đồng Giám mục có thể hủy bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày Chúa Nhật.”
Đây là điều mà nhiều giám mục trên thế giới đã làm trong vài thế kỷ qua, kể cả Hoa Kỳ.
Một trong những lý do cho sự huỷ bỏ này là vì ngày 29 tháng 6 vốn không được chú trọng như là ngày nghỉ lễ ở Hoa Kỳ, và có thể tạo ra nhiều vấn đề với việc tham dự Thánh lễ vào ngày đó.
Hơn nữa, cũng không tồn tại một lòng sùng kính phổ biến mạnh mẽ đối với những vị thánh này ở Hoa Kỳ khi so sánh với những nơi khác như ở Rôma, Ý (nơi ngày 29 tháng 6 là ngày nghỉ lễ của thành phố), hay thậm chí như ở Anh.
Với sự khôn ngoan của mình, Giáo Hội đã ủy thác lại việc quyết định các ngày lễ buộc cho các giám mục địa phương, vì tin tưởng rằng các ngài vốn am hiểu các tín hữu của mình hơn và có thể đưa ra những quyết định thích hợp trong niên lịch địa phương.
Tác giả: Philip Kosloski – Nguồn: Aleteia (29/6/2022)
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2022
Bạn nên cúi đầu hay ngước nhìn lúc nâng cao Mình và Máu Thánh Chúa trong Thánh lễ?
Bạn nên cúi đầu hay ngước nhìn lúc nâng cao Mình và Máu Thánh Chúa trong Thánh lễ?
Dù bạn có làm gì đi chăng nữa, hãy cân nhắc thi hành với lòng cung kính khi Chúa Giêsu hiện diện nơi bánh và rượu đã được truyền phép.
Trong một Thánh lễ theo Nghi thức Công giáo Rôma, việc truyền phép bánh và rượu được ghi dấu cách đặc biệt bằng việc nâng cao bánh thánh và chén thánh, thường đi kèm với tiếng chuông.
Ngoài ra, thường có một khoảng thời gian thinh lặng ngắn, khi linh mục không còn nói bất kỳ lời nào và chỉ đơn giản là nâng bánh thánh hoặc chén thánh lên cho mọi người xem thấy. Sau mỗi lần nâng cao như thế, linh mục sẽ bái gối.
Bạn nên cúi đầu hay ngước nhìn lúc nâng cao Mình và Máu Thánh Chúa trong Thánh lễ?
Kể từ khi việc nâng cao bánh thánh và chén thánh được đưa vào Thánh lễ từ thế kỷ XIII, một trong những cách thức đáp lại phổ biến nhất của mọi người là cúi đầu với lòng cung kính. Đó là một hành động để chân nhận sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, để nhìn nhận sự ngự đến của vị Vua các vua.
Vào thế kỷ XVI, cử chỉ này đã được các công đồng khác nhau quy định và trở thành một cách thức đáp lại cách chuẩn mực.
Tuy nhiên, Thánh Piô X đã gợi ý một cách thức đáp lại khác khi khuyến khích các tín hữu ngước nhìn và tôn thờ Mình và Máu Thánh Chúa.
Thánh Piô X đã ấn định một ân xá cho bất cứ ai nói: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con… với đức tin, lòng đạo đức và lòng mến, khi nhìn ngắm Mình và Máu Thánh Chúa lúc được nâng cao trong Thánh lễ, hay khi đặt Mình Thánh Chúa để chầu trên bàn thờ.” Nhiều người Công giáo đọc thầm lời nguyện này trong khi nhìn chăm chú vào bánh thánh đang được nâng cao, và đọc thầm câu “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con” khi chén thánh được nâng cao. Chúng ta có thể cúi đầu khi linh mục bái gối sau mỗi lần nâng cao Mình và Máu Thánh Chúa.
Cả hai cử chỉ đều có thể được thực hiện với đức tin và có thể dẫn đến việc gia tăng tình yêu dành cho Thiên Chúa.
Không có cử chỉ nào là “đúng”, vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào đức tin của mỗi cá nhân và vào cử chỉ nào thể hiện tốt nhất mối tương quan của họ đối với Thiên Chúa.
Dù bạn có làm gì đi chăng nữa, hãy cân nhắc thi hành với lòng cung kính khi Chúa Giêsu hiện diện nơi bánh và rượu đã được truyền phép.
Tác giả: Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2022
Nến bàn thờ và các loại nến khác trong phụng vụ
Gần đây, đã có những thực hành nhầm lẫn như: (1) đốt 2 cây nến để bên cây thánh giá nhưng không thắp nến bàn thờ; (2) đốt nến phục sinh và chỉ một cây nến phục sinh trên cung thánh suốt năm phụng vụ mà không sử dụng nến nào khác; (3) vào Mùa Vọng, khi sử dụng vòng hoa với 4 cây nến thì cũng không thấy thắp nến bàn thờ nữa. Như vậy, nến bàn thờ đã bị thay thế bằng nến phục sinh/nến thánh giá hoặc bằng nến vòng hoa Mùa Vọng. Lý do của thực hành nhầm lẫn này là không phân biệt chức năng của nến bàn thờ với chức năng của những loại nến khác. Chúng ta cần tìm hiểu hướng dẫn của Hội Thánh để sửa lại những nhầm lẫn đó.
- HƯỚNG DẪN CỦA HỘI THÁNH
Đây là những điểm hướng dẫn liên quan đến nến bàn thờ trong văn kiện của Giáo Hội:[1]
– Nến bàn thờ là cần thiết mỗi khi cử hành phụng vụ để tỏ lòng cung kính và mừng lễ;
– Vị trí của nến bàn thờ là được đặt trên bàn thờ hay chung quanh/gần bàn thờ, tùy theo cấu trúc của bàn thờ và cung thánh, miễn sao cho có sự hoà hợp chung và không cản trở giáo dân nhìn thấy cách dễ dàng những hành động phụng vụ đang diễn ra.[2]
– Số lượng của nến bàn thờ trong Thánh lễ có thể là 2, 4 hoặc 6 cây. Việc thay đổi số lượng nến bàn thờ là nhằm phân biệt ngày lễ và mức độ long trọng của cử hành. Tập tục tốt lành đã phát triển ở một vài nơi và được quy định trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma là sử dụng 2 nến bàn thờ cho lễ thường và lễ nhớ, 4 cho lễ kính và 6 nến cho lễ Chúa nhật cùng lễ trọng hay khi đặt Mình Thánh để chầu. Vào những dịp long trọng và trong thánh lễ do Đức Giám Mục giáo phận cử hành, thì phải đặt bảy chân đèn, có thắp nến.
- SỬA LẠI NHỮNG THỰC HÀNH NHẦM LẪN
- Thứ nhất, đặt 2 cây nến bên cây thánh giá trong khi không có nến đặt ở trên hay chung quanh bàn thờ.
Thật ra, có thể tùy nghi đặt hay không đặt nến ở hai bên thánh giá. Sau cuộc rước nhập lễ, nếu thánh giá trong đoàn rước được đặt tại cung thánh [ở trên hay gần bàn thờ] như một cây thánh giá duy nhất trong nhà thờ, thì rất nên để kèm theo hai cây nến vừa đi rước ở hai bên thánh giá. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng hai cây nến này không thể thay thế cho nến bàn thờ vốn có thể lên tới 6 hay 7 cây trong những dịp cử hành long trọng hay khi Đức Giám mục giáo phận chủ tế. Hơn nữa, không phải lúc nào thánh giá cũng được xếp đặt ở trên mặt đất hay ở trên bàn thờ để có thể dễ dàng đốt nến hai bên.[3] Trong trường hợp vị trí của thánh giá được treo giữa không trung phía trên bàn thờ hay được gắn trên cao sát vào bức tường phía sau cung thánh thì việc đốt nến hai bên thánh giá hàng ngày là công việc rất khó khăn và bất tiện nếu không muốn nói là bất khả thi. Chính vì thế, Giáo Hội chỉ trù liệu đốt nến bàn thờ và cho bàn thờ chứ không cho đối tượng thánh giá vì những dấu chỉ xinh đẹp của ánh sáng thánh thiêng phải được tỏ cho mọi người thấy mối liên quan của chúng với bàn thờ nhằm lôi kéo mọi cặp mắt hướng về bàn thờ: điểm tập trung của cộng đoàn phụng tự.
- Thứ hai, dùng nến phục sinh quanh năm thay cho nến bàn thờ.
Nến phục sinh không thể thay thế cho nến bàn thờ vì từ thế kỷ X cũng như theo các tài liệu phụng vụ gần đây, nến phục sinh thường được đặt để tại một nơi vinh dự gần sách Phúc Âm hay gần giảng đài trong Mùa Phục Sinh, từ lễ Vọng Phục sinh cho đến lễ Thăng thiên (nay là cho đến lễ Hiện xuống) như thực hành đã có từ thế kỷ X. Trong suốt Mùa Phục Sinh, cây nến phục sinh tiếp tục được thắp sáng ở vị trí này hay một vị trí thích hợp trong cung thánh, chẳng hạn như gần bàn thờ, ngọn lửa cháy bừng biểu tượng cho tâm hồn Đức Kitô, kết hợp với thân thể của Người trong vinh quang Chúa Cha. Theo “Decreta Authentica” của Bộ Nghi lễ, nến phục sinh không nên chỉ đốt cho việc đặt Mình Thánh chầu (Decree 3479,3). Tuy nhiên, có thể đốt nên nếu trong buổi chầu Thánh Thể đó có cử hành Giờ kinh Phụng vụ hay có ban phép lành lập tức sau Giờ kinh Phụng vụ (Decree 4686,1-2).
Còn ngoài Mùa Phục Sinh, nến phục sinh không được thắp thường xuyên nữa, mà chỉ được đốt lên mỗi khi cử hành nghi thức an táng hay thánh tẩy. Ý nghĩa của thực hành này là ánh sáng phục sinh sẽ không bao giờ lịm tắt trong lòng những anh chị em đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Ngọn nến thắp sáng vừa là dấu chỉ của niềm vui, của sự hiện diện linh thánh, lại vừa là biểu tượng của lời cầu nguyện dâng lên – hay phải dâng lên – Thiên Chúa. Ngoài Mùa Phục Sinh, chỗ thích hợp nhất để nến phục sinh là bên ngoài cung thánh, gần giếng rửa tội hay gần quan tài.
Những gì vừa trình bày phù hợp với hướng dẫn trong Thư Luân Lưu của Bộ Phụng tự và Bí tích “Paschalis Solemnitatis” như sau:
Nến phục sinh đặt một nơi thích hợp, hoặc gần giảng đài hoặc gần bàn thờ, và phải thắp sáng trong tất cả các giờ cử hành phụng vụ trọng thể hơn của mùa này, tức là thánh lễ, giờ Kinh Sáng và giờ Kinh Chiều, cho đến hết Chúa Nhật Hiện Xuống. Sau Mùa Phục Sinh, nến phục sinh đặt ở vị trí trang trọng trong khu vực cử hành bí tích Thánh Tẩy, để mỗi khi cử hành bí tích Thánh Tẩy, thì đốt lên và châm nến cho người lãnh bí tích. Trong nghi thức an táng thì nến phục sinh được đặt ở gần quan tài để nói lên rằng cái chết của người tín hữu là một cuộc Vượt Qua đích thực. Ngoài Mùa Phục Sinh, không được đặt và đốt nến phục sinh trên cung thánh (số 99).
- Thứ ba, dùng nến hồng và tím Mùa Vọng thay cho nến bàn thờ.
Đành rằng có thể chưng vòng hoa Mùa Vọng ở trong hay gần cung thánh với 4 cây nến ở giữa vòng hoa này tương ứng với 4 tuần của Mùa Vọng (3 nến tím và 1 nến hồng). Tuy nhiên, nên nhớ rằng việc sử dụng chúng là do tập tục, chỉ là tùy phụ và nhiệm ý, chúng không phải là nến bàn thờ cũng như không thể thay thế cho nến bàn thờ.
III. KẾT LUẬN THỰC HÀNH
1) Mọi cử hành phụng vụ đều cần thắp nến bàn thờ và không một loại nến nào có thể thay thế cho nến bàn thờ.
2) Loại bỏ thực hành đốt một cây nến phục sinh suốt năm phụng vụ thay cho nến bàn thờ.
3) Có thể sử dụng thêm nến cho vòng hoa Mùa Vọng hay cho cây thánh giá, nhưng vẫn phải đốt nến bàn thờ.
[1] Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, các số 117, 307.
[2] United States Conference of Catholic Bishops’ Committee on the Liturgy, Introduction to the Order of Mass: A Pastoral Resource of the Bishops’ Committee on the Liturgy (Washington, DC: USCCB, 2003), no. 52.
[3] Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 308.
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
2022
Giáo Hội được sinh ra khi nào?
Giáo Hội được sinh ra khi nào?
Chúng ta vẫn thường quen gọi Lễ Hiện Xuống là “sinh nhật của Giáo Hội”, nhưng thực ra, kiểu nói này là một phong tục đạo đức hơn là một giáo huấn hoặc một công bố chính thức. Vậy thì đâu là cách diễn tả đúng thực khi nói về sinh nhật của Giáo Hội?
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng:
Sự khởi đầu và tăng trưởng của Giáo Hội được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá. Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Giáo Hội. Như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Giáo Hội được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô chết trên thập giá. (số 766)
Theo một cách nào đó, hình ảnh của “sinh nhật” được sử dụng để diễn tả một tiến trình rằng: Giáo Hội được thai nghén trong “lòng mẹ” ở Galilê nơi sứ vụ công khai của Đức Kitô, được sinh ra nơi cái chết của Người trên đồi Canvê, và giờ đây, được sai đi từ phòng Tiệc ly, để bắt đầu thi hành sứ mệnh của mình đến tận cùng trái đất.
Hiểu như vậy, thì Giáo Hội không xuất hiện dưới hình dạng của một trẻ sơ sinh, vốn gắn liền với sự yếu đuối, nhỏ bé, cần được bao bọc, che chở, nuôi dưỡng để lớn lên. Vì, Giáo Hội trong ngày Lễ Hiện Xuống là một Giáo Hội đã được hình thành, thanh luyện, dạy dỗ, trang bị và trao quyền, và nhất là, được khoác lên mình sức mạnh từ trên cao để bắt đầu một sứ mệnh. Nói cách khác, Giáo Hội vào ngày Lễ Ngũ Tuần là một Giáo Hội đã trưởng thành.
Hơn nữa, cách hiểu này rất gần gũi với hình ảnh của Evà bước ra từ cạnh sườn của Ađam: Evà xuất hiện như một người trưởng thành chứ không phải một trẻ sơ sinh. Vẫn biết rằng ngôn ngữ và hình ảnh bao giờ cũng bao hàm những giới hạn nhất định, và dù không phải là cách diễn tả phổ biến và thông thường nhưng khi nói “sinh nhật của Giáo Hội” nên được hiểu theo cách này.
Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, những ngọn lửa Thánh Thần đã đổ xuống Giáo Hội, để rồi, các môn đệ của Chúa Kitô, vốn là những người sợ hãi, nhát đảm, bối rối đã mạnh dạn mở tung cánh cửa bước ra ngoài với sự tự tin, khôn ngoan, niềm vui thánh thiện, và tràn đầy ân sủng để lên đường, cất tiếng rao giảng, và làm chứng cho Tin Mừng cho đến tận thế.
Phải chăng, đây mới là hình ảnh đúng thực để diễn tả về việc Giáo Hội được “sinh ra” trong ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống?
Tác giả: Đức Ông Charles E. Pope – Nguồn: simplycatholic.com
Chuyển ngữ: Nt. Anna Ngọc Diệp, OP – Dòng Đa Minh Thánh Tâm
