2022
Kinh Ngợi khen Magnificat
Kinh Ngợi khen Magnificat
Một linh mục minh triết người Úc đã chia sẻ câu chuyện này trong một lớp học. Trong đời tôi, có những ngày mà mọi thứ, từ áp lực công việc, mệt mỏi, chán nản, lơ đãng, đờ đẫn làm cho tôi khó cầu nguyện. Nhưng dù thế nào đi nữa, mỗi ngày, tôi luôn cố tập trung, sốt sắng đọc ít nhất một kinh Lạy Cha.
Trong các sách Phúc âm, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta kinh Lạy Cha. Đây là lời cầu nguyện quý báu nhất của người tín hữu kitô. Tuy nhiên, các Phúc âm còn để lại cho chúng ta một kinh cũng quý báu, một kinh ít được biết đến hay ít được đọc nhiều như kinh Lạy Cha. Đó là lời cầu nguyện của Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, kinh Magnificat. Theo tôi, sau kinh Lạy Cha, đây là kinh quý báu chúng ta có.
Phúc âm thánh Luca ghi lại: Đang mang thai Chúa Giêsu, Đức Mẹ đi thăm người chị họ là bà Elizabeth cũng đang mang thai Gioan Tẩy giả. Theo truyền thống kitô giáo, đây là câu chuyện “đi viếng”, và những gì toát ra từ hai phụ nữ này vượt quá những gì bề ngoài. Đây không chỉ là vui mừng bình thường của những phụ nữ mang thai. Được viết ra 80 năm sau khi sự kiện này xảy ra, kể chuyến đi viếng như một phản ảnh hậu phục sinh về tầm quan trọng biến đổi thế giới của hai người con mà hai phụ nữ này đang mang trong dạ. Cũng thế, những lời họ nói với nhau nói lên hiện thực hậu phục sinh. Và trong bối cảnh này, các Phúc âm đã để Đức Mẹ xướng lên lời kinh Magnificat. Và lời kinh đó là gì?
Là lời tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa vì đã ở bên người nghèo, người khiêm hạ, người thiếu đói, người bị áp bức trên đời, đã nâng họ lên và cho họ chiến thắng, còn những người quyền thế thì bị truất xuống và bị hạ nhục. Tuy nhiên, lời kinh của Đức Mẹ đều dùng thì quá khứ, như thể đó là một việc đã làm rồi, một hiện thực đã có trên thế gian này.
Như nhân vật hoạt hình Ziggy từng nhắc đến Chúa trong lời cầu nguyện, “Người nghèo vẫn đang bị hành hạ ở đây!” Và nhìn chung là như thế. Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta thấy khoảng cách giữa giàu nghèo đang lớn rộng, hàng trăm triệu người đi ngủ bụng đói mỗi đêm, tham nhũng và tội ác diễn ra khắp nơi, người quyền thế dường như muốn gì được đó, chẳng hề bị gì. Chúng ta có gần trăm triệu người tị nạn chờ chực ở các biên giới, những phụ nữ và trẻ em vẫn đang là nạn nhân của bạo lực đủ loại khắp nơi. Tệ hơn nữa, mọi chuyện dường như ngày càng đi xuống chứ không đi lên. Vậy thì chuyện Chúa hạ những ai quyền thế và nâng cao người yếu thế, ban của cải đầy dư cho người nghèo và đuổi người giàu có về tay không, những chuyện đó chúng ta thấy ở đâu?
Chúng ta thấy nó trong sự phục sinh của Chúa Giêsu và viễn cảnh hy vọng chúng ta có được từ thực tế đó. Điều mà Đức Mẹ khẳng định trong kinh Magnificat là một sự thật thâm sâu, rằng chỉ có đức tin và đức cậy chúng ta mới có thể hiểu được rằng, dù hiện tại bất công, tham nhũng và bóc lột người nghèo dường như đang thống trị, nhưng sẽ có một ngày tận thế khi khối đá áp bức đó lăn khỏi mồ và người quyền thế sẽ bị lật đổ. Kinh Magnificat là lời kinh tối cùng của đức cậy, và là lời kinh tối cùng cho người nghèo.
Có lẽ do tuổi tác của tôi, có lẽ do tôi nản lòng khi mỗi đêm xem tin tức, hoặc có thể là do cả hai, nhưng khi thêm tuổi, (ngoài phép Thánh Thể), tôi càng thấy quý trọng hai lời kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat. Như cha giáo dòng Thánh Âugutinô của tôi, bây giờ tôi đảm bảo, không một ngày nào tôi để áp lực, mệt mỏi, xao lãng hay lười biếng ngăn tôi chú tâm đọc hai kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat.
Nhưng không phải khi nào cũng được như vậy. Trong nhiều năm, tôi thấy trong kinh Magnificat lòng tôn kính Đức Mẹ, mọi lời khẩn cầu và chúc tụng Đức Mẹ gom lại trong đó. Chuyện này không có gì sai vì Đức Mẹ là người mà hàng triệu triệu người, không phải chỉ người nghèo, hướng về khi cùng quẫn để được dẫn dắt, an ủi và cảm thông của một người mẹ. Không mấy người phê bình sự tốt đẹp của điều này, vì nó tạo nên một thuyết thần nghiệm về người nghèo và sự nghèo khó trong lòng.
Tuy nhiên, kinh Magnificat không hẳn là để tôn vinh cá nhân Đức Mẹ cho bằng để tôn vinh người nghèo. Trong kinh này, Đức Mẹ nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực và đàn áp người nghèo. Linh mục Henri Nouwen từng viết, xem tin tức buổi tối và thấy đau khổ trên thế giới có thể làm chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực. Nản lòng vì sự bất công chúng ta thấy, bất lực vì gần như chúng ta chẳng làm được gì.
Chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể đọc kinh Magnificat mỗi ngày để nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực của người nghèo.
J.B. Thái Hòa dịch
2022
Hai loại cây mang tên các nhân vật trong Kinh Thánh
Hai loại cây mang tên các nhân vật trong Kinh Thánh
Cây Joshua và Judas là hai loại cây có nguồn gốc tên gọi từ trong Kinh Thánh.
Cây Joshua
Nhiều người vốn quen thuộc với yucca brevifolia, cây Joshua nổi tiếng, mọc ở vùng tây nam khô cằn của Hoa Kỳ và ở tây bắc Mêxicô. Truyền thuyết kể rằng khi những người nhập cư Mormon băng qua sông Colorado vào giữa thế kỷ XIX, họ đã đặt tên cho cây này theo tên của nhân vật trong Kinh Thánh là Joshua (Giôsuê). Cành cây gợi cho họ nhớ đến cánh tay của Giôsuê đang dang ra trong tư thế khẩn cầu, nhằm xin mặt trời đứng yên để ông có thể hoàn thành nhiệm vụ quân sự của mình:
“Bấy giờ, trong ngày Chúa trao người E-mô-ri cho dân Ít-ra-en, ông Giôsuê thưa chuyện với Chúa; trước mặt Ít-ra-en, ông nói: ‘Này mặt trời, hãy dừng lại trên thành Ghíp-ôn, và mặt trăng, trên thung lũng Ai-gia-lôn!’ Mặt trời liền dừng lại, mặt trăng lập tức đứng lại, cho đến khi dân đã báo thù quân địch.” (Gs 10,12-13)
Những người khác cho rằng các cành cây không giống như những cánh tay đang dang rộngnhư thể đang cầu nguyện. Những chiếc lá sắc nhọn của cây gợi cho những người nhập cư này nhớ đến thanh gươm của Giôsuê:
“Khi ấy, Chúa phán cùng ông Giôsuê rằng: ‘Hãy giơ thanh gươm cầm trong tay ra về phía thành Ai; vì ta sẽ giao nó vào tay ngươi.’ Và Ông Giôsuê giơ thanh gươm lao đang cầm trong tay về phía thành. Ông vừa giơ tay lên thì quân mai phục đã nhanh chóng rời khỏi chỗ của mình và lao về phía trước. Họ chạy vào và chiếm thành rồi vội vàng phóng hoả đốt thành.” (Gs 8, 18-19)
Cây Judas
Cercis siliquastrum, thường được gọi là cây Judas (Giuđa), lại có một câu chuyện khác. Mặc dù được đặt theo tên một nhân vật trong Kinh Thánh là Judas Iscariot (Giuđa Iscariốt), nhưng nguồn gốc tên gọi của cây Judas có phần ít chặt chẽ hơn trong Kinh Thánh – và mang tính chất tưởng tượng nhiều hơn.
Cây Judas khá nhỏ tương đối phổ biến ở Nam Âu, Trung Đông và Tây Á, và loại cây này được chú ý vì có nhiều hoa màu hồng đậm vào mùa xuân. Trên thực tế, đây là loại cây đầu tiên nở hoa sau khi mùa đông kết thúc ở Andalucía, Tây Ban Nha. Bản thân hoa này có thể ăn được, có vị chua ngọt. Chúng thậm chí còn được sử dụng để thêm hương vị và màu sắc cho món salad và nước xốt cay.
Một số truyền thống Kitô giáo cho rằng Giuđa đã treo cổ tự tử từ một trong những cái cây này, khiến những bông hoa (được cho là) màu trắng ban đầu của nó đã chuyển sang màu đỏ. Người ta thường tin rằng bản thân những truyền thống này là sản phẩm của một nguồn gốc có phần sai lạc từ tên gọi tiếng Pháp thông thường được đặt cho cây này là “Arbre de Judée”, dịch theo nghĩa đen là “cây của vùng Judea (Giuđêa)” – chứ không phải “của Judas”.
Cây Judas – Shutterstock
Các truyền thống khác cho rằng vì một số hoa và vỏ hạt của cây treo lủng lẳng trực tiếp trên thân cây, chúng gợi nhớ đến vụ tự tử của Giuđa.
Một lời giải thích khác dựa trên ý tưởng sai lầm rằng cái cây đã giết chết những con ong bị loại cây này thu hút, như thể nó đã “phản bội” chúng. Màu sắc sáng và đậm tư những bông hoa của cây sẽ làm mồi nhử những con ong, để rồi chúng sẽ bị đầu độc – được cho là – bởi một loại thuốc phiện ngay khi chúng cố gắng thu thập phấn hoa. Niềm tin này dường như được sinh ra từ thực tế là hoa và vỏ cây đã được truyền thống của người Palestine sử dụng trong y học để chữa bệnh đau đầu và cảm cúm.
Tác giả Daniel Esparza
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2022
Ai trong Kinh Thánh đã được lên trời?
Ai trong Kinh Thánh đã được lên trời?
Kinh Thánh cho thấy rằng các ông Khanốc (Enoch), Êlia (Elijha) và có thể là Môsê (Moses) đã được Thiên Chúa đưa lên trời sau khi cuộc sống trần gian của các ngài kết thúc.
Mặc dù truyền thống nói rằng Đức Mẹ Maria đã được lên trời cả hồn lẫn xác, nhưng Kinh Thánh lại đề cập đến ba nhân vật khác có thể đã được Thiên Chúa đưa lên trời khi cuộc sống của các ngài đã hoàn thành nơi trần gian này.
Khanốc
Sách Sáng Thế thuật lại rằng ông Khanốc đã được Thiên Chúa “đem đi”.
“Khanốc đã đi với Thiên Chúa, và ông đã không còn nữa, vì Thiên Chúa đã đem ông đi.” (St 5,24)
Điều này có vẻ ngụ ý rằng ông Khanốc vốn không chết, mà bằng cách nào đó, ông đã được Thiên Chúa đem đi về mặt thể lý. Điều quan trọng cần lưu ý là cửa thiên đàng vào thời điểm đó vẫn chưa được mở ra, vì điều này cần đến hy tế của Chúa Giêsu Kitô trên thập giá.
Các học giả Kinh Thánh tranh luận về nơi chốn mà ông Khanốc đã được đem đi, nhưng điều được đề cập đến chỉ là cuộc đời trần thế của ông đã kết thúc và toàn bộ con người ông đã được Thiên Chúa đem đi.
Môsê
Ông Môsê rõ ràng đã chết theo sách Đệ Nhị Luật, nhưng thân xác của ông lại biến mất.
“Vì vậy, ông Môsê, tôi tớ của Chúa, đã qua đời tại đó, trong đất Mô-áp, như lời Chúa phán; ông được chôn cất trong một thung lũng thuộc vùng đất Mô-áp, đối diện với Bết Pơ-o; cho đến ngày nay không ai biết nơi đã chôn cất ông.” (Đnl 34,5-6)
Một số học giả dựa vào biến cố Chúa Giêsu biến hình để làm bằng chứng cho thấy ông Môsêđã được Thiên Chúa đem đi cả hồn lẫn xác.
Êlia
Rõ ràng hơn hết là trường hợp ngôn sứ Êlia đã được Thiên Chúa đem đi theo một cách hết sức ấn tượng.
“Khi các ông còn tiếp tục chuyện trò, thì một cỗ xe rực lửa và những con ngựa rực lửa chạy đến giữa hai người, và ông Êlia lên trời trong một cơn gió lốc.” (2V 2,11)
Tương tự như vậy, ông Êlia cũng xuất hiện lúc Chúa Giêsu biến hình và thêm vào bằng chứng ủng hộ rằng ông đã được Thiên Chúa đem đi vào lúc cuộc đời trần thế của mình kết thúc.
Mặc dù việc Đức Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác không được ghi nhận trong Kinh Thánh, nhưng việc người mẹ trần thế của Chúa Giêsu đã được kết hợp với Người trong mọi sự, được đưa lên trời để ở với Con của mình, là điều hợp lý.
Tác giả: Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2022
Một cái nhìn về chiêm niệm Kitô Giáo
Một cái nhìn về chiêm niệm Kitô Giáo
CẦU NGUYỆN LÀ GÌ?
Cầu nguyện, theo một truyền thống rất cổ xưa, là “sự nâng cao của tinh thần – theo nghĩa tâm trí – và của trái tim hướng về Thiên Chúa ”.
Tâm trí là gì? Trái tim là gì?
Tâm trí suy nghĩ, đặt câu hỏi, lên kế hoạch, lo lắng, tưởng tượng.
Trái tim hiểu biết và yêu thương.
Tâm trí là cơ quan của tri thức, trái tim là cơ quan của tình yêu.
Hầu hết sự học hỏi của chúng ta về cầu nguyện chỉ giới hạn ở mức độ tâm trí. Khi còn là trẻ thơ, chúng ta được dạy cầu nguyện, cầu xin Chúa những gì chúng ta cần cho chính chúng ta và cho những người khác. Đây chỉ là một phần của mầu nhiệm cầu nguyện.
Phần khác là lời cầu nguyện của trái tim. Trong lời cầu nguyện của trái tim này, chúng ta không cố gắng nghĩ về Thiên Chúa, không nói với Ngài, và thậm chí không xin Ngài bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ ở đây với Thiên Chúa, Đấng ngự trong chúng ta, trong Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta. Chúa Thánh Thần là tình yêu, mối tương quan của tình yêu hiệp nhất Cha và Con. Chính Thánh Thần này mà Chúa Giêsu đã thổi vào trái tim mỗi con người. Chiêm niệm là lời cầu nguyện của trái tim gắn kết chúng ta với ý thức con người của Chúa Giêsu trong Thánh Thần. “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rôma 8:26).
Ngày nay, trong Giáo hội, đặc biệt kể từ Công đồng Vatican II vào những năm 1960, Thánh Thần đã dạy chúng ta khám phá lại chiều kích cầu nguyện này. Các tài liệu của Công đồng về Giáo hội và Phụng vụ nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa ra “định hướng chiêm niệm” vào đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu ngày nay. Tất cả mọi người đều được kêu gọi để cảm nghiệm trọn vẹn Chúa Kitô.
Điều này có nghĩa là chúng ta không được chỉ dừng lại ở mức độ cầu nguyện tâm trí: nghĩ về Chúa, nói chuyện với Ngài hoặc xin Ngài đáp ứng các nhu cầu của chúng ta. Chúng ta lặn ngụp trong sâu thẳm, nơi mà chính Thánh Thần của Chúa Giêsu cầu nguyện trong tâm hồn chúng ta, trong sự im lặng kết hợp của Ngài với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.
Cầu nguyện chiêm niệm không dành riêng cho các nam nữ tu sĩ, hoặc các nhà thần bí. Đó là một chiều kích cầu nguyện mà tất cả chúng ta đều được kêu gọi tới. Mục đích của chiêm niệm không phải là làm cho chúng ta sống những trải nghiệm phi thường hoặc những trạng thái ý thức bị thay đổi. Theo cách nói của thánh Tôma Aquinô, chiêm niệm là “sự vui hưởng chân lý một cách giản dị”. Đối vớiWilliam Blake, ông nói về nhu cầu phải “làm sạch cánh cửa nhận thức” để nhìn xem mọi thứ như nó thực sự là: vô hạn.
Do đó, ý thức chiêm niệm được sống trong cuộc sống bình thường. Suy niệm đưa chúng ta đến chiêm niệm và nó là một phần của mầu nhiệm lớn lao của việc cầu nguyện trong cuộc sống của bất cứ ai tìm kiếm sự sung mãn của con người mình. [1]
Chiêm niệm Kitô giáo có nguồn gốc rất xa xưa. Chiêm niệm có từ thời Các Giáo phụ Sa mạc của thế kỷ IV và V. Tu sĩ Biển Đức John Main (1926-1982) [2] đã giúp làm cho chiêm niệm trở nên thích hợp với con người thời nay nam cũng như nữ.
Chiêm niệm là một phương pháp thực hành tâm linh. Trong im lặng, vượt ra khỏi lời nói, ý tưởng hay hình ảnh, chiêm niệm muốn dẫn đến sự hiện diện đơn giản với Thiên Chúa. Đấng đang ở trong phần thân thiết nhất của chính mình.
Đối với điều này, một từ, chỉ một từ cần thiết. Từ này được đưa vào trong tâm hồn, trung thành và nhẹ nhàng, trong một thái độ tin yêu. Theo lời dạy của tu sĩ Biển Đức John Main, đó là từ MARANATHA, có nghĩa là: Lạy Chúa, xin hãy đến.
Chiêm niệm Kitô giáo không chỉ là một kỹ thuật thư giãn hay làm cho tâm trí được an yên. Chiêm niệm Kitô giáo muốn thúc đẩy sự biến đổi của toàn bộ con người trong Thiên Chúa.
Chiêm niệm Kitô giáo là chìa khóa cho buổi sáng và ổ khóa cho buổi tối. Người ta thực hành chiêm niệm Kitô giáo một mình theo từng ngày, nhưng thỉnh thoảng cũng theo nhóm để giúp nhau vững vàng trong luyện tập hàng ngày. Cốt lõi của mỗi cuộc gặp gỡ là sự hiệp thông với nhau trong im lặng, trong một khoảng thời gian 20 đến 30 phút.
Bàn đạp đến tự do
Thoạt nhìn, cam kết mà cuộc hành trình này mời gọi chúng ta không phải là chuyện bình thường. Cần có niềm tin và có thể cần một sự liều lĩnh nhất định để bắt đầu. Nhưng một khi chúng ta bước đi, chính Thiên Chúa, bản chất là tình yêu, sẽ huấn luyện chúng ta, bằng kinh nghiệm sẽ dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta sẽ hiểu biết thực tại, cách sống kỷ luật của chúng ta sẽ là bàn đạp dẫn đến tự do.
Cuộc hành trình hướng tới cõi lòng của chúng ta là cuộc hành trình diễn ra trong tất cả mọi tâm hồn. Và trong ánh sáng đầu tiên của thực tại, chúng ta thấy rằng đó là vương quốc mà Chúa Giêsu sinh xuống trần để thiết lập và Ngài tiếp nhận mỗi người bằng cách tái sinh họ trong cõi lòng Ngái. Những gì chúng ta có chỉ là sự cô đơn, hoang mang, cô độc. Những gì chúng ta sẽ tìm thấy là sự hiệp thông, sự chắc chắn, tình yêu. Cung cách của chúng ta là sự đơn giản và trung thành, sự đơn giản trong lời cầu nguyện, trung thành với việc suy niệm hàng ngày của chúng ta. Khi chúng ta đi trên con đường này, chính sức mạnh của tình yêu sẽ gắn kết chúng ta lại gần nhau hơn.
Con đường đơn giản
Tất cả những bậc thầy này đều đồng ý với nhau khi nói rằng trong cầu nguyện, chúng ta không phải là người chủ động. Chúng ta không nói với Chúa; chúng ta lắng nghe lời của Ngài trong chúng ta. Chúng ta không tìm kiếm Ngài; Ngài mới là Đấng đã tìm ra chúng ta. Walter Hilton vào thế kỷ thứ mười bốn, đã rất nói rất đơn giản: “Chính anh em không làm gì cả; anh em chỉ để cho Ngài hoạt động trong tâm hồn anh em.” Lời khuyên của Thánh Têrêsa vẫn còn vang vọng, Chị thánh nhắc nhở chúng ta rằng tất cả những gì chúng ta có thể làm khi cầu nguyện là để bản thân mình sẵn sàng. Phần còn lại là do bởi quyền năng của Thánh Thần dẫn dắt chúng ta.
Con đường rất đơn giản, nhưng nó đòi hỏi một cách nhìn nhất định về tầm quan trọng của nó, một sự khiêm tốn nhất định để có thể bắt đầu, một lòng trung thành nhất định và một lòng dũng cảm nhất định để kiên trì, và trên hết, phải sẵn sàng để được dẫn đến chỗ thành toàn. Đây là tất cả những phẩm chất cần thiết của con người trong bất cứ cuộc tiếp xúc hữu ích nào với cuộc sống. Bước đi trên con đường là việc bình thường. Chúng ta không theo Chúa vì tính cách giật gân của Ngài, nhưng là để xem xét cuộc sống – tất cả các khía cạnh của cuộc sống đó, sự hài hòa bên trong và hướng đi của nó – như một mầu nhiệm của cuộc sống đó. Mối nguy hiểm lớn nhất, sự cám dỗ lớn nhất, là làm phức tạp vấn đề. Qua những gì ta có thể thấy, nếu chúng ta thực sự đang bước đi trên con đường của mình, nếu lời cầu nguyện của chúng ta có sự nghèo khó, là tấm lòng trân quý cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ đạt được sự đơn giản.
Ngôn ngữ rất yếu ớt.
Ngôn ngữ không đủ sức mạnh để giải thích toàn bộ mầu nhiệm! Đây là lý do tại sao sự im lặng tuyệt đối trong chiêm niệm lại rất quan trọng. Chúng ta không cần phải cố gắng suy nghĩ về Chúa, nói với Ngài, hoặc tưởng tượng về Ngài; chúng ta hãy cứ ở trong sự im lặng tuyệt vời này, mở ra cho sự im lặng vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chúng ta khám phá ra trong chiêm niệm, từ kinh nghiệm, thông qua thực hành và lắng nghe lời giảng dạy hàng ngày, rằng đây là môi trường tự nhiên của chúng ta. Chúng ta được dựng nên cho Thiên Chúa và bản chất của chúng ta phát triển và mở rộng trong sự im lặng vĩnh cửu này.
Tuy nhiên, thuật ngữ “im lặng” là một sự giả mạo có lẽ khiến nhiều người không thích, bởi vì nó gợi ra một thứ cảm nhận tiêu cực, như kiểu làm cho âm thanh hoặc ngôn ngữ bị mất đi. Mọi người sợ rằng sự im lặng trong chiêm niệm sẽ khiến họ bị thụt lùi. Tuy nhiên, kinh nghiệm và truyền thống dạy chúng ta rằng sự im lặng khi cầu nguyện không phải là trạng thái chuẩn bị cho ngôn ngữ mà là trạng thái có sau ngôn ngữ, nơi ngôn ngữ đã hoàn thành vai trò của nó, hướng dẫn chúng ta đi qua và vượt ra ngoài chính ngôn ngữ và vượt qua toàn bộ lĩnh vực ý thức tinh thần.
Sự im lặng vĩnh cửu không tước đoạt bất cứ điều gì của ai và dĩ nhiên không tước đoạt bất cứ điều gì của chúng ta; đó là sự im lặng của tình yêu, của sự chấp nhận vô điều kiện. Chúng ta ở đó với Cha của chúng ta, là Đấng mời gọi chúng ta ở đó, là Đấng yêu thương chúng ta ở đó và là Đấng đã dựng nên chúng ta vì tình yêu lặng lẽ đó.
Trạng thái hiện hữu đơn thuần
Suy niệm là bước đưa bạn từ một thứ chủ nghĩa vị kỷ chuyển sang cách nghĩ tập trung. Bằng cách thực hiện bước này, chúng ta tìm thấy vị trí của mình trên trần thế, nơi chúng ta thực sự nên ở và nơi chúng ta thực sự đang ở. Sau đó, tất cả các mối tương quan của chúng ta sẽ có vị trí xứng đáng: mối tương quan của chúng ta với nhau, với môi trường và với tất cả tạo vật, với Thiên Chúa. Sau đó, chúng ta phát hiện ra – và đây điều quan trọng đối với sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần của chúng ta mà mọi người đều phát hiện ra – rằng chúng ta có một vị trí thiết yếu trong kế hoạch thánh thiêng. Điều quan trọng nhất đối với con người ngày nay có lẽ là khám phá ra phẩm giá họ sẽ có được khi đáp lại ân huệ vô song của Đấng tạo nên chúng ta.
Nhưng làm thế nào để thực hiện điều đó ? Chiêm niệm là kỷ luật cho phép điều đó diễn ra. Kỷ luật của chúng ta bao gồm việc học cách lùi lại một bước và chỉnh đốn sự chú ý của chúng ta, toàn bộ con người chúng ta, vào Thiên Chúa. Chúng ta phải bắt đầu từ đó. Chúng ta cần bắt đầu với con người của chúng ta và học cách im lặng trong chính bản thân mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là học để trở thành chính mình, thay vì khẳng định bản thân bằng những gì mình làm hoặc nghĩ. Là một nghệ thuật và một thực hành, chiêm niệm đưa chúng ta đến trạng thái đơn giản này thông qua việc lặp đi lặp lại sự tĩnh lặng và cố gắng giữ im lặng khi cầu nguyện.
Hiện diện trọn vẹn
Chiêm niệm là cách để chúng ta tháp nhập trọn vẹn vào giây phút hiện tại. Tất cả chúng ta đều có xu hướng sống trong quá khứ hoặc tương lai. Đừng sống trong quá khứ hoặc trong tương lai! Hãy học cách hiện diện hoàn toàn trong thời khắc hiện tại, trong hiện tại, mà chúng ta có thể diễn tả nó như là sự hiện diện thường hằng của Thiên Chúa. Phần lớn sự bất hạnh đến từ việc chúng ta không chịu ở trong hiện tại. Ngay cả đau khổ cũng có ý nghĩa, và nếu chúng ta không chấp nhận đau khổ đó hoàn toàn vào lúc hiện tại này, chúng ta vẫn cảm nghiệm đau khổ đó nhưng lại bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Vì vậy, những gì chúng ta phải học để làm trong chiêm niệm của mình là lắng nghe lời cầu nguyện một cách chú ý hoàn toàn. Ý thức của chúng ta tập trung vào một điểm, đó là âm thanh duy nhất của lời cầu nguyện. Đây là những gì chúng ta phải học để làm, thực hành lời cầu nguyện maranatha – xin hãy đến – lắng nghe lời cầu nguyện đó với sự chú ý đầy đủ và càng lúc càng sâu sắc hơn, maranatha – xin hãy đến – và thực hiện điều đó một cách đơn giản, khiêm hạ nhưng lại lớn lao hơn bao giờ hết.
Hãy lắng nghe lời Ngài trong chúng ta
Khi nói chuyện với mọi người về chiêm niệm, tôi thường thấy rằng những người đầu tiên hiểu nó là gì lại là những người ngoại đạo, hoặc thậm chí là những người không có tôn giáo. Trong con mắt của nhiều Kitô hữu đang giữ và sống đạo, của nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ, từ ngữ cầu nguyện đối với họ thoạt nhìn có vẻ như một kỹ thuật (cầu nguyện) có tính chất xa lạ đáng ngờ, hoặc một số mánh khóe kỳ lạ, hoặc thậm chí là một loại liệu pháp có thể giúp thư giãn, nhưng không thể mang danh nghĩa Kitô giáo! Đó là một tình trạng thái rất đáng buồn. Vì vậy, nhiều Kitô hữu đã mất mối tương quan với truyền thống cầu nguyện của riêng họ. Chúng ta không còn tận dụng được hết sự khôn ngoan và lời khuyên khôn ngoan của những bậc thầy vĩ đại về cầu nguyện.
Khám phá cội nguồn của tình yêu
Một trong những điểm yếu của chúng ta là luôn cố gắng ổn định cuộc sống. Một trong những thách thức của đời sống Kitô hữu chúng ta là học cách trở thành những người hành hương, luôn luôn di chuyển. Chúng ta luôn luôn ra sức tích lũy cả vật chất hoặc kiến thức, và tìm cách đếm các con số trên đường đời. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng con đường dẫn đến sự cứu rỗi rất hẹp; rất ít người khám phá ra nó. Lý do rất ít người tìm ra, đối với những người khác, nó là một con đường ít người đi.
Hai điều quan trọng được yêu cầu đối với người hành hương. Người ấy không được khuất phục trước sự cám dỗ nhằm ổn định cuộc sống: “Tôi đã đi đủ xa. Tôi đang bắt đâu mệt đây. Việc bước đi trở nên khó khăn quá.” Người hành hương phải gạt bỏ những cảm giác này.
Nhưng sự cám dỗ ngấm ngầm nhất là tự nói với chính mình: “Tôi đây, một vùng đất tốt, một nơi thật dễ chịu. Tôi chỉ cần nghỉ ngơi một chút ở đây.” Khi tiến về phía trước, chúng ta biết rằng cam kết của chúng ta sẽ trở thành một điều gì đó tuyệt đối. Lý do rất đơn giản: cuộc hành trình của chúng ta, cuộc hành hương của chúng ta đến từ sự cam kết của chúng ta với một con người vĩ đại hơn chúng ta vô hạn. Chúng ta thấy rằng chúng ta được yêu cầu đi trên con đường này không phải để chúng ta chỉ đến một nơi nào đó, không phải chỉ vì một số kinh nghiệm. Chúng ta được mời gọi hiệp nhất với Thiên Chúa, hiệp nhất trong Thiên Chúa.
Tập trung toàn bộ vào Thiên Chúa
Qua lời kêu gọi này, viễn cảnh mà Chúa Giêsu đã chuẩn bị, Ngài định hướng chúng ta đến sự hiệp thông tuyệt đối, vì là những người hành hương, chúng ta không được đánh mất mục tiêu cuối cùng, định mệnh cuối cùng này được ghi khắc rõ ràng trong trái tim chúng ta. Không ai biết người hành hương sẽ phải gánh chịu những gì, hay những nguy hiểm mà người đó sẽ phải trải qua. Nhưng chúng ta biết, và ngày càng hiểu rõ hơn rằng sức mạnh để vượt qua những thử thách, những khó khăn đó, được ban cho chúng ta, sẽ được trao cho chúng ta bởi nguồn năng lượng mà mỗi chúng ta được mời gọi khám phá trong cõi lòng mình, mà nguồn cội của nó là Thiên Chúa, là tình yêu (1Gioan 4: 16).
Phêrô Phạm Văn Trung biên tập
theo meditationchretienne.ca
[1] Laurence Freeman (2013-04-23) Trích từ Chiêm niệm Kitô giáo, lời cầu nguyện hàng ngày của bạn.
[2] John Main, tu sĩ dòng Benedictine, là người sáng lập phong trào chiêm niệm Kitô giáo quốc tế. Sau khi học thiền từ một bậc thầy Ấn Độ giáo, ông phát hiện ra rằng trong thời cổ đại các tu sĩ Kitô giáo như Gioan Cassianô đã thực hành cầu nguyện theo cách tương tự.
