Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
15Tháng Mười Một
2022

Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Kính nhớ tổ tiên theo truyền thống dân tộc

15/11/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO

Bài 65: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN THEO TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM

Hỏi: Việc chưng trái cây, hoa nến lên trước hình ảnh ông bà tổ tiên có trái luật Công giáo không ạ? Người Công giáo có nên tổ chức làm lễ giỗ cho ông bà tổ tiên không? Trường hợp làm dâu gia đình ngoại giáo, có được phép tham dự nghi lễ gia tiên của nhà chồng không?

Trả lời:

Những câu hỏi các bạn nêu ra ở trên nói chung xoay quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên, là vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều, và đã được Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc S.J. giải đáp trong tập đầu của bộ sách này. Giờ đây chúng ta bàn thêm về vài chi tiết nhỏ: việc chưng trái cây, hoa nến, và việc cúng giỗ.

Đối với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì đây là những việc làm hay lễ nghi tỏ lòng hiếu thảo. Những việc làm này đã in sâu vào trong lối sống và tâm hồn hầu hết người Việt Nam chúng ta. Trong chuyên luận Thực Trạng Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa Lê Minh đã đưa ra những số liệu khảo sát tại 5 tỉnh thành là Hà Nội, tp. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Hòa Bình và Cần Thơ như sau:

– 100% các gia đình có bàn thờ tổ tiên.

– 96,75% bàn thờ được đặt ở vị trí tôn nghiêm nhất trong nhà.

– 95,85% các gia đình nhớ ngày giỗ của người thân.[1]

Những con số trên cho thấy người Việt Nam trân trọng và có ý thức duy trì tinh thần đạo Hiếu biết chừng nào! Vì thế, người Việt Nam nói chung khó có thể chấp nhận được một gia đình nào mà lại không có bàn thờ tổ tiên, không chưng đĩa quả và chăm lo hương khói trên bàn thờ. Đối với họ, đó là thái độ bất hiếu không thể hiểu được.

Trong quá khứ, vì nhiều lý do, quả thật đã có những hiểu lầm và đối kháng giữa việc thực hành đức tin Công giáo và lễ nghi thờ kính tổ tiên. Ngày nay, vì những hủ tục và mê tín của đại đa số người Việt Nam đã bớt đi nhiều, Giáo hội cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về văn hóa của các dân tộc và xác định rằng hoạt động loan báo Tin Mừng không nhằm tiêu diệt nhưng nhằm “thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc”[2]. Cho nên những nghi thức tôn kính tổ tiên nói chung được chấp nhận và trân trọng.

Xét vì tinh thần hiếu thảo phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, qua điều răn thứ tư; và việc tưởng nhớ người đã khuất không khác xa so với tín điều các thánh thông công, các đức Giám mục Việt Nam đã ra nhiều văn bản hướng dẫn thực hành. Cụ thể, Quyết nghị của HĐGM/NVN tại Nha Trang năm 1974 đã nêu rõ những cử chỉ, thái độ, lễ nghi sau đây được thi hành và tham dự cách chủ động:

  1. Bàn thờ Gia Tiên được phép đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình.
  2. Việc đốt nhang hương, đèn nến, và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên được phép làm.
  3. Ngày giỗ được “cúng giỗ” theo phong tục địa phương… và giảm thiểu, cải cách những lễ vật như như dâng hoa trái, hương đèn. (Nghĩa là được dâng hoa trái hương đèn nhưng tránh đừng bày biện rườm rà.)
  4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ.
  5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương.
  6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần, là những người có công với dân tộc hoặc ân nhân của làng.

Trong 6 điều trên, văn bản luôn nhắc nhở phải loại bỏ những gì là mê tín dị đoan.

Mới đây, vào tháng 10 năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thêm Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên”. Văn kiện này nhắc lại các văn kiện trước và thay thế từ “được phép” bằng từ “khuyến khích”: “Chúng tôi khuyến khích mỗi gia đình Công giáo nên lập bàn thờ gia tiên… nhưng không bày biện những gì có tính cách mê tín”.

Như vậy là đã quá rõ, chúng ta thấy việc “làm lễ giỗ” và việc “chưng trái cây, hoa, nến” để biểu trưng lòng biết ơn không trái với đức tin Công giáo và chúng ta rất nên thực hành. Vấn đề chúng ta cần lưu ý là phải tránh “những gì có tính cách mê tín”, là những điều chúng tôi trình bày ngay sau đây.

Những điều không phù hợp với đức tin Công giáo

Qua các văn kiện hướng dẫn, chúng ta có thể liệt kê ra những điều không phù hợp với đức tin Công giáo như sau:

– Đặt hồn bạch hay linh vị trên bàn thờ: là những vật mà dân gian tin rằng hồn người chết hiện diện ở đó, việc này không phù hợp với đức tin Công giáo, vì người Công giáo tin rằng “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (Kn 3,1).

– Đặt tượng Thần Tài, Ông Địa trong nhà: là trái với điều răn thứ nhất “thờ phượng và kính mến một Thiên Chúa duy nhất”.

– Coi tuổi, coi “ngày lành tháng tốt”: đây là việc làm đi ngược với xác quyết “Đức Kitô… là chủ thời gian và muôn thế hệ”.

– Mở Cửa Mả: Dân gian quan niệm rằng sau khi chôn cất sau 3 ngày thì hồn phách người chết hội tụ lại, vì vậy cần làm lễ mở cửa mả để cho vong linh tỉnh hẳn để có thể lên dương thế và tìm đường về nhà (nơi đặt bàn thờ).

– Tin hồn người chết đi đầu thai kiếp khác: cũng là điều không phù hợp với đức tin Công giáo. Vì người ta chỉ sống một đời và chết một lần.

– Đốt vàng mã: đây là một tập tục vừa vô lý vừa hao tốn tiền của mà ngày nay, ngay cả người ngoài Công giáo cũng đang hô hào nhau loại bỏ, vì nhận biết đó là một việc làm vô minh.

Việc chưng đĩa trái cây / mâm quả

Nói đến việc chưng trái cây, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu đôi chút về ý nghĩa và quan niệm dân gian về việc này, để nếu có thực hiện, chúng ta thực hiện cách tinh tế chứ không tùy tiện.

Tùy vào từng địa phương với các sản vật riêng mà việc chưng trái cây cũng có sự khác nhau.

Người Miền Bắc từ xa xưa thường bày mâm quả gồm 5 loại, nên được gọi là mâm ngũ quả. Việc này xuất phát từ quan niệm về ngũ hành trong triết học cổ phương Đông: thế giới được tạo nên từ 5 yếu tố vật chất đầu tiên là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, được thể hiện bằng năm màu sắc: Trắng, đen hoặc xanh dương, xanh lục, đỏ, vàng. Mâm ngũ quả vì thế cũng thường có 5 màu sắc, coi như một vũ trụ thu nhỏ, đồng thời cũng thể hiện sự đầy đủ, trọn vẹn.

Việc chưng đĩa quả của người miền Trung thường không quá câu nệ hình thức, do mảnh đất miền Trung khí hậu khắc nghiệt nên các loại trái cây không phong phú đa dạng như các vùng khác, nên họ có gì cúng nấy, thành tâm là chính.

Người miền Nam thì thường căn cứ vào tên gọi các loại quả để chọn lựa sao cho ghép thành một lời khấn nguyện. Chẳng hạn mâm quả gồm: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, những thứ trái cây này ghép lại và được đọc chệch thành “cầu vừa đủ xài”. Thật thú vị là lời khấn nguyện khiêm tốn ấy có vẻ phù hợp với tinh thần của Kinh Lạy Cha trong Kitô giáo: “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực đủ dùng”. Dĩ nhiên lời kinh trên chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, nhưng sẽ chẳng sai khi chúng ta xin ông bà tổ tiên chuyển cầu cho chúng ta, trong niềm tin vào mầu nhiệm Các thánh thông công.

Tuy nhiên, ngày nay những ước nguyện đơn thành này đang bị lòng tham làm biến dạng, người ta tìm những thứ trái cây khác để thay thế, chẳng hạn thay dừa bằng chùm sung để thành “cầu xài sung”, hoặc đưa lên bàn thờ một thứ trái cây lạ gọi là dư, có lẽ không phải là cái tên sơ khai của chúng, cũng không phải là thứ trái cây ăn được, vậy mà đưa lên bàn thờ để “cầu dư”. Việc chưng trái cây trở thành vụ lợi và bất kính. Ngoài ra người miền Nam cũng kiêng kỵ một số thứ trái cây mà tên gọi của chúng gợi sự liên tưởng đến điều xui rủi như chuối (chúi nhủi), lê (lê lết), cam (cam chịu). Việc chưng trái cây với những kiêng kỵ như thế này hẳn nhiên là nhuốm màu mê tín.

Việc tổ chức ngày giỗ

Ngày giỗ là ngày kỷ niệm người thân đã từ trần. Vào ngày đó, người ta làm cỗ bàn để dâng cúng tổ tiên, đồng thời tạo dịp cho con cháu tưởng nhớ người đã khuất và chia sẻ nỗi buồn thương với nhau.

Người Công giáo “được phép cúng giỗ theo phong tục”, nhưng tuyệt đối không tin linh hồn người quá cố về hưởng các thứ vật chất. Chúng ta tin linh hồn người đã chết hoặc được về thiên đàng với Chúa, hoặc đang phải thanh luyện trong luyện ngục, nếu vô phúc thì phải vào hỏa ngục đời đời, chứ không có chuyện linh hồn trở về trần thế để hưởng dùng của cúng hoặc “ăn uống” với thân nhân còn sống nữa.

Thực ra, việc bày biện thức ăn trong ngày tưởng nhớ không phải là vì nhu cầu của người chết nhưng là của người sống. Chính người sống muốn dùng những dấu hiệu cụ thể này để bày tỏ sự hiệp thông với người đã khuất,[3] đồng thời cũng là để con cái cháu chắt hưởng dùng trong ngày sum họp. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho người đã khuất là cầu nguyện, làm việc lành để xin ơn giải thoát cho họ, nếu họ đang phải chịu thanh luyện nơi luyện ngục.

Ngay cả đối với anh chị em lương dân có hiểu biết thì bàn thờ tổ tiên luôn được giữ cho thanh tịnh. Lễ vật đặt trên đó chỉ có thể là hương, hoa, trà, quả… Những ngày giỗ Tết, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phía trước và dưới bàn thờ chính, rồi thắp hương hành lễ cung thỉnh bái vọng. Người Công giáo chúng ta càng không nên đặt đồ ăn trên bàn thờ người quá cố, bởi vì chúng ta không có ý dâng của ăn cho người đã khuất. Chúng ta chỉ nên đặt hoa quả lên bàn thờ, còn mâm cỗ thì cốt để anh chị em trong gia đình sum họp, đoàn tụ.

Trước bữa ăn giỗ, thân nhân và khách mời quây quần cầu nguyện. Để làm tốt việc này, các bạn hãy sắm cho gia đình quyển Kinh nguyện gia đình và Gia lễ Công giáo, do Ủy ban Mục vụ Gia đình của HĐGMVN phát hành để được hướng dẫn cặn kẽ về Lời cầu nguyện trong bữa giỗ, lời nguyện trên của ăn, những chỉ dẫn về việc niệm hương… Lưu ý không được dùng những mẫu văn khấn trong sách vở của người ngoài Công giáo vì lời văn trong đó có nhiều điều không hợp với đức tin Công giáo.

Người Công giáo chúng ta cũng không được mang tâm lý sợ sệt rằng nếu không cúng giỗ đàng hoàng thì sẽ bị tổ tiên quở trách, thậm chí nổi giận mà gây xui xẻo cho con cháu. Việc cúng giỗ của chúng ta chỉ mang ý nghĩa tỏ lòng thảo hiếu thuần túy mà thôi.

Đối với các bạn đang làm dâu, làm rể trong các gia đình lương dân

Trường hợp người Công giáo đang làm dâu làm rể trong gia đình ngoài Công giáo, các bạn thường cảm thấy khó xử trước những việc thờ cúng của gia đình bên ấy, băn khoăn giữa việc chu toàn bổn phận làm dâu, làm rể, và việc giữ đúng đức tin. Các bạn yên tâm, Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên” của HĐGMVN năm 2019, đã có chỉ dẫn cụ thể như sau:

“Để giữ tình thuận thảo với gia đình đôi bên, những người con dâu, con rể này và con cái của họ có thể sắm sửa lễ vật và dâng lễ vật trên bàn thờ gia tiên, vái hương trước di ảnh tổ tiên nhưng cần hiểu: trong lòng chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, đồng thời cũng sẵn sàng bày tỏ lòng thảo hiếu biết ơn tổ tiên qua các nghi thức lễ gia tiên và xác nhận thảo hiếu với tổ tiên là bổn phận của Kitô hữu.”[4]

Ngay cả khi trên bàn thờ gia tiên có đặt tượng Đức Phật, Văn kiện trên cũng đã chỉ dẫn: chúng ta nhìn nhận Đức Phật như là một bậc thầy đáng kính, chứ không phải như một vị thần linh.

Bạn thân mến, giữa một thế giới đang chạy theo tiện nghi vật chất và hưởng thụ như ngày hôm nay, các giá trị văn hóa truyền thống đang bị mai một dần, người trẻ Công giáo Việt Nam chúng ta cần góp phần duy trì, hoàn chỉnh và nâng cao những nét đẹp văn hóa dân của tộc mình, đồng thời làm nổi bật lên những giá trị của Kitô giáo, giúp cho anh chị em lương dân nhận ra một chiều kích rộng lớn hơn của lòng thảo hiếu: không chỉ thảo hiếu ông bà tổ tiên, mà còn thảo hiếu với Cha trên trời, là Đấng sinh ra vạn vật.

Thiết nghĩ, những điều nhỏ nhặt trên đây, nhưng chính là những nhịp cầu nối kết giữa Đạo với đời, để nhờ đó người ngoài Công giáo không còn cảm thấy Công giáo là một đạo xa lạ, nhưng là đạo có những nét đẹp về sự thảo hiếu rất gần gũi và dễ thương. Từ đó mà dễ đón nhận Tin Mừng hơn.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

Read More
22Tháng Mười
2022

Năm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi

22/10/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Năm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi

 

Hai mươi năm trước, Thánh Gioan Phaolô II đã công bố tông thư Rosarium Virginis Mariae, bổ sung năm Mầu nhiệm Ánh Sáng vào 15 Mầu nhiệm truyền thống được suy niệm trong chuỗi Mân Côi.

Các Mầu Nhiệm Ánh Sáng nói đến cuộc đời công khai của Chúa Kitô: là Phép Rửa của Ngài tại sông Giođan; việc Ngài biểu lộ mình trong tiệc cưới Cana; việc Ngài công bố Nước Thiên Chúa và kêu gọi hoán cải; sự hiển dung của Ngài; và việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể, theo tông thư “như một cách diễn tả bí tích của Mầu nhiệm Vượt qua.”

Trong tông thư của mình, Đức Thánh Cha giải thích rằng “Kinh Mân Côi, mặc dù có đặc điểm rõ ràng là Đức Mẹ, nhưng cốt lõi là một lời cầu nguyện quy về Chúa Kitô” và Kinh Mân Côi có “một vị trí quan trọng” trong đời sống thiêng liêng của ngài trong thời niên thiếu.

Thực vậy, hai tuần sau khi được nâng lên Ngai tòa thánh Phêrô, thánh Gioan Phaolô II đã công khai thú nhận: “Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện yêu thích của tôi”.

Đức Giáo Hoàng đã đề xuất các Mầu nhiệm Ánh Sáng để “làm nổi bật đặc tính Kitô học của chuỗi hạt Mân Côi.” Đức Thánh Cha giải thích những mầu nhiệm này đề cập đến “sứ vụ công khai của Chúa Kitô giữa Phép Rửa và Cuộc Khổ Nạn của Ngài.”

Đức Thánh Cha nói, do đó, trong những mầu nhiệm này “chúng ta chiêm ngắm những khía cạnh quan trọng của con người Chúa Kitô như là sự mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa,” vì chính Thiên Chúa đã “tuyên bố Người Con yêu dấu của Cha trong Phép Rửa ở sông Giođan, Chúa Kitô là Đấng Đấng loan báo Nước Trời sắp đến, làm chứng cho Nước Trời trong các công việc của Ngài và công bố những yên cầu của Nước Trời ”.

Thánh Gioan Phaolô II cũng ghi nhận trong tông thư của ngài rằng “chính trong những năm thi hành sứ vụ công khai của Chúa Kitô, mầu nhiệm của Ngài là mầu nhiệm ánh sáng một cách rõ ràng nhất: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9: 5).”

Do đó, để Kinh Mân Côi “trở thành một bản tóm tắt của Tin mừng”, Đức Thánh Cha cho rằng cần phải có “sự suy niệm về những khoảnh khắc đặc biệt quan trọng nhất định trong sứ vụ công khai của Chúa Kitô, sau khi suy niệm về Sự Nhập Thể và cuộc đời ẩn dật của Chúa Kitô (những mầu nhiệm vui tươi) và trước khi tập trung vào những đau khổ trong cuộc Khổ nạn của Ngài (những mầu nhiệm đau thương) và sự khải hoàn trong việc Ngài Phục sinh (những mầu nhiệm vinh quang).”

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng việc thêm các Mầu nhiệm Ánh Sáng được thực hiện “không ảnh hưởng đến bất cứ khía cạnh thiết yếu nào trong hình thức truyền thống của Kinh Mân Côi, có nghĩa là mang lại cho Kinh Mân Côi sức sống tươi mới và khơi dậy sự quan tâm mới đến vị trí của Kinh Mân Côi trong linh đạo Kitô giáo như một cánh cửa thực sự dẫn đến những chiều sâu thẳm của Trái tim Chúa Kitô, đại dương của niềm vui và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.”

Những mầu nhiệm hé lộ ánh sáng của vương quốc

Thánh Gioan Phaolô II giải thích rằng mỗi mầu nhiệm ánh sáng “là một mạc khải về Nước Trời hiện đang hiện diện trong chính con người Chúa Giêsu.”

Sự hiện diện này được thể hiện một cách cụ thể trong mỗi Mầu nhiệm Ánh sáng.

Trong Bí tích Rửa tội, Chúa Kitô “đã trở thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta (2Cr 5,21),” Chúa Cha công bố Ngài là Con Yêu dấu và Chúa Thánh Thần “ngự xuống trên Ngài để dành tất cả mọi sự cho Ngài trong sứ mệnh mà Ngài sẽ thực hiện.”

Tại tiệc cưới Cana, bằng cách biến nước thành rượu, Đức Kitô đã “mở lòng các môn đệ đến với đức tin, nhờ sự can thiệp của Mẹ Maria, là người đầu tiên trong số những người tin”.

Với việc rao giảng về Nước Trời và kêu gọi hoán cải, Chúa Kitô khởi xướng “sứ vụ của lòng thương xót,” tiếp tục qua “Bí tích Hòa giải mà Ngài đã ủy thác cho Giáo hội của Ngài”.

Đối với Thánh Gioan Phaolô II, cuộc Biến hình là “mầu nhiệm của ánh sáng tiêu biểu nhất” vì “vinh quang của Thần tính tỏa ra từ khuôn mặt của Chúa Kitô khi Chúa Cha ra lệnh cho các Tông đồ đang kinh ngạc “hãy lắng nghe Ngài”.

Việc thiết lập  Bí tích Thánh Thể cũng là một mầu nhiệm ánh sáng vì “Đức Kitô đã hiến dâng mình và máu Ngài làm lương thực dưới dấu chỉ bánh và rượu, và làm chứng “cho đến cùng” tình yêu của Ngài dành cho nhân loại (Ga 13,1), vì ơn cứu độ của họ, Ngài sẽ hiến dâng mình làm của lễ hy sinh”.

Mẹ Maria trong những mầu nhiệm ánh sáng

Đức Thánh Cha chỉ ra rằng “ngoài phép lạ ở Cana, sự hiện diện của Mẹ Maria vẫn còn đó cách kín đáo.” Tuy nhiên, “một cách nào đó, vai trò mà Mẹ đảm nhận tại Cana vẫn đi cùng Chúa Kitô trong suốt sứ vụ của Ngài,” với lời dặn bảo từ mẫu của Mẹ: “Ngài bảo gì, các anh cứ việc làm theo (Ga 2: 5)”.

Thánh Gioan Phaolô II coi lời căn dặn này là “lời dẫn nhập thích hợp cho những lời nói và những dấu chỉ của sứ vụ công khai của Chúa Kitô và lời căn dặn đó tạo nên nền tảng mang đặc tính Maria cho tất cả các ‘mầu nhiệm ánh sáng’.”

Sau đó, Đức Giáo Hoàng đề nghị nên chiêm ngắm những mầu nhiệm ánh sáng này vào các ngày thứ Năm.

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

từ catholicnewsagency

Read More
19Tháng Mười
2022

Thập giá che khăn

19/10/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Thập giá che khăn

 

Trong nếp sống phụng vụ Công Giáo có tập tục từ Chúa Nhật thứ năm mùa chay thập giá Chúa Giêsu, ít là trong các thánh đường, được che phủ kín bằng một tấm màn.

Đâu là ý nghĩa của tập tục này?

Tập tục che phủ thập giá Chúa Giesu có nguồn gốc trong Giáo Hội từ thế kỷ thứ 12.

Vào cuối thế kỷ 13. Đức Giám Mục Wilhelm Durandus , giáo phận Mende ở miền nam nước Pháp đã có suy tư về ý nghĩa tập tục này: Chúa Giêsu Kitô trong thời gian chịu thương khó đau khổ đã che dấu bản tính Thiên Chúa của mình.

Đặc biệt trong phúc âm theo Thánh Gioan có đoạn tường thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các nhà thông luật thời lúc đó, Chúa Giêsu đã nói với họ: Trước khi có tổ phụ Abraham đã có tôi. Nghe thế họ lấy đá ném người. Nhưng Chúa Giêsu tránh đi , và rời khỏi đền thờ.( Ga 8,58).

Bài phúc âm này trước thời cải tổ phụng vụ năm 1969 được đọc trong thánh lễ ngày Chúa Nhật thứ năm mùa chay. Và từ khi có cải tổ phụng vụ đoạn phúc âm này không còn được đọc trong ngày này nữa. Nhưng thập giá vẫn còn được che phủ kín từ ngày này. Chiều ngày thứ Sáu tuần thánh có nghi thức phụng vụ mở khăn để mọi người tôn kính thập giá Chúa Giêsu.

Tấm Khăn che phủ thập gía thường mầu tím, nhưng cũng có nơi dùng tấm khăn mầu trắng.

Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập gía, và ngài đã chết trên đó. Đây là hình ảnh đau thương. Nhưng sự hy sinh đau thương của Chúa Giêsu chết trên thập gía lại là nguồn ơn cứu độ cho tội lỗi nhân loại. Vì thế thập gía chúa Giêsu được che phủ kín muốn nói lên khía cạnh hình ảnh chết hy sinh đau khổ của Chúa Giêsu cần được khắc ghi sâu vào trong trái tim tâm hồn người tín hữu Chúa Kitô.

Khi thập giá chúa Giêsu không còn được nhìn với tầm con mắt về khía cạnh lịch sử, thì ý nghĩa sự dấn thân hy sinh chịu chết của Chúa Giêsu trên thập giá được khám phá sâu xa hơn cho chính bản thân đời sống con người.

Thập gía trong đời sống ai cũng có, cũng phải mang vác chịu đựng. Đó là những đau khổ trong đời sống dưới nhiều dạng thức khác nhau trong các chặng đường lịch sử đời sống .

Không ai có thể bỏ đẩy thập giá ra khỏi đời sống mình được. Với người tín hữu Chúa Kitô nhìn lên thập giá Chúa Giêsu nhắc nhớ đến lời Chúa Guêsu trong cơn khốn cùng đã kêu than thở : Lạy Thiên Chúa, sao Chúa bỏ con. Xin Chúa đến giúp con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Read More
16Tháng Mười
2022

Kinh Minh Côi: Những huyền thoại và sự việc thông thường

16/10/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Kinh Minh Côi: Những huyền thoại và sự việc thông thường

 

Tháng 10 được Giáo hội Công giáo chỉ định là “Tháng Mân Côi”. Dưới đây là bảy huyền thoại và sự việc thông thường về lòng sùng kính Đức Mẹ này.

  1. Chỉ có người Công giáo mới có thể lần hạt Mân Côi. 

Sai. Dù chuỗi hạt thường gắn liền với người Công giáo, nhưng chắc chắn những người không Công giáo vẫn có thể lần hạt – và trên thực tế, nhiều người tin rằng lần hạt Mân Côi giúp họ hoán cải. Ngay cả một số người theo đạo Tin lành cũng công nhận chuỗi hạt là một hình thức cầu nguyện có giá trị.

  1. Cầu nguyện bằng cách lần hạt là thờ ngẫu tượng. 

Sai. Một số người phản đối việc lần hạt Mân Côi, cho rằng việc lần hạt Mân Côi là coi Đức Mẹ Maria như thần thánh do đó là ngẫu tượng và lải nhải quá mức.

Cũng giống như bất kỳ thực hành nào, chuỗi hạt Mân Côi có thể bị lạm dụng – giống như ai đó có thể thần tượng một vị mục tử hoặc linh mục cụ thể, một hình thức tôn thờ hoặc chay tịnh. Nhưng bản thân kinh Mân Côi không phải là một hình thức thờ ngẫu tượng.

Kinh Mân Côi không phải là lời cầu nguyện dành riêng cho Mẹ Maria – nhưng là sự suy gẫm về cuộc đời của Chúa Kitô được mặc khải qua năm mầu nhiệm với mục đích lôi kéo người cầu nguyện suy ngẫm sâu hơn về những niềm vui, sự hy sinh, đau khổ và những phép lạ vinh quang của Chúa Kitô trong cuộc đời Ngài.

Khi chúng ta đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta không tôn thờ Mẹ Maria, chúng ta đang cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ – giống như chúng ta có thể nhờ một người bạn hoặc người thân trong gia đình cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.

Thứ hai, bất cứ lời cầu nguyện nào cũng có thể mất đi ý nghĩa nếu chúng ta không chú tâm suy gẫm về nó. Tập trung vào những mầu nhiệm với mục đích tốt và thiện chí là chìa khóa để có được sức mạnh biến đổi từ chuỗi hạt Mân Côi. Như một tác giả khuyến khích : “Bản thân kinh Mân Côi vẫn như vậy, nhưng chúng ta thì không như vậy nữa.”

  1. Bạn có thể đeo tràng hạt như một chiếc vòng cổ.

Điều đó còn tùy. Việc đeo chuỗi hạt quanh cổ thường bị coi là thiếu tôn trọng và bất kính, mặc dù Giáo hội không có tuyên bố rõ ràng chống lại việc làm đó.

Tuy nhiên, Điều 1171 của Bộ Giáo luật nói rằng “Các đồ vật thánh đã được được cung hiến hay đã được làm phép để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa phải được sử dụng cách cung kính và không được dùng vào việc trần tục hay việc không thích hợp, mặc dù các đồ vật ấy thuộc quyền sở hữu cá nhân.”

Điều quan trọng là phải dùng chuỗi hạt với sự tôn trọng và thành ý. Nếu bạn có ý định đeo tràng hạt như một vật trang sức, điều này là không tôn trọng và nên tránh. Không cần phải nói rằng đeo chuỗi hạt như một biểu tượng chế giễu hoặc một biểu tượng của băng đảng sẽ là một tội lỗi.

Nhưng nếu bạn có ý định sử dụng chuỗi hạt và lưu tâm đến việc cầu nguyện, thì điều đó có thể được phép. Không có gì lạ ở một số nền văn hóa, như ở Honduras và El Salvador, người ta xem chuỗi hạt được đeo quanh cổ một cách kính cẩn như một dấu hiệu của lòng sùng kính.

Nhẫn Mân Côi hoặc vòng tay Mân Côi có thể là một lựa chọn tốt hơn nếu bạn muốn giữ chuỗi hạt Mân Côi gần gũi tiện tay của mình như một lời nhắc nhở hãy cầu nguyện, bởi vì chúng được để khuất tầm nhìn hơn và sẽ không dễ bị hiểu nhầm là một món đồ trang sức.

  1. Chuỗi tràng hạt là một biểu tượng cực đoan.

Sai. Một bài báo trên tờ Atlantic được chia sẻ rộng rãi vào mùa hè vừa qua đã lan truyền vì cáo buộc chuỗi hạt là “biểu tượng cực đoan”.

Bài báo đó viết: “Nói chung giống như khẩu súng trường AR-15 đã trở thành một vật linh thiêng đối với những Kitô hữu theo chủ nghĩa dân tộc, chuỗi hạt Mân Côi cũng có một ý nghĩa quân phiệt đối với những người Công giáo truyền thống cực đoan – radical-traditional, còn gọi là “rad trad”.

Tác giả cũng trích dẫn lập trường của Giáo hội về hôn nhân truyền thống và sự thánh thiện của cuộc sống như là bằng chứng của “chủ nghĩa cực đoan” và tuyên bố rằng xu hướng của người Công giáo gọi kinh Mân Côi là “vũ khí trong cuộc chiến chống lại cái ác” là nguy hiểm.

Các Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi người Công giáo cầu nguyện lần chuỗi mân côi kể từ năm 1571 – thường đề cập đến chuỗi hạt như một “vũ khí” cầu nguyện và là công cụ tinh thần mạnh mẽ nhất.

  1. Chuỗi Mân Côi không phải là kinh thánh.

Không đúng! Hầu hết các từ ngữ của Chuỗi Mân Côi đều trực tiếp phát xuất từ Kinh thánh.

Đầu tiên, kinh Lạy Cha được xướng lên. Những lời của kinh Lạy Cha là những lời mà Chúa Kitô đã dạy các môn đồ cầu nguyện trong Mátthêu 6: 9–13:

“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:

Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,

xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

triều đại Cha mau đến,

ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;

xin tha tội cho chúng con

như chúng con cũng tha

cho những người có lỗi với chúng con;

xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,

nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”

Kinh Kính mừng cũng phát xuất từ Kinh thánh. Phần đầu tiên: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” trích từ Luca 1:28: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà,” và phần thứ hai: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” được tìm thấy trong Luca 1:42:  “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”.

Cuối cùng, mỗi chục kinh trên chuỗi hạt tượng trưng cho một sự kiện trong cuộc đời của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Các chục kinh được chia thành bốn nhóm mầu nhiệm: Vui, Sáng, Thương và Mừng, phần lớn được tìm thấy trong Kinh thánh.

  1. Một hạt Mân Côi có thể giết chết bạn.

Có phần đúng. Hạt mân côi thời xưa thường được làm bằng hạt của cây abrus, một loài cam thảo dây có nguồn gốc từ Ấn Độ và các vùng của Châu Á. Hạt của cây cam thảo dây này có màu đỏ với đốm đen, thường được dùng để kết hạt làm đồ trang sức – bao gồm cả tràng hạt. Chúng chứa một chất độc gọi là abrin, đây là một chất độc tự nhiên có thể gây tử vong nếu ăn phải. Tuy nhiên, không có chuyện một người nào đó bị ngộ độc abrin chỉ vì cầm một chuỗi tràng hạt làm từ hạt cây cam thảo dây, vì người ta sẽ phải nuốt chúng thì mới bị ngộ độc.

Ngày nay, hầu hết tràng hạt được làm từ các vật liệu không độc hại khác, chẳng hạn như gỗ ô liu, nhựa hoặc thủy tinh – loại bỏ mối lo ngại này.

  1. Mang theo chuỗi hạt có thể bảo vệ bạn.

Đúng vậy. Chuỗi Mân Côi đã được chứng minh là một sức mạnh kỳ diệu để bảo vệ những người có đức tin và ban cho họ thêm nhiều ân sủng, chẳng hạn như chiến thắng của các lực lượng Kitô giáo trong Trận chiến Lepanto sau khi Thánh Giáo Hoàng Piô V yêu cầu các Kitô hữu phương Tây cầu nguyện bằng cách lần chuỗi Mân Côi.

Nhiều vị thánh vĩ đại trong lịch sử, bao gồm các Đức Giáo Hoàng, thánh Padre Pio, và Chị Lucia làng Fatima, cũng đã công nhận chuỗi hạt là vũ khí mạnh mẽ nhất để chống lại các trận chiến thiêng liêng thực sự mà chúng ta phải đối mặt trên trần thế.

Chúng ta biết rằng cuộc chiến thiêng liêng là một mối nguy hiểm có thực hiện nay: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao” (Êphêsô 6: 11–12). [1]

Chị Lucia, một trong ba trẻ đã thị kiền Mẹ Maria hiện ra trên đồi Cova da Ira, làng Fatima, nói với LM Fuentes năm 1957: “Trong thời đại này, Rất Thánh Trinh Nữ đã gửi đến một hiệu năng mới trong việc cầu nguyện với Kinh Mân Côi, đến độ không một vấn đề nào, ngăn trở nào, dù là thể lý hay tinh thần, trong đời sống cá nhân cũng như gia đình,… mà Kinh Mân Côi không giải quyết được. Tôi phải nói rằng không một vấn đề, một ngăn trở nào khó đến độ mà chúng ta không thể giải quyết bằng lời Kinh Mân Côi.” [2]

Cha thánh Padre Pio nói: “Một số người khờ khạo đến mức nghĩ rằng họ có thể đi hết cuộc đời mà không cần đến sự giúp đỡ của Đức Mẹ. Hãy yêu mến Đức Mẹ và lần hạt Mân Côi, vì Kinh Mân Côi của Mẹ là vũ khí chống lại những tệ nạn của thế giới ngày nay. Mọi ơn Chúa ban đều qua Đức Mẹ.”

Cha thánh nói với Lucietta Pennelli, con tinh thần của Ngài: “Hãy đọc kinh Mân Côi, và đọc mỗi ngày. Kinh Mân Côi là vũ khí phòng thủ và cứu rỗi. Kinh Mân Côi là vũ khí được Mẹ Maria ban cho chúng ta để sử dụng chống lại những mưu chước của kẻ thù hỏa ngục.”

Đức Giáo Hoàng Piô XI nói: “Kinh Mân Côi không chỉ phục vụ một cách đáng ngưỡng mộ để chiến thắng kẻ thù của Thiên Chúa và Tôn giáo, mà còn là động lực thúc đẩy việc thực hành các nhân đức Phúc âm mà kinh đó gieo trồng và vun xới trong tâm hồn chúng ta. Trên hết, Kinh Mân Côi nuôi dưỡng và làm cho Đức tin Công giáo phát triển mạnh mẽ trở lại, bằng cách suy ngẫm kỹ về các mầu nhiệm thiêng liêng, và nâng cao tâm trí đến với sự thật được Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta.”

Đức Giáo Hoàng Piô XI nói tiếp: “Các bậc làm cha, làm mẹ trong các gia đình đặc biệt phải nêu gương cho con cái của mình, nhất là khi lúc chiều tà, họ quây quần bên nhau sau giờ làm việc trong ngày, trong các bức tường trong nhà, và quỳ đọc kinh Mân Côi trước ảnh Đức Trinh Nữ, cùng nhau hòa quyện tiếng nói, niềm tin và tình cảm. Đây là một phong tục đẹp đẽ và sinh ơn cứu độ, từ đó chắc chắn không thể không phát sinh sự yên tĩnh và các ân phúc chan chứa từ trời ban cho các gia đình.”

Ngài khuyên bảo: “Rất thường xuyên, khi chúng tôi tiếp các cặp vợ chồng mới cưới đến yết kiến và nói những lời tình cha con với họ, chúng tôi trao cho họ chuỗi tràng hạt, tha thiết khuyên họ, làm theo chúng tôi, đừng để một ngày trôi qua mà không đọc kinh Mân Côi, cho dù bạn đã có thể phải gánh chịu nặng nề như thế nào bởi nhiều lo toan và lao động cực nhọc.” [3]

Còn trongTông thư Kinh Mân Côi Rosarium Virginis Mariae, ngày 16-10-2002, số 3, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Tôi cảm thấy được thôi thúc đưa ra một suy tư về Kinh mân côi…và một lời khuyên nhủ chiêm ngưỡng dung nhan Đức Kitô trong tâm tình thông hiệp với, và trong trường học của, Mẹ rất thánh Ngài. Đọc Kinh mân côi chính là chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô cùng với Mẹ Maria … Nếu được tái khám phá trong ý nghĩa trọn vẹn của nó, Kinh mân côi đi vào giữa lòng đời sống Kitô hữu; nó trao ban một cơ hội quen thuộc nhưng đem nhiều hoa quả thiêng liêng và giáo dục cho đời sống chiêm ngưỡng cá nhân, đào tạo Dân Thiên Chúa và công cuộc phúc âm hoá mới.”

Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kể ra gương mẫu của các vị thánh có lòng sùng kính phép lần hạt Mân Côi: “Sẽ không thể nêu tên tất cả các vị thánh đã khám phá trong Kinh mân côi một con đường đích thực để tăng trưởng trong sự thánh thiện. Tuy nhiên chúng ta cần nhắc đến thánh Louis Marie Grignion de Montfort, tác giả của một tác phẩm xuất sắc về Kinh mân côi, và, gần hơn với chúng ta, Cha Pio Pietrelcina, mà tôi vừa mới có được niềm vui phong thánh. Là một vị tông đồ đích thực của Kinh mân côi, Chân phước Bartolo Longo đã có một đoàn sủng đặc biệt. Con đường nên thánh của ngài dựa trên một thần hứng được nghe thấy trong cõi thâm sâu của tâm hồn: Ai truyền bá Kinh mân côi sẽ được cứu độ! Từ đó, ngài cảm thấy được mời gọi xây cất một nguyện đường dâng kính Đức Bà Mân Côi tại Pompei, gần những tàn tích của thành phố cổ, hầu như đã nghe lời loan báo của Đức Kitô trước khi bị chôn vùi vào năm 79 A.D. trong một lần phun trào núi lửa Vesuvius, chỉ vươn dậy từ đống tro tàn hàng thế kỷ sau như một nhân chứng về ánh sáng và bóng tối của nền văn minh cổ xưa. Qua sự nghiệp và đặc biệt qua việc thực hành 15 ngày thứ Bảy, Bartolo Longo đã cổ võ các tâm hồn quy hướng về Đức Kitô và chiêm ngưỡng Đức Kitô nhờ Kinh Mân Côi, và đã nhận được sự cổ võ và nâng đỡ lớn lao từ Đức Lêô XIII, vị Giáo hoàng của Kinh Mân Côi.”

Ngài kết thúc Tông thư bằng lời khuyến khích: “Tôi nhìn đến toàn thể anh chị em, những anh em, chị em thuộc mọi bậc sống, đến anh chị em, các gia đình Kitô giáo, đến anh chị em, những người bệnh và cao tuổi, đến các con, những người trẻ: Hãy cầm lấy lại chuỗi mân côi với lòng tin tưởng. Hãy tái khám phá Kinh mân côi dưới ánh sáng của Kinh Thánh, trong sự hài hoà với Phụng vụ và trong bối cảnh của đời sống hằng ngày của anh chị em.”

Đức Thánh Cha Phanxicô đã có diễn từ tại đền thờ Pompei vào Chủ nhật ngày 19 tháng 10 năm 2008, về Kinh Mân Côi như sau: “Nếu việc chiêm niệm của người Kitô hữu không thể thực hiện được mà không có Lời Chúa, thì Kinh Mân Côi, để trở thành lời cầu nguyện chiêm niệm, luôn phải phát sinh từ sự thinh lặng của trái tim như một lời đáp lại Lời, theo khuôn mẫu lời cầu nguyện của Mẹ Maria. Khi xem xét kỹ hơn, chuỗi mân côi được dệt hoàn toàn bằng các yếu tố lấy từ Kinh thánh. Trước hết, có sự thông báo về các mầu nhiệm, tốt hơn là được thực hiện như ngày nay, bằng những từ được trích từ Kinh thánh. Làm theo Cha của chúng ta: bằng cách cho lời cầu nguyện theo hướng “thẳng đứng”, nó mở tâm trí của người đọc Kinh Mân Côi để họ có thái độ hiếu thảo đúng đắn, theo lời mời gọi của Chúa: “Khi anh em cầu nguyện, hãy nói: Lạy Cha …” ( Luca 11, 2). Phần đầu tiên của Kinh Kính Mừng Ave Maria , cũng trích từ Phúc Âm, mỗi lần như vậy khiến chúng ta phải lắng nghe lại những lời Thiên Chúa đã nói với Đức Trinh Nữ qua Thiên thần, và những lời chúc phúc cho Mẹ từ người chị họ Isave. Phần thứ hai của Kinh Kính Mừng Ave Maria vang vọng như một lời đáp từ những người con, những người đang khẩn cầu Mẹ, không làm gì khác hơn là bày tỏ sự gắn bó của họ với kế hoạch cứu độ được Thiên Chúa mặc khải.. Vì vậy, tư tưởng về người cầu nguyện luôn được neo chặt trong Kinh thánh và trong những mầu nhiệm được trình bày trong đó” [4]

Cùng Chân phúc Bartolo Longo, tông đồ của Kinh Mân Côi, chúng ta thưa với Mẹ là Nữ Vương rất thánh Mân côi:

“Hỡi chuỗi Mân Côi đầy ơn phúc của Mẹ Maria, sợi dây ngọt ngào liên kết chúng con với Thiên Chúa, sợi dây tình yêu liên kết chúng con với các thiên thần, là tháp cứu độ chống lại sự tấn công của Địa ngục, bến cảng an toàn cho thế giới đắm chìm của chúng con, chúng con sẽ không bao giờ lìa xa Mẹ. Mẹ là niềm an ủi của chúng con trong giờ chết, là nụ hôn cuối cùng của chúng con khi cuộc đời sắp tàn. Và lời cuối cùng từ đôi môi của chúng con sẽ là tên ngọt ngào của Mẹ, hỡi Nữ Vương Mân Côi, hỡi người mẹ thân yêu nhất, hỡi nơi ẩn náu của những kẻ tội lỗi, hỡi Đấng bảo trợ tối cao cho những người bị đau khổ. Chúng con nguyện ước Mẹ được ngợi ca ở khắp mọi nơi, hôm nay và luôn mãi, dưới đất cũng như trên trời.”

Phêrô Phạm Văn Trung tổng hợp

[1] Edie Heipel, www.thecatholictelegraph.com.

[2] Vào ngày 26 tháng 12 năm 1957, Cha Augustin Fuentes, Cáo thỉnh viên cho việc phong chân phước cho Phanxicô và Giacinta Marto, đã gặp Sơ Lucia tại tu viện của chị ở Coimbra, Bồ Đào Nha. Tại đây, Cha đã có thể trò chuyện với Sơ Lucia rất lâu. Khi trở về quê hương Mexico, Cha tổ chức một cuộc họp về buổi gặp gỡ đó, trong đó Cha kể lại những lời của Sơ Lucia. Cha Alonso, nhà lưu trữ chính thức của Fatima trong 16 năm, nhấn mạnh rằng những lời kể về buổi gặp gỡ này đã được xuất bản “với mọi đảm bảo về tính xác thực và với sự chấp thuận của giám mục, bao gồm cả tài liệu của Giám mục Fatima.”

[3] Thông điệp Ingravescentibus Malis, ĐGH Piô XI, số 22, 28,29, ban hành tại Castel Gandolfo, gần Rôma, vào ngày 29 tháng 9, Lễ Thánh Micae Tổng lãnh thiên thần, năm 1937.

[4] Tông thư Kinh Mân Côi Rosarium Virginis Mariae, ĐGH Gioan Phaolô II, số 8, số 43

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 30
  • Page 31
  • Page 32
  • …
  • Page 77
  • Next page
Bài viết mới nhất
BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÙA PHỤC SINH
07/04/2026
TAM NHẬT THÁNH 2026 VÀ MỪNG CHÚA PHỤC SINH TẠI CÁC GIÁO PHẬN - NHỊP SỐNG GIÁO HỘI VIỆT NAM
07/04/2026
XEM LẠI VIỆC HÁT TUNG HÔ TIN MỪNG VÀ CA TIẾN LỄ
07/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.