Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
19Tháng Mười Hai
2022

Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?

19/12/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?

 

Tại sao Giáo hội mừng lễ Phục sinh vào ngày Chúa nhật mà không mừng lễ Giáng sinh vào ngày Chúa nhật cho tiện? Như vậy các tín hữu sẽ được nghỉ ngơi để tham dự Thánh lễ, chứ còn ngày 25 tháng chạp trùng vào ngày trong tuần, họ phải đi làm hay đi học. Có thể xê dịch lễ Chúa Giáng sinh sang ngày Chúa nhật được không?

Trên nguyên tắc, tôi nghĩ là Giáo hội có thể xê dịch được. Một cách cụ thể, ngày Chúa nhật hôm nay, các tín hữu tại Việt Nam cử hành lễ Hiển linh, đang khi mà tại Vatican và Italia, lễ Hiển linh được mừng vào ngày 6 tháng 1. Vì là một lễ trọng trong tuần, cho nên lịch phụng vụ cho dời lên ngày Chúa nhật tại những nơi nào mà ngày 6 tháng 1 không phải là lễ nghỉ dân sự. Có điều đáng để ý là ngày lễ Hiển linh đối với Giáo hội La-tinh là ngày kính nhớ việc Chúa tỏ mình cho Dân ngoại, nói nôm na là lễ Ba Vua đến thờ lạy Chúa; còn đối với các Giáo hội Đông phương là ngày mừng Chúa giáng sinh.

Tại sao lại có sự chênh lệch như vậy? Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25 tháng 12 hay là ngày 6 tháng giêng?

Các tài liệu của Tân ước không cung cấp cho ta một dữ kiện nào chắc chắn về ngày, tháng, năm sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng chẳng biết Chúa sinh vào ngày thứ mấy trong tuần. Đây là một điểm khác biệt giữa biến cố Giáng sinh và biến cố Phục sinh. Biến cố Phục sinh xảy ra vào ngày Chúa nhật. Các bản Phúc âm đều nói đến “sau ngày sabat, ngày thứ nhất trong tuần” (Mt 28,1; Mc 16,1-2; Lc 24,1; Ga 20,1). Vì thế mà ngay từ thời các thánh tông đồ, các tín hữu đã mừng lễ Chúa Phục sinh không những là hằng năm vào dịp lễ Vượt qua của người Do thái, mà còn hằng tuần, vào “ngày thứ nhất” mà họ gọi là ngày Chúa nhật, (ngày của Chúa), vào ngày mà nhiều dân tộc Âu châu gọi là ngày của mặt trời: dies solis trong tiếng La-tinh, Sunday theo tiếng Anh và Đức. Nhưng mà chúng ta không có một dấu chỉ nào nói về ngày Chúa sinh ra.

Vào những thế kỷ đầu tiên, các Kitô hữu mừng lễ Giáng sinh vào ngày nào?

Một điều gây cho các sử gia khá nhiều ngạc nhiên là trong các thế kỷ đầu tiên, các Kitô hữu không có cử hành lễ Chúa Giáng sinh. Đối với Hội thánh tiên khởi, lễ quan trọng hơn cả là lễ Phục sinh, mà các Kitô hữu cử hành theo lịch người Do thái dùng để tính lễ Vượt qua, tức là vào ngày trăng tròn của tháng Nisan, bắt đầu mùa Xuân. Trong 3 thế kỷ đầu, lịch phụng vụ không nói tới lễ Giáng sinh. Mãi đến cuối thế kỷ III, mới thầy có vài nơi mừng lễ Chúa ra đời.

Họ mừng vào ngày nào?

Đây là cả một chuyện tò mò thú vị cho các sử gia, bởi vì mỗi nơi mừng vào một ngày khác nhau. Dĩ nhiên là các sử gia phải tìm hiểu dựa trên cơ sở nào mà các tín hữu ấn định ngày lễ. Ông Clêmentê bên Alexanđria (Ai cập) kể lại rằng vào thời ấy (khoảng năm 200) có người đã bắt đầu tính toán ngày Chúa sinh ra, và xác định là ngày 25 tháng Pachon vào năm 28 của triều hoàng đế Augustô (Stromata I, XXXI, 145,6). Tính theo lịch hiện hành là ngày 20 tháng 5, năm thứ 4 trước công nguyên. Một tác phẩm khác -De pascha computus trước đây được gán cho thánh Cyprianô giám mục Cartagô (Bắc Phi) tử đạo năm 248, – long trọng tuyên bố rằng Chúa giáng sinh vào ngày 28 tháng 3, vào ngày thứ 4 trong tuần. Dựa vào đâu mà khẳng định như vậy? Có lẽ là lý do hoàn toàn thần học chứ không dựa trên bằng chứng lịch sử. Chúa Giêsu được ví như mặt trời công chính (từ ngữ lấy từ ngôn sứ Malaki 3,20). Sách Sáng thế nói đến mặt trời được dựng vào ngày thứ 4. Vì thế mà đặt lễ Giáng sinh vào ngày thứ 4 là hợp tình hợp lý rồi.

Nhưng mà tại sao lại đặt ngày Chúa sinh vào tháng 3 chứ không phải vào tháng 12 như hiện nay?

Thật khó mà biết được lý do chính xác, bởi vì người xưa không lý luận theo các dữ kiện quan sát khoa học như chúng ta, nhưng dựa vào truyện cổ tích hay truyền thống dân gian. Các học giả chỉ có thể đưa ra giả thuyết mà thôi. Một giả thuyết cho rằng người thượng cổ ấn định ngày tạo thiên lập địa vào 25 tháng 3. Vì thế mà đặt ngày Chúa giáng sinh kề với ngày đó là muốn nêu bật rằng biến cố Chúa Giáng sinh đánh dấu một cuộc tạo dựng mới. Một giả thuyết khác cho rằng các tín hữu cử hành lễ Vượt qua vào đầu mùa Xuân. Đầu mùa Xuân, tức là 25 tháng 3. Vì thế họ cũng muốn mừng lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 3, bởi vì họ nghĩ rằng Chúa chết khi đã đủ trọn ngày tháng: ngày sinh ngày chết trùng nhau. Nhưng mà thay vì mừng ngày Chúa nhật thì mừng ngày thứ 4, để tránh tam nhật chuẩn bị lễ Phục sinh.

Từ lúc nào lễ Chúa giáng sinh được dời từ tháng ba sang tháng chap?

Câu chuyện không đơn giản như chị nghĩ đâu. Các Giáo hội bên Đông phương mừng lễ Giáng sinh vào tháng giêng chứ không phải vào tháng chạp. Và có thể nói rằng nhật kỳ này cổ điển hơn, tại vì nguồn gốc lễ Giáng sinh bắt đầu từ bên Đông phương, đặc biệt là tại Palestin, quê hương của Đức Giêsu. Vào cuối thế kỷ IV, ở Giêrusalem người ta mừng lễ Chúa giáng sinh vào ngày 6 tháng giêng. Ngày 6 tháng giêng dựa trên cơ sở nào? Hoàn toàn là lý do thần học chứ không phải là lý do lịch sử. Theo thánh Ephrem, lễ Chúa giáng sinh được mừng 13 ngày sau ngày đông chí. Ngày đông chí được ấn định vào 24 tháng 12. Cộng thêm 13 ngày thì thành ra 6 tháng giêng. Tại sao mà 13? Thánh Ephrem giải thích là để kính nhớ Chúa Giêsu mặt trời đánh tan đêm tối, cùng với 12 tông đồ của ngài.

Nhưng mà ngày 6 tháng 1 được gọi là lễ Hiển linh chứ đâu phải là lễ Chúa giáng sinh đâu?

Lịch sử đối chiếu các lịch phụng vụ cho thấy rằng nội dung của lễ Hiển linh rất là phong phú. Đối với lịch phụng vụ của Giáo hội La-tinh, thì trước đây người ta nhấn mạnh đến việc Ba Vua đến thờ lạy Chúa Hài nhi. Kỳ thực, các bản văn phụng vụ nói tới ba biến cố Hiển linh, nghĩa là Chúa tỏ mình ra. Một là tỏ mình cho các đạo sĩ Đông phương; hai là Chúa tỏ mình lúc lãnh phép rửa ở sông Hoà giang. Ba là Chúa tỏ mình ở tiệc cưới Cana. Còn lịch phụng vụ của các Giáo hội Đông phương thì mừng cả biến cố Chúa giáng sinh nữa. Nói cách khác, họ không có lễ mừng nào vào ngày 25 tháng chạp, nhưng dồn tất cả vào ngày 6 tháng giêng.

Dựa vào đâu mà mừng Chúa giáng sinh vào ngày 25 tháng chap?

Cho đến nay, hầu hết các sử gia đều cho rằng việc gắn lễ Chúa giáng sinh vào ngày 25 tháng chạp dựa trên lý do thần học chứ không dựa trên lý do lịch sử. Tại Rôma, từ năm 274, người ta đã mừng lễ kính Mặt trời (Sol invictus), vào ngày đông chí. Giáo hội tại Rôma, sau khi đã được hưởng tự do tôn giáo, đã cử hành lễ Chúa Giáng sinh, mặt trời soi đàng công chính, thay thế cho lễ ngoại đạo. Có những chứng tích cho thấy rằng từ năm 336, lịch phụng vụ đã ghi ngày 25 tháng 12 là lễ Giáng sinh. Lúc đầu là một lễ địa phương của Giáo hội Rôma, dần dần lan sang Bắc Phi. Đến cuối thế kỷ IV, thì nhiều vùng bên Giáo hội Đông phương cũng mừng ngày Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng chạp, như chúng ta thấy các bài giảng của các giáo phụ Basiliô vào khoảng năm 375, Grêgôriô Nissa năm 380, Gioan kim khẩu năm 386. Đặc biệt là thánh Gioan kim khẩu, trong bài giảng nhân ngày 25 tháng 12 năm 386 tại Antiôkia đã giải thích lý do vì sao du nhập lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12 thêm vào lễ 6 tháng giêng. Chị có thể tưởng tượng rằng trong Giáo hội của ngài có nhiều thành phần bảo thủ, không chấp nhận những canh tân, nhất là khi sự canh tân đến từ Tây phương. Thánh Gioan không đả động chi đến các nguồn gốc thần học của Giáo hội Rôma mà cố gắng thuyết phục cộng đoàn bằng lý do lịch sử. Thánh Luca nói rằng thiên sứ Gabriel hiện ra với ông Dacaria khi ông này vào đền thờ tiến hương. Thử hỏi xem ông ta vào đền thờ vào kỳ nào? Thưa vào dịp lễ xá tội, Yom Kippur, vào cuối tháng 9.

Sáu tháng sau, thiên thần hiện ra với Đức Mẹ Maria tại Nadarét. Như vậy là cuối tháng 3. Và, chín tháng sau đó, (cuối tháng 12) Chúa ra đời là đúng rồi. Do đó chúng ta hãy mừng lễ Chúa Giáng sinh vào cuối tháng 12 thì hợp lý hơn. Và rồi, vào ngày 6 tháng giêng, người ta không còn mừng lễ Chúa Giáng sinh nữa, nhưng chỉ còn mừng lễ Chúa tỏ mình ra. Cần nhắc lại rằng nội dung của việc tỏ mình được đánh giá khác nhau tùy nơi tùy thời. Có nơi nhấn mạnh đến việc tỏ mình cho dân ngoại qua việc ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy. Có nơi nhấn mạnh đến việc tỏ mình nơi sông Hoà giang, khi tiếng nói từ trời mặc khải thân thế và sứ vụ của Đức Giêsu như là Tôi tớ yêu dấu của Thiên Chúa. Đang khi mà phụng vụ bên Đông phương dành một ngày cho các biến cố vừa nói, thì lịch phụng vụ Rôma dành ra hai ngày khác nhau: một ngày để cử hành lễ tỏ mình cho dân ngoại, và một ngày để kính việc Chúa Giêsu chịu phép rửa. Cần phải thêm một lần tỏ mình thứ ba tại tiệc cưới Cana, được nhắc đến ở Chúa nhật thứ hai mùa Thường niên.

Như vậy, lễ Chúa Giáng sinh hiện nay dựa trên lý do thần học hơn là dựa trên lý do lích sử, phải vậy không?

Đúng như vậy. Chúng ta không rõ Chúa Giêsu sinh vào ngày nào, tháng nào. Chúng ta không biết Chúa sinh vào mùa đông lạnh lẽo, mùa xuân ấm áp hay mùa hè nóng bức. Lễ Chúa Giáng sinh được mừng vào ngày 25 tháng chạp để thay thế cho ngày lễ kính thần Mặt trời của dân Rôma. Tuy vậy cũng nên biết là trong các bài giảng nhân lễ Chúa Giáng sinh, thánh Lêô cả Giáo hoàng (vào cuối thế kỷ V) không còn khai triển đề tài mặt trời công chính cho bằng mầu nhiệm nhập thể: Ngôi Lời đã đến ở giữa chúng ta. Ngài chiếu sáng cho nhân loại, khi kêu mời con người đến thông phần bản tính Thiên Chúa. Nhưng mà cần phải có đức tin thì mới nhận ra ánh sáng đó, bởi vì Thiên Chúa đến với chúng ta không phải với cảnh huy hoàng rực rỡ nhưng trong thân phận khó nghèo khiêm tốn. Dù sao, thì vào năm 544, tu sĩ Điônixiô đã chấp nhận như là một chứng cớ lịch sử việc Chúa Giêsu sinh ra ngày 25 tháng 12. Dựa vào đó, ông ta xác định kỷ nguyên mới, năm thứ 1 kỷ nguyên Kitô giáo, hay cũng gọi là Công nguyên. Tiếc rằng ông đã tính lệch đi khoảng 5-6 năm.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành

Read More
13Tháng Mười Hai
2022

Tin Mừng Matthêô – Đào sâu kiến thức về chu kỳ phụng vụ năm A

13/12/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

TIN MỪNG MATTHÊÔ:
ĐÀO SÂU KIẾN THỨC VỀ CHU KỲ PHỤNG VỤ NĂM A

Tác giả: Ronald D. Witherup
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

– Từ khi cải cách phụng vụ sau Công đồng Vatican II, cứ mỗi ba năm thì chu kỳ các bài đọc Chúa Nhật lại bắt đầu với Tin Mừng Matthêô. Đối với những người thường xuyên rao giảng Lời Chúa thì có lẽ đây là một thách thức. Có thể nói cái gì mới hơn không? Có thể hiểu hơn về những gì đã khá quen thuộc rồi không? Bài viết này đề nghị những con đường mới để theo đuổi suốt năm phụng vụ Thánh Matthêô.

Trước khi lên đường, nên lưu ý ngay từ đầu rằng quan trọng là hướng đi. Mỗi năm phụng vụ mới, dù khá quen thuộc, nhưng cũng cho ta một cơ hội mới để đào sâu kiến thức về những gì mà ta đã biết rồi. Thực tế, điều đó có nghĩa là chúng ta được mời gọi để một lần nữa cởi mở chính mình ra và ngạc nhiên về những điều mà ta cho rằng mình đã biết rõ.

Một cách để đào sâu về Thánh Matthêô là sử dụng những nguồn tài liệu mới như bạn đồng hành trong năm nay. Trong khi những cuốn chú giải lập lại những thông tin cơ bản, những cuốn sách mới cho ta những cái nhìn mà ta chưa từng nghĩ trước đó. Về Matthêô, tôi đề nghị ba nguồn mới: các chú giải của Brendan Byrne trong “The Paulist Biblical Commentary” (Paulist Press, 2018); David R. Bauer, “The Gospel of the Son of God: An Introduction to Matthew” (IVP Academic, 2019); và nhiều tính kỹ thuật hơn là cuốn R. Alan Culpepper, “Matthew: A Commentary” (Westminster John Knox, 2022). Không có gì sai khi đọc lại các nguồn hữu ích đã sử dụng trong quá khứ song việc tiếp cận những trình bày mới về Tin Mừng khiến cho việc tận dụng những nhãn quan học thuật mới trở nên xứng đáng với nỗ lực, giúp ta khám phá Matthêô sâu xa hơn.

Thay vì đưa ra một bản tóm những phần khác nhau của Tin Mừng Matthêô, tôi đưa ra vài con đường để suy tư sâu hơn về “Tin Mừng đầu tiên” này – gọi như thế vì đây là Tin Mừng được xếp đầu tiên trong Tân Ước – được gán cho Thánh Matthêô, người môn đệ hành nghề thu thuế của Đức Giêsu (cf. 9:9).

Bối cảnh và trình thuật

Lời khuyên đầu tiên xem ra có tính trần tục và quá hiển nhiên song thường bị bỏ qua. Vì Matthêô là Tin Mừng “xếp theo trật tự” nên nhiều nhà giảng thuyết thường tập chú vào những phần nổi bật. Đầu tiên trong số này là 5 “bài giảng” lớn, hay diễn từ, bắt đầu với Bài Giảng Trên Núi lừng danh (các chương 5-7; rồi 10, 13, 18 và 23-25). Từ thời cổ, năm giáo huấn này của Đức Giêsu đã thu hút các nhà chú giải như là những dấu cấu trúc. Nhưng tiếp cận này đã bỏ qua một đặc điểm quan trọng: Matthêô trước hết và trên hết là một trình thuật, không chỉ đơn giản là bộ sưu tập giáo huấn tâm linh và đạo đức.

Nhà giảng thuyết sẽ phải chú ý hơn đến bối cảnh của mỗi đoạn trích Tin Mừng được sử dụng suốt năm phụng vụ. Cái gì đi trước cái gì đi sau một đoạn Tin Mừng có thể giúp đóng khung nhiệm vụ của đoạn ấy trong Tin Mừng. Câu chuyện kéo dài từ bản gia phả (cf. 1:1-17) cho đến Đại Ủy Nhiệm (28:16-20), từ ông Abraham cho đến vương quốc cánh chung. Đây là lời loan báo về “Emmanuel” — Thiên Chúa ở cùng chúng ta — mà sự hiện diện được bảo đảm ngay sau khi Ngài trở về với Chúa Cha (1:23; 18:20; 28:20).

Khi trình thuật này được mở ra, nó mạc khải rằng Đức Giêsu là người Con trung thành và vâng phục của Thiên Chúa trong cả Lời (đặc biệt là 5 diễn từ) và hành động (vô số những phép lạ). Mọi điều trong Tin Mừng đều ở đấy để củng cố cho căn tính này, là hiện thực của những gì được các ngôn sứ loan báo. Chú ý đến lược đồ bao quát này có thể giúp cho nhà giảng thuyết thấy được những đoạn riêng lẽ nối kết hay nâng đỡ trình thuật. Nó đạt đỉnh trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu (các chương 26-28), trình bày ngài như là người con đích thực của Thiên Chúa vì đã tự nguyện chấp nhận ý Chúa Cha khi chịu đau khổ và chết đi để cứu dân Ngài. Câu chuyện Đấng Emmanuel Cứu Thế xảy ra trọn vẹn như thế (1:21; 26:28; 27:54).

Chiến thuật thứ hai để giảng Tin Mừng Matthêô là tìm kiếm các chủ đề xuất hiện thường xuyên trong diễn biến câu chuyện về Đức Giêsu. Không có Tin Mừng Nhất Lãm nào có tính khái quát. Mỗi Tin Mừng có những điểm nhấn riêng biệt, đem lại cho nhà giảng thuyết điểm thuận lợi duy nhất mà từ đó có thể hiểu nhãn quan của Tin Mừng Matthêô. Trong số nhiều chủ đề có thể, tôi chỉ ra bốn chủ đề.

Đặc tính người môn đệ

Matthêô không chỉ tập chú vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa. Ông cũng chen vào chủ đề người môn đệ. Đây là điều rõ ràng theo hai cách. Trước hết, Matthêô là Tin Mừng duy nhất sử dụng từ “Giáo Hội” (tiếng Hy Lạp là: ekklēsia), đầu tiên là khi nhìn nhận Phêrô là tông đồ thứ nhất (cf. 16:18) và rồi khi nói đến toàn thể cộng đoàn các môn đệ (18:17). Đức Giêsu nói rõ trong trọng tâm Bài Giảng Trên Núi khi dạy các môn đệ Kinh Lạy Cha (6:9-13) rằng Ngài đang thành lập một cộng đoàn mới dựa trên đức tin chứ không phải máu huyết (12:48-50).

Thật ra, có thể xem 5 diễn từ như giáo huấn đặc biệt về bản tính người môn đệ. Các môn đệ được mời gọi giống như con trẻ (chứ không phải là trẻ con), để theo chân Đức Giêsu bằng cách vác thập giá, phục vụ hơn là được phục vụ, và tham dự vào sứ vụ của Đức Giêsu như rao giảng, chữa lành và – sau khi Đức Giêsu về với Chúa Cha – là dạy dỗ (cf. 28:20).

Không giống như đặc tính các môn đệ trong Tin Mừng Marcô, trong Tin Mừng Matthêô họ dễ nhận thiên tính của Đức Giêsu hơn (cf. 14:33; 16:16), dù đôi khi “kém tin” (6:30; 14:31) hoặc sa vào những nghi ngờ, thậm chí vào giai đoạn cuối (28:17). Matthêô nhấn mạnh những đặc tính môn đệ nào đó. Một đặc tính đó là họ không phải là một tổ chức tự nguyện (8:18-22). Đức Giêsu đã phải kêu gọi các môn đệ và họ phải tự do đáp trả và đi theo (4:18-22). Hơn nữa, các môn đệ cần từ bỏ các mối quan hệ trần thế (10:37-39) và của cải vật chất để theo Đức Giêsu (10:8). Quan trọng hơn hết, họ phải sẵn sàng chịu đau khổ vì Tin Mừng (10:16-19).

Các môn đệ được mời gọi là “muối” và “ánh sáng” trong thế gian (cf. 5:13-14), và họ được sai đi để loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu và kêu gọi mọi người sám hối. Rủi thay, cũng như trong Marcô, khi thời khó khăn đến, ngay cả các môn đệ khá mẫn cảm này cũng tránh xa Đức Giêsu trong lúc cần thiết (26:56). Làm môn đệ không hề dễ dàng.

Luân lý của Nước Trời

Một chiều kích mạnh trong Tin Mừng Matthêô là nhãn quan luân lý. Chìa khóa để mở nó là Bài Giảng Trên Núi. Hầu hết các nhà chú giải đều xem diễn từ này là tài liệu nền tảng của Kitô giáo. Nó xuất hiện không chỉ trong chú giải Tin Mừng thứ nhất này mà còn trong các bài đọc Mùa Chay, khi các Kitô hữu được mời gọi thống hối, sửa đổi và hoán cải. Thậm chí bối cảnh của bài giảng cũng quan trọng. Đức Giêsu giảng nó ở trên đỉnh núi – nơi hiện diện và mạc khải của Thiên Chúa, nhắc nhớ lại việc ông Môisê nhận lãnh lề luật – và thính giả gồm các môn đệ ở hàng đầu tiên vây quanh là “đám đông” (5:1).

Có nhiều đặc điểm nổi bật. Nó bắt đầu với Bát Phúc (thật ra là chín chứ không phải tám), nêu tiêu chuẩn cao cho tất cả môn đệ Đức Giêsu và ám chỉ sự đau khổ trong tương lai vì danh Đức Giêsu. Nó cũng bao gồm một loạt những chú giải lề luật tận căn – “các ông nghe nói rằng, nhưng ta nói rằng …” — điều này đòi hỏi các môn đệ phải theo một “sự công chính” cao hơn (5:20). Bài giảng kết thúc với ví von về hai ngôi nhà trái nghịch nhau, một xây trên cát và một xây trên đá. Chỉ có nền tảng vững chắc mới có thể giữ cho ngôi nhà đứng vững qua thời gian, tượng trưng cho nhu cầu người tín hữu phải đâm rễ sâu vững chãi trong các nguyên tắc luân lý. Ở giữa bài giảng là giáo huấn về cầu nguyện, nổi bật lên trong Kinh Lạy Cha, mời gọi ta làm theo ý Chúa chứ không phải ý mình.

Nếu bài giảng hiện thực cho luân lý theo Matthêô thì nó không chứa đựng tất cả luân lý ấy. Tin Mừng nầy được lấp đầy bằng các giáo huấn quan trọng khác, gồm cả nhu cầu tha thứ cho tha nhân, duy trì hôn nhân và tránh ly dị, đồng thời cũng cảnh báo việc Con Người đến để phán xử, thời gian mà chúng ta sẽ bị tính đến vì điều mình đã làm hay không làm theo sứ điệp Tin Mừng.

Chúng ta cũng sẽ không bỏ qua bản tính cụ thể của lời khuyên Matthêô. Nhược điểm chính, trong mắt tác giả Tin Mừng, là khi ta nói điều này nhưng làm điều khác. Thói giả hình là tối kỵ. Điều này không chỉ chống lại nhóm lãnh đạo Do Thái giáo, nhưng áp dụng cho tất cả các người có đầu óc tôn giáo nghĩ rằng mình có thể làm trọn lề luật của Chúa bằng mồm hơn bằng hành động. Matthêô cảnh báo rằng nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” thôi thì chưa đủ để vào nước trời (cf. 7:21; 25:11-12). Hơn nữa, phải trung thực trong lời nói “Có thì nói có, không thì nói không” (5:37). Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi việc dối trá đã thành đặc điểm tiêu chuẩn cho các ý thức hệ chính trị, và nơi mà việc đăng tin vô danh trên truyền thông đại chúng dẫn đến mọi điều gian dối, trong bối cảnh ấy thì việc phục hồi quan điểm đạo đức thật sự là điều sống còn. Matthêô đã chỉ ra cách.

Ngày phán xét đang đến

Một trong những bổn phận thách thức nhất khi giảng Tin Mừng Matthêô là làm sao tiếp cận được vấn đề phán xét. Chủ đề này nổi lên trong nhiều hình ảnh. Một hình ảnh là ẩn dụ cây sinh trái tốt hoặc trái xấu. Gioan làm phép rửa, tiền hô của Đức Giêsu như là Đấng Cứu Thế, cũng đã rao giảng rằng nếu cây không sinh trái tốt, nó sẽ bị chặt đi và ném vào lửa (cf. 3:10). Đức Giêsu cũng nói bóng gió về điều này (12:33; 13:23). Bài Giảng Trên Núi cũng âm vang giáo huấn này (7:16-20).

Những lời cảnh báo về ngày phán xét xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng và như tiếng kêu thức tỉnh để hành động đúng với đức tin. Chủ đề cũng đạt đỉnh trong câu chuyện phán xét cừu và dê (cf. 25:31-46), minh họa những hành động cụ thể của chúng ta đối với những người đang cần đến mình, hoặc tốt hoặc xấu khi chúng ta sống sứ điệp Tin Mừng. Thánh Matthêô sử dụng ngôn ngữ khải huyền đặc trưng của Do Thái giáo để hình dung mối đe dọa này (lửa không hề tắt, nghiến răng, khóc than), tất cả là những đặc điểm tiêu chuẩn trong ngày của Ngài.

Ơn cứu rỗi phổ quát

Hầu hết các học giả xem Matthêô có tính Do Thái nhất trong các Tin Mừng. Có nhiều điểm khẳng định điều này, chẳng hạn như những trích dẫn hiện thực điều được loan báo trong Cựu Ước (e.g., 1:22-23; 26:54; 27:9), nhấn mạnh đến “lề luật và các ngôn sứ” (7:12), và lối diễn tả “Nước Trời”, cách nói vòng vo để chỉ triều đại của Thiên Chúa. Matthêô tán dương sứ mệnh cứu rỗi của Đức Giêsu như sứ mệnh được hiến dâng cho toàn thể nhân loại. Matthêô có một nhãn quan phổ quát.

Chủ đề này được gợi lên cách kín kẻ trong tước hiệu của Đức Giêsu là “con cháu Abraham” (1:1), nhân vật mà Thiên Chúa đã hứa cho làm “cha của nhiều dân tộc” (Stk 17:4) và là người đứng đầu gia phả của chính Đức Giêsu (cf. Mt 1:2). Nó được tiếp nối trong các câu chuyện giống như việc chữa lành người tôi tớ của viên bách quan (8:5-13). Đức Giêsu ngạc nhiên khi thấy một viên bách quan Rôma, một người không phải người Do Thái, đến xin Ngài chữa lành cho người đầy tớ của mình. Trước khi đáp ứng lời cầu xin, Đức Giêsu đã khen ngợi lòng tin của ông khi nói: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế” (8:10). Ngài tiên báo rằng Nước Trời sẽ không chỉ có dân Israel mà tất cả những người sẽ đến từ phương Đông phương Tây.

Đức Giêsu cũng cảnh báo các thính giả Do Thái của mình rằng họ không thể chỉ dựa vào di hệ từ Abraham để bảo đảm vào Nước Trời (cf. 3:9). Cần nhiều hơn thế nữa. Song đức tin đòi hỏi phải hoán cải và tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức cao hơn nữa của Nước Trời.

Người nữ đối trọng với viên bách quan là người đàn bà Canaan đến từ miền Tyrô và Sidon (cf. 15:21-28). Một lần nữa Đức Giêsu chạm trán với đức tin bên ngoài ranh giới Israel. Thoạt tiên, lời cầu xin chữa lành đứa con gái bị quỷ ám của bà đã bị Đức Giêsu từ chối, Ngài nhấn mạnh rằng mình chỉ được sai đến với “chiên lạc nhà Israel” (15:24). Nhưng chứng kiến lòng thành của bà đối với mình, Đức Giêsu khen ngợi lòng tin của bà và đứa con gái bà được chữa lành cách lạ lùng.

Đỉnh điểm của chủ đề này được tìm thấy trong lệnh truyền cuối cùng của Đức Giêsu phục sinh cho các môn đệ (trên một đỉnh núi!). Đức Giêsu bảo họ ra đi và “làm cho các dân tộc trở thành môn đệ” [tiếng Hy Lạp là: panta ta ethnē], rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (28:19).

Chúng ta không nên bỏ qua việc đưa chủ đề này vào trong bối cảnh riêng của chúng ta. Nơi đâu mà người Công Giáo muốn thu hẹp đức tin và hạn chế chỉ trong số ít tín hữu thì Đức Giêsu của Matthêô nới rộng vòng vây để bao trùm lên hết những ai muốn vác lấy thập giá và đi theo Ngài.

Những sai lầm cần tránh

Giảng Tin Mừng Matthêô vừa thích thú vừa thách thức. Tuy nhiên, tôi nghĩ nên tránh vài sai lầm chung chung. Trước hết, đừng chỉ đọc Matthêô như một Tin Mừng giống như các tin mừng khác, thậm chí như các Tin Mừng Nhất Lãm. Hãy cố đi vào khuôn khổ hay vũ trụ của Matthêô và nhận ra cách ông cố truyền đạt cho cộng đoàn của mình những chân lý về Đức Giêsu mà ông nhận ra.

Thứ đến, hãy cố gắng tránh mọi chú giải có tính bài Do Thái. Chẳng hạn, câu khủng khiếp trong 27:25 không phải là lời nguyền rủa người Do Thái vì sự liên quan của vài lãnh đạo Đền Thờ trong cái chết của Ngài. Thật ra, đây là câu mai mỉa, đặt người Do Thái một lần nữa dưới sứ mệnh của Đức Giêsu là cứu rỗi dân Ngài.

Thứ ba, mặc cho cấu trúc của sách Bài Đọc, hãy cố giữ một bức tranh rộng lớn hơn của những đoạn trích riêng lẽ cho hợp với trình thuật tổng thể của Matthêô. Từ Chúa Nhật này sang Chúa Nhật khác, có thể đi theo một đường thẳng và phân định những chủ đề đan xen nhau, đây là điều đặc biệt của Tin Mừng này.

Thứ tư, hãy đọc bản văn trước hết, rồi xem các chú thích của cuốn Kinh Thánh, và sau khi suy tư, hãy tra một vài cuốn chú giải. Không gì thay thế được sự tiếp xúc trực tiếp với Lời Chúa.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng mỗi bài giảng chỉ truyền đạt một phần nào sứ điệp Tin Mừng. Hãy lấy ra và chọn điều gì thích hợp nhất cho bối cảnh của riêng bạn cũng như hãy nhận thấy rằng mình cần phải để sang một bên vài ý tưởng tuyệt vời. Bạn có thể lấy lại chúng trong ba năm nữa!

Nguồn: gpquinhon.org

Read More
13Tháng Mười Hai
2022

Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Gia đình khác đạo

13/12/2022
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO

Bài 69: GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO

Cao Gia An, S.J.

Hỏi: Con được sinh ra trong gia đình có Bố là người bên lương và Mẹ là người Công giáo. Bố con vẫn giữ những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… Bà nội con thường đi gặp Thầy ở Chùa để xin giải hạn cho con. Con đã được rửa tội, và hiểu rõ những bối rối của Mẹ con. Vậy, chúng con có được tham gia những nghi thức mà Bố và Bà con tham gia không?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi thường gặp, vì thật ra trường hợp của gia đình bạn không phải là trường hợp hoạ hiếm ngày nay. Sau hơn 400 năm Tin Mừng đến Đất Việt, người Công giáo ở thời điểm hiện tại vẫn chỉ là một thiểu số trong lòng dân tộc Việt Nam. Trước đây, Đạo Công giáo ở Việt Nam đã phải trải qua một thời gian dài sống khép và kín theo hướng tự vệ. Khi đó người Công giáo chỉ được phép lấy người Công giáo và không có nhiều gia đình sống theo hôn nhân khác đạo. Nhưng khi cuộc sống mở ra, nhất là khi Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chọn “sống đức tin giữa lòng dân tộc”, nhiều khả thể khác được mở ra với các gia đình Công giáo. Hôn nhân khác đạo đã không còn là chuyện quá lạ lùng hay cấm kỵ.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những khó khăn và thử thách trong đời sống đạo của hai mẹ con bạn. Mẹ của bạn đã theo tiếng gọi của con tim, đã can đảm chọn đi một con đường khó. Trên con đường ấy, nỗ lực gìn giữ đức tin và việc nuôi dưỡng bạn lớn lên theo truyền thống Công giáo là điều rất đáng trân trọng. Những bối rối và trăn trở của cả hai mẹ con bạn trong trong việc làm sao để sống đúng đức tin của mình cho chính đáng và phù hợp cũng là điều rất đáng trân trọng.

Để phần nào giãi gỡ những bối rối và trăn trở ấy, trước hết, chúng ta cần nhận ra những điều tích cực trong gia đình của bạn.

Nếu ngay từ đầu, bố mẹ của bạn và gia đình nội ngoại hai bên đã đồng thuận trong việc Đạo ai nấy giữ, đồng thời Giáo hội đã chuẩn nhận việc hôn nhân khác đạo, thì điều quan trọng nhất là việc thực hành đức tin riêng của mỗi bên cần phải được tôn trọng, đúng không? Bạn đã được cho rửa tội để làm người Công giáo, nghĩa là gia đình bên nội đã có một sự tôn trọng nhất định đối với mẹ bạn và tôn giáo của mẹ bạn rồi. Việc chấp thuận để cho bạn được rửa tội và được giáo dục theo đức tin Công giáo cũng cho thấy gia đình bên nội cũng đã giữ lời hứa so với cam kết ban đầu của mình. Nếu hai mẹ con bạn đã có đủ tự do để sống đức tin Công giáo của mình, bố của bạn cũng xứng đáng có được sự tự do ấy để sống đức tin của mình, phải không?

Vì thế, việc bố của bạn theo những nghi thức của Phật Giáo, hay của niềm tin tự nhiên theo truyền thống gia đình bên nội, là điều cần được tôn trọng. Việc thực hành những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… cho thấy bố của bạn là một người có đời sống tâm linh, có tâm tình tôn giáo. Đây là phẩm chất rất quý của con người sống trong thời hiện đại. Cũng vậy, việc bà nội đi Chùa cầu siêu cho cháu của mình cũng là một điều chính đáng, phải không? Đó là cách bà thể hiện tình thương và sự chăm sóc cho cháu mình. Bạn nên nhận sự quan tâm và chăm sóc ấy, nên cám ơn bà nội của mình về điều ấy. Hơn nữa, cả gia đình bên nội của bạn theo Phật Giáo, chắc chắn những ngày giỗ chạp hay đám tiệc của nhà nội sẽ phải được tổ chức theo nghi thức tôn giáo của bên ấy. Đối với những nghi thức ấy, bạn nên có sự tôn trọng đúng mực.

Sự hiện diện của mẹ con bạn với cả đại gia đình trong những dịp họp mặt và lễ truyền thống như thế là cách sống sự hiệp thông và nuôi dưỡng tình thân gia đình. Đó là một phần của gia đình mà mẹ bạn đã chọn để sinh bạn ra và nuôi dưỡng bạn lớn lên. Vì vậy, hai mẹ con bạn không nên tự tách mình ra khỏi bầu khí gia đình chỉ vì lý do khác biệt về tôn giáo. Bởi lẽ, nếu nại vào lý do khác biệt tôn giáo để hai mẹ con bạn sống tách biệt và cô lập, thì hoá ra tôn giáo lại trở thành duyên cớ của sự phân biệt và chia rẽ trong cùng một gia đình hay sao?

Cần phân biệt rõ rằng việc vái hương hay cúi đầu tỏ lòng tôn kính trước Đức Phật không phải là việc tôn thờ ngẫu tượng. Cũng giống như việc người Công giáo thắp nhang và cúi đầu trước bàn thờ của ông bà tổ tiên: đó là cách thể hiện lòng hiếu thảo và tôn kính, chứ không phải là tôn thờ. Chúng ta chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa. Trong đức tin của chúng ta, Đức Phật là một Đấng đáng kính, đáng để chúng ta bày tỏ lòng kính ngưỡng mộ và tôn trọng.

Thêm nữa, có thể phân biệt rằng tham dự thì khác với tham gia. Bạn có thể tham dự vào những nghi lễ trong gia đình bên nội bằng sự hiện diện và sự tôn trọng, bằng mối dây hiệp thông gia đình. Nhưng sự tham dự ấy không có nghĩa là bạn tham gia vào việc thờ phượng của một tôn giáo khác. Bởi vì bạn mang một đức tin khác, một văn hoá khác, lòng của bạn hướng về một Đấng khác.

Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên, cần nhớ rằng việc thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất không loại trừ và cấm chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với những bậc đáng kính, dù là trong tôn giáo mình hay trong các tôn giáo bạn. Cần nhìn nhận rõ ràng rằng những người thuộc các tôn giáo khác không phải là đối thủ, càng không phải là kẻ thù nguy hiểm cho đức tin chúng ta. Chúng ta luôn có thể chung sống trong an bình và dành cho nhau sự tôn trọng sâu sắc với những người khác niềm tin với chúng ta. Đó là cách để chúng ta xây dựng một thế giới hoà bình. Thế giới ấy khởi đi từ chính gia đình của bạn.

Đây là lời khuyên quan trọng dành cho bạn: khi bạn và mẹ của bạn đã cùng chia sẻ với gia đình bên nội những sinh hoạt của họ, thì thỉnh thoảng cũng nên mời họ tham dự vào các sinh hoạt cầu nguyện của bên mình, phải không? Nếu bạn đã cùng tham dự những buổi cầu nguyện với gia đình nhà nội, bạn có từng thử cũng mời họ tham dự giờ cầu nguyện và giải thích cho họ về ý nghĩa của việc cầu nguyện trong đạo Công giáo không? Nếu bạn đã một vài lần đến Chùa cùng với bố và nội, bạn có từng thử mời họ một vài lần đến Nhà Thờ với mình không? Chẳng hạn: vào những dịp quan trọng như Giáng Sinh, Phục Sinh, các buổi diễn nguyện thánh ca, hay các hoạt động bác ái xã hội… Đã bao giờ bạn thử mời bố cùng tham dự vào giờ kinh tối, phút hồi tâm cuối ngày, hay một giờ trầm lắng cầu nguyện nào đó với mẹ con bạn không?

Mục đích của chúng ta ở đây không phải là việc “dụ khị” bố của bạn hay nhà bên nội của bạn vào đạo Công giáo. Mục đích chính ở đây, trước hết là giúp cho bố bạn và nhà bên nội có cơ hội để hiểu và có thiện cảm với Đạo của mẹ con bạn. Đừng trình bày với gia đình bên nội về Đạo của mình như là Đạo cho phép làm điều này, cấm làm điều kia… như thể Đạo chỉ là một bộ luật và một mớ nguyên tắc. Hãy giới thiệu cho họ về một Thiên Chúa là Cha bao dung và yêu thương, một Thiên Chúa không nhất thiết phải luôn luôn đòi hỏi và áp đặt, một Thiên Chúa dám đặt niềm tin của mình vào tự do của con người.

Biết cách sống tốt đức tin của mình trong gia đình, biết bám rễ từ tinh thần đại đồng Kitô giáo để xây dựng hạnh phúc gia đình, biết đâu bạn và mẹ của bạn có thể thuyết phục được bố và chia sẻ được với bố về niềm tin của mình thì sao! Chân lý luôn có cách tự tỏ lộ mình. Sau khi bạn đã làm hết mọi sự tốt đẹp trong khả năng của mình, phần còn lại Chúa sẽ lo.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

Read More
27Tháng Mười Một
2022

Đôi nét về Năm Phụng vụ của Giáo hội

27/11/2022
Anmai
Chưa phân loại, Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

 Hằng năm, thường vào cuối tháng 11 Dương lịch, Giáo hội Công Giáo bắt đầu năm phụng vụ mới.

Năm Phụng vụ của Giáo Hội có 52 tuần lễ, khởi đầu từ Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng và kết thúc vào chiều thứ Bảy sau Chúa Nhật thứ 34 mùa thường niên, Lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Thật vậy, dưới nhãn quan thần học, “Giáo hội triển khai toàn bộ mầu nhiệm Đức Ki-tô qua chu kỳ một năm, từ mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh đến Thăng Thiên, đến ngày lễ Ngũ Tuần, và cho đến việc mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và cuộc Ngự đến của Chúa” (Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1194).

Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô – cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người – liên tục được loan báo và đổi mới qua việc cử hành các biến cố trong cuộc đời của Người và trong các lễ kính Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh. Theo đó, năm Phụng vụ bao gồm 2 chu kỳ: Chu kỳ theo mùa và chu kỳ các Thánh.

  1. CHU KỲ THEO MÙA

Năm Phụng vụ chia thành 5 mùa với cao điểm là mùa Phục Sinh rồi đến Giáng Sinh, và được chuẩn bị bằng Mùa Chay và Mùa Vọng, còn xen kẽ giữa các mùa gọi là Mùa Thường Niên.

  1. Mùa Vọng: nhằm mục đích hướng về ngày Chúa Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để hoàn tất lịch sử, nhưng gần hơn là chuẩn bị tâm hồn tín hữu kỷ niệm Mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trần gian vào Lễ Giáng Sinh.

Mùa Vọng kéo dài khoảng 4 tuần lễ, bắt đầu từ Chúa Nhật I mùa Vọng đến chiều ngày 24/12. Các bài đọc Mùa Vọng mời gọi tín hữu hãy tỉnh thức và sẵn sàng, không bị đè nặng và xao lãng bởi những lo toan của thế gian này (x. Lc 21, 34-36). Trong mùa Vọng, lễ phục màu tím nói lên yếu tố sám hối theo nghĩa chuẩn bị, tĩnh lặng và rèn luyện tâm hồn để đón nhận niềm vui trọn vẹn của Lễ Giáng Sinh.

  1. Mùa Giáng Sinh: kỷ niệm sự giáng sinh của Con Một Thiên Chúa trong thế giới. Tín hữu được mời gọi sống mầu nhiệmEmmanuel–Thiên Chúa ở cùng chúng ta– và suy ngẫm về hồng ân cứu độ được ban tặng qua việc Đức Giêsu được sinh ra để chết cho chúng ta. Phụng vụ Mùa Giáng Sinh bắt đầu với Thánh Lễ canh thức Đêm Giáng Sinh và kết thúc với Lễ Chúa Chịu Phép Rửa. Mùa Giáng Sinh có tuần bát nhật Giáng Sinh.
  2. Mùa Chay:Theo nguyên nghĩa, Mùa Chay là mùa 40 ngày, con số mang ý nghĩa biểu tượng Kinh Thánh: 40 năm dân Do Thái đi trong hoang địa để vào đất hứa, 40 ngày ông Môsê ở trên núi Giao Ước Sinai, và 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa. Là thời gian chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh, mùa Chay kéo dài 40 ngày, bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào lúc mặt trời lặn vào Thứ Năm Tuần Thánh.

Trong mùa Chay, tín hữu tìm kiếm Chúa trong cầu nguyện bằng việc đọc Sách Thánh; phục vụ bằng cách bố thí, không chỉ thông qua việc cho đi tiền bạc, mà còn chia sẻ thời gian và tài năng của mỗi người; và thực hành sự tự chủ qua việc ăn chay, khi không chỉ kiêng thịt, tránh dùng những thứ xa xỉ mà còn phải thực sự hoán cải nội tâm khi cố gắng trung thành tuân theo ý Chúa.

Tam Nhật Vượt Qua: Việc cử hành Tam Nhật Vượt Qua đánh dấu sự kết thúc của Mùa Chay, và dẫn đến việc cử hành mầu nhiệm cứu chuộc qua cuộc tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô. Tam Nhật Thánh bắt đầu từ Lễ Tiệc Ly của Thứ Năm Tuần Thánh cho đến Kinh Chiều II Chúa Nhật Phục sinh.

  1. Mùa Phục Sinh:được đặc trưng bởi niềm vui của cuộc sống vinh quang và chiến thắng sự chết được thể hiện đầy đủ nhất trong tiếng kêu vang dội của Kitô hữu: Alleluia! Mọi đức tin bắt nguồn từ niềm tin vào sự phục sinh: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng; cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cor 15, 14).

Là giai đoạn quan trọng nhất trong tất cả các mùa phụng vụ, mùa Phục Sinh kéo dài 50 ngày, bắt đầu từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến hết lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Mùa Phục Sinh có tuần Bát Nhật Phục Sinh, như một cách kéo dài niềm vui của ngày Chúa Nhật Phục Sinh, được cử hành như lễ trọng kính Chúa, dù không đọc Kinh Tin Kính nhưng không được phép cử hành bất cứ thánh lễ ngoại lịch nào, ngoại trừ thánh lễ an táng.

  1. MùaThường Niên: là thời gian để lớn lên và trưởng thành, trong đó mầu nhiệm Chúa Kitô được mời gọi thâm nhập sâu hơn vào lịch sử cho đến khi tất cả mọi sự cuối cùng được thu hút vào Chúa Kitô. Trong mùa thường niên, tuy Phụng vụ không cử hành một khía cạnh đặc biệt nào về mầu nhiệm Chúa Kitô, nhưng lại tôn kính chính mầu nhiệm ấy trong toàn thể, các tín hữu được mời gọi suy tư giáo huấn và việc làm của Chúa Giêsu giữa dân Ngài.

Mùa thường niên gồm 34 tuần, xen kẽ giữa mùa Giáng Sinh và mùa Chay (khoảng 4-8 tuần), giữa mùa Phục Sinh và mùa Vọng (khoảng 6 tháng).

  1. CHU KỲ CÁC THÁNH

Mầu nhiệm Chúa Kitô, diễn ra qua chu kỳ các mùa, mời gọi tín hữu sống mầu nhiệm của Người trong cuộc sống thường ngày. Lời kêu gọi này được minh họa rõ nét chu kỳ các Thánh. Theo sách Giáo lý Công giáo, “Khi kính nhớ các Thánh, trước hết là Mẹ Thiên Chúa, kế đến là các Thánh Tông Đồ, các Thánh Tử đạo và các Thánh khác, vào những ngày nhất định trong năm Phụng vụ, Hội Thánh nơi trần thế biểu lộ sự hiệp thông với phụng vụ thiên quốc. Hội Thánh tôn vinh Đức Ki-tô, vì ơn cứu độ Người đã hoàn thành nơi những chi thể đã được tôn vinh của Người. Gương sáng của các ngài khích lệ Hội Thánh trên đường về với Chúa Cha” (GLCG, 1195).

Một cách cụ thể Giáo hội cung cấp những bậc lễ khác nhau, như công cụ quan trọng để mừng kính các mầu nhiệm về Chúa Giêsu, Đức Maria và các Thánh hầu giúp tín hữu phong phú hoá, và canh tân đời sống thiêng liêng.

  1. Bậc Lễ trọng

Được qui định là bậc cao nhất, tất cả các Lễ Trọng đều được bắt đầu từ Kinh Chiều I ngày hôm trước, nghĩa là ngày mừng lễ sẽ dài hơn một ngày bình thường. Trong cử hành lễ Trọng, có kinh Vinh Danh và Kinh Tin kính. Đối với trường hợp lễ Trọng có lễ Vọng, ví dụ như Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô thì phải cử hành thánh lễ Vọng.

Theo lịch Phụng vụ chung, Giáo hội cử hành:

– Lễ Trọng mừng kính Chúa bao gồm: Lễ Giáng sinh, Lễ Hiển linh, Lễ Phục sinh, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Chúa Thăng Thiên, Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, và Lễ Chúa Kitô Vua.

– Lễ Trọng mừng kính Đức Maria: Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Lễ Mẹ Thiên Chúa, Lễ Truyền Tin, và Lễ Đức Mẹ Lên trời.

– Lễ Trọng mừng kính các Thánh: Lễ Thánh Giuse, Lễ sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, Lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, và lễ Các Thánh.

Trong khi một số Lễ Trọng luôn được cử hành “cố định” theo lịch phụng vụ – ví dụ, lễ Giáng sinh được cử hành vào ngày 25. 12, lễ các Thánh ngày 1.11,  lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ngày 8. 12, …. Thì có những Lễ Trọng được cử hành thay đổi dựa theo ngày của Lễ Phục sinh. Lễ Hiện Xuống là 50 ngày sau Lễ Phục Sinh; lễ Chúa Ba Ngôi là Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Hiện Xuống; lễ Mình máu Thánh Chúa là Chúa Nhật thứ hai sau Lễ Hiện Xuống; lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu là Thứ Sáu đầu tiên sau Lễ Mình Thánh Chúa,…

  1. Lễ Kính

Lễ Kính được cử hành giới hạn trong một ngày bình thường nên không có Kinh Chiều I, trừ lễ kính Chúa trùng vào ngày Chúa Nhật thường niên. Trong thánh lễ, có kinh Vinh Danh. Lịch Phụng vụ đề ra 3 loại lễ Kính:

– Lễ Kính Chúa: lễ Thánh Gia Thất, lễ Dâng Chúa trong Đền Thánh (2.2), lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, lễ Chúa Giêsu Biến hình (6.8), lễ Suy tôn Thánh giá (14.9). Các lễ kính Chúa có bậc lễ ưu tiên trên các Chúa nhật Giáng sinh và thường niên, do đó, trong trường hợp khi các lễ này trùng vào Chúa nhật thì phải cử hành theo lễ kính Chúa.

– Lễ Kính Đức Maria: lễ Đức Mẹ đi thăm Bà Elisabet (31.5), lễ Sinh nhật Đức Mẹ (8.9).

– Lễ Kính các Thánh: lễ Thánh Phaolô tông đồ trở lại (25.1), lễ Thánh Marcô, Tác giả Tin Mừng (25.4), lễ Thánh Philipphê và Giacôbê Tông đồ (3.5), lễ Thánh Matthia Tông đồ (14.5), lễ Thánh Tôma Tông đồ (3.7), lễ Thánh Giacôbê Tông đồ (25.7), lễ Thánh Lôrensô Phó tế tử đạo (10.8), lễ Thánh Batôlômêô Tông đồ (24.8), lễ Thánh lễ Thánh Matthêu Tông đồ Thánh sử (21.9), lễ Thánh Luca Thánh sử (18.10), lễ Thánh Simon và Giuđa Tông đồ (28.10), lễ Thánh Anrê Tông đồ (30.11), lễ Thánh Têphanô Tử đạo tiên khởi (26.12), lễ Thánh Gioan Tông đồ Thánh sử (27.12), và lễ Các Thánh Anh hài (28.12).

– Lễ Các Tổng lãnh thiên thần Micae, Gabriel và Raphael (29.9), lễ Lập Tông tòa Thánh Phêrô (22.2), lễ Cung hiến Đền thờ Latran (9.11).

  1. Lễ nhớ:Lễ nhớ được chia làm 2 loại: Lễ nhớ buộc và Lễ nhớ tự do.

– Lễ nhớ buộc: Lễ có ghi trong lịch Phụng vụ chung, đòi phải cử hành đúng ngày, trừ trường hợp gặp các lễ khác trùng vào lễ nhớ này có quyền ưu tiên hơn. Trong mùa Chay, không bó buộc phải cử hành lễ nhớ buộc.

– Lễ nhớ tự do: không nhất thiết phải được ghi trong lịch Phụng vụ chung, chủ tế được quyền chọn lựa có thể cử hành hay không tùy nhu cầu mục vụ. ngoài ra, khi lịch chung để tên nhiều vị thánh nhớ tự do trong cùng một ngày thì có thể tuỳ nghi chọn một vị Thánh để mừng.

Ngày Chúa nhật

Ngày Chúa Nhật được gọi là ‘Ngày của Chúa’, ngày Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, và theo truyền thống từ thời các tông đồ, các tín hữu tụ họp nhau lại lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Thật vậy, “Đó là ngày quy tụ cộng đoàn phụng vụ, ngày của gia đình Ki-tô Giáo, ngày của niềm vui và ngày nghỉ việc. Ngày Chúa nhật là “nền tảng và cốt lõi của cả năm phụng vụ” (GLCG, 1193).

Hiến chế Phụng vụ thánh của Công đồng Vatican II phản ánh rất rõ tầm quan trọng của ngày này: “ngày Chúa Nhật là ngày lễ nguyên thủy phải được đề cao và in sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu, để ngày ấy trở thành ngày vui mừng và ngày nghỉ việc. Các cuộc lễ khác, nếu không thật sự là lễ rất quan trọng thì không được lấn át ngày Chúa Nhật, bởi vì ngày Chúa Nhật là nền tảng và trung tâm của cả năm phụng vụ” (Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 106).

III. MÀU SẮC TRONG PHỤNG VỤ

Trong lịch Phụng vụ, màu sắc của mỗi ngày tương ứng với việc cử hành Phụng vụ chính của ngày hôm đó và có ý nghĩa tượng trưng khác nhau. Theo sách Nghi thức Rôma, 1969, có 4 màu chính được sử dụng trong phụng vụ bao gồm: trắng, xanh lá cây, đỏ và tím.

  1. Màu trắng: được xem là tượng trưng cho niềm vui, sự chiến thắng, và sự thuần khiết có được từ đức tin. Màu trắng được dùng trong mùa Giáng Sinh, mùa Phục Sinh, các lễ về Chúa, Đức Mẹ, các Thiên thần, và các Thánh không tử đạo.
  2. Màu xanh lá cây: biểu tượng của hy vọng, sự sống, và sự phát triển. Màu xanh lá cây được dùng trong Mùa Thường Niên.
  3. Màu đỏ: tượng trưng máu và lửa. Màu đỏ được dùng trong phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá, Thứ Sáu Tuần Thánh, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, trong các cử hành Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, trong các lễ kính các Thánh Tông Đồ, các Thánh Sử và các Thánh Tử Đạo.
  4. Màu tím: liên quan đến sự ăn năn, thống hối, và chờ đợi. Màu tím đặc biệt được sử dụng trong Mùa Vọng và Mùa Chay. Ngoài ra, màu tím cũng được dùng khi cử hành lễ an táng và lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời.

Ngoài ra, cũng có thêm màu hồng, tượng trưng cho niềm vui lên được khơi lên trong hành trình chờ đợi và sám hối. Màu hồng được sử dụng vào Chúa Nhật III Mùa Vọng và Chúa Nhật IV Mùa Chay.

***

Với đôi nét về Năm Phụng vụ của Giáo hội, chúng ta nhận thấy rằng, lịch Phụng vụ không phải chỉ là những qui định, luật lệ, chỉ dẫn cho việc thờ phượng. Sâu xa hơn, lịch Phụng vụ còn là lời nhắc nhớ, mời gọi chúng ta sống chu kỳ thời gian trong một năm về sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử nhân loại, trong quá khứ cũng như hiện tại. Thật thế, với đỉnh cao là Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô, Phụng vụ không chỉ tưởng niệm các biến cố đã xảy ra, nhưng còn hiện tại hóa, làm cho các biến cố ấy đi vào đời sống, và biến đổi cách chúng ta nhìn nhận Thiên Chúa, nhìn nhận thế giới, và nhìn nhận chính mình cách mầu nhiệm nhờ ân sủng.

Theo: simplycatholic.com;
www.usccb.org;
simplycatholic.com

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 30
  • Page 31
  • Page 32
  • …
  • Page 78
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.