Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
19Tháng Bảy
2023

Nêu tên Đức giám mục trong Kinh nguyện Thánh thể như thế nào ?

19/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Nêu tên Đức giám mục trong Kinh nguyện Thánh thể như thế nào ?

 


Việc xướng đích danh tên của Đức Giáo hoàng (lãnh đạo Hội Thánh phổ quát), Đức Giám mục giáo phận (lãnh đạo Hội Thánh địa phương) và có thể là tên của cả Đức Giám mục phó hay phụ tá trong mọi Kinh nguyện Thánh Thể nhằm 3 mục đích.

Phung vu

MỤC ĐÍCH – Ý NGHĨA [1]

Kinh nguyện Thánh Thể được xếp vào một trong số những lời nguyện cao trọng và thánh thiện nhất của Hội Thánh. Vì thế, Hội Thánh hết sức cẩn trọng trong từng từ ngữ và cấu trúc của kinh nguyện này. Trừ ra những trường hợp hết sức hoạ hiếm như quyết định thêm tên Thánh Giuse vào, bản văn và công thức được Giáo Hội soạn ra trong các Kinh nguyện Thánh Thể không nên có bất kỳ một sự thêm thắt tự tiện nào khác và không được bỏ sót nêu tên Đức Giáo hoàng và Giám mục giáo phận.[2]

Việc xướng đích danh tên của Đức Giáo hoàng (lãnh đạo Hội Thánh phổ quát), Đức Giám mục giáo phận (lãnh đạo Hội Thánh địa phương) và có thể là tên của cả Đức Giám mục phó hay phụ tá trong mọi Kinh nguyện Thánh Thể nhằm 3 mục đích. Thứ nhất, tôn trọng một truyền thống rất xa xưa trong Hội Thánh; Thứ hai, để các tín hữu đồng tâm nhất trí với các ngài và cầu nguyện cho các ngài;[3] Thứ ba, không những thế, những lời này còn ít nhiều diễn tả dạng thức trung thành của cộng đoàn tín hữu đối với các vị lãnh đạo của họ. Lời cầu được tiếp nối bằng việc cầu nguyện cách chung cho “tất cả các Gíam mục”[4] và cho “toàn thể hàng giáo sĩ khắp nơi”[5] (không nhắc tên đích danh) nhằm biểu hiện mối dây hiệp nhất của cộng đoàn tín hữu với các ngài là những vị mục tử trong Hội Thánh.[6]

Khi đọc Kinh nguyện Thánh Thể, các tư tế không nhân danh bản thân mình, nhưng là đại diện Chúa Kitô và Giáo Hội. Trọn vẹn Kinh nguyện Thánh Thể mang âm hưởng hiệp thông, do đó,  công thức này diễn tả một thực tại thần học sâu xa trong đó tư tế và cộng đồng bày tỏ họ thuộc về Hội Thánh hoàn vũ qua sự hiệp thông theo phẩm trật với Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục giáo phận là những vị đã được tín thác cho nhiệm vụ dưỡng nuôi  và củng cố sự hiệp nhất thâm sâu của Nhiệm thể Chúa Kitô.[7] Đức Thánh Cha đại diện cho sự hiệp nhất này ở cấp độ hoàn vũ vì ngài là nguyên lý và nền tảng hữu hình, vĩnh cửu, là dấu chỉ và là người phục vụ sự hiệp thông giữa các Giám mục cũng như giữa các tín hữu cả trên bình diện cơ cấu lẫn bình diện pháp lý và cai quản; còn Đức Giám mục giáo phận, ngài là nguyên lý và nền tảng hữu hình, là dấu hiệu và khí cụ cho sự hiệp nhất này ở cấp độ địa phương. Kinh nguyện Thánh Thể nhắc tới sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, với Đức Giám mục giáo phận, với Giám mục đoàn, với toàn thể hàng giáo sĩ là cần thiết để Thánh lễ cử hành mang tính Công giáo đích thực. Việc nêu đích danh tên của Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục giáo phận thực sự dựa trên khoa Giáo Hội học về hiệp thông, tức là sau Đức Giáo hoàng, sự hiệp thông Giáo Hội được thiết lập qua Đức Giám mục giáo phận xét như ngài là Đại diện Đức Kitô (vicarius Christi), là chủ chăn của một phần Dân Chúa ở đó.[8] Hơn nữa, sự hiệp thông với Giám mục giáo phận là điều kiện để mọi cử hành trong địa phận được hợp pháp.[9]

CÁCH THỨC NÊU TÊN ĐỨC GIÁM MỤC [10]

1.Phải nêu tên

Cách chung, tư tế trước hết nêu danh hiệu của Đức Giáo hoàng đương kim mà theo tập quán chỉ cần nêu tên ngài chứ không cần nêu con số. Tiếp đến, tư tế nêu danh tính của Đức Giám mục đang cai quản giáo phận (Bản quyền địa phương) hoặc Đức Giám mục gíam quản giáo phận hoặc vị cùng đẳng cấp với Giám mục giáo phận theo luật. Nếu có thể, tư tế nêu thêm tên của Đức Giám mục phó hay phụ tá. Tại Rôma, chỉ nêu tên Đức Giáo hoàng mà thôi vì ngài là Giám mục của giáo phận Rôma.

2.Không nêu tên

Cách chung, không nêu tên Đức Giám mục khi vị tư tế dâng lễ trên biển khơi hay những nơi không có Đức Giám mục cư trú. Cũng nên bỏ qua những tước hiệu danh dự như Hồng y. Trong Thánh lễ đồng tế có nhiều vị Giám mục tham gia cử hành, nguyên tắc là không nêu tên các Đức Giám mục ngoài giáo phận, dù một trong số các ngài làm chủ tế. Cũng không nêu tên Đức Giám mục về hưu (trừ khi ngài vẫn tiếp tục được chọn điều hành tạm thời giáo phận trong tư cách là giám quản giáo phận).[11] Tốt nhất, nên cầu nguyện cho các ngài trong phần Lời nguyện Tín hữu.

Cụ thể hơn, Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma số 149 dạy rằng:

  •          Vị tư tế tiếp tục Kinh nguyện Thánh Thể như chữ đỏ đã ghi trong mỗi kinh.
  • Nếu chủ tế là Đức Giám mục cử hành trong giáo phận của mình và chính ngài đọc thì sau những lời “cùng với Ðức Giáo hoàng T” (Papa nostro N.), ngài thêm “và con là tôi tớ bất xứng của Chúa cùng toàn thể hàng giáo sĩ” (et me indigno famulo tuo… – Kinh nguyện Thánh Thể II). Cũng áp dụng tương tự như vậy cho các Kinh nguyện Thánh Thể khác, chẳng hạn, đối với Kinh nguyện Thánh Thể III, Giám mục chủ tế đọc: “cùng với tôi tới Chúa là Đức Giáo hoàng T . và con là tôi tớ bất xứng của Chúa, cùng toàn thể hàng Giám mục, giáo sĩ khắp nơi, và tất cả dân riêng Chúa”.
  • Nếu Đức Giám mục cử hành ngoài giáo phận của mình, sau những lời: “cùng với Ðức Giáo hoàng T.”( Papa nostro N.), ngài thêm: “và con là tôi tớ bất xứng của Chúa và người anh em con là T., Giám mục giáo phận T. này” (et me indigno famulo tuo, et fratre meo N., Episcopo huius Ecclesiae N.).
  • Đức Giám mục giáo phận, hoặc vị cùng đẳng cấp với Giám mục giáo phận theo luật (có thể là một vị linh mục), phải được xướng tên với công thức: “cùng với tôi tớ Chúa là Ðức Giáo hoàng T. và Ðức Giám mục T. (hoặc: đại diện, giám chức, phủ doãn, đan viện phụ)[12] chúng con” [una cum famulo tuo Papa nostro N. et Episcopo (Vicario, Prelato, Praefecto, Abbate)].[13]
  • Trong Kinh nguyện Thánh Thể, có thể xướng tên các Đức Giám mục phó và phụ tá,[14] nhưng không cần xướng tên các Đức Giám mục khác có thể hiện diện trong buổi cử hành.[15] [Những lời kính trọng dành cho các ngài ở chỗ này là không phù hợp bởi vì cử hành Thánh lễ tại một Giáo Hội địa phương được cắm rễ sâu xa nơi chức tư tế của Giám mục giáo phận xét vì là ngài là tiêu điểm và nguyên lý của sự hiệp nhất; hơn nữa, những lời chuyển cầu trong Kinh nguyện Thánh Thể cũng bao gồm việc cầu nguyện cho tất cả các Giám mục].[16]
  • Khi phải xướng tên nhiều vị, nên đọc theo một công thức chung: “Ðức Giám mục T. giáo phận chúng con và các Đức Giám mục cộng tác với ngài” (et Episcopo nostro N. eiusque Episcopis adiutoribus).[17]
  • Trong mỗi Kinh nguyện Thánh Thể, phải thích ứng những công thức trên sao cho hợp với cấu trúc văn phạm.

LƯU Ý MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP

1.Trống ngôi Giáo hoàng

Nếu Đức Giáo hoàng đương kim qua đời (sede vacante), cho dầu Đức Giáo hoàng về hưu vẫn còn sống, thì trong thời gian chờ đợi có Tân Giáo hoàng, vị tư tế không nêu tên Đức Giáo hoàng đã quá cố hay tên bất cứ Đức Giáo hoàng nào khác.

2.Tòa Giám mục trống ngôi

Khi tòa Giám mục trống ngôi (sede vacante) do Đức Giám mục đương chức qua đời, từ nhiệm hay chuyển đến một toà khác, giáo phận sẽ được điều hành bởi một linh mục hay Giám mục với vai trò làm giám quản giáo phận.[18]

Nếu vị này là một linh mục giám quản do hội đồng tư vấn giáo phận bầu lên hoặc do Đức Tổng Giám mục giáo tỉnh chỉ định [trong trường hợp qua 8 ngày mà vẫn chưa bầu xong] để điều hành tạm thời cho đến khi có một Đức Giám mục khác được bổ nhiệm cai quản giáo phận, thì không cần nêu tên ngài trong Kinh nguyện Thánh Thể vì chỉ nguyên danh hiệu giám quản không phải là danh hiệu phụng vụ và không thuộc về phạm trù nguyên lý hiệp thông như thánh chức Giám mục [cùng với Bí tích Thánh Thể] như sẽ nói tiếp dưới đây.[19]

Nếu giám quản là một vị Giám mục, tên của ngài phải được nêu trong Kinh nguyện Thánh Thể như thường cho đến khi một Đức Giám mục khác được bổ nhiệm về cai quản địa phận qua nghi lễ tựu chức theo đòi hỏi của Giáo luật số 382.[20] Điều này có nghĩa là dù Toà Thánh đã công bố danh tánh của vị tân Giám mục và đã có văn thư của Toà Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám mục chính toà coi sóc giáo phận, nhưng tư tế trong giáo phận vẫn chỉ nêu tên Đức Giám mục giám quản chứ không nêu tên vị tân Giám mục này cho tới ngày ngài được phong chức Giám mục (nếu chưa chịu chức) và chính thức tựu chức. Tuy nhiên, không được đọc các danh hiệu khác biệt nếu có của vị Giám mục giám quản như Tổng Giám mục, Hồng y Tổng Giám mục hay Giám quản Tông toà. Lý do được nêu đích danh trong Kinh nguyện Thánh Thể không phải vì ngài làm giám quản nhưng vì ngài là Giám mục giám quản. Ở một mức độ nào đó, ngài cũng tương tự như vị Giám mục giáo phận, cho nên công thức trong Kinh nguyện Thánh Thể không cần thay đổi (vẫn đọc “Đức Giám mục T. chúng con…”).  Với thánh chức Giám mục mà ngài đã lãnh nhận trong ngày phong chức, ngài lãnh nhận sự sung mãn của Bí tích Truyền chức (primatus sacerdotii), trở nên người kế vị các Tông đồ để chăn dắt Giáo Hội Chúa cũng như thuộc về phạm trù nguyên lý hiệp thông của Giáo Hội địa phương [bên cạnh Bí tích Thánh Thể] trong vai trò Giám mục giám quản. Tác giả Susan K. Wood nhắc lại rằng, theo Công đồng Vatican II, hai điều cần thiết cho một Giáo Hội đặc thù là Thánh Thể và Giám mục. Một Giáo Hội đặc thù cốt yếu là một cộng đoàn bàn thờ (thờ phượng, altar) quanh vị Giám mục của mình.[21]

3. Có nêu tên Đức Giám mục nghỉ hưu không?

Theo tác giả Edward McNamara, chỉ có Giám mục giáo phận đương nhiệm mới được nêu tên đích danh trong Kinh nguyện Thánh thể và việc nêu danh tánh Giám mục trong Kinh nguyện Thánh Thể không phải là một vấn đề lịch sự hoặc kính trọng, nhưng là một vấn đề hiệp thông Giáo Hội (una cum Papa et Episcopo).[22] Dựa vào văn thư của Bộ Phụng tự “De nomine Episcopi proferendo in Prece eucharistica” (09-10-1972), cha Đỗ Xuân Quế, OP cũng nhắc lại rằng: “Cầu nguyện cho Đức Cha trong Kinh nguyện Thánh Thế vừa là bổn phận vừa là điều phải lẽ, “không phải chỉ để tỏ lòng tôn kính mà chính là để biểu lộ mối hiệp thông và tình bác ái đối với ngài, hầu xin ơn trợ giúp cho bản thân và sứ vụ của ngài” [tiếng la-tinh là “Non tantum vel non praecipue honoris gratia, sed ob causam communionis et caritatis, sive ad divina auxilia pro ejus persona et ministerio impetranda”] (Acta Apostolicae Sedis 64 [1972], 692-694).[23]

Ở cấp độ hoàn vũ, mỗi Giám mục giáo phận đại diện cho Giáo Hội tại địa phương của mình, và tất cả các Giám mục cùng với Giáo hoàng đại diện cho toàn thể Giáo Hội trong mối dây bình an, yêu thương và hiệp nhất.[24] Giám mục của hai giáo phận có thể thiết lập sự hiệp thông với nhau, nhưng để hoàn toàn thuộc về Giáo Hội Công giáo, họ hay Giám mục đoàn, cần phải hiệp thông hữu hiệu với Đức Thánh Cha, ngài làm Đầu cho Thân Thể hay Đoàn Thể các Giám mục, và đó chính là Giám mục Roma.[25] Ở cấp giáo phận, linh mục đại diện cho các Giám mục để thi hành thừa tác vụ rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa.[26] Theo Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), các linh mục là cộng sự viên khôn ngoan, là phụ tá và là dụng cụ của hàng Giám mục; Họ phụ thuộc vào các Giám mục trong việc thực thi quyền hành của họ” (số 28). Do đó, sự hiệp thông của họ với Bản quyền địa phương không kém phần quan trọng.

Phần trình bày trên giải thích lý do tại sao trong lời chuyển cầu của Kinh Nguyện Thánh Thể, chúng ta chỉ nêu đích danh danh hiệu của Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục giáo phận đương nhiệm chứ không nêu danh tánh của Đức Giám mục về hưu [hay Đức Giáo hoàng về hưu]. Các ngài là Giám mục và đứng trong Hàng ngũ Giám mục, nhưng các ngài không còn thi hành sứ vụ cai quản giáo phận [hay Giáo Hội hoàn vũ] như khi đương chức. Lúc này, các ngài không còn là biểu tượng, là sự diễn tả của sự hiệp thông, hay chịu trách nhiệm cho mối dây hiệp thông của Giáo Hội địa phương hoặc của Giáo Hội hoàn vũ nữa. Vì vậy, như đã nói, các ngài được xếp nằm trong lời cầu nguyện cách chung (không nhắc tên đích danh) dành cho tất cả các Gíam mục và cho toàn thể hàng giáo sĩ nhằm biểu hiện mối dây hiệp nhất của cộng đoàn tín hữu với các ngài là những vị mục tử trong Hội Thánh.[27]

Tuy không đưa tên Đức Giám mục nghỉ hưu vào Kinh nguyện Thánh Thể, nhưng các cộng đoàn giáo xứ và dòng tu trong giáo phận nên cầu nguyện luôn cho ngài trong phần Lời nguyện Tín hữu của Thánh lễ hằng ngày hay trong Lời cầu của Giờ kinh Phụng vụ mỗi ngày. Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ dâng Lời nguyện Tín hữu trong Thánh lễ Chúa nhật hay những dịp trọng thể. Thực ra, Hội Thánh khuyến khích dâng Lời nguyện Tín hữu mỗi ngày trong mọi Thánh lễ có giáo dân tham dự.[28]

Về vấn đề điều chỉnh thêm thắt những chi tiết khác vào trong các văn bản hoặc chữ đỏ của Thánh lễ nói chung và trong Kinh nguyện Thánh Thể nói riêng, các vị tư tế nên nhớ rằng, Thánh lễ thuộc về toàn thể Hội Thánh và là một phần quan trọng của “Kho tàng đức tin” (depositum fidei)[29] nên chỉ có Huấn quyền của Giáo Hội (Magisterium) mới có quyền thay đổi, ngay cả Giám mục giáo phận cũng không có thẩm quyền trừ ra phải tuân theo những thủ tục nghiêm ngặt, như phải có những lý do mục vụ hết sức cần thiết, được Hội đồng Giám mục thông qua [với 2/3 số Giám mục đồng ý] và phải trình lên Toà Thánh để đươc phê chuẩn trước khi đem áp dụng. Vì thế, các linh mục càng phải tránh xa thói quen tự ý thêm thắt điều này điều kia vào trong Kinh nguyện Thánh Thể. [30]

 Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
Nguồn: 
gpcantho.com

—

[1] Xc. Edward McNamara, “Mentioning Bishops in the Eucharistic Prayers” trong A Zenit Daily Dispatch (17 Feb. 2009) – Notitiae 45 (2009) 308-320.

[2] Xc. Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 22; Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 24; Huấn thị Bí tích Cứu độ (Redemptionis sacramentum), số 51, 56, 59.

[3] Xc. Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 56; Edward McNamara, “Mentioning Bishops in the Eucharistic Prayers”; Notitiae 45 (2009) 308-320.

[4] Kinh nguyện Thánh Thể I; III; IV; Giao Hoà II; Cầu cho những nhu cầu khác nhau I, II, III, IV

[5] Kinh nguyện Thánh Thể II; III; IV; Cầu cho những nhu cầu khác nhau II, III, IV; Thánh lễ với trẻ em II, III.

[6] Xc. Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 79g.

[7] Xc. Barry Hudock, The Eucharistic Prayer – A User’s Guide (Collegeville, Minnesota: A Pueblo / The Liturgical Press, 2010), 82.

[8] Xc. Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium = LG), số 22-23; Sắc lệnh về Nhiệm vụ Mục vụ của Giám mục (Christus Dominus), số 6; Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1369.

[9] Xc. ĐGH Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Sacramentum Caritatis, số 39.

[10] Xc. Xc. Edward McNamara, “Inserts into Eucharistic Prayers” trong A Zenit Daily Dispatch (Rome – 19 May 2015).

[11] Xc. Giáo Luật số 418#2: Trong trường hợp này, tư tế vẫn nêu tên ngài như công thức thông thường “cùng với Đức Giáo hoàng T., Đức Giám mục T. chúng con…” (Kinh nguyện Thánh Thể II).

[12] Vị có quyền tài phán (jurisdiction) trên một lãnh thổ không gắn với bất cứ giáo phận nào.

[13] Xc. Giáo Luật số 370-371; The Decree Cum de nomine, on the mention of the bishop’s name in the Eucharistic Prayer (October 9, 1972), Acta Apostolicae Sedis 64 [1972], 692-694 trong Documents on the Liturgy, 1963-1979, no. 1970).

[14] Có thể xướng tên nếu vị tư tế muốn (Notitiae 45 (2009) 308-320.

[15] Dù ngài đang chủ sự buổi cử hành phụng vụ.

[16] Xc. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 92; Edward Foley (ed), A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Collegeville, Minnesota: A Pueblo / The Liturgical Press, 2007), 250-251.

[17] Nghĩa là không nêu từng tên riêng biệt vì có những giáo phận mà số Đức Giám mục phụ tá là 3,4,5 hay thậm chí lên tới 9 vị.

[18] Xc. Giáo Luật số 416.

[19] Xc. Giáo Luật số 419; 421#1; LG, số 20; 21; Bộ Giáo lý Đức tin, “Giáo hội như là hiệp thông” (ngày 28 tháng 5 năm 1992), số 14.

[20] Xc. Bộ Phụng tự Thánh, Sắc lệnh Cum de nomine (AAS 64 [1972], 692-694.

[21] Xc. Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium (=LG),  số 20-23; Bộ Giáo lý Đức tin, “Giáo hội như là hiệp thông”, số 14; Susan K. Wood, “The Church as Communion” trong Peter C. Phan (ed), The Gift of the Chuch (Collegeville, Minnesota: A Pueblo / The Liturgical Press, 2000), 159-176.

[22] Xc. Edward McNamara, “Mentioning Bishops in the Eucharistic Prayers”; Notitiae 45 (2009) 308-320.

[23] Đỗ Xuân Quế, “Đọc tên Đức Cha trong Kinh nguyện Thánh Thể” trong http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Phungvu/69KinhNguyenTT.htm

[24] Xc. LG, số 23.

[25] Ibid., số 22b; Bộ Giáo lý Đức tin, “Giáo hội như là hiệp thông”, số 12.

[26] Xc. LG, số 28.

[27] Xc. Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 79g; 92; Edward Foley (ed), A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal, 250-251

[28] Xc. Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 69; Joseph DeGrocco, A Pastoral Commentaty on the General Instruction of the Roman Missal (Chicago: Liturgy Training Publication, 2011), 48.

[29] Xc. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 84.

[30] Xc. Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 22; Giáo luật 838, 846, 928; Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 24; Paul VI, address of August 22, 1973: L’Osservatore Romano (August 23, 1973); Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 51 và 59; Tông Huấn Sacramentum Caritatis, số 37-40; Inaestimabile Donum, số 5; Edward McNamara, “Inserts into Eucharistic Prayers”.

Read More
19Tháng Bảy
2023

Về việc kết thúc bài giảng lễ bằng từ ‘Amen’

19/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Về việc kết thúc bài giảng lễ bằng từ ‘Amen’

 


Có người bảo « được », có người bảo « không được ». Chúng tôi xin trích lại số 4 trong « Chỉ nam về bài giảng lễ » của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, năm 2014, như sau :

từ amen giang lễ

« Với tính cách là một thành phần của Phụng vụ, bài giảng lễ không chỉ là một hướng dẫn, mà còn là một hành vi thờ phượng. Khi đọc các bài giảng của các Giáo Phụ, chúng ta khám phá ra rằng nhiều vị đã kết thúc bài giảng của mình bằng một vinh tụng ca và từ : « Amen » : các ngài đã hiểu rằng mục đích của bài giảng không chỉ là thánh hóa dân Thiên Chúa, mà còn để tôn vinh Thiên Chúa. Bài giảng là một thánh thi tạ ơn vì những kỳ công của Thiên Chúa : nó loan báo cho các thành viên của của cộng đoàn rằng Lời Chúa được thành tựu trong việc họ lắng nghe và đón nhận Lời Chúa, và, hơn thế nữa, họ ca ngợi Thiên Chúa về sự thành tựu này.

Vì bản chất phụng vụ của nó, bài giảng lễ cũng có một ý nghĩa bí tích : Chúa Kitô hiện diện trong cộng đoàn tụ họp để lắng nghe Lời của Ngài, và do đó cũng trong lời rao giảng của thừa tác viên, nhờ đó chính Chúa, Đấng từng nói trong hội đường Nadarét xưa, đang giáo huấn dân Ngài. Đó là điều mà Tông huấn Verbum Domini diễn tả : « Tính bí tích của Lời Chúa do đó được hiểu bằng cách loại suy với sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô dưới hình bánh và rượu được thánh hiến. Khi đến gần bàn thờ và tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta thực sự hiệp thông với Mình và Máu Chúa Kitô. Việc rao giảng Lời Chúa trong buổi cử hành ngụ ý việc nhìn nhận rằng chính Chúa Kitô đang hiện diện và nói với chúng ta để được lắng nghe » (VD, số 56) ».

Trích dẫn này cho thấy, việc kết thúc bài giảng lễ là “được”, vì nó diễn tả hành vi thờ phượng. Và nếu không muốn kết thúc bài giảng bằng “Amen” thì cũng “được”, vì không có luật nào buộc như thế. Nhưng nếu nói kết thúc bài giảng lễ bằng “Amen” là không đúng, là sai, là không được…, thì lời khẳng định như thế không có cơ sở vững chắc.

Tý Linh
Nguồn: xuanbichvietnam.net

Read More
19Tháng Bảy
2023

Nguồn gốc và ý nghĩa của chữ ”Công Giáo”

19/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0
Nguồn gốc và ý nghĩa của chữ ”Công Giáo”
(Bổ sung ý kiến vào ngày 20.11.2012 về nguồn gốc của chữ ”Da-tô, Gia-tô”, ghi thêm về Đạo Cao Đài và vài ý vào ngày 17.7.2014 ở phần ”ghi chú”; ngoài ra, vì bài khá dài, người viết chia ra từng phần theo mẫu tự từ A đến O, với ước mong người đọc dễ dàng đối chiếu các phần.)
Lời dẫn nhập
Theo thiển ý người viết, phải làm sáng tỏ ”nguồn gốc” của chữ ”Công Giáo” trước khi giải thích ”ý nghĩa” của nó bởi vì giải thích ”suông” mà chẳng đưa ra ”nguyên do”: lý do, duyên cố, do lai, tức là ”căn cơ, cội nguồn” của chữ này thì giải thích cho lắm cũng bằng không!
A- ”Mọi sự đều có nguyên nhân!”
Mệnh đề khẳng định ấy là một trong bảy nguyên tắc căn bản của lý trí con người. Blaise Pascal nói: ”Con người là cây sậy biết tư duy.” Descartes bảo: ”Tôi tư duy, vậy là tôi hiện hữu.” (Cogito, ergo sum. – Je pense, donc je suis. – I think, therefore I am.) Tôi hiện hữu có giới hạn nên tôi biết rằng có Đấng VÔ HẠN, tức là Đấng Hằng Hữu hay là Đấng Tự Hữu. Đấng ấy KHÔNG phải là ”sự của mọi sự”, mà là ”Tác Giả, Nguyên Lý, Nguồn Gốc” CỦA mọi loài hữu hình và vô hình. Ngài là Ông Trời mà người đời đề cập đến trong thơ-văn, cuộc sống như sau: ”Ơn trời mưa nắng phải thì – Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu. Lạy trời mưa xuống! Lấy nước tôi uống! Lấy ruộng tôi cầy! Lấy đầy bát cơm! Hãy tự giúp mình thì Trời sẽ giúp cho. Ai cho không bằng trời cho. Trời sinh* voi, sinh cỏ. Trời ơi, cứu con với! SOS: Save our souls. (Xin cứu linh hồn chúng con.) (*Nature: (được sinh ra) là ”tự nhiên”, tức là ”thiên nhiên”!)
B- ”Thành sự tại Thiên”
Khắp năm châu, ”thiên” hạ đều ngẫm nghĩ về thành công hay thất bại của mình là DO ở ”thiên” thượng như sau: ”Mưu sự tại nhân; thành sự tại thiên. (Tính việc tại người; nên việc ở trời.) Tôi lấy câu này bằng tiếng Đức, đổi thì ”hiện tại” sang ”thì quá khứ” là câu lại có nghĩa khác: ”Con người nghĩ ngợi nên Trời CƯỜI cho! (Der Mensch hat gedacht, und Gott hat gelacht!) (1) ”Trời ”cười cho” là phải bởi vì: ”Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu. (Lưới trời lồng lộng, KHÔNG ai thoát được.)
Còn Cụ Nguyễn Du thì cho rằng Ông Trời rất công bằng: ”Ngẫm hay muôn sự tại trời – Trời kia đã bắt làm người có thân – Bắt phong trần phải phong trần – Cho thanh cao mới được phần thanh cao – Có đâu thiên vị người nào – Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.” Vậy thì, theo Cụ, phải chăng đó là ”Công Đạo”? Cụ Trần Tế Xương buồn đời, làm thơ trào phúng: ”Bắc thang lên hỏi ông trời nhẽ – Trêu ghẹo người ta thế nữa thôi?” Hàn Mặc Tử thì biết được chữ tình do đâu: ”…Như đón từ xa một ý thơ – Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều – Để nghe dưới đáy nước hồ reo – Để nghe tơ liễu rung trong gió – Và để xem Trời giải nghĩa yêu!” như Lời Thánh Vịnh, 27,10: ”Dù cha-mẹ bỏ tôi, Chúa vẫn tiếp rước tôi.”, như Thánh Hiền dạy: ”Thiên nhân tương dữ.” (Trời và người giao hảo.)
Nhưng cũng có người tỏ bày tâm sự mà dám than van: ”Trời sao, Trời ở không cân? Kẻ ăn không hết, người mần / lần không ra!” Ngược lại, cũng có người tin vào luật NHÂN-QUẢ trên cõi tạm này: ”Ở hiền thì Trời chúc phúc! Ở ác thì Trời phạt!” Xét cho cùng, suy nghĩ này lại phù hợp với ”Hiến Chương Nước Trời về sau” trong Kinh Thánh (Phước thật tám mối): ”Thứ sáu: Ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phước thật vì chưng sẽ đặng thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.”
C- Đạo từ Trời
Rõ ràng Cái Đạo của Trời (THIÊN Đạo) là Lý Lẽ (THIÊN Lý) hiển nhiên mà người đời phải vâng theo để sống ”Đạo của thọ tạo” là lòng biết ơn và sự tôn thờ Đấng Hóa Công như ai cũng nói: ”Đầu đội Trời; chân đạp đất.” Con người được Trời ban cho (THIÊN phú) tự do suy nghĩ và hành động theo Lẽ CỦA Trời để sống xứng đáng với ”THIÊN chức” của mình là ”THIÊN-Tử”: Mọi người là con CỦA Trời, được tác tạo qua cha-mẹ, chứ không phải một mình Đức Vua mới được ”THIÊN Ân” đó. Có những Ngôi Chùa của bà con Phật Giáo mang Quý Danh này! Phải chăng quý Thầy, quý Sư Cô, quý Ông Bà và Anh-Chị-Em Phật Tử cũng quan niệm rằng Đức Phật là ”Vĩ Nhân, Đại Thánh”, là ”Thiên Bửu Bối” mà Trời ban qua Thân-Sinh của Ngài Thích Ca? Giáo Hoàng Biển-Đức dạy thêm thế này: ”Nước Cha trị đến cũng là khi mọi Tôn Giáo đều nhìn nhận có Đấng Tối Cao…!”
D- Đấng Tối Cao
”Tối Cao” vì Ông Trời là Đại Kiến Trúc Sư, Toàn Năng, Vô Biên! Còn con người chỉ là kỹ sư tí hon, hữu hạn. Nhà bác học Edison ghi trong Sổ Vàng vào dịp Khánh Thành Tháp Eiffel như sau: ”Tôi thán phục các kiến trúc sư làm nên Tháp này và cúi đầu thờ lạy Thiên Chúa là Kiến Trúc Sư Toàn Năng!” Thật vậy, dù có thể ”thay Trời làm mưa” chăng nữa, tôi CHỈ dừng lại trong phạm vi hữu hạn của tôi, tức là ”mượn, nhờ” những nguyên lý, định luật và vật chất… mà Ông Trời đã LÀM ra sẵn. Nguyên lý Archimède (sức đẩy của nước) ĐÃ có từ thuở tạo thiên lập địa. Archimède KHÔNG phải là tác giả, mà CHỈ tìm tòi, khám phá ra Khoa Học là cái DO Ông Trời làm nên. Sẽ KHÔNG bao giờ thấy được nguyên tử, nhưng hầu như ai cũng biết rằng đầu một mũi kim may có hằng triệu nguyên tử và trong mỗi nguyên tử lại có vô số âm, dương điện tử và trung hòa tử! Ứng dụng nguyên tử vào việc phục vụ công ích là thuận với Trời để mà còn: Thuận THIÊN giã tồn! Dùng nó để chế tạo vũ khí tàn sát sinh linh, hủy diệt thế giới là trái với Trời thì mất: Nghịch THIÊN giã vong!
E- Ông Trời
”Ông Trời” được người dân Việt diễn tả bằng nhiều Danh Xưng khác nhau, nhưng vẫn có CÙNG một ý nghĩa là ”Chúa Tể Càn Khôn” hay ”Thượng Đế”: Ông Vua CỦA muôn thọ tạo, ngự ở trên cao. Trong thơ-văn Việt Nam cũng có các Danh Xưng dành cho Ông Trời: ”Ông Cao Xanh, Ông Xanh, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng Vô Hình, Đấng Vô Hạn…” Có người lấy Vũ-Trụ mà ám chỉ Ông Trời: ”Thử xem con tạo xoay vần nơi nao!” Cũng có người ”trách móc” Ông như sau: ”Con tạo bất công!”
F- Lão Giáo viết về Ông Trời
Theo Lão Giáo, Ông Trời được quan niệm như sau: ”Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề lưu hề, độc lập bất cải, chu hành nhi bất dãi, KHẢ VI thiên hạ mẫu. Ngộ bất tri kỳ danh, tự chi viết ĐẠO.” (Có gì đó không rõ ràng, sinh ra trời đất trước, mà lặng lẽ, mà còn đó, đứng riêng biệt không thay đổi, xoay vần mà không mỏi, CÓ THỂ LÀM MẸ NGƯỜI ĐỜI. Ta không biết danh xưng lạ lùng, gọi được là ĐẠO.)
G- Phật Giáo cũng cám ơn Trời
Phật Giáo nhìn thấy Kỳ Công CỦA Ông Trời qua ”sinh mệnh” hay ‘thọ mệnh” cụ thể như lời dạy của Đức Phật: ”Trong một giọt nước có hằng hà sa số chúng sinh.” Phật Tử cũng nói: ”Nhờ Trời, Phật phù hộ… Cảm ơn Trời, Phật!”
Hai Tôn Giáo Bạn (vừa nêu) đồng quan niệm về Ông Trời như các Tôn Giáo khác dù mỗi Tôn Giáo ”đặt tên” cho Ngài theo cách của mình.
H- Đạo Cao Đài
Cao Đài Giáo dung hợp Phật Giáo, Nho Giáo và Kitô Giáo, NHƯNG DẠY rằng có Đấng Chí Tôn THƯỢNG ĐẾ, tức Thiên Chúa (Đức Chúa Trời) là ĐẤNG NGỰ Ở THÁP (ĐÀI) CAO, mà người đời gọi là ÔNG TRỜI lập nên Vũ Trụ…
I- Do Thái Giáo và Ki-tô Giáo
Hai Tôn Giáo ấy đều được Ngài mạc khải Danh Xưng của Ngài là Giavê, TỨC LÀ Đấng Hằng Hữu: L’ÉTERNEL. ”Có gì còn đó, đứng riêng biệt, không thay đổi”, tức là ”cái có mãi, cái độc lập, cái bất biến, vĩnh hằng”, KHÔNG DO ”cái nào” tạo ra cả. Chính ”cái đó” mới có TOÀN TRI, TOÀN NĂNG mà sinh ra trời-đất để con người ngợi khen: ”Cảm ơn Trời! Tạ ơn Chúa!” (Deo gratias! Dieu merci! Thanks be to God! Gott sei Dank!) ”Cái gì đó không biết mỏi”, Sáng Thế Ký gọi là Thần Khí Chúa, Lời ở trong Thiên Chúa. Thánh Gioan ghi trong Tin Mừng: ”Nhờ Lời mà muôn vật được tạo thành.” Lời KHÔNG phải âm thanh, chữ viết, MÀ ”Đấng Hành Động: Le Verbe”, chính là Giêsu nhập thể và nhập thế. Cho nên Cái ”tự chi viết Đạo” cũng là quan niệm của Anh-Em Tin Lành ”Maranatha Baptist Church”. Họ dịch như sau: ”Đạo là Đức Chúa Trời.” (Giăng 1,1)
J- Đại Sư Bouddhadàsa ở Thái Lan
Ngài ấy nhận ra được Triết Lý của Phật Giáo nơi Đạo tôn thờ Cây Thập Giá của Chúa Cứu Thế: ”Quên Mình: Vô ngã TẠI ngã.” (Thập Giá là chữ ”I: tôi” có gạch ngang, là ”quên mình.) Như vậy, nhận xét của Đại Sư Thái Lan cũng không ngược lại với Kinh Thánh: ”Lời” là Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đã ”quên mình” để xuống thế làm người, lại còn ”quên mình” thêm lần thứ hai là chịu chết để gánh tội CỦA MỌI NGƯỜI.”
K- Đại Sư Vivakananda ở Ấn Độ
Ngài ấy phát biểu: ”Thượng Đế là Tâm O. Mọi Tôn Giáo đều là đường kính đi qua Tâm O. Nước là H2O. Nước đựng ở đâu cũng là nước.” Như vậy, Đại Sư Ấn Độ cũng thừa nhận có Thượng Đế CHUNG cho mọi Tôn Giáo. Do đó, tôi hy vọng rằng người trong Tôn Giáo Bạn vui lòng thông cảm cho người Công Giáo khi họ dùng hai chữ ấy. Thiên Chúa đã hứa ban Ơn Cứu Chuộc cho loài người sau khi tổ tông của loài người, Adam và Eva, sa ngã. Khái niệm ”Công” khai sinh TỪ ĐÓ vì ”công” có nghĩa là ”cho tất cả, KHÔNG trừ ai.” Chúa Giêsu xuống thế sau khi Đức Phật sinh ra là điều quá hiển nhiên như nhiều người vẫn nói: ”Phật Thích Ca sinh ra trước Chúa!” Nhưng tôi xin thêm chữ ”Cứu Thế” sau chữ ”Chúa” vì Ngài xuống thế (sinh ra làm người) sau Đức Phật VÌ ”hứa” và ”thực hiện lời hứa” là hai THỜI ĐIỂM xa nhau! LỜI là Giêsu vì Ngài đã phán dạy cho người Do Thái biết Ngài là Đấng Hằng Hữu, lại còn khẳng định như sau: ”Ta hằng hữu trước khi có Abraham!” (2) Vả lại, Ngài cũng là Thượng Đế mà Đại Sư Ấn Độ gọi là Tâm O. Đạo Thờ Chúa Trời BẮT ĐẦU từ khi có con người, chứ KHÔNG phải cách đây chỉ hơn hai ngàn năm mà thôi!
L- Do Thái Giáo có Cựu Ước và Kitô Giáo có cả Cựu và Tân Ước
Chúa Giêsu KHÔNG hủy bỏ Cựu Ước như Lời Ngài Phán: ”Đừng tưởng rằng Ta đến để phá Lề Luật, NHƯNG mà để làm cho Lề Luật nên trọn hảo.” Do đó, Kinh Thánh gồm có Cựu Ước và Tân Ước. (Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và loài người.) Chúa Giêsu lập nên Giáo Hội với mục đích là MỜI MỌI NGƯỜI vào trong đó là ”Đàn Chiên cùng một Chủ Chăn” như Lời Ngài phán: ”Vậy, các con hãy đi làm MUÔN DÂN trở thành môn đồ của Ta, thanh tẩy HỌ nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần…” (Mathêô 28,19)
M- Chữ ”Công Giáo”
”Khái niệm” CÔNG GIÁO được cụ thể hóa và CÔNG khai hóa bằng chính Lời của Chúa Giêsu: ”Những gì Ta truyền cho các con trong bóng tối, hãy nói ra NƠI ÁNH SÁNG. Những gì Ta truyền cho các con bên tai, hãy lên hô TRÊN mái nhà.” (Mathêô 10,27)
Vâng Lời Ngài dạy, nhờ Ơn Thánh Linh, các Tông Đồ mạnh dạn CÔNG khai tuyên xưng Đức Tin, Thánh Sử Gia ghi lại Tin Mừng, Thánh Luca viết Sách Tông Đồ CÔNG Vụ, Thánh Phaolô viết tám thư cho CỘNG Đoàn, bốn thư cho cá nhân mà cũng là CHUNG, các Thánh Giacôbê, Phêrô, Gioan và Giuđa (Thánh) cũng viết bảy thư khác, gọi là Thư CHUNG: Lettres CATHOLIQUES. Ngoài ra, còn có ”Khải Huyền” được Thánh Gioan ghi lại, cũng là Lời Chúa rao truyền cho hết MỌI NGƯỜI. Khái niệm ”cho hết mọi người” cũng giống bên Phật Giáo quan niệm: ”PHỔ độ CHÚNG sanh”! Chữ ”Bác Ái, Từ Bi” không tặng riêng ai! Cánh cửa nhà thờ, Caritas, nhà chùa sẵn sàng mở rộng để đón tiếp BẤT CỨ người nào!!! Chữ ”Công” còn được dùng cho các Hội Nghị của các Nghị Phụ trong Hội Thánh, gọi là ”CÔNG ĐỒNG”. Sau khi Chúa về Trời, Giáo Hội đã lan rộng KHẮP NƠI, Tông Đồ đúc kết Lời Chúa bằng Kinh Tin Kính, có câu sau đây: ”Tôi tin Giáo Hội hằng có ở KHẮP thế này, các thánh THÔNG CÔNG…”
Sau đó, vào thế kỷ thứ IV, CÔNG Đồng Nicée-Constantinople (325-381) giữ lại ý vừa nêu và bổ sung một số từ: ”Tôi tin Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, CÔNG Giáo và Tông Truyền.” (Anh-Em Tin Lành dùng chữ ”PHỔ thông” thay cho chữ ”công giáo” và bỏ chữ ”tông truyền”: Truyền lại qua Tông Đồ.)
Tự Điển Oxford London dùng chữ ”Catholic” để chỉ Kitô hữu nói chung, và chữ ”Roman Catholic” để chỉ Kitô hữu Roma tùng phục Giáo Hoàng. Ở Đức, Công Giáo và Tin Lành dịch chung Kinh Thánh để sử dụng trong nhà thờ, tại tư gia và các nơi khác. Như vậy, Chữ ”Tin Lành” KHÔNG ám chỉ rằng bên Công Giáo là ”tin dữ”. Chữ ”Chính Thống Giáo” cũng KHÔNG có ẩn ý rằng Công Giáo và Tin Lành là ”ngụy giáo”! Hồi Giáo cũng dùng CÔNG Lịch và cũng gọi Giêsu là ”Lời của Thiên Chúa” theo nghĩa Ngài chỉ là Tiên Tri của họ mà thôi, chứ không phải Thiên Chúa.
N- Danh từ ”Thiên Chúa Giáo”
Thiên Chúa Giáo gồm có Do Thái Giáo, Công Giáo, Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành là những Tôn Giáo thờ một Chúa, chứ KHÔNG phải chỉ riêng cho Công Giáo như nhiều người hiểu lầm hay không có thiện cảm với ”chữ này” vì họ nghĩ rằng ”tự vênh vang” như thế là ”áp đặt”, rằng người ngoài Đạo nói theo là ”đồng tình”, là vô hình trung xem Đạo của mình như là ”Tư Giáo”!
O- Người ”có Đạo” hoặc ”vô thần”
Hồi còn đi học, tôi vẫn đọc Báo ”CHÁNH Đạo” của Phật Giáo. Danh xưng này KHÔNG hề có nghĩa: Tôn Giáo Bạn đều là ”tà đạo”! Phật Giáo có Phật Lịch, nhưng cũng dùng Lịch Chung (CÔNG Lịch) cho toàn thế giới là Dương Lịch. Người Việt nói: ”CÔNG Nguyên”, tức là ”Cái Gốc, Tiêu Chuẩn Chung” để tính năm. Người Pháp, Anh, Đức… cũng gọi là: ”Thời Kỳ, Thời Đại, Kỷ Nguyên CỦA CHÚNG TA”. Chữ ”CHÚA Nhật, CHỦ Nhật” là ngày mà ai cũng mong chờ để nghỉ ngơi vì, theo Sách Khởi Nguyên, vào ngày này, Thiên Chúa ngưng công việc Ngài làm. (Ngài ”làm việc” trong sáu ngày là cách ”ấn định” thời gian cho phù hợp theo suy nghĩ hữu hạn của con người. Thiên Chúa là Đấng ”phi thời gian, phi không gian” vì Ngài là Tác Giả của chúng.) Người Pháp dùng chữ ”Dimanche”, do chữ ”dies dominicus” (3) là ”ngày của Chúa: Jour du Seigneur.” Người Anh, Đức dùng chữ ”Sunday, Sonntag” là ngày của mặt Trời vì mặt Trời là biểu tượng cho Thiên Chúa như Đạo Cao Đài cũng thờ, vì để nhớ ơn Ngài như Thánh Vịnh có ghi: ”Vừng thái dương để cai ban ngày vì Ơn Ngài miên man vạn đại!” (TV,135,8) Giáng Sinh là ngày Lễ CHUNG cho toàn thế giới. Ở Đức, ngoài quà Giáng Sinh, mọi người còn được lãnh ”Tiền Giáng Sinh”. Có nơi công nhân, công chức ngoài Ki-tô Giáo lại được hưởng ”lương tháng mười ba” vì ý nghĩa của Đại Lễ này.
Lời kết
Tóm lại, chữ ”Công Giáo” dịch sát nghĩa của chữ ”Catholique” (4), gốc Hy-lạp là ”katholikos”, đồng nghĩa với ”universel: phổ biến, phổ thông, cho mọi người, cho toàn thế giới” như chủ nghĩa ”Đại Đồng: Tứ Hải Giai Huynh-Đệ! Universalisme!” Tiếp đầu ngữ ”uni” có nghĩa là ”một”; chữ ”versel” do gốc Latinh ”versus” (5) là quá khứ phân từ của động từ ”vertere” có nghĩa là ”quay quanh”. Như vậy, chữ ”universel” có nghĩa rõ ràng là ”quay về MỘT mối” chính là Ông Trời theo quan niệm của dân gian như đã trình bày. Việc làm của người đời, dù tốt hay xấu, được khen, bị chê, cũng gọi là ”công, công cộng, đại đồng”, huống chi là Giáo Hội do Chúa lập nên để đem tình thương của Ngài đến cho ĐỒNG loại! Chữ ”Công Giáo”, nếu hiểu theo cách khác, còn có nghĩa là ”Đạo Công Bằng” vì không có ”Công Bằng, Công Lý” là không phải ”Bác Ái”! Ngoài ra, theo Lời Dạy của Chúa qua Thánh Giacôbê: ”Đức Tin không có hành động là đức tin chết!” Chữ ”Công” là ” việc làm vì công ích, vì mọi người.”
Đaminh Phan văn Phước
PHẦN BỔ SUNG VỀ NGUỒN GỐC CỦA CHỮ ”DA-TÔ, GIA-TÔ”
Mới đây, sau khi viết bài này, thấy học giả kia bảo rằng người Tàu phiên âm chữ Jesus là Ye-su, rằng Nhà Nguyễn cũng viết Ye-su trong các dụ cấm đạo, nhưng, khi được phiên âm ra chữ Nôm, chữ ấy (Ye-su) lại được đọc là Da-tô hay Gia-tô. Học giả ấy cũng dẫn chứng rằng, trong Sách ”Chân Đạo Yếu Lí” (1822), Giám Mục Paul-François Puginier đã viết: “Bằng tiếng Da Tô kẻ ghét đạo quen dùng, thật là tiếng vô nghĩa trong nước Annam…” Ngoài ra, Học Giả người Việt vừa nêu còn phát biểu như sau: ”Những người dùng danh từ Da-tô hay Gia-tô để chỉ đạo Công Giáo đều cố ý phỉ báng.”
Vậy, tôi xin mạo muội có ý kiến: Nên thông cảm cho Đức Giám Mục Paul-François Puginier bởi vì, dù có kiến thức uyên bác, là người Pháp, Ngài vẫn không thể nắm hết luật biếm âm trong tiếng Việt như sau: Chữ Canada được phiên âm thành Gia-nã-đại. (Âm ”ca” thành âm ”gia”.) Trong khi đó, âm ”ye-su, giê-su” khác xa âm ”da, gia” một trời, một vực. Vì lẽ đó, chữ ”Da-tô; Gia-tô” là do âm ”kato” trong chữ KATHOLIKOS mà ra!!!
Xin nêu trường hợp sau đây để kính mong quý vị thông cảm thêm cho Đức Giám Mục Puginier: Trong Hán-Việt Từ Điển, Cụ Đào Duy Anh cũng giải thích không đúng về nguồn gốc của chữ Da-tô: (nhân) Người Do-thái, Cơ-đốc-giáo xưng ông là giáo-chủ, và gọi là Cơ-đốc. Da-tô giáo tức là Cơ-đốc giáo.
Nhận xét: Chữ Da-tô không chỉ ”người” (nhân)! Đó là cách biến âm của ”catho” như đã trình bày! Chữ ”Cơ-đốc” là cách biến âm của ”Christo” (Chúa Kitô) mà tôi sẽ nêu rõ trong bài khác. Chính vì ”hiểu lầm” như Đức Giám Mục và Cụ Đào Duy Anh mà học giả (đã nêu) cho rằng Da-tô hay Gia-tô là cách phiên âm chữ Ye-su sang chữ Nôm, rằng cách phiên âm ấy là cố ý phỉ báng.
Ngoài ra, tôi cũng không đồng ý với học giả ấy và với một LM Pháp cho rằng Nhà Nguyễn lầm tưởng đạo do người Bồ Đào Nha nên gọi đó là HOA LANG. Trong bài khác, tôi sẽ viết rõ về gốc gác của chữ HOA LANG.
Ghi Chú:
1- Động từ ”lachen: cười” và ”lenken: điều khiển” cùng có quá khứ phân từ ”gelacht”! Bài khác sẽ nói về cách biến âm của chữ ”Catholique”, các chữ cùng một gốc với nó, các Danh Xưng của Chúa Giê-su được phiên âm không giống nhau …
2- ”Ta HẰNG HỮU trước khi có Abraham!” (Avant qu’Abraham existât, JE SUIS. Before Abraham was, I AM.) Lời Ngài ”JE SUIS; I AM; (Ego) sum QUI SUM.” (trong Gioan 8,58) có nghĩa là Giavê, tức Đấng Hằng Hữu. Cựu Ước ghi câu Thiên Chúa trả lời cho Môisê về Thánh Danh của Ngài: ”Je suis qui suis.” (Ta là Đấng Hằng Hữu.) Cho nên, Giáo Hoàng Bênêdictô ”biến” attribut (thuộc từ) của ”Je” thành danh từ: ”Ich bin DER ICH-BIN-DA. Chữ ”suis” thứ hai ở thì hiện tại (như trong Gioan 8,58) có ”giá trị” cho hôm qua, hôm nay, ngày mai và mãi mãi. Đó là thì ”présent vrai en tout temps”: hiện tại thực sự trong mọi thời. Dịch như tiếng Latinh-Pháp… thành ”I am WHO AM” thì mới đúng, thay vì ”I am who I am.” (chỉ một lần chủ từ I (Je) mà thôi. Có người Việt dịch sai thế này: ”Ta là Đấng (mà) Ta là!” Câu ”Ego sum qui sum” có ý nhấn mạnh thế này: ”Moi, Je suis qui suis; C’est Moi qui suis.” (Chính Ta là Đấng Hằng Hữu: L’ÉTERNEL!)
3- Ngày trước, Giáo Hội viết ”dies dominica” là hiểu theo nghĩa ”thời giờ của Chúa/thuộc về Chúa”. Với nghĩa ấy, ”dies” có giống cái (féminin) nên tính từ ”dominicus” phải thành ”dominica” theo giống cái. (Từ điển Langenscheidtswörterbuch của Đức.) Chữ ”dies dominicus” thì thông dụng hơn với ngoài đời và nhất là với học giả về Latin ở Châu Âu bởi vì ”dies” có giống đực: masculin.
Chúng ta cũng có các từ như là: cena dominica: Tiệc (bữa ăn) của Chúa là ”Phép Thánh Thể”; oratio dominica: Paternoster / Pater Noster – Kinh Lạy Cha; corpus dominicum: Mình (Thánh) Chúa.
4- Chữ ”Catholic” có ngữ nguyên Hy-lạp ”kata” là ”among, into, to, for, in respect of …”; còn ”holos” là ”the whole, all, altogether …” Chữ ”holocauste” là ”lễ vật toàn thiêu: bị thiêu hoàn toàn – victime entièrement brûlée”; Chữ ”causte” do gốc Hylạp ”kaiein” là ”đốt cháy”. Từ đó, chữ ”holocauste” cũng có nghĩa là ”việc tàn sát tập thể”.
5- Chữ ”univers, université, universaliser…” đều lấy gốc ”versus”. Chữ ”vers” là ” về hướng”; chữ ”verser” là ”đổ, đổ về, theo, đi theo”.
Read More
18Tháng Bảy
2023

Ngôn sứ thầm lặng

18/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Ngôn sứ thầm lặng

Một ngôn sứ có thể phân định lúc nào bỏ tấm biểu ngữ xuống và lấy chậu nước cái khăn ra để rửa chân, lúc nào bỏ chậu nước cái khăn xuống để cầm tấm biểu ngữ giương lên.

Cương vị môn đệ kitô kêu gọi tất cả chúng ta phải mang tính ngôn sứ, là người bênh vực cho công lý, là tiếng nói cho người nghèo và bảo vệ sự thật. Nhưng không phải tất cả chúng ta, theo bản chất hay có ơn gọi đặc biệt để không tuân hành luật dân sự, đi tuần hành biểu tình, dẫn đầu các vụ đình công như các nhân vật Dorothy Day, Martin Luther King, Daniel Berrigan và những nhân vật mang chiều kích ngôn sứ khác. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi làm ngôn sứ, nhưng với một số người, điều này chỉ có nghĩa là dùng chậu nước cái khăn để rửa chân cho người khác hơn là giương cao biểu ngữ.

Có một phương thức làm ngôn sứ rất mạnh dù có vẻ lặng lẽ và riêng tư, nhưng không bao giờ cá nhân. Và những quy luật của nó cũng giống như quy luật của những người nhân danh Chúa Giêsu đang giương biểu ngữ và biểu tình. Những luật này, những luật của tinh thần ngôn sứ kitô là gì?

Thứ nhất, ngôn sứ là người khấn đức yêu thương chứ không khấn tha hóa. Có một sự phân biệt then chốt giữa việc khuấy động vấn đề và tiên tri bằng tình yêu, một phân biệt giữa hoạt động vì vị kỉ và hoạt động vì đức tin và đức cậy. Một ngôn sứ chấp nhận bị hiểu lầm, nhưng không bao giờ tạo hiểu lầm, một ngôn sứ luôn đi tìm một trái tim dịu dàng chứ không tìm trái tim giận dữ.

Thứ hai, công lao của người ngôn sứ là từ Chúa Giêsu chứ không từ ý thức hệ. Các ý thức hệ có thể có nhiều sự thật và có thể dùng để bênh vực chân thành cho công lý. Nhưng người dân có thể tránh xa ý thức hệ, khi thấy nó chính xác là ý thức hệ, một kiểu chuẩn mực ăn nói cho hợp lý và từ đó biện hộ cho việc họ bác bỏ sự thật mà ý thức hệ này đưa ra. Những người chân thật thường tránh xa các tổ chức như Hòa bình xanh, Nữ quyền, Thần học giải phóng, Thuyết Chủng tộc phê phán và nhiều ý thức hệ khác vốn thật sự bao gồm nhiều sự thật, lý do chỉ vì các sự thật này bị gom trong một ý thức hệ. Những người chân thật sẽ không rời xa Chúa Giêsu. Trong cuộc đấu tranh vì công lý và sự thật, chúng ta phải luôn cảnh giác một chuyện là sự thật của chúng ta được rút ra từ Phúc âm chứ không từ một ý thức hệ nào.

Thứ ba, ngôn sứ thì cam kết phi bạo lực. Theo linh mục Dòng Tên Daniel Berrigan, một ngôn sứ luôn tìm cách bỏ khí giới của bản thân thay vì dùng vũ khí, để trở thành kẻ tội phạm bất lực ở thời mà quyền lực là tội phạm. Một ngôn sứ xem trọng lời Chúa Giêsu khi họ xin chúng ta, ai tát má này thì chìa má kia. Một ngôn sứ là hiện thân của cách sống theo chân lý cánh chung, trên thiên đàng sẽ không có súng ống.

Thứ tư, ngôn sứ ở phía tiếng nói Thiên Chúa, cho người nghèo và cho địa cầu. Bất kỳ việc giảng dạy hay hành động chính trị nào không đem lại điều tốt cho người nghèo thì không phải là Phúc âm của Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu đến để đem tin mừng cho người nghèo, cho “cô nhi, góa phụ và khách lạ” (quy tắc trong Kinh thánh để xác định những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội). Mục sư Forbes đã nói câu nói lừng danh: ‘Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo.’ Chúng ta không buộc phải tương ứng với Giáo hội.

Thứ năm, ngôn sứ không tiên đoán tương lai nhưng gọi tên hiện tại theo tầm nhìn của Thiên Chúa. Một ngôn sứ tìm hiểu xem ngón tay Thiên Chúa chỉ vào đâu trong cuộc sống hàng ngày, để cho thấy sự trung tín hay bất tín của chúng ta với Thiên Chúa, cũng như để cho thấy tương lai của chúng ta trong kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đó là thách thức của Chúa Giêsu khi Ngài bảo chúng ta hãy đọc dấu chỉ của thời đại.

Thứ sáu, ngôn sứ lên tiếng từ đức cậy. Ngôn sứ không dựa trên tầm nhìn và năng lực từ mơ tưởng hay tinh thần lạc quan, nhưng là từ đức cậy. Đức cậy kitô giáo không dựa trên tình hình thế giới hôm nay tốt hay xấu. Đức cậy kitô giáo dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa được ứng nghiệm trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, bảo đảm với chúng ta, chúng ta có thể phó mình cho đức mến, chân lý và công chính, kể cả khi thế giới giết chúng ta vì thế. Tảng đá chắn ngôi mộ rồi sẽ được lăn ra.

Thứ bảy, tâm hồn và chính nghĩa của ngôn sứ không bao giờ biệt lập. Chúa Giêsu quả quyết với chúng ta: trong nhà Ngài có nhiều chỗ. Tính ngôn sứ kitô giáo phải bảo đảm, không ai hay nhóm nào có thể biến Thiên Chúa thành thượng đế của riêng nhóm mình hay quốc gia mình. Thiên Chúa bình đẳng đối với tất cả mọi dân, mọi nước.

Cuối cùng, ngôn sứ không chỉ lên tiếng hay nói về bất công, mà còn có thể hành động và hành động một cách can trường, dù phải hy sinh mạng sống. Ngôn sứ là người khôn ngoan, những là người hành động, dù phải mất bạn bè, mất danh vọng, mất tự do hay thậm chí mất mạng sống. Một ngôn sứ có đủ tình yêu vị tha, hy vọng và can trường hành động, bất chấp tất cả. Một ngôn sứ không bao giờ cố tìm cách tử đạo, nhưng nếu phải, thì họ chấp nhận.

Tôi nghĩ điểm cuối cùng này là điểm thách thức nhất với các ngôn sứ “thầm lặng”. Những người minh triết không nổi tiếng, không dẫn đầu biểu tình, nhưng đó cũng chính là thách thức. Một ngôn sứ có thể phân định lúc nào bỏ tấm biểu ngữ xuống và lấy chậu nước cái khăn ra để rửa chân, lúc nào bỏ chậu nước cái khăn xuống để cầm tấm biểu ngữ giương lên.

Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 12
  • Page 13
  • Page 14
  • …
  • Page 77
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.