2023
Nên cầu nguyện bao lâu sau khi rước lễ?
Khi kết thúc Thánh lễ, hầu hết chúng ta đều có những phận sự và trách nhiệm khác nhau khiến chúng ta không thể ở lại nhà thờ để cầu nguyện. Sống trong một thế giới hối hả, thật khó để dừng lại vài phút tạ ơn Chúa về hồng ân Thánh Thể.
Tuy nhiên, nhiều vị thánh đã khuyến khích thực hành lòng đạo là duy trì việc cầu nguyện trong một khoảng thời gian dài sau khi Rước Lễ.
Năm 1980, Bộ Phụng tự và Bí tích xuất bản một tài liệu, Inaestimabile donum, khuyến khích mọi người tiếp tục cầu nguyện.
Các tín hữu được khuyên không nên bỏ qua việc tạ ơn riêng sau khi rước lễ. Họ có thể cầu nguyện trong thánh lễ qua thời gian im lặng, với bài thánh ca, thánh vịnh hoặc một bài hát ngợi ca khác, hoặc sau thánh lễ, nếu có thể ở lại cầu nguyện trong một thời gian thích hợp.
Bạn nên ở lại cầu nguyện bao lâu?
Không có thời gian “chính thức” để cầu nguyện. Các thánh trong nhiều thế kỷ đã đề xuất nhiều lựa chọn khác nhau.
Thánh Josemaria Escriva đã viết: “Nếu lời tạ ơn của chúng ta cân xứng với sự khác biệt giữa ơn sủng và những khô cằn của chúng ta, liệu có nên biến cả ngày thành một thánh lễ liên tục, một lời tạ ơn liên tục không? Đừng rời khỏi nhà thờ ngay sau khi lãnh nhận Bí tích. Chắc chắn bạn không có việc gì quan trọng đến nỗi bạn không thể dành cho Chúa 10 phút để nói lời cảm tạ. Tình yêu được đền đáp bằng tình yêu”
Thánh Peter Julian Eymard cũng có một gợi ý tương tự: “Những khoảnh khắc trang trọng nhất trong cuộc đời của bạn là những lúc bạn dành để tạ ơn, khi Vua của trời và đất, Đấng Cứu Rỗi và Thẩm Phán của bạn, là của bạn, Ngài sẵn sàng ban cho bạn tất cả những gì bạn cầu xin. Nếu có thể được, hãy dành nửa giờ cho việc tạ ơn này hoặc ít là 15 phút. Thay vì rút ngắn việc tạ ơn của bạn, tốt hơn hết, bạn nên rút ngắn phần chuẩn bị của mình; vì không có khoảnh khắc thánh thiện nào, không có khoảnh khắc nào ích lợi hơn khi bạn sở hữu Chúa Giêsu trong thể xác và trong tâm hồn mình”.
Các vị thánh khác đã dành trọn một giờ sau khi Rước Lễ, tận hưởng từng phút ở với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.
Dù bạn dành bao nhiêu thời gian để cầu nguyện, hãy tạ ơn Thiên Chúa vì sự hiện diện của Người trong Bí tích Thánh Thể và hãy để tình yêu của Người rửa sạch tâm hồn bạn.
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ từ Aleteia.org
2023
Bệnh sida với Bí tích Hôn phối
Bệnh sida với Bí tích Hôn phối
Hỏi:
Thưa cha:
Ở giáo xứ con có một anh chàng lấy vợ ở một giáo xứ bên cạnh. Họ đã có lễ cưới ở Nhà thờ và tổ chức đám cưới linh đình. Tuy nhiên, sau đó mấy tháng thì họ đưa nhau ra Tòa án dân sự ly dị với lý do cô vợ bị bệnh sida. Sau đó ít năm, cha xứ con lại thông báo họ được Tòa án Hôn phối của Giáo phận tháo gỡ hôn nhân của họ, cho họ được đi kết hôn với người khác. Như vậy, Giáo hội cho người ta bỏ nhau vì bệnh sida sao? Nhiều người trong giáo xứ chúng con thắc mắc: chúng tôi đã sống trên 70 tuổi mà xưa nay chưa thấy vậy bao giờ.
Một tín hữu của giáo hạt Phú Nhai hỏi.
Giải đáp:
Bệnh liệt kháng, còn gọi là AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) vì nhiễm siêu vius HIV (human immunodeficiency virus), thông thường gọi là bệnh sida, vẫn còn là một nguy hiểm của nhân loại. Gọi là bệnh liệt kháng vì siêu vi khuẩn HIV đã tàn phá hệ thống miễn nhiễm của cơ thể và làm cho cơ thể không thể chống đỡ nổi sự tấn công của vi trùng xâm nhập vào cơ thể người bệnh để rồi đưa đến sự tử vong. Hiện nay, vẫn chưa tìm ra thuốc chữa lành đặc hiệu, mà chỉ có thuốc ARV (Antiretroviral) là một loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh HIV/AIDS. Loại thuốc này có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của virus HIV trong cơ thể bằng cách ức chế một số enzyme cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của virus. Thuốc ARV có thể giảm đáng kể lượng virus HIV trong cơ thể, ngăn chặn các triệu chứng của bệnh, giảm nguy cơ lây nhiễm và kéo dài thời gian sống của bệnh nhân HIV/AIDS. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc ARV phải được điều chỉnh theo chỉ định của bác sĩ chuyên môn.
Về mặt pháp lý, hiện nay luật Dân sự và luật Giáo hội vẫn chưa có một quy định nào ngăn cấm người bị nhiễm bệnh sida được kết hôn. Tuy nhiên, tình trạng mang bệnh có thể gây nên những tác động tâm sinh lý khác, rồi từ đó ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn, đặc biệt là đối với khả năng ưng thuận kết hôn (đ. 1057§1). Giáo hội có thể xét đến sự thành hiệu hôn nhân của người bệnh AIDS dưới khía cạnh pháp lý với một số khả năng có thể xảy ra như sau: Hôn nhân có thể vô hiệu vì lừa gạt (đ. 1098), giả vờ như không muốn có con vì sợ lây nhiễm (đ. 1101§2), ưng thuận kết hôn với điều kiện (đ. 1102), không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân (đ. 1095)…
Về trường hợp đôi vợ chồng trong giáo xứ của bạn, không phải Giáo hội cho anh chị ấy ly dị với lý do cô vợ bị bệnh sida. Thực tế, cô vợ đã bị bệnh sida trước khi kết hôn mà cô ấy đã giấu giếm anh chồng. Sau khi kết hôn, anh chồng mới phát hiện ra điều này, làm ảnh hưởng trầm trọng đến tâm lý và đời sống vợ chồng. Tư cách ấy, tự bản chất làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng. Anh chồng cho là đã bị cô vợ lừa dối, đã đệ đơn đến Tòa án Hôn phối của giáo phận, đã được Tòa án thụ lý hồ sơ, điều tra, nghị án và ra phán quyết tuyên bố hôn nhân của họ vô hiệu (theo đ. 1098). Cả hai anh chị có quyền được kết hôn với người khác. Riêng cô vợ, nếu có người nam khác biết rõ về tình trạng bệnh của cô ấy mà anh ta vẫn đồng ý kết hôn thì hôn nhân của họ vẫn hữu hiệu (đ. 1057§2).
Email: [email protected]
2023
Một vài suy tư về thánh nhạc tại giáo xứ trong Giáo hội hiện nay
Một vài suy tư về thánh nhạc tại giáo xứ trong Giáo hội hiện nay
MỘT VÀI SUY TƯ VỀ THÁNH NHẠC
TẠI GIÁO XỨ TRONG GIÁO HỘI HIỆN NAY
Chaz Bowers[1]
Trong thời gian dạy các khóa về thánh nhạc tại đại học, tôi thường cảm thấy bị thách đố với câu hỏi: “Trong tương lai, tôi nên bắt đầu từ đâu khi cải thiện âm nhạc tại giáo xứ của mình?” – như thể là có một phương pháp phù hợp với tất cả mọi người để cải thiện âm nhạc trong Giáo hội phương Tây. Cuộc đối thoại sau đó có thể nhanh chóng trở thành cuộc tranh luận căng thẳng vì âm nhạc có thể trở thành nguyên nhân gây chia rẽ. Tuy nhiên, sau khi trải nghiệm vẻ đẹp thực sự, nhất là qua âm nhạc, chúng ta có thể tìm thấy nguồn gốc của sự gắn kết và hoà hợp.
Tôi thích việc đưa ra câu trả lời, bởi vì sau hai thiên niên kỷ hiện diện, Giáo hội đã cho chúng ta những lời giải đáp khôn ngoan mà chúng ta cần. Từ những gợi ý đa dạng mang tính âm nhạc trong Sách lễ Rôma, những quy tắc Phụng vụ về âm nhạc trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, và các tài liệu khác nhau về thánh nhạc, đến các bản văn được quy định để sử dụng trong Thánh lễ, cùng với nhiều lựa chọn hợp lệ và tốt đẹp khác, các nhạc sĩ có rất nhiều cơ hội để nuôi dưỡng nét đẹp và sự chân chính của nhạc phụng vụ Công giáo.
Dưới đây, tôi muốn đưa ra một vài ý tưởng:
Tán thành Thánh lễ hát
Sự qua đời của Đức Bênêđictô XVI làm tôi nhớ đến câu trích dẫn yêu thích của tôi trong cuốn “Tinh thần Phụng vụ” được ngài viết trước khi trở thành giáo hoàng: “Khi con người tiếp cận với Thiên Chúa, thì chỉ nói mà thôi thì chưa đủ”. Tôi tin rằng câu trích dẫn này, ở một thời điểm nào đó, có thể sẽ trở nên nổi tiếng giống như câu nói của Thánh Augustinô: “Hát là cầu nguyện hai lần”.
Cả hai câu trích dẫn này đều soi sáng cho chúng ta về tầm quan trọng của Thánh lễ hát. Đức Bênêđictô giải thích các lĩnh vực hiện hữu của con người “được đánh thức và tự động biến thành bài ca”. Ngay cả hiện nay, việc ca hát đã và đang là một hình thức ngợi khen cao nhất dành cho Thiên Chúa. Điều này không chỉ đúng trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại, mà còn trong lịch sử của Kitô giáo. Hãy xem bài ca của dân Israel, sau khi vượt qua Biển Đỏ, đượcđồng thanh hát lên để tán dương sức mạnh Thiên Chúa như được diễn tả trong Xuất hành 15, 1: “Tôi xin hát mừng Chúa, Ðấng cao cả uy hùng: Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương”.
Trong chiều hướng này, lời khuyên của tôi dành cho các sinh viên là hãy cộng tác với các linh mục quản xứ để phát triển một kế hoạch triển khai Thánh lễ hát. Điều này có nghĩa là, không chỉ đơn thuần là hát trong Thánh lễ, mà là hát Thánh lễ.
Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma cho chúng ta biết: “Khi chọn những phần để hát, thì phải dành ưu tiên cho những phần quan trọng hơn, nhất là những phần do linh mục, hoặc phó tế hay độc viên hát, có cộng đoàn đáp; hoặc những phần mà cả linh mục và cộng đoàn cùng hát” (Số 40). Quy Chế nói thêm, “Linh mục rất nên hát những phần có phổ nhạc trong kinh nguyện Thánh Thể” (Số 147).
Việc dạy cộng đoàn hát những câu đối đáp khác nhau, ngay cả bằng những âm điệu đơn giản, rất hiệu quả xét về mặt âm nhạc vì nhiều lý do. Trước hết, tín hữu Công giáo thường đối đáp rất tốt với các giáo sĩ. Thứ đến, với việc cải cách phụng vụ của Công đồng Vatican II, giáo dân đã có thể quen thuộc với các câu đáp bằng tiếng bản xứ, và với việc hát những giai điệu đơn giản, họ có thể dễ nhớ những câu đối đáp này hơn. Ngoài ra, việc hát cũng mang lại cho bản văn sức sống, và ý nghĩa mới và đặc biệt là trang trọng hơn.
Nhưng liệu chúng ta nên bắt đầu Thánh lễ hát từ đâu? “Hãy bắt đầu đơn giản bằng một cuộc đối thoại”. Bài thánh ca đơn giản đôi khi có thể hiệu quả nhất và đẹp nhất vì có thể thu hút mọi người tham gia và dễ dàng thuộc.
Nuôi dưỡng vẻ đẹp trong Thánh nhạc
Mỗi chúng ta đều từng trải nghiệm vẻ đẹp và có sở thích cá nhân về loại nhạc và lời bài hát theo những cách thế khác nhau. Về điều này, Đức Giáo hoàng Piô X có những lời khuyên rất rõ ràng: “Thánh nhạc phải có những phẩm chất Phụng vụ thích hợp, trước hết bài ca phải thánh, phải là nghệ thuật đích thực; đồng thời, phải được bắt nguồn từ tính phổ quát”. Ngài coi Ca điệu Grêgoriô (Nhạc bình ca) là hình mẫu tuyệt vời cho tất cả thánh nhạc và sáng tác thánh nhạc.
Tuy nhiên dù là thể loại âm nhạc nào, điều quan trọng là phải nhận ra rằng không gì có thể thay thế được nét đẹp. Có nghĩa là, chẳng ai thích tham gia một ca đoàn hát nghe tệ cả. Vì vậy, tôi khuyên các sinh viên, dù họ hát gì, hãy đảm bảo rằng âm nhạc của họ được trình diễn với vẻ đẹp và sự trang nghiêm phù hợp với Thánh lễ. Đôi khi, những bản nhạc đơn giản được hát hay còn tốt hơn bản nhạc phức tạp nhưng không tôn lên vẻ đẹp. Để làm được điều này, cần nhận ra những điểm mạnh và khả năng của người hát- cả ca xướng viên lẫn các ca viên – và xây dựng từ đó.
Trong bài diễn từ dành cho các nghệ sĩ vào tháng 02.2022, Đức Thánh Cha Phanxicô cho thấy rằng: “Một nghệ sĩ đích thực có thể nói về Thiên Chúa tốt hơn bất kỳ ai khác, khi giúp cho mọi người cảm nhận được vẻ đẹp và sự thiện hảo của Thiên Chúa đồng thời, ‘chạm đến trái tim con người và làm cho nét chân và thiện của Chúa phục sinh tỏa sáng trong tâm hồn họ’”.
Điều quan trọng nữa là phải nhận ra rằng vẻ đẹp có thể được thể hiện theo những cách thức khác nhau. Như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong bài diễn từ dành cho các giám mục Hoa Kỳ dịp ad limina vào ngày mồng 09/10/1998, về việc tham gia tích cực vào Phụng vụ, cho thấy rằng chúng ta cũng có thể tham gia thông qua việc lắng nghe:
“Sự tham gia tích cực không loại trừ sự thụ động tích cực của sự thinh lặng, tĩnh lặng và lắng nghe, vì thực ra, những yếu tố này rất cần thiết. Những người tham gia việc thờ phượng không thụ động, chẳng hạn như khi họ lắng nghe các bài đọc hoặc bài giảng, chú tâm vào những lời nguyện của chủ tế, và những bài thánh ca và nhạc phụng vụ. Đây là những trải nghiệm về sự thinh lặng và tĩnh lặng, nhưng theo cách riêng vàmang tính năng động sâu xa. Ở những nơi mà nền văn hóa không có thói quen suy niệm trong thinh lặng thì người ta rất khó lĩnh hội nghệ thuật lắng nghe bằng nội tâm. Ở đây, chúng ta thấy Phụng vụ, một đàng phải luôn được hội nhập văn hóa một cách thích hợp, nhưng đàng khác, cũng phải biết giúp văn hóa thấm nhuần Kitô giáo”.
Giống như việc chúng ta được truyền cảm hứng từ nghệ thuật và kiến trúc đẹp của một tòa nhà cho dù không tham gia vào tiến trình xây dựng, thì trong Phụng vụ, chúng ta có thể được truyền cảm hứng từ vẻ đẹp của âm nhạc thông qua việc lắng nghe tích cực.
Cũng với lời của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II:
“Sự tham gia cách ý thức kêu gọi toàn thể cộng đoàn được hướng dẫn đúng đắn về các mầu nhiệm Phụng vụ, kẻo trải nghiệm thờ phượng bịthoái hoá thành một hình thức nghi lễ” (sđd.,).
Hiểu rõ vai trò của Âm nhạc và Nhạc sĩ trong Phụng vụ
Là một nhạc sĩ, tôi có thể nói rằng thật dễ để đưa sở thích cá nhân của mình vào phụng vụ. Tuy nhiên, điều này không đúng, bởi vì, Giáo hội đã có nhữnghướng dẫn rõ ràng và chính xác về những gì chúng ta, với tư cách là nhạc sĩ Công giáo, phải làm.
Tôi dành nhiều thời gian để chỉ cho các sinh viên làm sao để tìm ra điều mà Giáo hội đòi hỏi và chúng ta nên thi hành phận vụ của mình như thế nào. Trong nhiều khía cạnh của việc lên kế hoạch cho việc cử hành phụng vụ, thường có nhiều lựa chọn, và mỗi giáo xứ có khả năng chọn lựa âm nhạc nhằm thể hiện nét đẹp của Phụng vụ nơi cộng đoàn của mình.
Do đó, điều cần thiết là các nhạc sĩ phải nắm bắt về Luật chữ đỏ như được quy định trong Sách lễ Rôma, trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, và trong Huấn Thị về Thánh Nhạc trong Phụng Vụ Thánh Musicam Sacram. Những nguồn này cung cấp những hướng dẫn rõ ràng của Giáo hội hoàn vũ về âm nhạc trong Phụng vụ. Khi một nhạc sĩ hiểu được những Chỉ dẫn chữ đỏ này, họ có thể cộng tác với cha xứ và linh mục trong giáo xứ để sao cho vừa đi đúng đường hướng chung mà vẫn luôn có chỗ cho sự sáng tạo và các lựa chọn của mình.
Hãy là những tín hữu Công giáo!
Cuối cùng, tôi khuyên các sinh viên đó là: Hãy là những tín hữu Công giáo đích thực trong âm nhạc mà họ chọn. Ý của tôi là, trước hết, hãy chọn âm nhạc từ chính truyền thống của mình nếu có sẵn một gợi ý tốt. Thứ đến, hãy chắc chắn rằng âm nhạc được sử dụng trong phụng vụ phù hợp với tất cả những gì Giáo hội dạy.
Trong suốt cuộc trao đổi này với sinh viên, tôi muốn nhắc họ rằng chúng ta đang sống trong một thời điểm thuận lợi để trở thành những nhạc sĩ của Giáo hội, vì trong thánh nhạc, chúng ta được trang bị tốt với sự hướng dẫn của Giáo hội cho công việc khó khăn phía trước!
Cũng trong buổi tiếp kiến với nhóm nghệ sĩ vào năm 2022, Đức Thánh Cha Phanxicô xác nhận vai trò quan trọng của nhạc sĩ:
“Trong bối cảnh khó khăn hiện tại mà thế giới đang trải qua, khi mà nỗi buồn và đau khổ dường như chiếm ưu thế, thì sứ mạng của anh chị em càng cần thiết hơn bao giờ hết, bởi vì cái đẹp luôn là nguồn vui, đưa chúng ta chạm tới với sự thiện hảo của Thiên Chúa”.
Một số qui tắc chung về âm nhạc
“Mỗi khi cử hành phụng vụ mà cần hát thì có thể chọn người hát, ưu tiên dành cho những người có khả năng hơn về mặt ca hát, đặc biệt trong những buổi cử hành khá long trọng và có những bài hát khó hơn hay khi phải truyền thanh, truyền hình.
Nếu không chọn được người hát, và nếu linh mục hay thừa tác viên không thể hát đúng, thì vị đó có thể đọc mà không hát những bài hát phải hát, nếu bài ấy khó quá, nhưng phải đọc lớn tiếng và rõ ràng. Nhưng linh mục hay thừa tác viên không được làm như thế, chỉ vì muốn tiện cho mình.
Khi chọn bài hát cho ca đoàn hay giáo dân, nên lưu ý đến khả năng ca hát của những người đó. Trong các lễ nghi phụng vụ, Hội Thánh không loại bỏ một loại ca nhạc nào, miễn là loại đó hợp với tinh thần lễ nghi phụng vụ và bản chất của mỗi phần, và không ngăn trở giáo dân tham dự đúng mức và tích cực.
Để giúp tín hữu tích cực tham gia phụng vụ và có hiệu quả hơn trong mức độ có thể, nên thay đổi cách thích hợp những hình thức cử hành và mức độ tham dự, cùng lưu ý đến bậc lễ của ngày ấy, và tầm quan trọng của cộng đoàn”. (Huấn Thị về Thánh Nhạc trong Phụng Vụ Thánh, Musicam Sacram, 1967, số 8 -10)
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Lược dịch từ: thepriest.com (28. 07. 2023)
[1] Chaz Bowers là giám đốc âm nhạc của Giáo xứ St. Michael the Archangel, Pittsburgh, Pennsylvania, đồng thời là giáo sư phụ giảng về đàn organ và thánhnhạc tại Đại học Franciscan ở Steubenville, Ohio, Hoa kỳ. Ông là một nhà soạn nhạc đã xuất bản về nhạc giáo đường, và từng là trưởng khoa của Pittsburgh thuộc American Guild of Organists.
2023
THÁNH KINH VÀ THÁNH NHẠC
THÁNH KINH VÀ THÁNH NHẠC
Trong Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, Công đồng Vatican II đã viết: “Giáo hội vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh giống như tôn kính Thánh Thể Chúa, đặc biệt trong Phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Kitô để trao ban cho các tín hữu. Thánh Kinh truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch. Vì vậy, toàn thể việc rao giảng trong Giáo hội cũng như chính nếp sống đạo của người Kitô hữu phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Quả thật, trong các Sách Thánh, Cha trên trời âu yếm đến gặp gỡ và trò chuyện với con cái của Ngài, vì trong Lời Thiên Chúa có uy lực và quyền năng lớn lao để mang lại sự nâng đỡ và sức sống cho Giáo Hội, đồng thời đem đến cho đoàn con của Giáo Hội sức mạnh của đức tin, lương thực của linh hồn, nguồn mạch tinh tuyền và trường tồn của đời sống thiêng liêng.”[1]
- TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÁNH KINH
- Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa
Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh nên những gì được ghi chép trong Thánh Kinh đều là Lời Thiên Chúa. Qua Thánh Kinh, Thiên Chúa mạc khải về chính mình để con người nhận ra, hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa hơn. Nếu Thiên Chúa không mở lời để nói cho con người về chính Ngài, thì con người sẽ không bao giờ có diễm phúc được biết Thiên Chúa và yêu mến Ngài. “Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết thiên ý nhiệm mầu (x. Ep 1,9); nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 Pr 1,4). Qua việc mạc khải này, Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15; 1 Tm 1,17), trong tình yêu thương chan hòa, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15) và đến sống với họ (x. Br 3,38) để mời gọi và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài.”[2]
Tất cả mọi lời trong Thánh Kinh đều nhằm mục đích diễn tả về Thiên Chúa, để con người không chỉ nhận ra sự hiện diện của Ngài, mà còn khám phá thấy những nét tuyệt đẹp của Thiên Chúa trong các thuộc tính của Ngài, nhất là tình yêu. Con người sẽ không thể hiểu được tình yêu là gì nếu không nhận biết mình được yêu thương bởi một Thiên Chúa Tình Yêu.
Lời Thiên Chúa được chính Chúa Thánh Thần linh hứng và dùng một số người viết lại Lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của con người nên Thánh Kinh không sai lầm. Từng lời trong Thánh Kinh đều khởi đi và thể hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người. Những nhân vật, những câu chuyện, những biến cố… mà Thánh Kinh ghi lại đều truyền tải một sứ điệp nào đó mà Thiên Chúa muốn nói với con người. Do đó, những lời trong Thánh Kinh không có câu nào là dư thừa, vô ích nhưng từng câu Thánh Kinh là lời nói tình yêu mà Thiên Chúa ngỏ với con người.
- Thánh Kinh là Lời Hằng Sống
Thánh Kinh tuy chứa đựng những cuốn sách đã được viết ra cách đây nhiều trăm năm nhưng không bao giờ cũ hay lỗi thời. Bởi vì tác giả của Thánh Kinh là Thiên Chúa Hằng Sống. “Ngài đã dùng lời nói và hành động để mạc khải cho dân riêng của Ngài biết rằng chính Ngài là Thiên Chúa duy nhất, chân thật và hằng sống. Vì vậy, các sách đã được Thiên Chúa linh hứng vẫn giữ một giá trị trường cửu.”[3] Cho nên Lời Chúa bao giờ cũng hợp thời và thích hợp cho mọi người của mỗi thời đại khác nhau. Cũng một câu Lời Chúa đó nhưng mỗi người trong hoàn cảnh cụ thể của mình sẽ được Thiên Chúa đánh động khác nhau. Do đó, dù ở độ tuổi nào, hay đang sống trong hoàn cảnh nào, Lời Chúa vẫn sống động. Những ai tiếp cận với Lời Chúa đều cảm nhận như chính Thiên Chúa đang trực tiếp nói với mình trong giây phút hiện tại.
Vì thế, trong Thánh Kinh không có sách cũ hay mới. Sự phân biệt các sách Cựu ước hay Tân ước chỉ nhằm nói đến giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với dân Người và Đức Giêsu Kitô. Giao ước cũ đã thất bại vì dân Chúa đã không trung thành, còn giao ước mới đã hoàn thành viên mãn khi Đức Giêsu Kitô vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên thập giá theo thánh ý của Chúa Cha. “Thiên Chúa, Đấng linh hứng và là tác giả của cả hai bộ sách Giao ước, đã khôn ngoan xếp đặt cho Tân ước được tiềm tàng trong Cựu ước, và Cựu ước được tỏ hiện trong Tân ước.”[4] Do đó, toàn bộ Thánh Kinh là một sự thống nhất xuyên suốt. Từ dòng đầu tiên của sách Sáng Thế đến dòng cuối cùng của sách Khải Huyền đều chứa đựng Lời Hằng Sống. “Kinh Thánh là sách chứa đựng những lời ban sự sống đời đời; vậy Kinh Thánh được viết ra không chỉ để chúng ta tin, nhưng còn để chúng ta có sự sống đời đời.”[5]
- Thánh Kinh là Lời Cứu Độ
Trên trần gian này không có cuốn sách nào, dù là best seller cũng không dám khẳng định nó có khả năng đem ơn cứu độ. Chỉ duy nhất Thánh Kinh là cuốn sách chứa đựng Lời Cứu Độ. Từng trang Thánh Kinh đều trình bày một ý định xuyên suốt của Thiên Chúa về chương trình cứu độ dành cho con người. Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa. “Thật vậy, Chúa Cha đã sai Con của Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng soi sáng mọi người, đến sống giữa loài người và nói cho họ biết những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa.”[6] Sự hiện diện của Chúa Giêsu đã làm cho Lời Thiên Chúa trở nên sống động, hiện thực và đem lại ơn cứu độ. Chính Chúa Giêsu đã nói Lời Thiên Chúa và rao giảng Lời Chúa để những ai nghe và thực hành sẽ được hưởng ơn cứu độ. “Ngôi Lời đã mạc khải chính Thiên Chúa cho chúng ta trong tương quan trao đổi tình yêu giữa các Ngôi Vị Thiên Chúa, và mời gọi chúng ta dự phần vào tương quan tình yêu đó. Vì vậy, một khi được tạo dựng nên theo hình ảnh giống với Thiên Chúa tình yêu, chúng ta chỉ có thể hiểu được chính mình khi biết đón nhận Ngôi Lời và tác động của Chúa Thánh Thần. Chính nhờ ánh sáng của Mạc Khải do Ngôi Lời Thiên Chúa thực hiện mà bí ẩn trong thân phận con người được sáng tỏ trọn vẹn.”[7] Do đó, Thánh Kinh không phải là một cuốn sách tiểu thuyết, hay lịch sử nhưng từng trang sách của Thánh Kinh đều có sức mạnh đem đến ơn cứu độ. Những ai đón nhận, lắng nghe và thực hành sẽ được chính Lời Thiên Chúa giải thoát. “Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải thần linh để biểu lộ và thông ban chính mình cũng như ý định muôn đời của Ngài liên quan đến việc cứu rỗi nhân loại.”[8]
- THÁNH KINH LÀ NGUỒN SÁNG TÁC VÔ TẬN CHO THÁNH NHẠC
- Để Thánh Kinh là nguồn sáng tác cần tìm hiểu Lời Chúa
Khi muốn sáng tác một bài thánh ca, chúng ta thường đi tìm một ý tưởng hay được đánh động bởi một biến cố nào đó. Như thế, việc sáng tác sẽ dễ bị lệ thuộc và giới hạn. Vậy tại sao chúng ta không đến với Thánh Kinh để tìm hiểu Lời Chúa mà sáng tác? “Lời Thiên Chúa là ánh sáng thật mà con người cần đến.”[9] Một người viết thánh ca mà không hiểu biết về Lời Chúa thì dễ bị nghèo nàn trong ý tưởng. Do đó, muốn có nhiều tác phẩm thánh ca ra đời, người viết cần dành thời gian để tìm hiểu, học hỏi Thánh Kinh. Chính Chúa không chỉ là nguồn sáng tác vô tận mà còn là Đấng gợi lên cho chúng ta điều mà Ngài muốn chúng ta viết. Nếu chúng ta bị bí đề tài khi viết thánh ca thì chúng ta cần xem lại việc chúng ta dành bao nhiêu thời gian để tìm hiểu và học hỏi Lời Chúa. Bản thân mỗi người chúng ta tự hỏi xem tôi đã biết về Thánh Kinh bao nhiêu.
Qua việc tìm hiểu Lời Chúa, “chúng ta hiểu được chính mình và tìm được câu trả lời cho các vấn nạn sâu xa nhất vẫn ở trong trái tim chúng ta. Bởi vì Lời Chúa không hề đối nghịch với chúng ta, không bóp nghẹt các khát vọng chân chính của chúng ta, trái lại, soi sáng, thanh tẩy và đưa các khát vọng đó đến chỗ được hoàn tất. Đối với thời đại ta, thật quan trọng việc khám phá ra rằng duy một mình Thiên Chúa mới đáp ứng được cơn khát đang ở trong tim mỗi người!”[10]
- Để Thánh Kinh là nguồn sáng tác cần yêu mến Lời Chúa
Chúng ta sẽ không thể đọc, học và ghi nhớ Lời Chúa nếu chúng ta không yêu mến. Thật ra, việc đọc hay tìm hiểu Thánh Kinh không phải là tìm hiểu những lời viết trong đó, nhưng là tìm hiểu về Đấng mà những lời đó miêu tả. Để rồi từ đó, chúng ta hiểu và yêu mến Đấng đó mỗi ngày một hơn. “Lời Chúa đưa mỗi người chúng ta đi vào một cuộc đối thoại với Đức Chúa: Vị Thiên Chúa đang nói dạy chúng ta biết cách thưa chuyện với Ngài. toàn thể cuộc sống con người trở thành một cuộc đối thoại với Thiên Chúa, Đấng đang nói và đang nghe, đang mời gọi và hướng dẫn đời ta.”[11] Như thế, khi chúng ta nói yêu mến Lời Chúa không phải là yêu lời mà là yêu Chúa qua lời của Ngài. Cho nên chúng ta chỉ có thể đến với Thánh Kinh khi chúng ta có lòng yêu mến Chúa. Người viết thánh ca không thể đem đến một tác phẩm đi vào lòng người nếu không được lòng yêu mến Chúa thúc đẩy. Một bài thánh ca sẽ khó lòng chạm vào trái tim người nghe nếu nó không truyền tải một cảm nghiệm của người viết về lòng yêu mến Chúa.
- Để Thánh Kinh là nguồn sáng tác cần thực hành Lời Chúa
Lời Chúa không chỉ được đọc, hiểu mà còn phải sống. “Ai đặt nền tảng trên Lời của Ngài thì thực sự xây dựng đời mình một cách chắc chắn và bền vững.”[12] Chính khi chúng ta thực hành Lời Chúa, chúng ta sẽ có cảm nghiệm sâu hơn về Chúa. Từ đó, bài thánh ca chúng ta viết ra không dựa trên lý thuyết nhưng nó được viết ra từ kinh nghiệm sống thiêng liêng mà chúng ta có. Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta về Ngài và dạy chúng ta biết bao nhiêu điều. Mỗi một câu truyện trong Thánh Kinh đều là những bài học mà Thiên Chúa muốn nói với chúng ta. Cho nên một bài thánh ca sẽ được viết sâu sắc hơn khi nó được người viết sống điều họ viết trước. “Lời Thiên Chúa có khả năng đáp lại các vấn đề mà con người phải đương đầu trong đời sống hằng ngày. Do đó, chúng ta cần hết sức cố gắng để Lời Thiên Chúa xuất hiện ra như một sự mở ra với các vấn đề của mình, một đáp trả cho các câu hỏi của mình, một sự nới rộng các giá trị và đồng thời một sự thoả mãn mang lại cho các khát vọng của mình.”[13]
III. THÁNH NHẠC LÀM SỐNG ĐỘNG THÁNH KINH
Trong Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Trong khung cảnh đề cao Lời Thiên Chúa trong cử hành phụng vụ, cũng phải quan tâm đến bài ca dành cho những lúc được tiên liệu theo từng nghi thức, dành ưu tiên cho các bài ca rõ ràng rút cảm hứng từ Kinh Thánh và diễn tả vẻ đẹp của Lời Chúa, bằng sự hoà hợp giữa nhạc và lời. Theo chiều hướng này, nên đề cao các bài ca mà Truyền thống Giáo Hội đã để lại và là những bài tôn trọng tiêu chuẩn này.”[14]
- Thánh Kinh đi vào lòng người nhờ Thánh Nhạc
Một bộ Thánh Kinh gồm 73 cuốn sẽ làm cho người đọc cảm thấy ngao ngán. Trong Thánh Kinh chứa đựng biết bao nhiêu câu truyện, biến cố, lời dạy dễ làm cho người đọc khó nhớ. Nhưng nếu các câu truyện và những lời Chúa nói trong Thánh Kinh được sáng tác thành những bài thánh ca thì sẽ làm cho người nghe dễ đón nhận Lời Chúa hơn. Chính giai điệu của bài hát sẽ làm cho người nghe nhớ được nội dung Lời Chúa mà bài hát muốn diễn tả.
- Thánh Kinh trở nên gần gũi nhờ Thánh Nhạc
Khi nghe nói về Thánh Kinh, chúng ta thường nghĩ nó là một cuốn sách khô khan, khó hiểu và dành riêng cho một thành phần nào mà thôi. “Lối vào Thánh Kinh cần phải được mở rộng cho các Kitô hữu.”[15] Quả thật, Thánh Kinh là môn học khó và những điều viết trong đó cũng khó hiểu vì nó là Lời của Thiên Chúa. Qua tìm hiểu Thánh Kinh, chúng ta chỉ có thể hiểu một phần nào về Thiên Chúa thôi. Do đó, khi nói về Thánh Kinh lập tức làm cho chúng ta cảm thấy xa cách, khó tiếp cận. Tuy nhiên, nếu các lời Thánh Kinh hay những nội dung của Thánh Kinh được Thánh Nhạc chuyển tải thì nó sẽ trở nên gần gũi và người nghe dễ tiếp thu. Điều này đòi hỏi người viết thánh ca hiểu được điều mà Thánh Kinh muốn nói rồi chuyển những ý tưởng đó bằng những nốt nhạc.
- Thánh Kinh được lan tỏa nhờ Thánh Nhạc
Thánh nhạc trở nên phương thế để loan báo Lời Chúa. Qua các bài hát thánh ca, Lời Chúa đi đến với từng người, từng nhà và khắp hang cùng ngõ hẻm. Người ta có thể ngại khi cầm cả một cuốn Thánh Kinh lên đọc, nhưng người ta sẽ dễ dàng mở một bài hát thánh ca lên nghe trong mọi lúc. Cho nên người viết thánh ca sẽ thi hành sứ vụ ngôn sứ qua tác phẩm của mình. Qua từng bài thánh ca, chúng ta giới thiệu Chúa cho mọi người. Chúng ta đem Chúa đến cho từng nhà. Như thế, một tác phẩm thánh ca không nhằm làm vinh danh tác giả nhưng làm vinh danh Thiên Chúa. Làm sao để mỗi lần người ta nghe hay hát bài thánh ca, người ta biết Chúa hơn và yêu mến Ngài hơn. Đó là sứ mạng của một bài thánh ca.
Tóm lại, “Thánh Kinh là bản văn được Thiên Chúa (tác giả chính) linh ứng cho các tác giả nhân loại (x. 2 Tm 3,16), ghi lại trung thực những mạc khải về Thiên Chúa và ý định của Ngài cho con người (x. Ep 1,9).”[16] Thánh Kinh là nền tảng của Thánh Nhạc. Nếu Thánh Kinh là nguồn mạch để làm cho Thánh Nhạc sống, thì Thánh Nhạc cũng góp phần làm cho Thánh Kinh trở nên sống động. Nếu Thánh Kinh trình bày về Thiên Chúa bằng chữ viết, thì “Thánh Nhạc làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu”[17] bằng giai điệu và lời ca. Cả Thánh Kinh và Thánh Nhạc đều có chung một mục đích là giới thiệu Chúa cho muôn người và đem mọi người về với Thiên Chúa.
Lm. Laurensô Hoàng Bá Quốc Huy
[1] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, 18.11.1965, bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – HĐGMVN (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2016), số 21.
[2] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 2.
[3] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 14.
[4] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 16.
[5] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, 30.9.2010, bản dịch của Ủy Ban Kinh Thánh – HĐGMVN (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2011), số 23.
[6] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 4.
[7] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 7.
[8] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 6.
[9] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 12.
[10] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 23.
[11] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 24.
[12] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 10.
[13] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 23.
[14] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini – Lời Chúa, số 71.
[15] Công đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum – Lời Thiên Chúa, số 22.
[16] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy ban Giáo lý Đức tin – Ban từ vựng Công giáo, Từ điển Công Giáo (Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2019), 799.
[17] Ban từ vựng Công giáo, Từ điển Công Giáo, 802.

