2023
Nên như trẻ thơ
29.9
Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Gabriel, và Raphael
Kg 1:15; Kg 2:9; Tv 43:1,2,3,4; Lc 9:18-22
Nên như trẻ thơ
Các thiên thần là loài thụ tạo được Thiên Chúa tạo dựng cao hơn con người một bậc, thuần khiết, thiêng liêng và bất tử. Thánh Augustinô cho biết rằng: Thiên thần chỉ chức năng chứ không chỉ bản tính. Xét về bản tính là “thuần linh”. Xét về chức năng là “thiên thần”. Các ngài hằng chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa nên các vị là “những người đi thực hiện Lời Chúa, sẵn sàng phụng lệnh Chúa”. Chúng ta rất thường thấy các tranh tượng về các thiên thần với đôi cánh hai bên vai biểu hiện cho sự may mắn thi hành sứ vụ Thiên Chúa trao.
Trên trời có cả cơ binh thiên thần với những nhiệm vụ khác nhau, trong đó có những vị được gọi là Tổng lãnh thiên thần là những vị được cử thi hành những nhiệm vụ tối quan trọng. Kinh Thánh cho biết tên của ba vị thuộc hạng “Tổng lãnh thiên thần”.
Trước tiên là Tổng lãnh Michael có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa”, được đề cập trong sách Đaniel, thư thánh Giuđa và trong sách Khải huyền, ngài thường được hình dung như một chiến binh với chiếc áo giáp mạnh mẽ, chiến thắng Lucifer và các thiên thần sa ngã khác trong trận chiến của thời kỳ cuối cùng. Chúng ta dâng lời cầu nguyện xin Tổng lãnh Micael luôn bên cạnh để trợ giúp chúng ta vượt thắng cám dỗ và sự dữ.
Còn Tổng lãnh Gabriel nghĩa là “Sức mạnh của Thiên Chúa”, mà chúng ta gặp thấy ngài như một sứ giả loan báo về tình yêu của Thiên Chúa. Ngài được nhắc tới trong sách Đaniel, và trong Tin Mừng khi hiện ra với ông Dacaria để báo trước sự ra đời của thánh Gioan Tẩy giả – con trai ông; và loan báo cho nhân loại biết mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa nơi cung lòng Đức Maria là Đấng đầy ơn phước. Chúng ta hãy xin Tổng lãnh Gabriel đem đến cho chúng ta niềm vui và bình an trong những ngày tháng đầy bất an, thất nghiệp và mòn mỏi vì giãn cách trước dịch bệnh Sars-cov-2 này.
Và Tổng lãnh Raphael có nghĩa là “Linh dược của Thiên Chúa”. Ngài được nhắc tới trong sách Tôbia, để chữa lành con mắt của cha ông là Tobit. Truyền thống cũng cho rằng Raphael là thiên thần khuấy động nước tại hồ nước chữa bệnh ở Bethesda. Chúng ta cũng được mời gọi cầu nguyện xin Tổng lãnh Raphael giúp cho thế giới này mau chóng khỏi đại dịch.
Hôm nay Giáo hội mừng kính tổng lãnh các Thiên thần Micae, Gabriel và Raphael, đây là tên tuổi của ba vị Thiên thần đã được Kinh thánh nhắc đến nhiều lần, và khi nói đến các Thiên thần là nói đến vô số. Trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu xác quyết với các môn đệ của Ngài về sự hiện hữu của các Thiên thần, đây chính là mầu nhiệm gắn liền với những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Khi tự tỏ bày cho loài người, Thiên Chúa cũng một trật mạc khải cho chúng ta thế giới của các Thiên thần. Một trong những dấu chỉ thời đại mang nhiều ý nghĩa là hiện nay tại những nước văn minh như Hoa kỳ , sách vở liên quan đến các Thiên thần được xếp vào một trong những loại bán chạy nhất, ngày càng có nhiều người tin tưởng vào sự hiện diện chở che của Thiên thần trong cuộc sống của họ.
Thật thế nếu Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta sự hiện hữu và hoạt động của các Thiên Thần, hẳn Ngài cũng muốn cho chúng ta cảm nghiệm hơn về mầu nhiệm tình yêu của Ngài. Dù chúng ta có thấy các Thiên thần hay không ? Dù các ngài có đến với chúng ta như thần linh hay dưới hình bóng người phàm, thì lời cầu xin của chúng ta luôn được đáp trả. Thiên Chúa hằng can thiệp vào cuộc sống của chúng ta cách diệu kỳ, niềm tin nơi sự hiện diện và hoạt động của các Thiên thần luôn nhắc nhở chúng ta điều đó Quả thật, cuộc sống của chúng ta được’ dệt bằng phép lạ từ giây phút đầu tiên được tạo thành trong lòng mẹ cho đến lúc chào đời rồi lớn lên; mỗi một nhịp đập của trái tim, mỗi một hơi thở của chúng ta không là phép lạ sao ? Với mỗi người Chúa âu yếm nói: “Ta đã gọi con bằng tên con, con thuộc về Ta “.
Chúa Giêsu đã có lý khi mời gọi chúng ta nên giống như trê thơ. Bởi vì trẻ thơ không ngừng ngây ngất trước những điều kỳ diệu và những phép lạ của cuộc sống, người lớn thì trái lại bị cuốn xoáy trong dòng đời nên dễ đánh mất khả năng chiêm ngắm trước những điều kỳ diệu và các phép lạ của cuộc sống. Thiên Chúa yêu thương mỗi người, Thiên Chúa không ngừng bao bọc che chở chúng ta bằng sự hiện diện của vô số các Thiên thần. Đó phải là một niềm tin hôm nay khi mừng kính các Thiên thần Micae, Gabriel và Raphael, Giáo hội muốn mời gọi chúng ta hâm nóng lại. Thiên Chúa đã ban cho cuộc sống chúng ta như một phép lạ, nhờ các sứ thần của Ngài. Ngài hướng dẫn và che chở chúng ta trong từng đường đi nước bước của chúng ta.
Nếu Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta sự hiện hữu và hoạt động của các thiên thần, hẳn Ngài cũng muốn cho chúng ta cảm nghiệm hơn về mầu nhiệm tình yêu của Ngài. Dù chúng ta có thấy các thiên thần hay không, dù các ngài có đến với chúng ta như thần linh hay dưới hình bóng người phàm, thì lời cầu xin của chúng ta luôn được đáp trả. Thiên Chúa hằng can thiệp vào cuộc sống của chúng ta cách diệu kỳ, niềm tin nơi sự hiện diện và hoạt động của các thiên thần luôn nhắc nhở chúng ta điều đó. Quả thật, cuộc sống của chúng ta được dệt bằng phép lạ từ giây phút đầu tiên được tạo thành trong lòng mẹ cho đến lúc chào đời rồi lớn lên, mỗi một nhịp đập của trái tim, mỗi một hơi thở của chúng ta không là phép lạ sao ?
Với mỗi người Chúa âu yếm nói: “Ta đã gọi con bằng tên con, con thuộc về Ta”. Chúa Giêsu đã có lý khi mời gọi chúng ta nên giống như trẻ thơ, bởi vì trẻ thơ không ngừng ngây ngất trước những điều kỳ diệu và những phép lạ của cuộc sống. Người lớn thì trái lại thường bị cuốn xoáy trong dòng đời nên dễ đánh mất khả năng chiêm ngắm trước những điều kỳ diệu và các phép lạ của cuộc sống.
Thiên Chúa yêu thương mỗi người, Thiên Chúa không ngừng bao bọc che chở chúng ta bằng sự hiện diện của vô số các thiên thần. Ðó phải là niềm tin hôm nay khi mừng kính các thiên thần Micae, Gabriel và Raphael, Giáo hội muốn mời gọi chúng ta hâm nóng lại. Thiên Chúa đã ban cho cuộc sống chúng ta như một phép lạ, nhờ các sứ thần của Ngài, Ngài hướng dẫn và che chở chúng ta trong từng đường đi nước bước của chúng ta.
Nguyện xin các thiên thần nhất là thiên thần bản mệnh của mỗi người luôn nhắc nhở ta, để ta luôn tiến bước trong tin yêu và hy vọng nơi Thiên Chúa là tình yêu.
2023
Huấn Lệnh Truyền Giáo
27.9
Thánh Vincentê de Phaolô, Lm
Er 9:5-9; Tb 13:2,3-4,6,7-8,6; Lc 9:1-6
Huấn Lệnh Truyền Giáo
Cảnh một người hầu hấp hối xưng tội trên giường bệnh như đã mở mắt Vinh-sơn để nhìn thấy nhu cầu tâm linh của vùng quê nước Pháp thời bấy giờ. Ðó là giây phút quan trọng trong cuộc đời của một người xuất thân từ nông trại nhỏ ở Gascony, nước Pháp, mà bấy giờ, việc đi tu làm linh mục không có gì lớn lao hơn là có được một cuộc sống tiện nghi.
Chính nữ Bá Tước de Gondi (có người đầy tớ được Vinh-sơn giúp đỡ) đã thúc giục chồng bà cung cấp tiền bạc và hỗ trợ một nhóm truyền giáo có khả năng và hăng say muốn hoạt động cho người nghèo, người hầu và tá điền. Lúc đầu Cha Vinh-sơn quá khiêm tốn nên không nhận làm người lãnh đạo cho nhóm này, nhưng sau một thời gian hoạt động cho các tù nhân khổ sai ở Balê, ngài trở nên nhà lãnh đạo thực sự của tổ chức mà bây giờ được gọi là Hội Thừa Sai, hay tu sĩ Dòng Thánh Vinh-sơn. Các linh mục này, với lời thề khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục và bền vững, tận tụy làm việc cho dân chúng ở các thành phố nhỏ hay làng mạc.
Sau này Cha Vinh-sơn tổ chức các nhóm bác ái để trợ giúp tinh thần cũng như thể chất của những người nghèo trong mỗi xứ đạo. Từ sinh hoạt này, với sự trợ giúp của Thánh Louis de Marillac, xuất phát tổ chức Nữ Tử Bác Ái, “mà tu viện là bệnh xá, nhà nguyện là nhà thờ của giáo xứ và khuôn viên là đường phố.” Ngài huy động các bà giầu có ở Balê để quyên góp tài chánh cho chương trình truyền giáo, xây bệnh viện, giúp đỡ nạn nhân chiến tranh và chuộc lại khoảng 1,200 người nô lệ da đen. Ngài hăng hái tổ chức tĩnh tâm cho giới tu sĩ khi sự sao nhãng, lộng hành và ngu dốt lan tràn trong giới này. Ngài là người tiên phong trong việc huấn luyện tu sĩ và thúc đẩy sự thiết lập các chủng viện.
Ðáng để ý nhất, Vinh-sơn là một người hay cáu kỉnh — ngay cả bạn hữu của ngài cũng công nhận điều ấy. Ngài cho biết, nếu không có ơn Chúa ngài sẽ “rất khó khăn và lạnh lùng, cộc cằn và gắt gỏng.” Nhưng ngài trở nên một người dịu dàng và dễ mến, rất nhạy cảm trước nhu cầu của người khác.
Ðức Giáo Hoàng Leo XIII đã đặt ngài làm quan thầy của mọi tổ chức bác ái. Nổi bật nhất trong các tổ chức này, dĩ nhiên, là Dòng Thánh Vinh-sơn, được thành lập năm 1833 bởi Chân Phước Frederic Ozanam, là người rất ái mộ Thánh Vinh-sơn.
Loan báo Tin mừng Nước trời là sứ mệnh hàng đầu của Chúa Giêsu và của cả Giáo hội, Ngài đã đến trần gian và ở lại 33 năm là để thi hành sứ mệnh này. Kế tiếp Ngài, các người được Ngài mời gọi, đi theo, ở với và rồi được sai đi cũng mang trọng trách ấy cho đến “khi Chúa đến”.
Trước tiên, loan báo Tin mừng hệ tại việc “đi”: đi vào giữa lòng đời và đi ra vùng ngoại biên. Loan báo còn là làm chứng, thực hiện những dấu chỉ, trong đó có dấu chỉ chữa trị những vết thương tinh thần và cả thể lý của những kẻ môn đệ Chúa Kitô được sai đến. Lời loan báo, giới thiệu Tin mừng được đón nhận dễ dàng hơn khi có các dấu chỉ yêu thương, hy sinh, quảng đại… kèm theo. Điều này đòi hỏi các môn đệ phải nỗ lực thích nghi, sáng kiến trong sứ vụ. Nói cách khác, để chu toàn sứ mệnh, người môn đệ không thể ở yên một chỗ, nhưng phải di chuyển và đưa ra những kế hoạch cụ thể, thích hợp
Chúa Giêsu sai mười hai Tông đồ đi rao giảng Tin mừng để các ông được tham gia vào sứ mạng của Ngài. Đức Giêsu đã ban cho các ông năng lực làm phép lạ, chữa bệnh và quyền phép để xua trừ ma quỉ. Ngài cũng căn dặn các ông nhiều điều trước khi lên đường.
Lời căn dặn của Chúa Giêsu phải chăng muốn nói: khi rao giảng phải bỏ hết những đồ dùng, kể cả lương thực ? Thưa không, Ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng, với sứ mệnh loan báo Tin mừng, đừng để vật chất, danh vọng, tình cảm làm chủ mình. Nhưng, phải cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa và của Tin mừng thôi.
Ðược Chúa Giêsu tuyển chọn và sống với Chúa, các Tông đồ cũng đã nghe Chúa giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Ngài làm. Trong bài Tin Mừng hôm nay, tác giả Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu sai các ông đi rao giảng Tin Mừng, Ngài nhắc nhở các ông phải sống khó nghèo và hoàn toàn tin tưởng vào Chúa quan phòng.
So với lần Chúa sai các môn đệ thì lần này có điểm khác biệt là thay vì được sai đi từng hai người, các Tông đồ được sai đi từng người một và được ban cho sức mạnh và quyền năng để trừ ma quỉ và chữa lành bệnh tật.
Tuy nhiên, các ông cũng chỉ được sai đi trước để loan báo Ngài sắp đến. Huấn lệnh cho các Tông đồ trước khi lên đường có thể gồm 3 phần: Thứ nhất, trên đường đi các ông không được mang theo gì cả, mặc dù sứ vụ của các ông kéo dài một thời gian, chứ không phải chỉ có một vài ngày; điều đó có nghĩa là các ông phải hoàn toàn từ bỏ chính mình và chỉ tin vào sức mạnh của Lời Chúa. Thứ hai: khi tới nhà nào thì phải kiên trì, không được lùi bước; nói khác đi, các ông phải tin vào sứ mệnh của mình, tin vào sự quan phòng và chờ đợi thời giờ của Chúa. Thứ ba: các ông phải có can đảm trước sự cứng đầu của những kẻ chống đối các ông.
Mỗi thời đại có những cám dỗ riêng. Ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu từ bỏ sứ mệnh cứu thế, cũng như cám dỗ Ngài làm những việc lạ lùng, như hóa đá thành bánh, gieo mình xuống từ nóc Ðền thờ để mọi người thấy và tin. Ngày nay, không thiếu những người chỉ muốn dùng tiền bạc để giảng dạy hoặc dùng quyền bính để làm cho người khác kinh sợ. Một cám dỗ khác mà người Tông đồ thời nay thường mắc phải, đó là sự thiếu kiên nhẫn, chờ đợi thời giờ của Chúa. Họ dễ thoái lui rời bỏ nhiệm sở, thay đổi công việc. Cũng có những người Tông đồ không dám nói rõ những sai lầm của người khác cũng như những gì trái ngược với giá trị Tin Mừng. Thái độ chung của con người thời nay là ích kỷ và hưởng thụ, số người sẵn sàng để Chúa sai đi thật hiếm hoi, số các tệ nạn do sự sai lầm thiêng liêng ngày càng gia tăng, trong khi đó cái tôi tự do được thổi phồng.
Thật ra, các tông đồ là các sứ giả được sai đi loan báo sứ điệp tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa đối với dân Người; bởi thế, Chúa muốn các ông phải là những người trước hết kinh nghiệm về sự quan phòng của Chúa và phải là những người sống tinh thần phó thác tuyệt đối vào Chúa. Có như vậy, lời rao giảng của các ông mới có giá trị.
2023
Lắng Nghe và Thực Hành Lời Chúa
26.9 Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm
Er 6:7-8,12,14-20; Tv 122:1-2,3-4,4-5; Lc 8:19-21
Lắng Nghe và Thực Hành Lời Chúa
Cả ba tác giả Nhất Lãm đều kể lại sự kiện Ðức Maria và các thân nhân Chúa Giêsu đi tìm Ngài, nhưng mỗi tác giả có một dụng ý riêng: Matthêu, Marcô xếp đoạn này lên trước phần Chúa Giêsu giảng dạy dụ ngôn người gieo giống, còn Luca thì đặt sau dụ ngôn ấy, liền sau dụ ngôn chiếc đèn cháy sáng. Luca không đề cập đến việc các thân nhân đến tìm Chúa Giêsu để đưa Ngài về Nazarét, nhưng nhấn mạnh đến điểm này: “Ai nghe Lời Chúa và đem ra thực hành, đó là người sống trong gia đình Thiên Chúa, là Mẹ, là anh em của Ngài.
Một điểm nữa cần ghi nhận là trong đời sống thực tế, nhiều khi người ta cảm thấy gần gũi thân thiết với những người cùng chung chí hướng, nguyện vọng, hơn là những người ruột thịt, nhất là khi những người ruột thịt ấy không cùng chí hướng, nguyện vọng. Như thế, mối liên hệ sâu xa giữa con người với nhau không phải là liên hệ huyết thống, mà còn là liên hệ của cả tư tưởng, ý chí, tình cảm.
Đức Giê-su đang giảng cho đám đông, thì người ta chạy vào báo : “Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy”. Chúng ta có thể hình dung ra đám đông đứng chung quanh Chúa Giêsu đông đến độ, Mẹ và anh em của Ngài không thể đến gần được. Và như Tin Mừng kể lại, Ngài không tạm ngưng việc giảng dạy để ra gặp Mẹ và người thân. Và Chúa Giê-su không chỉ không ra gặp, nhưng còn nói những lời như muốn từ chối mẹ và anh em của mình : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”. Theo lời kể của thánh Mát-thêu, lời của Chúa Giêsu giữ khoảng cách với mẹ và những người thân yêu rõ nét và mạnh mẽ hơn “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi” ! (Mt 12, 48-49).
Chúng ta hãy đi vào tâm hồn của Đức Maria: Mẹ muốn nói gì với Đức Giê-su khi đến; và khi sau khi nghe lời của Ngài, Mẹ hiểu và cảm như thế nào? Chúng ta chỉ biết rằng, các Tin Mừng không còn nhắc đến Đức Maria nữa, cho đến khi Đức Giê-su đi vào con đường Thập Giá (Ga 19, 25-27; và một cách gián tiếp trong Lc 23,27). Chắc chắn Mẹ đã ghi nhớ lời của Đức Giê-su, suy đi nghĩ lại trong lòng, đã hiểu, và đi theo Đức Giê-su cách khiêm tốn như một người môn đệ trong tương quan mới và trong Gia Đình mới của Người, và cũng là Gia Đình mới của Mẹ nữa, vì Mẹ là Mẹ của Đức Giê-su « cách duy nhất » đến độ, Mẹ cũng là Mẹ của mọi người môn đệ Đức Giê-su, trong đó có chúng ta.
Chúa Giêsu đến trần gian để xây dựng một gia đình duy nhất của Thiên Chúa, gia đình của những người cùng một mục đích là nguyện cho Danh Cha được cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Ðể cho thấy sự duy nhất về cùng một gia đình đó, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”. Ðó là hình ảnh Chúa Giêsu muốn diễn tả khi Ngài nói: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”.
Lắng nghe! Là thái độ biểu lộ mối quan tâm, sẵn sàng mở lòng ra để hiểu, để đón nhận, để cảm thông, để chia sẻ và để đáp ứng…Vì thế, lắng nghe là thái độ của tình yêu. Sách xuất hành nói đến việc Thiên Chúa nghe thấy tiếng rên siết, kêu than của con cái Hip-ri dưới ách nô lệ người Ai cập. Người đã nghe, đã xót thương và đã sai tôi tớ Người là ông Mô-sê giải thoát họ (x. Xh 2,2 tt). Người đã ký kết giao ước với họ tại Si-nai, trong đó Người hứa sẽ bảo vệ và chúc phúc cho dân và dân hứa sẽ nghe và thực hành lời Người (x, Đnl 4,13; 7,27 tt). Việc nghe và thực hiện lời Người sẽ bảo đảm sự an ninh, thịnh vượng và hạnh phúc của họ. Như thế sự lắng nghe và thực hiện lời Thiên Chúa như một đáp trả tình yêu cho tình yêu; như là phương thế tuyệt diệu để con người hoàn trọn mục đích đời mình.
Trong tình yêu thương quan phòng, Thiên Chúa vẫn luôn lên tiếng. Người đã bày tỏ chính mình và ý định của Người qua vũ trụ, qua thiên nhiên, qua các Ngôn sứ, qua các biến cố lịch sử, và đặc biệt qua người con rất yêu dấu của Người – Đức Giê-su Ki-tô. Sự hiện diện của Người, tiếng nói của Người mời gọi khi cấp bách dữ dội như “khói bốc lửa thiêu” (Xh 20,18…), khi nhẹ nhàng tha thiết như ngọn gió thoảng (x. 1V 19,12), nhưng cũng vẫn rất quyết liệt vì đó là lựa chọn giữa sống – chết của con người. Người ta có thể đặc biệt nghe thấy tiếng của Người trong tĩnh lặng, nơi sâu thẳm tâm hồn – vì lời Người là Lời của tình yêu. Đồng thời người ta cũng có thể nghe được tiếng nói của Người xuyên qua các biến cố trong cái nhìn đức tin và thái độ sẵn sàng lắng nghe. Thiên Chúa luôn quan tâm và yêu thương con người. Người luôn lắng nghe tiếng họ kêu xin, giãi bày, tâm sự… đồng thời Người mời gọi con người lắng nghe Người để được an ủi, hướng dẫn, biết được cách hành động đúng đắn theo thánh ý của Người hầu được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.
Kinh nghiệm nghe và sống Lời Chúa sẽ làm cho chúng ta nhận ra rằng, Lời Chúa không phải là chữ viết của lề luật hay mệnh lệnh, nhưng là Lương Thực nuôi sống, là Ánh Sáng soi đường và là Sự Sống, có sức mạnh tái sinh chúng ta ; Lời Chúa cũng cuốn hút chúng ta nữa từ trong chốn sâu thẳm của chúng ta, bởi vì Lời Chúa đã tạo dựng nên chúng ta, vẫn đang tạo dựng chúng ta và sẽ tái tạo dựng chúng ta để chúng ta trở thành tạo vật mới trong Gia Đình mới của Thiên Chúa.
Ơn huệ Lời Chúa, ơn huệ Mình và Máu của Chúa, và nhất là ơn tha thứ của Chúa, sẽ tái sinh chúng ta, tái tạo con tim chúng ta và làm cho chúng ta trở thành con người mới trong Gia Đình mới của Chúa. Những ơn huệ này Chúa vẫn ban cho chúng ta cách quảng đại nơi Thánh Lễ, để tái sinh chúng ta mỗi ngày cho Chúa và cho những người thân yêu của Chúa, trong đó Đức Maria, Mẹ của chúng ta.
Với ý nghĩa đó, Ðức Maria hai lần xứng đáng làm Mẹ Chúa Giêsu: Mẹ theo huyết thống và Mẹ của Thân mình mầu nhiệm của Ngài là Giáo Hội. Chẳng những là Mẹ thật vì đã sinh ra Chúa Giêsu, mà còn là Mẹ vì đã thực thi ý Cha trên trời. Trong biến cố truyền tin, Ðức Maria đã thưa với Sứ thần: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng theo lời thiên thần truyền”. Ðiều đó nói lên suốt đời Ðức Maria, người luôn làm theo ý Chúa.
Ước gì, sự sống mỗi ngày của chúng ta được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, khởi đi từ con tim biết lắng nghe Lời của Ngài, trong cầu nguyện. Và như thế, như Đức Mẹ, chúng ta sẽ trở thành « người thân » đích thực của Đức Giê-su.
2023
Ngọn Ðèn Ðức Tin
25.9
Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm
Er 1:1-6; Tv 126:1-2,2-3,4-5,6; Lc 8:16-18
Ngọn Ðèn Ðức Tin
Trong Tin Mừng hôm nay, khi đưa ra hình ảnh chiếc đèn, Chúa Giêsu muốn nối lại truyền thống thực tiễn của Cựu Ước. Cựu Ước không thích những lý luận trừu tượng, uyên bác của Hy Lạp. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Ðấng chân thật, Cựu Ước không lý giải về những phẩm tính trừu tượng của Ngài, nhưng tìm cách đo lường sự trung thành của Ngài trong lịch sử nhân loại. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Ðấng chân thật, Cựu Ước luôn nói đến những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử con người. Khi Thiên Chúa phán một lời, lời đó không phải là một lời nói suông, mà trở thành thực tế; Thiên Chúa không chỉ nói qua các tiên tri, nhưng cuối cùng Lời của Ngài đã thành xác phàm.
Chiếc đèn được đốt lên phải đặt trên cao để soi cho mọi người trong nhà. Ðây là hình ảnh cuộc sống đức tin của người Kitô hữu: cũng như chiếc đèn, đức tin cần phải được thắp lên và chiếu sáng; nó phải được đốt lên bằng những hành động cụ thể hằng ngày. Thiên Chúa là Ðấng chân thật, bởi vì sự chân thật ấy được thể hiện bằng một chuỗi những yêu thương đối với con người. Người Kitô hữu chỉ thực sự là Kitô hữu khi cuộc sống của họ thể hiện chính cuộc sống của Chúa, là yêu thương và phục vụ.
Chủ đề ánh sáng được lồng trong tất cả mặc khải Thánh Kính. Ngay từ tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng và chính Ngài là ánh sáng. Đức Kitô còn khẳng định: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5) và Ngài yêu cầu người tín hữu hãy trở thánh ánh sáng cho trần gian (x Mt 5,14). Ngài muốn ánh sáng nơi chúng ta hãy chiếu tỏ ra, xoá tan mọi bóng đêm của trần gian này.
Tin Mừng của Thánh sử Luca hôm nay vỏn vẹn chỉ gồm 3 câu trong chương 8, nhưng đã nói lên ý nghĩa của cách thức lãnh nhận và truyền giảng Lời Chúa Giêsu. Đó là nhiệm vụ của người môn đệ theo Chúa Kitô và thực hành bằng việc sống lời Thầy của mình trong cuộc sống hàng ngày.
“Chẳng ai đốt đèn rồi lấy hũ che đi hoặc đăt dưới gầm giường, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng” (c.16). Khi đọc câu này, hẳn chúng ta đều biết đây là điều không thể xảy ra. Chúng ta thường thấp đèn vì muốn thấy sự vật chung quanh, vì quanh chúng ta toàn là một màu đen, một bóng tối. Chúng ta thích ánh sáng vì ánh sáng giúp ta nhìn thấy những vật khác rõ hơn, chính xác hơn. Thế nhưng ở đây Chúa Giêsu lại nói : thấp đèn rồi lấy hũ che đi hay đặt dưới gầm giường, ý nói: khi chúng ta được Lời Chúa soi dẫn (x. Tv 118). Chúng ta đã lấy hũ che đậy bằng cách không sống thể hiện Lời Chúa. Một người khôn ngoan là người biết đặt đèn trên đế, để những ai vào được nhìn thấy ánh sáng lúc này đời sống của họ để Lời Chúa hướng dẫn và họ trở thành ánh sáng cho người khác, cho những ai muốn đi tìm ánh sáng. Họ trở thành chứng nhân cho nguồn sáng vĩnh cửu.
“Chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (c.17). Chúa Giêsu khẳng định về những hành vi được thực hiện trong bóng tối sẽ bị ánh sáng phơi bày. Khi ánh sáng đến, bóng tối sẽ lùi xa. Đây cũng được kể như việc Chúa Giêsu đến trần gian. Ngài đến xoá tan mọi ngõ ngách của bóng tối thanh tẩy trần gian bằng ánh sáng. Bóng tối đó là tội lỗi, là ma quỉ, là bệnh tật… đang đè nặng trên đời sống con người. Đức Kitô đến giải thoát họ như lời Ngài đã đọc trong hội đường Nagiarét khởi đầu cho sứ vụ rao giảng để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho ngưòi mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức”(x.Mt 4,18). Ngài đến rao giảng Lời Cha, và làm cho lời Cha được sống động cụ thể trong hành vi của Ngài, và cái chết là lời chứng hùng hồn nhất cho bài giảng của Ngài về Tình Yêu Thiên Chúa đối với con người.
Khi Chúa Giêsu rao giảng và làm chứng cho Lời Cha, Ngài muốn chúng ta cũng trở thành những người môn đệ của Ngài. Ngài cảnh báo về cách nghe và đón nhận Lời “ hãy để ý tới cách thức anh em nghe” (c.18a). Chúng ta có thể là những mảnh đất sỏi đá, hay vệ đường, hay là một bụi gai um tùm…. mà Lời Chúa không thể nào đâm chồi nẩy mầm được ( x .8,4-15).
Lời Chúa như sương sa, như mưa rơi…nhưng lòng chúng ta lại đóng kín, khô cằn nên Lời Chúa vẫn chỉ ở bên ngoài, không thấm nhập vào tâm hồn chúng ta được. Ấy là cách chúng ta nghe mà không được biến đổi. Chúng ta không muốn Lời Chúa biến đổi tâm hồn mình. Kết quả của việc sinh hoa kết quả là do Lời Chúa được mỗi người đón nhận như thế nào. Cùng một loại hạt giống Lời Chúa nhưng mảnh đất tâm hồn của chúng ta được vun xới, cày bừa khác nhau, nên hiệu quả cũng rất khác nhau. “Ai đã có thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng bị lấy mất” (18b).
Ở dây. Chúng ta có thể hiểu về đức tin truyền thống đã có nơi người Israel, đức tin này hướng về Đấng Mêsia- Chúa Giêsu, nhưng có người nghe theo Chúa Giêsu thì được cho thêm là sự hiểu biết về Nước Trời, còn những người khác không nghe, không hiểu…thì đức tin truyền thống của họ sẽ bị mai một dần và ngày càng yếu đi. Đây là lời thức tỉnh mạnh mẽ của Chúa Giêsu đối với những người cứng lòng tin. Đó cũng là hậu quả mà họ sẽ đón nhận, cân xứng với hành vi của họ.
Gương sáng phải được phát xuất từ trong tâm, trong đức tin. Vì thế, gương sáng của con người phải được thực hiện trong đời sống nội tâm và việc làm cụ thể, nếu không sẽ giống như thắp đèn mà bịt kín (Lc 8, 17) sẽ nguy hại cho bản thân, vì gương sáng không có việc làm sẽ không có tác dụng, chỉ là lời nói suông không mang đến sự sống cho linh hồn. Gương sáng của chúng ta phải được thực hiện dưới sự hướng của Chúa Thánh Thần theo thánh ý Thiên Chúa, nếu không có Chúa Thánh Thần hướng dẫn thì việc làm của chúng ta trở nên vô nghĩa, cái tôi hèn hạ sẽ lộ ra, cuối cùng chỉ là những thất vọng, những chán trường và chẳng có gì, ngay cả cái mình tưởng là có cũng trở nên không, như khi trong giờ chết chẳng mang được gì.
Chúa Giêsu đã nói rất rõ, hãy biết lắng nghe tiếng Chúa nói trong lương tâm của mỗi con người, tùy thuộc vào cách nhận biết Chúa Thánh Thần, Chúa nói: “Vậy hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất.” Khi sống gương sáng thì ngay ở đời này tâm hồn cũng luôn bình an, cuộc sống luôn thanh thản, đời sống luôn đầy đủ cả tinh thần và vật chất, sau khi kết thúc cuộc đời dương thế thì sẽ được sự sống đời đời.
