2023
Thi hành ý muốn của Cha
Ngày 7 tháng 12
Màu trắng. Thứ 5, đầu tháng, tuần 1, Mùa Vọng. Các bài đọc: Is 26,1-6; Mt 7,21.24-27. Lễ nhớ Thánh Ambrôsiô, Giám mục, tiến sĩ Hội thánh.
Thi hành ý muốn của Cha
Tiêu chí đầu tiên để được nhận vào Nước trời đó là “chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời”.
Sứ mạng của Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến trần gian là rao giảng Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15).
Như vậy, Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su rao giảng đó là con đường của sự trở về; hay nói cách khác, một sự “đổi mới” tận căn nơi mỗi người. Sự “đổi mới” này đồng nghĩa với một “hành động” rõ ràng chứ không chỉ trên môi miệng. Chính Đức Giê-su đã phê phán lối sống hình thức: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu!”. Từ đó, Người đi đến khẳng định dứt khoát: “Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Có thể nói rằng, việc “thi hành ý muốn Chúa Cha” đóng vai trò nền tảng trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu. Đức Giê-su đã sánh ví hình ảnh: ngôi nhà thì cần phải được xây trên đá tảng vững chắc, cũng giống như đời sống người Ki-tô hữu phải được đặt trên Đức Tin trưởng thành. Niềm tin mà người Ki-tô hữu tuyên xưng trên môi miệng cần phải được thể hiện bằng hành động cụ thể bên ngoài là người có Đức Tin, đúng như lời thánh Gia-cô-bê Tông đồ: “Đức Tin không có hành động thì quả là Đức Tin chết” (Gc 2,17).
Nước Trời chỉ dành cho những ai biết thi hành ý Chúa. Điều đó được thể hiện qua đời sống công chính, trung thành và trọn vẹn tín thác nơi Đức Chúa. Có như thế, Nước Trời mới thực sự trở thành gia nghiệp của đời ta: “Mở cửa ra cho dân tộc công chính bước vào, một dân tộc trọn niềm trung nghĩa” (Is 26,2).
Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc để đo lường sự hoàn thiện của người môn đệ, đó là họ phải sống đúng ý muốn của Thiên Chúa. Sự hoàn thiện ở đây đó là người môn đệ thuộc về Nước Trời bằng cách thi hành ý muốn của Chúa Cha, lắng nghe và thực hành lời của Chúa Giêsu. Những người đã nghe bài giảng trên núi, bây giờ họ bước xuống, với những lời đã đón nhận, họ phải sống lời ấy.
Không phải cứ thưa “Lạy Chúa! lạy Chúa!” thì cũng đồng nghĩa là người đó thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng bất cứ ai, thưa “Lạy Chúa! lạy Chúa!” và thi hành ý muốn của Chúa Cha thì Chúa Giêsu nói rằng họ sẽ được vào Nước Trời. Bởi vì ngay khi họ thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì điều đó đồng nghĩa với việc họ quy thuận Thiên Chúa, vâng lời Ngài.
Khi yêu cầu người môn đệ “thi hành ý muốn của Thiên Chúa”, Đức Giêsu đòi hỏi phải sống, phải làm, phải thực hiện trong đời sống, chứ không chỉ hiểu, chỉ biết, chỉ nói suông ngoài môi miệng. Người tuyên xưng Thiên Chúa trên môi trên miệng, hình thức, giả tạo, cho dù họ có cố chứng tỏ điều ấy, cho mọi người biết cách sống của họ như thế, thì điều này không có nghĩa họ được vào Nước trời. Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người. Chúa Giêsu dạy người môn đệ của mình một khi tuyên xưng Thiên Chúa thì cũng phải sống những gì Thiên Chúa muốn. Làm theo ý muốn của Chúa Cha, Nước trời thuộc về những người này. Vậy câu hỏi làm theo ý muốn của Chúa Cha ở đây là gì?
Làm theo ý muốn của Chúa Cha, Đấng ngự trên trời đó chính là lắng nghe và thực thi lời giảng dạy của Chúa Giêsu, con Thiên Chúa. Những lời mà Đức Giêsu vừa công bố trên núi như Môisê mới.
Nhằm diễn tả giá trị của việc thực thi Lời Chúa để được vào Nước Trời, và để được gọi là hoàn thiện, thì Đức Giêsu đã ví với việc xây nhà. Những người nghe lời Chúa giảng mà đem ra thực hành, thì xứng đáng là người khôn ngoan, biết lo cho đời sống hạnh phúc của mình. Họ biết đặt nền móng vững chắc mà xây dựng ngôi nhà của mình, dù mưa to gió lớn thì cũng không làm đổ được tòa nhà thiêng liêng ấy. Vì họ biết xây trên sự thực hành giáo huấn của Chúa. Nếu chỉ nghe mà không tuân giữ, thì người đó là kẻ dại dột, như kẻ xây dựng nhà cửa trên bãi cát, khi có mưa to gió lớn, tức là khi gặp thử thách thì tòa nhà thiêng liêng của họ sẽ sụp đổ.
Ý muốn của Thiên Chúa đó là người ta lắng nghe và sống theo Đức Giê-su, con Thiên Chúa. Ngài là lời của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa phán dậy dân của mình. Đó là nền tảng vững chắc cho cuộc đời con người. Mùa vọng khát khao Chúa, Đấng đang phán dậy ta, chỉ cho ta con đường chắc chắn xây dựng cuộc đời. Cho nên cũng là mùa tỉnh thức, tỉnh thức trong Lời của Chúa, tỉnh thức sống Lời của Chúa. Chúng ta gặp được Chúa trong Lời Ngài công bố qua phụng vụ của Giáo hội, chúng ta được kết hợp với Chúa trong việc sống những lời ấy hằng ngày. Chính khi làm như thế, Nước trời sẽ thuộc về chúng ta.
Mỗi mùa vọng về xin giúp con nhận ra và trở về với tình yêu Chúa. Trong tình yêu Người ta tự nguyện chứ không cưỡng ép. Xin cho con biết lấy tình yêu đáp lại tình Chúa yêu con, để con không chỉ nói suông mà là người con thực hành ý muốn của Cha trong những việc làm, hành động để chứng tỏ lòng con yêu Chúa.
2023
Ai nấy được no nê
Ngày 6 tháng 12
Màu tím. Thứ 4, tuần 1, Mùa Vọng. Các bài đọc: Is 25,6-10a; Mt 15,29-37. Thánh Nicôla, Giám mục (màu trắng).
Ai nấy được no nê
Thánh Nicôla là một tu sĩ đạo Thiên Chúa. Ngài sống vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên tại thành Myra, Thổ Nhĩ Kỳ.
Thánh Nicôla sinh ra trong một gia đình giàu có và sùng đạo Thiên Chúa. Cha mẹ của ông đã dạy ngài về lòng mến Chúa, sự quảng đại, bác ái… Chẳng may, cha mẹ của ngài bị chết vì bệnh dịch trong lúc ngài còn nhỏ. Theo lời dạy của Chúa Giê-su, Nicola đã dùng số tiền cha mẹ để lại giúp đỡ người nghèo và bệnh tật.
Ngoài ra, vì là một người sùng đạo nên Thánh Nicôla đã hiến thân phục vụ Giáo hội. Ông nhanh chóng được yêu mến vì lòng hảo tâm và được bầu làm Giám mục khi còn rất trẻ.
Suốt cuộc đời của mình, thánh Nicola đã cứu chữa nhiều người nghèo bệnh tật. Đặc biệt, mỗi dịp Giáng sinh, ông dành nhiều món quà, đồ ăn, đồ chơi… cho các trẻ em.
Dưới sự cai trị của hoàng đế Diocletianô, những người theo đạo Thiên Chúa người bị bắt bớ và đối xử tàn nhẫn. Thánh Nicôla cũng bị bắt, bị tra tấn và bỏ tù. Một thời gian sau, hoàng đế Constantinô lên ngôi. Ông cho khôi phục đạo Thiên Chúa và tha bổng tất cả những người từng bị bắt. Lúc ấy, thánh Nicôla được ra tù và trở lại làm giám mục.
Một số nguồn tin cho rằng thánh thánh Nicôla mất vào ngày 6 tháng 12 năm 343 tại Myra. Thi thể Ngài được chôn trong nhà thờ. Ngày mất của Ngài đã trở thành một ngày lễ kỷ niệm quan trọng trong đạo Thiên Chúa.
Sau khi chữa lành con gái người đàn bà Canaan, Đức Giêsu cùng các môn đệ lên một ngọn núi ở ven biển hồ Galilê. Ở đó, Ngài tiếp đón và quy tụ nhiều người ở khắp nơi. Họ mang đến cho Người nhiều bệnh nhân và Ngài đã chữa lành họ. Trước cảnh đoàn lũ dân chúng bơ vơ không có người chăn, Ngài chạnh lòng thương và ban lương thực nuôi sống họ.
Đức Giêsu lên núi, dân cúng lũ lượt kéo lên nghe Người giảng, và mang theo nhiều bệnh nhân để xin cứu chữa. Chúa chữa họ khỏi hết: câm được nói, què đi được, mù được thấy… nên mọi người hết sức cảm phục và ngợi khen Chúa.Trước cảnh đoàn lũ dân chúng bơ vơ như bầy chiên không người chăn dắt, họ lại đói khát vì theo Chúa nghe giảng dạy ba ngày rồi mà không có gì ăn. Ngài chạnh lòng thương và ban lương thực nuôi sống họ bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều từ bảy chiếc bánh và mấy con cá, nuôi bốn ngàn người không kể đàn bà và con trẻ. Khi ăn xong các môn đệ lại thu được bảy thúng bánh vụn.
Đức Giêsu bảo các môn đệ hãy lo cho họ ăn, nhưng trong hoang địa thế này làm sao các ông có thể lo cho họ ăn được! Các ông cảm thấy hoàn toàn bất lực. Đúng thế, Chúa có ý cho thấy sự bất lực của các ông trước khi Người làm phép lạ. Để rồi từ đó, qua phép lạ tỏ tường, các ông nhìn ra con người thật của Ngài và sẽ trung thành tin theo Ngài.
Trước phép lạ này, chúng ta thấy có hai phản ứng khác nhau giữa Chúa và môn đệ:
Phản ứng của các môn đệ là “Xin Thầy cho đám đông về, để họ… kiếm thức ăn”: phản ứng theo lý (các môn đệ không có trách nhiệm lo cho dân chúng ăn), và mặc kệ (họ đã tự ý đi theo Chúa thì họ cũng phải tự lo thức ăn).
Phản ứng của Đức Giêsu là “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”, sau đó, Đức Giêsu làm cho bánh ra nhiều: phản ứng phát xuất từ tình thương, từ sự quan tâm tới người khác, từ tấm lòng quảng đại gánh lấy việc chẳng phải là trách nhiệm của mình.
Chúa hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh ?” Hỏi như thế là Chúa muốn các môn đệ dâng cho Người những gì mình có, để Chúa biến thành sức sống chăm sóc dân chúng. Chúa muốn người tông đồ dâng cho Người những gì mình có dù nhỏ bé hèn mọn, để Chúa biến thành của ăn tinh thần nuôi dưỡng dân chúng.
Các môn đệ thưa: “Có 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ” (Mt 15,34).
Hằng ngày chúng ta vẫn thấy nào là trẻ em bụi đời, những kẻ bán máu, nào là những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền. Tất cả những điều ấy làm chúng ta nhức nhối, và càng nhức nhối hơn khi nghĩ đến khả năng nhỏ bé của mình. Chúng ta như hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu lớn lao ấy.
Thế mà với 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ của ai đó dâng tặng, Đức Giêsu đã làm cho hàng ngàn người được no nê. Chúa chỉ cần một đóng góp nhỏ của chúng ta để làm nên những việc lớn lao. Chẳng lẽ chúng ta nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ ? Chẳng lẽ chúng ta không có được một lời chào, một nụ cười, một lời hỏi thăm, một lời khuyên…
Nếu chúng ta sẵn sàng trao tặng thì tất cả những khả năng nhỏ bé này, nhờ ơn Chúa, chắc chắn sẽ đem lại niềm vui, tình thương, và thậm chí cả niềm tin cho những người bất hạnh nghèo khổ
2023
Hãy vui mừng
Ngày 5 tháng 12
Màu tím. Thứ 3, tuần 1, Mùa Vọng. Các bài đọc: Is 11,1-10; Lc 10,21-24.
Hãy vui mừng
Mùa Vọng thúc giục các tín hữu vui mừng, sốt sắng sửa sang lại đời sống của mình trong khi chuẩn bị tâm hồn mừng kính trọng thể kỷ niệm Con Thiên Chúa Giáng sinh làm người, và cũng nhằm chuẩn bị đón Chúa đến lần thứ hai trong ngày cánh chung.
Việc Ngôi Hai xuống thế làm người; qua thân phận phàm nhân của Đức Giê-su, Chúa Cha đã mặc khải cho nhân loại biết Người, và quyền năng của Người. Ngược lại, con người ta chỉ có thể biết Chúa Cha, hiểu Chúa Cha cách tường tận, rõ ràng qua những lời giảng dạy của Đức Giê-su, và những lần Ngài đã tỏ mình ra trong khi thi hành sứ vụ tại thế (x. Lc. 10,22).
Tin Mừng đó mặc khải mầu nhiệm vốn được giữ kín tự ngàn xưa nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh. Theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng hằng có đời đời, mầu nhiệm này được thông báo cho muôn dân biết, để họ tin mà vâng phục Thiên Chúa (Rm. 16,25b-26). Mầu nhiệm này cũng được giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn, những tâm hồn đơn sơ, khiêm nhường biết (x. Lc. 10,21)
Sau một thời gian đi truyền giáo trở về, các môn đệ vui mừng kể lại cho Chúa Giêsu nghe những thành công của mình. Nhân dịp này Đức Giêsu nhận xét về kết quả ấy của họ: Ngài chia vui với họ vì những thành công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên vui mừng hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước Trời “tên các con được ghi trên trời” – Lc 10,17-20
Chúa Giêsu lại liên tưởng đến những kẻ không đón nhận Tin mừng vì lòng trí họ kiêu căng tự mãn. Những người này khác hẳn với những tâm hồn đơn sơ bé mọn đã đón nhận Tin mừng do các môn đệ rao giảng. Và Ngài cảm tạ Chúa Cha về việc đó.
Ý tưởng nòng cốt trong bài Tin mừng hôm nay: Thiên Chúa chỉ mạc khải mầu nhiệm Nước trời cho những tâm hồn đơn sơ khiêm hạ. Những kẻ cậy mình khôn ngoan không được biết những kín nhiệm của trời cao. Thiên Chúa yêu thương người hèn mọn và bênh vực người yếu đuối. Chính trong sự nhỏ bé của con người, huyền nhiệm tình yêu được bày tỏ.
Muốn được biết Chúa, muốn được hưởng nhờ ơn cứu rỗi của Chúa, chúng ta cần trở nên người bé mọn, đơn sơ, khiêm tốn. Đức Giêsu đã được Chúa Cha cho biết rõ chương trình cứu độ của Người và qua Đức Giêsu, Người cũng tỏ cho những kẻ đơn sơ khiêm tốn biết, còn những kẻ kiêu căng tự đắc thì người giấu kín. Vì thế, Đức Giêsu hoan hỉ cảm tạ Chúa Cha, chẳng những vì đã ban cho Người đầy tràn Thánh Thần và toàn quyền trên trời dưới đất, và còn mạc khải Nước trời cho những người khiêm tốn bé mọn.
Những kẻ bé mọn là ai ? Nói một cách cụ thể, đó là các môn đệ Chúa và dân ở những nơi mà các môn đệ đến rao giảng. Họ không giống với dân ở những thành mà trong đoạn Tin mừng phía trước (10,13,15) mà Đức Giêsu đã nặng lời khiển trách. Những người đó tự cho mình là thông giỏi nên không đón nhận Tin mừng. Họ giống như những chiếc thùng đầy nước, cho nên có đổ thêm bao nhiêu nước nữa thì cũng tràn ra hết bên ngoài.
Còn các môn đệ Đức Giêsu và dân ở những nơi này thì khiêm tốn, ý thức mình còn ngu dốt yếu kém nên vui vẻ đón nhận Tin mừng, giống như những chiếc thùng rỗng nên chứa đựng được lượng nước đổ vào. Đức Giêsu vui mừng tạ ơn Chúa Cha, vì đã cho những người bé mọn ấy được thấy, được nghe và được biết Tin mừng.
Trong Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu ngợi khen Chúa Cha về ngôn ngữ độc đáo của Người, vốn được giấu kín trước những “bậc khôn ngoan thông thái”, mà chỉ mạc khải cho “những người bé mọn”. Hay nói cách khác, chỉ những ai có cặp mắt trẻ thơ mới có thể đọc hiểu được ngôn ngữ ấy, ngôn ngữ của tình yêu quan phòng. Đó là cặp mắt biết ngạc nhiên trước kỳ công của Chúa, và đặt mình trong bàn tay của Chúa. Không chỉ có thế, Đức Giêsu còn khẳng định họ sẽ “được thấy” những điều cao cả lớn lao bao người hằng mong ước
Tin nhận Thiên Chúa là đấng tạo thành trời đất, muôn vật. Lòng cậy trông,lòng mến làm cho cây nở hoa trái đúng thời giờ của mình và lòng bác ái nghĩ đến lợi ích của tha nhân không chỉ lợi ích cho cá nhân mình thôi.
Xin ban cho chúng con được lòng khiêm tốn và bền tâm đi tìm chìa khóa mở cửa tâm hồn con trước, để con biết nhìn mọi người với con mắt đức tin, biết bước đi trong niềm hy vọng và biết thực thi đức bác ái trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống và nhất là trong âm thầm với những người bé mọn yếu hèn. Với chìa khóa này trên tay, con tin chắc Chúa sẽ mở cửa Thiên đàng cho con trong ngày sau hết
2023
LÒNG TIN
Ngày 4 tháng 12
Thứ 2, tuần 1, Mùa Vọng. Các bài đọc: Is 2,1-5 hoặc 4,2-6; Mt 8,5-11. Thánh Gioan Đamát, Linh mục, tiến sĩ Hội thánh (màu trắng).
LÒNG TIN
Xong bài giảng trên núi, Đức Giêsu vào thị trấn Capharnaum thì một viên đại đội trưởng xin Ngài chữa lành người đầy tớ của ông đang đau nặng. Ông tuy là dân ngoại lại có quyền thế và địa vị cao, mà tỏ ra khiêm tốn tin tưởng vào lời quyền năng của Đức Giêsu. Ông cũng là người nhân hậu, biết yêu thương săn sóc đến người đầy tớ hèn mọn của mình.
Viên đại đội trưởng là người ngoại quốc, người La mã đang đặt ách đô hộ trên người Do thái, nhưng ông lại rất thực tình với người Do thái, dân bị trị. Ông có quan hệ đặc biệt với họ và ông đã giúp tiền cho họ xây hội đường Capharnaum. Cảm phục vì tấm lòng tốt của ông, người Do thái đã giới thiệu và xin Đức Giêsu giúp đỡ ông.
Đức Giêsu ngạc nhiên, vì người ngoại kiều này chẳng hề biết Ngài, thế mà lại tin tưởng cách mạnh mẽ như vậy đã biết xin Chúa chữa bệnh từ xa cho đức đầy tớ của mình, và Người đã không tìm thấy được lòng tin nào như thế nơi những người Do thái, là những người đã từng lắng nghe và chứng kiến những phép lạ Người làm cho họ. Vì thế Người nói: “Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”.
Chúng ta nhấn mạnh đến niềm tin của viên đại đội trưởng này. Niềm tin của ông có hai đặc điểm như sau:
Niềm tin được thể hiện bằng việc làm: Ông đã đến xin Đức Giêsu chữa lành cho đầy tớ của ông. Vì xin ai điều gì thì tin người đó có, và sẵn sàng giúp đỡ mình.
Một niềm tin mạnh mẽ: Ông đã xin Đức Giêsu chữa bệnh từ xa, không cần phải đến nhà ông. Điều đó chứng tỏ ông đã tin vào chính bản thân của Chúa hơn là việc Người làm; và đó là đức tin đích thực.
Viên đại đội trường tỏ ra khiêm nhường trước mặt Chúa. Xét về thế giá và địa vị, viên sĩ quan này có quyền lực đại diện cho đế quốc Rôma để cai trị một vùng của người Do thái, ông có lính tráng và kẻ hầu người hạ, thậm chí xét về mặt chính trị, ông còn có quyền bắt, trục xuất hoặc ngăn cấm Đức Giêsu truyền giáo.
Thế nhưng, ông nhận ra con người Đức Giêsu không đơn thuần là một thầy dạy như các luật sĩ, mà là một vị tiên tri của Thiên Chúa, nên ông đã cảm thấy bất xứng trước mặt Ngài. Ông nhìn nhận mọi chức vụ và địa vị đều dưới quyền của Thiên Chúa, và ông đã khiêm tốn nói lên: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8,8).
Trong trường hợp này, chúng ta thấy đức tin của ông còn đi kèm theo đức ái, vì ông không lo cho mình mà lại lo săn sóc cho đứa đầy tớ. Niềm tin được trao tặng cho mọi người, nhưng chỉ được trao tặng như hạt giống, và hạt giống ấy chỉ nảy mầm và lớn lên trong những điều kiện cần thiết. Mảnh đất lòng người càng tốt, hạt giống đức tin càng có cơ may nảy mầm và lớn lên. Tình yêu là mảnh đất phì nhiêu nhất để làm nảy sinh niềm tin trong lòng người : một tâm hồn khép kín với tình người cũng là một tâm hồn khép kín với lòng tin.
Khi không sống, không tin tưởng ở tình người, thì làm sao người ta có thể tin tưởng ở tình Chúa? Khi không thể hiện tình người, thì niềm tin tuyên xưng nơi Chúa cũng chỉ là trò lừa bịp chính mình và người khác. Thánh Gioan cảnh cáo: “Ai nói mình yêu mến Chúa mà ghét anh em mình là kẻ nói dối”.
Niềm tin của người ngoại thật mạnh mẽ, được Chúa Giêsu xác nhận khi tuyên bố: “Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”. Lòng tin khiêm tốn thẳm sâu, nhưng xác tín tuyệt đối của viên đại đội trưởng đã được Chúa Giêsu cứu chữa tên đầy tớ của ông ta được lành bệnh.
Thiên Chúa nhận lời người ngoại đạo tin. Cho thấy tình thương, ơn cứu độ của Chúa là phổ quát dành cho hết mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc hay tôn giáo, miễn là tín thác vào Ngài. Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng trở nên mô phạm cho niềm tin chúng ta hằng ngày trước khi rước lễ, tuyên tín mang tư thế khiêm tốn nhưng mạnh mẽ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh”.
Không những nhậm lời viên đại đội trưởng, Chúa còn khen ngợi ông: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Ísrael nào có lòng tin như thế”.
Mùa Vọng, với ý hướng chờ ngày Chúa đến, mong rằng mỗi chúng ta nhìn vào niềm tin của người đại đội trưởng để làm tiêu chuẩn sống cho mình. Mỗi chúng ta hãy biết khiêm nhu trước Thiên Chúa và biết yêu mến người thân cận như Chúa dạy. Có như thế, chúng ta sẽ được Chúa yêu thương. Người sẽ nhận lời chúng ta cầu xin. Người sẽ ban ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.
Ước gì chúng ta luôn kiên vững và thể hiện mạnh mẽ niềm tin vào Chúa như viên đại đội trưởng ngoại đạo, nhờ thế chúng ta được Chúa yêu thương nhận lời và cứu chữa xác hồn.
