2023
Giới thiệu Chúa cho anh em
5.1 Thánh Gioan Neumann, Gm
1 Ga 3:11-21; Tv 100:1-2,3,4,5; Ga 1:43-51
Giới thiệu Chúa cho anh em
Gioan Nepomucene Neumann sinh ngày 28 tháng 3 năm 1811 tại Prachititz, Bohemia (Czech Republic). Vào năm 1835, ngài trông đợi để được thụ phong linh mục nhưng đức giám mục sở tại quyết định không phong chức thêm. Thật khó để ngày nay chúng ta tưởng tượng rằng Bohemia dư thừa linh mục, nhưng thực sự là như vậy. Gioan viết thư cho các giám mục khắp Âu Châu, nhưng câu trả lời ở đâu đâu cũng giống nhau. Tin rằng mình có ơn thiên triệu nhưng mọi cơ hội dẫn đến sứ vụ ấy dường như đều đóng kín. Không nản chí, và nhờ biết tiếng Anh khi làm việc trong xưởng thợ của người Anh, ngài viết thư cho các giám mục ở Mỹ Châu. Sau cùng, vị giám mục ở Nữu Ước đồng ý truyền chức linh mục cho ngài. Ðể theo tiếng Chúa gọi, ngài phải từ giã quê nhà vĩnh viễn và vượt đại dương ngàn trùng để đến một vùng đất thật mới mẻ và xa lạ. Ở Nữu Ước, thầy John được thụ phong linh mục ngày 28 tháng 6 năm 1836. Cha Gioan là một trong 36 linh mục trông coi 200,000 người Công Giáo. Giáo xứ của ngài ở phía tây Nữu Ước, kéo dài từ Hồ Ontario đến Pennsylvania. Nhà thờ của ngài không có tháp chuông nhưng điều đó không quan trọng, vì hầu như lúc nào Cha Gioan cũng di chuyển, từ làng này sang làng khác, lúc thì lên núi để thăm bệnh nhân, lúc thì trong quán trọ hoặc gác xếp để giảng dạy, và cử hành Thánh Lễ ngay trên bàn ăn.
Vì sự nặng nhọc của công việc và vì sự đơn độc của giáo xứ, Cha Gioan khao khát có một cộng đoàn, và đã ngài gia nhập dòng Chúa Cứu Thế tại Pittsburgh, Pennsylvania năm 1840, là một tu hội chuyên giúp người nghèo và những người bị bỏ rơi.
Vào năm 1852, Cha Gioan được bổ nhiệm làm giám mục Philadelphia. Việc đầu tiên khi làm giám mục là ngài tổ chức trường Công Giáo trong giáo phận. Là một nhà tiên phong trong việc giáo dục, ngài nâng số trường Công Giáo từ con số đơn vị lên đến 100 trường.
Ðức Giám Mục Gioan không bao giờ lãng quên sự lưu tâm đến dân chúng — đó là điều làm giới trưởng giả ở Philadelphia khó chịu. Trong một chuyến thăm viếng giáo xứ ở thôn quê, cha xứ thấy ngài ngồi trên chiếc xe bò chở phân hôi hám. Ngất ngưởng ngồi trên mảnh ván bắc ngang trên xe, Ðức Gioan khôi hài, “Có bao giờ cha thấy đoàn tùy tùng của một giám mục như vậy chưa!”
Khả năng biết tiếng ngoại quốc đã đưa ngài đến Hoa Kỳ thì nay lại giúp Ðức Gioan học tiếng Tây Ban Nha, Pháp, Ý, và Ðức để nghe giải tội bằng sáu thứ tiếng. Khi phong trào di dân người Ái Nhĩ Lan bắt đầu, ngài lại học tiếng Gaelic và sành sõi đến nỗi một bà Ái Nhĩ Lan cũng phải lầm, “Thật tuyệt là chừng nào khi chúng ta có được vị giám mục người đồng hương!”
Trong chuyến công tác mục vụ sang nước Ðức, đến nơi ngài ướt đẫm dưới cơn mưa tầm tã. Khi gia chủ đề nghị ngài thay đôi giầy sũng nước, ngài trả lời, “Tôi chỉ có cách đổi giầy từ chân trái sang chân phải thôi. Chứ có một đôi giầy thì làm gì được.”
Đức Gioan Neumann qua đời ngày 05 tháng 1 năm 1860 vì tai biến mạch máu nảo tại nhà số 13th và Vine Streets, Philadephia, Pennsylvania, USA, khi mới 48 tuổi. Ngài nổi tiếng về sự thánh thiện và sở học cũng như các trước tác tôn giáo và bài giảng.
Đức Giáo Hoàng Paul VI đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước ngày 13 tháng 10 năm 1963 rồi mười bốn năm sau chính Đức Thánh Cha đã nâng Đức Giám Mục John Neumann lên hàng hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1977. Ngài là Giám Mục người Hoa Kỳ đầu tiên được phong thánh.
Cuộc đối thoại giữa Philipphê và Nathanaen là cuộc trò chuyện giữa hai người bạn. Philipphê khoe với bạn của mình về tung tích của Đấng Cứu Thế là “con ông Giuse, người Nadaret”. Trước niềm vui mừng của Philipphê, Nathanaen lại tỏ ra không quan tâm, vì ông cho rằng, Nadaret là vùng quê nghèo và hẻo lánh thì làm gì có chuyện Đấng Mêsia lại xuất thân ở đó. Thế nhưng, Philipphê không hề tỏ vẻ tức giận hay cãi lại, mà rất bình tĩnh và trả lời: “Hãy đến mà xem”.
Tin Mừng hôm nay tường thuật ơn gọi của Philíp và Nathanael:
Philíp là người môn đệ thứ tư (3 ông trước là Gioan, Anrê và Phêrô). Ông “là người thành Bếtsaiđa, quê quán của Anrê và Phêrô”. Chúa Giêsu gọi ông trực tiếp.
Sau khi được Chúa gọi, Philíp đã đến gặp Nathanael và giới thiệu Chúa cho ông này. Nathanael là người thường “ở dưới cây vả”. Kiểu nói “ở dưới cây vả” có nghĩa là người thích tìm hiểu Thánh Kinh. Nathanael tìm hiểu Thánh Kinh, nhưng bị giam hãm trong những thành kiến cũ nên không tin rằng từ Nadarét có thể xuất hiện một thứ gì hay được. Nhưng rất may là Chúa Giêsu đã trực tiếp đến với ông, tỏ cho ông thấy Ngài đúng là một ngôn sứ, nên cuối cùng Nathanael cũng đi theo làm môn đệ Ngài.
“Philíp gặp Nathanael và nói với ông: ‘Đấng đã được Môsê ghi trong Luật và các tiên tri nói đến, chúng tôi đã gặp’.”: Tường thuật của Gioan về ơn gọi những môn đệ đầu tiên cho thấy Chúa thường gọi qua trung gian: Gioan và Anrê được gọi qua trung gian của Gioan Tẩy Giả, Phêrô được gọi qua trung gian Anrê, và Nathanael qua trung gian của Philíp. Trung gian mà Chúa dùng có thể là một người mà cũng có thể là một sự việc, một biến cố nào đó.
Nathanael đáp: “Bởi Nadarét nào có cái chi hay?”: Mặc dù đã từng “ở dưới cây vả” mà nghiền ngẫm Sách Thánh nhưng Nathanael không tìm gặp được Đấng Cứu Thế, bởi ông mang nặng thành kiến, thành kiến về địa danh Nadarét tầm thường nhỏ bé.
Không thể dùng thành kiến mà đánh giá con người hay vấn đề được, bởi vì thành kiến chỉ là một nhận định cục bộ từ một vài trường hợp cá biệt. Không phải vì đã có một vài trường hợp đã xảy ra như thế rồi kết luận rằng tất cả mọi trường hợp đều sẽ phải xảy ra như thế.
Thế nhưng con người lại rất dễ nhiễm thành kiến và thường xét đoán theo thành kiến. Có lẽ tôi cũng thế khi có thành kiến với người khác.
Mỗi chúng ta, rất có thể đã từng là Nathanael của năm xưa. Cho dù là khi ta phải vất vả long đong với cơm áo gạo tiền, hay ngược xuôi trong trách nhiệm với tha nhân, kể cả khi phải dấn thân cho lý tưởng cộng đồng,… thì cái chất, cái cá tính Nathanael vẫn phảng phất ẩn hiện đâu đó trong nếp nghĩ, trong lối sống, trong khát vọng của ta. Liệu tôi, bạn và anh chị có gặp được Ngài, có cho Ngài cơ hội để gặp được chúng ta, có chấp nhận thiết lập mối tương giao yêu thương với Ngài ?
Bởi vì, dù muốn dù không, đức tin mách bảo và nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: Chỉ với Chúa, trong Chúa, nhờ Chúa và vì Chúa, ta mới tìm được lời giải đáp cho mọi trăn trở vật vã phận người. Bởi vì, Ngài luôn thấy rõ, biết rõ từng ngõ ngách đời ta.
Ước gì từng khoảnh khắc đặt mình trước Lời Chúa và trong từng bước chân loan báo Tin Mừng, ta biết mở trí, mở tâm và mở tay ra đón Chúa. Nhớ đó Ngài có thể làm cho bừng sáng, cho mới mẻ, cho ý nghĩa, cho hồi sinh cuộc sống và sứ vụ của ta.
2023
Đến mà xem
4.1Thánh Elizabeth Ann Seton
1 Ga 3:7-10; Tv 98:1,7-8,9; Ga 1:35-42
Đến mà xem
Mẹ Xêtông là một trong những rường cột của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ. Ngài sáng lập tu hội đầu tiên dành cho phụ nữ Hoa Kỳ, Dòng Nữ Tu Bác Ái, mở trường học đầu tiên trong giáo xứ Hoa Kỳ và thiết lập cô nhi viện đầu tiên ở Hoa Kỳ. Tất cả những điều trên ngài thực hiện trong vòng 46 năm đồng thời vừa nuôi dưỡng năm người con.
Êlidabét An Bêlê Xêtông quả thực là người của thế hệ Cách Mạng Hoa Kỳ, ngài sinh ngày 28 tháng Tám 1774, chỉ hai năm trước khi có bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Bởi dòng dõi và hôn nhân, ngài có liên hệ đến các thế hệ đầu tiên sống ở Nữu Ước và vui hưởng kết quả của một xã hội tiến bộ. Được nuôi nấng trong một gia đình nề nếp Anh Giáo, ngài biết được giá trị của sự cầu nguyện, Kinh Thánh và sự kiểm điểm lương tâm hàng đêm trước khi đi ngủ. Cha của ngài, Bác Sĩ Risa Bêlê, không đóng góp nhiều cho nhà thờ nhưng ông là người rất nhân đạo, đã dạy được cho cô con gái bài học yêu thương và phục vụ tha nhân.
Sự chết sớm của người mẹ năm 1777 và của bà vú nuôi năm 1778 đã đem lại cho ngài 1 cảm nhận về sự tạm bợ của trần gian và thúc giục ngài hướng về vĩnh cửu. Thay vì ủ rũ chán chường, ngài đối diện với các biến cố mà ngài coi là sự “hủy hoại khủng khiếp” với một hy vọng đầy phấn khởi.
Vào năm 19 tuổi, Êlidabét là hoa khôi của Nữu Ước và kết hôn với một thương gia đẹp trai, giầu có là ông Viliam Magi Xêtông. Họ được năm người con trước khi doanh nghiệp lụn bại và ông chết vì bệnh lao. Vào năm 30 tuổi, bà Elidabét đã là một góa phụ, không một đồng xu và phải nuôi nấng năm đứa con.
Trong khi sống ở Ý, bà được chứng kiến phong trào Tông Đồ Giáo Dân qua gia đình của những người bạn. Ba điểm căn bản sau đã đưa bà trở về đạo Công Giáo: tin tưởng sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, sùng kính Đức Mẹ và tin rằng Giáo Hội Công Giáo là một giáo hội tông truyền do Đức Kitô thành lập. Nhiều người trong chính gia đình bà cũng như bạn hữu bà đã tẩy chay bà khi bà trở lại Công Giáo vào tháng Ba 1805.
Để nuôi con, bà mở trường học ở Bantimo. Ngay từ ban đầu, nhóm giáo chức của bà đã theo khuôn khổ của một tu hội, mà sau đó được chính thức thành lập vào năm 1809.
Hàng ngàn lá thư của Mẹ Xêtông để lại cho thấy sự phát triển đời sống tâm linh của ngài, từ những việc tốt lành bình thường cho đến sự thánh thiện cách anh hùng. Ngài chịu đau khổ vì những thử thách như đau ốm, hiểu lầm, cái chết của những người thân yêu (chồng và hai con gái), cũng như sự lo lắng đến đứa con trai hoang đàng. Ngài từ trần ngày 4 tháng Giêng 1821, và vào ngày 17-3-1963, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tuyên xưng ngài là vị chân phước đầu tiên người Hoa Kỳ. Ngài được phong thánh ngày 24-9-1975.
Tin Mừng ghi lại câu chuyện Chúa Giêsu thâu nhận những môn đệ đầu tiên, được ghi lại trong Phúc âm theo thánh Gioan, thì mọi sự dường như đã bắt đầu từ các môn đệ. Các ông đến với Chúa trong những trường hợp khác nhau. Có người đang là môn đệ của Gioan tiền hô. Có người được anh rủ tới. Có người đến với Chúa sau lời giới thiệu: Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Cũng có người đến vơi Ngài sau lời xác quyết Ngài là Đấng Messia, Đấng Cứu Thế. Tin Mừng còn nói là họ đã đến với Ngài và sau khi đã xem chổ Ngài ở, họ đã ở lại với Ngài.
Chỗ Ngài ở, hiển nhiên không phải là đền đài nguy nga lộng lẫy, bởi vì chính Ngài đã từng tuyên bố: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu. Họ đến với Ngài chỉ vì Ngài và chỉ vì được Ngài lôi cuốn. Chúa Giêsu đã lôi cuốn họ và sự lôi cuốn này có sức biến đổi hẳn con người của ho.
Chúa Giêsu không muón thực hiện sứ mạng của Ngài một cách đơn độc và lẻ loi, trái lại Ngài luôn mong muốn sứ mạng ấy phải được thực hiện bởi chính Ngài và được tiếp nối bởi những người đã từng chứng kiến những việc Ngài đã làm. Sứ mạng ấy là rao giảng Tin Mừng cứu độ cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Chúng ta cũng đã đến với Chúa qua Bí tích Rửa tội và Thánh Thể. Chúng ta cũng đã trở thành Kitô hữu bằng nhiều cách khác nhau: qua sự giới thiệu của một người bạn hay của một người thân, sau một biến cố đáng ghi nhớ trong đời hay sau khi đọc xong một cuốn sách. Và thông thường nhất đó là chúng ta được diễm phúc sinh ra trong một gia đình Kitô hữu. Vấn để thiết yếu của mỗi người chúng ta, đó là đi theo Chúa và ở lại với Ngài. Nghĩa là trở thành môn đệ của Ngài, trở thành người được Ngài mời gọi và sai đi, trở thành người loan báo Tin Mừng về tình thương cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.
Sự gắn bó với Chúa cũng như với lời Ngài, sự lắng nghe để nhận ra ý nghĩa chương trình cứu độ của Chúa trong từng sự kiện, trong gừng biến cố của cuộc sống thường ngay phải là thái độ người môn đệ trung tín của Chúa Giêsu cần phải có.
Nếu Anrê không giới thiệu Phêrô với Đức Giêsu thì có lẽ chẳng bao giờ có tông đồ Pherô đá tảng của Hội thánh.
Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá”, thì có lẽ chẳng có phép lạ đầy ngoạn mục hứng khởi nhất trong Thánh Kinh.
Vậy bài học của Anrê là hãy giới thiệu cho mọi người đến với Đức Giêsu. Đó là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một. Đức Giêsu rất cần những người giàu tình bạn chân thành, những bước chân mang dấu vết của thân thiện, những lời nói luôn chứa đầy nhiệt huyết, những chứng nhân ra đi kể câu chuyện: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mesia”.
2023
Hy sinh vì tha nhân
3.1 Thứ Tư trước Lễ Hiển Linh
1 Ga 2:293; Tv 98:1,3-4,5-6; Ga 1:29-34
Hy sinh vì tha nhân
Trang Tin Mừng hôm nay, Gioan làm chứng về Chúa Giêsu. Ta cũng có thể tóm tắt lời chứng của Gioan về Chúa Giêsu thành 2 điểm:
Chúa Giêsu là Con Chiên của Thiên Chúa: kiểu nói “Chiên của Thiên Chúa” có thể mang 3 nghĩa quy chiếu về 3 nơi trong Cựu Ước:
Con chiên trong Is 53, 7 ”như con chiên bị lôi đến lò sát sinh”: Chúa Giêsu chính là Người Tôi Tớ mà Is tiên báo bằng hình ảnh con chiên hiền lành chịu chết vì tội muôn dân.
Con chiên trong Khải huyền 5, 6 14, 10 17, 14 đã từng bị sát tế và được nâng lên: Chúa Giêsu đã chịu chết nhưng đã sống lại và chiến thắng tội lỗi.
Con chiên vượt qua trong Ga 19, 14 (Chúa Giêsu bị giết vào đúng lúc người ta giết chiên để ăn tiệc vượt qua): Chúa Giêsu chính là Con chiên vượt qua dùng cái chết của mình để thực hiện cuộc giải phóng nhân loại.
Chúa Giêsu là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn: Kiểu nói “Đấng mà Thiên Chúa đã tuyển chọn” cũng mang âm hưởng Is 42, 1 nói về Người Tôi Tớ.
qua lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả, toàn thể danh xưng Kitô học quan trọng của Đức Giêsu được giới thiệu. Thứ nhất, Đức Giêsu là “Con Chiên của Thiên Chúa”. Danh hiệu Kitô học này không được nói đến trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Danh hiệu này được giải thích bằng một danh hiệu khác: “Đấng cất đi tội lỗi của thế gian”.
Con Chiên của Thiên Chúa có thể được hiểu như là hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ”, như con chiên hiền lành bị mang đi làm thịt, gánh lấy tội lỗi của trần gian; hay là hình ảnh một con chiên vẹn toàn được sát tế trong dịp Lễ Vượt Qua, và máu Người là máu Giao Ước mang lại ơn tha thứ cho nhân loại; hoặc là hình ảnh một con chiên khải huyền, một con chiên chiến thắng qua cuộc khổ nạn.
Ông Gioan cũng làm chứng rằng mình đã nhận được mặc khải của Đấng sai ông đến làm phép rửa trong nước, rằng Đức Giêsu chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh. Dấu hiệu để nhận ra Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh là: “Thánh Linh đi xuống và ở lại trên người ấy”.
Dấu hiệu này gián tiếp nhắc đến sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa và được Thánh Linh xức dầu. Tác giả Gioan không tường thuật về chứng nhận của tiếng từ trời, rằng Đức Giêsu là con yêu dấu, nhưng cũng qua lời chứng của Gioan Tẩy Giả, độc giả hiểu rõ Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”.
Vì Người là “Con Thiên Chúa”, nên dù xuất hiện trên trần gian trong thân phận con người, sau ông Gioan, chịu ông Gioan làm phép rửa, rồi khai mạc sứ vụ sau ông Gioan, Người đã trở nên trước ông vì Người hiện hữu trước ông. Sứ vụ của ông Gioan cũng chỉ để chuẩn bị cho sứ vụ của Người, và nhiệm vụ của ông Gioan là làm chứng cho mọi người biết rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Có thế tóm kết lời chứng của ông Gioan về Đức Giêsu trong đoạn văn này như sau: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Người tiền hữu, đã chịu phép rửa trong nước của ông Gioan, nhưng sẽ là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh, và trở nên Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian qua cái chết của Người.
“Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian”. “Tội trần gian” theo truyền thống thường hiểu là tội gốc, là tội nguyên tổ và những hậu quả di căn cho con người là tất cả những lỗi lầm, tội lỗi cá nhân.Không chỉ thế, “tội trần gian” được nhắc đến trong Tin Mừng là ý niệm về một quyền lực “bóng tối” (x. Ga 8, 12), chi phối và đè bẹp con người mất tự do. Thánh Gioan và thánh Giacôbê đã nhấn mạnh sự liên hệ giữa tội lỗi và thế gian (x. Ga 16, 8.17, 14; 1 Ga 2, 1; 2, 15-17; 4, 1.4.5; 5, 19; Gc 1, 27; 3, 15; 4, 4), chính thế lực tạo nên sự chống đối lại sự sáng – thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc sống.
Trong đó, “tội trần gian” là sự thống trị của vật chất được hình tượng hóa bằng bò vàng mà dân Do Thái tôn thờ (x. Xh 32, 1-6). Hành vi tôn thờ bò vàng muốn nói lên là họ không cần đến Thiên Chúa, cắt mình ra khỏi sự gắn bó với Thiên Chúa, tự sức mình làm chủ cuộc đời và muốn thế giới theo ý mình. Chúng ta thấy rõ việc tôn thờ “bò vàng” qua cách sống thực dụng duy vật chất của người đời hôm nay. “Tội trần gian” còn là di căn của tội như đau khổ và phải chết do tội nguyên tổ, những hậu quả đi vào đời sống hàng ngày là những lo lắng ưu tư, những khốn khó, bệnh tật mà con người đang bị đè nặng từ khi bóng tối làm chủ thế gian…”Đây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian”.
Thánh Gioan Chrysostome và thánh Augustinô đã nhấn mạnh: “Chiên là biểu tượng của sự vô tội và của công chính. Người vô tội chết cho người có tội, người công chính chết cho nhân loại vốn mất ân sủng do tội, được trở nên công chính hóa”. Vì thế, Giáo hội tuyên tín từ xa xưa: “Khi Người tự hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, Người hủy diệt tội lỗi xưa để đổi mới muôn loài sa ngã, và hoàn lại sự sống nguyên tuyền cho chúng con” (Kinh Tiền Tụng Phục Sinh IV).
Ðức Kitô – Chiên Thiên Chúa đã dùng giá máu mình để cứu chuộc nhân loại (x. 1Pr 1, 18; Kh 5, 9; Dt 9, 12-15) được loan báo trước bằng hình ảnh máu của con chiên cứu dân Do Thái. Gioan, người môn đệ đã thấy hình ảnh Chiên Thiên Chúa hiến tế đã nhấn mạnh: Ngài đã cứu họ khỏi “bụi trần” (Kh 14, 3); Phêrô xác tín thêm: Ngài đã cứu nhân loại khỏi cái thế giới buông theo gian tà phát sinh do đạo thờ ngẫu tượng (x. 1Pr 1, 14.18; 4, 2tt), nhờ đó từ nay họ có thể tránh tội (x. 1Pr 1, 15tt; Ga 1, 29; 1Ga 3, 5-9), hình thành nên vương quốc tư tế mới, nên dân tộc được thánh hiến cho Thiên Chúa (x. 1Pr 2, 9; Kh 5, 9tt; Xh 19, 6). Chính dân tộc thánh này sẽ dâng lên Thiên Chúa cuộc thờ phượng thiêng liêng bằng một đời sống không có gì chê trách được (x. 1Pr 2, 5; Dt 9, 14). Chính vì lẽ đó, Tông đồ Phaolô khuyên người tín hữu hãy sống “tinh tuyền và chân thật” như bánh không men vì “Ðức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (1Cr 5, 7).
Ước gì mỗi chúng ta đặt tất cả niềm tin và cuộc sống nơi Chiên Vượt Qua – Đức Kitô, trong Ngài chúng ta được chữa lành mọi vết thương, được giải phóng mọi tình trạng nô lệ ở đời này.
2023
SỐNG CHỨNG TÁ BẰNG ĐỜI SỐNG
2.1 Thánh Cả Basil và Grêgôriô Nazianzen, Gmtsht
1 Ga 2:22-28; Tv 98:1,2-3,3-4; Ga 1:19-28
SỐNG CHỨNG TÁ BẰNG ĐỜI SỐNG
Hôm nay Hội thánh cho chúng ta mừng chung hai thánh Basiliô Cả và Grêgoriô Nazianzênô trong một ngày. Sở dĩ Giáo Hội làm như vậy bởi vì cuộc sống của các ngài có những điểm chung thật thú vị.
Trước hết các ngài đã vào cuộc đời làm người ở cùng một nơi, tại Cappadocia và cha mẹ của các ngài đều là những người thuộc dòng giống quí phái, danh tiếng, có địa vị trong xã hội thời đó.
Các ngài đã được cha mẹ cho học cùng một trường tại kinh thành Athènes nổi tiếng của Hy Lạp rồi sau khi tốt nghiệp các ngài cùng về quê sống chung với nhau trong một tu viện.
Điểm chung cuối cùng rất đáng chúng ta cảm phục là các ngài đã cùng đứng chung trong một trận tuyến khi phải đối đầu với bè rối Ariô để bảo vệ niềm tin trong sáng đối với Chúa Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người để cứu chuộc toàn thể nhân loại chúng ta.
Dù rằng tính khí mỗi người khác nhau, nhưng các ngài đã sống hết sức nghĩa thiết đối với nhau theo gương vị mục tử nhân hậu hiền lành là Thầy Giêsu chí thánh.
Basiliô có tài lãnh đạo, có óc tổ chức, chỉ huy và điều khiển. Còn Grêgôriô Nazianzênô lại thích chiêm niêm, sống âm thầm và là một tu sĩ sáng ngời các nhân đức.
Cả hai vị thánh đều được chọn làm Giám mục cai quản Giáo Hội.
Thánh Basiliô được đặt làm Giám mục Caesarea Mazaca thuộc vùng Capadocia, Tiểu Á năm 370. Ngài là một mục tử can trường, đầy dũng khí và hiên ngang. Nhờ lòng dũng cảm, lời giảng dạy và nhờ sự tài khéo khéo khi giao tiếp với mọi người mà Ngài đã đem lại chỗ đứng vững chắc cho Giáo Hội thời đó. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, thần quyến và thế quyền đã có chỗ đứng riêng tránh được những sự phiền toái làm ảnh hưởng đến tính trong sáng của Tin Mừng. Ngài hết sức lo cho những người nghèo để họ được sống đúng với phẩm giá của mình cũng như bảo vệ họ luôn được đứng vững trong niềm tin trong sáng của Chúa và Giáo Hội.
Ngài đã viết nhiều bài luận về Chúa Thánh Thần, phát triển nền thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngài cố gắng rất nhiều trong việc hàn gắn những chia rẽ trong Giáo hội.
Trong Giáo Hội Công giáo Rôma, Ngài được công nhận là Tiến sĩ Hội thánh năm 1568 do Đức Giáo hoàng Piô V.
Thánh Grêgôriô Nazianzênô được tấn phong Giám mục Sasime năm 371, và vào năm 380, thánh nhân được cử làm Giám mục Constantinople giữa lúc bè rối Ariô đang hoành hành gây nên nhiều khó khăn cho Giáo Hội. Nhờ tài hùng biện và sự thánh thiện của Ngài, mà Ngài đã chinh phục được mọi người, đem lại sự bình an cho Giáo Hội lúc đó. Người ta đã phong tặng cho thánh nhân một cái tên hết sức thân thương: “Cha của những kẻ khốn cùng”.
Thánh Basiliô qua đời ngày 01/1/379 và thánh Grêgôriô Nazianzênô tạ thế ngày 25/1/390.
“Ông là ai?” là lời chất vấn của một số tư tế và thầy Lêvi về con người và sứ mạng của Gioan Tiền Hô. Xem ra, dù là những người thông thạo lề luật và mong chờ lời hứa cứu độ, nhưng dường như, các vị thế giá Do Thái này vẫn để cho mình được lôi kéo, từ cách sống khắc khổ đến lời rao giảng kêu gọi hoán cải của Gioan, vốn đang thu hút bao người đến với ông để đón nhận phép rửa sám hối trong nước sông Giođan.
Nhưng sẽ chỉ là cuộc tìm kiếm nhằm thỏa mãn sự hiếu kỳ, nếu không để bản thân được dấn thân nhập cuộc, không đưa đến một sự hoán cải hay dọn đường cụ thể nào cho Đấng Messia ngự đến. Điều mà sau này, cũng chính các nhà lãnh đạo tôn giáo đã bày tỏ động cơ đón nhận một cách rõ ràng, khi bị Chúa Giêsu chất vấn về phép rửa của Gioan Tẩy Giả: “Nếu ta nói bởi trời, thì ông sẽ nói với ta: Vậy tại sao các ngươi không tin ông ấy? Và nếu ta nói bởi người ta, thì chúng ta lại sợ dân chúng. Vì mọi người coi Gioan như một vị tiên tri” (Mt 21,25-26). Ngược lại, nhìn vào Gioan Tẩy Giả, đấng dọn đường và công khai giới thiệu tư cách Chiên Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, nhất là trong cảnh tù đày, ông đã tiếp tục để mình được chất vấn về con người và sứ vụ của Đấng mà ngài dọn đường: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác nữa?” (Mt 11,3). Lời đáp trả cho sự chất vấn này, đã chẳng giúp Gioan thêm xác quyết, can đảm đến cùng cho sứ mạng tiền hô, làm chứng cho sự thật bằng cả mạng sống mình.
“Giữa các ngươi, có Đấng mà các ngươi không biết” (Ga 1,26). Đó cũng là lời chất vấn cho các môn đệ của Chúa, khi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu. Chất vấn để mỗi người có thể phản tỉnh, lượng giá, hầu học biết cách đụng chạm và cảm thấu sự hiện diện của Giêsu Hài Nhi ở giữa cuộc sống đời thường hôm nay. Mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa trong Hài Nhi Giêsu bé nhỏ, với đôi bàn tay luôn mở ra: một mặt, như chờ mong sự tự do để yêu thương, chở che từ mọi tâm hồn rộng mở của con người; mặt khác, chính đôi tay mở ra để có thể ôm lấy tất cả phận người, nhất là những anh chị em trong hoàn cảnh nghèo khó, bị bỏ quên bên lề xã hội, những người nguội lạnh hoặc chưa nhận biết đức tin. Ngôi Hai Thiên Chúa ở giữa chúng ta, thế mà biết bao lần chúng ta đã chưa nhận ra và đón rước Người!
Thánh Gioan Tẩy giả đóng một vai trò trung tâm trong việc giới thiệu Đấng Cứu Độ là Chúa Giêsu sẽ đến. Thánh Gioan đã chứng tỏ mình là một chứng nhân can đảm và có hiệu quả. Ngài có nhân cách mạnh mẽ và là người sống theo nguyên tắc. Ngài không sống theo một lối sống thoải mái, không sống trong cung điện, nhưng sống nơi sa mạc. Lối sống của ngài, cũng như sự chính trực của cá nhân ngài, đã bổ sung thêm niềm tin tưởng cho những lời nói của ngài. Ngài là một gương mẫu sống động cho điều mà ngài rao giảng. Và khi đã hoàn tất nhiệm vụ của mình, ngài bước sang một bên để nhường lối cho Chúa Giêsu.
Đối với nhiều người trong thế giới ngày nay, Chúa Giêsu đã trở nên một khuôn mặt rất mờ nhạt và xa cách cũng một phần do bởi lối sống của Kitô hữu chúng ta. Những lời trong bài Tin Mừng hôm nay đúng từng chữ một “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết”. Chúa Giêsu vẫn còn cần đến những chứng nhân, đó là những người có thể làm cho Chúa Giêsu hiện diện cách rõ nét bằng đời sống gương mẫu tốt lành của mình để người khác nhận ra Thiên Chúa một cách có hiệu quả.
Chúng ta không thể làm chứng cho ánh sáng, nếu chúng ta sống trong tối tăm. Chúng ta phải sống trong ánh sáng. Một đời sống gương mẫu tốt đẹp là một lời chứng mạnh mẽ và có hiệu quả, và tự thân, đó là một lời loan báo Tin Mừng. Khi người ta không còn thực hành đạo trong cuộc sống nữa, thì họ đã không còn là chứng nhân loan báo Tin Mừng. Nhưng khi việc thực hành đạo đưa dẫn đến những hành động cụ thể, thì người ta đã thực hành được một lời chứng rất có hiệu quả. Không có một lời chứng nào đến được với những người cùng thời của chúng ta một cách đầy sức thuyết phục, cho bằng lời chứng của những người thực hiện những lời giảng dạy của Chúa Giêsu.
Thật thế, nếu không có lời chứng của các Kitô hữu, thì gương mặt của Chúa Giêsu, vốn đã bị mờ nhạt, sẽ tiếp tục lu mờ trong thế giới của chúng ta. Người sẽ tiếp tục ở giữa chúng ta, dù chúng ta không biết và không nhận ra, và tâm hồn con người vẫn sẽ bị tan nát, người ta sẽ còn bị cầm tù trong cảnh tối tăm, và Tin mừng sẽ không được rao giảng cho người nghèo.
Và rồi chúng ta thấy đây không phải là một trách nhiệm chỉ dành cho cá nhân người Kitô hữu, mà còn dành cho toàn thể cộng đồng Kitô hữu nữa. Khi là thành viên của một cộng đồng nâng đỡ nhau, thì việc làm chứng cho Chúa Giêsu sẽ dễ dàng hơn. Xin Chúa thêm ơn để mỗi người chúng ta sống làm chứng cho Chúa bằng đời sống chứng tá của mỗi chúng ta.
