2024
Niềm Tin và Sự Thay Đổi
Niềm Tin và Sự Thay Đổi
Trong câu chuyện, niềm tin của người mù là yếu tố quyết định dẫn đến sự thay đổi trong cuộc sống của anh. Mặc dù bị ngăn cản bởi những người xung quanh, anh vẫn kiên trì kêu cầu Đức Giê-su. Điều này nhấn mạnh rằng đức tin có thể giúp chúng ta vượt qua những khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Đức Giê-su không chỉ hỏi anh ta mà còn mời gọi anh bộc lộ lòng tin của mình. Chúng ta có thể tự hỏi: “Niềm tin của tôi đang ở đâu trong cuộc sống này?”
Hôm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm về đoạn Tin Mừng mà thánh Luca đã ghi lại về một người mù ở Giê-ri-khô. Câu chuyện này không chỉ là một phép lạ, mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc về niềm tin và sự thay đổi mà niềm tin có thể mang lại cho cuộc sống của chúng ta.
Trong câu chuyện này, niềm tin của người mù không chỉ là một phản ứng tức thời trước sự hiện diện của Đức Giê-su, mà còn là một biểu hiện sâu sắc của khao khát và hy vọng. Dù đang trong hoàn cảnh khó khăn và bị ngăn cản bởi những người xung quanh, anh vẫn không để cho sự chê bai hay cản trở làm mất đi quyết tâm của mình. Điều này khiến chúng ta phải suy ngẫm về niềm tin của chính mình trong cuộc sống.
Khi chúng ta đối mặt với những khó khăn hay thử thách, có thể chúng ta cũng gặp phải những áp lực từ môi trường xung quanh, từ những người không tin tưởng vào khả năng của mình. Nhưng giống như người mù, chúng ta cần phải dám kêu gọi, dám bày tỏ lòng tin của mình. Anh không chỉ nhận ra Đức Giê-su là “Con vua Đa-vít”, mà còn xác định rõ ước muốn của mình. Anh kêu lên với một lòng tin vững chắc rằng Đức Giê-su có thể thay đổi tình hình của mình.
Sự kiên trì của người mù là một bài học quan trọng cho tất cả chúng ta. Nó nhắc nhở chúng ta rằng đôi khi, chúng ta cần phải vượt qua những rào cản bên ngoài và tìm kiếm Chúa với tất cả trái tim mình. Sự kiên nhẫn trong đức tin sẽ giúp chúng ta tìm thấy ánh sáng ngay cả trong những thời điểm tối tăm nhất.
Câu chuyện cho thấy rằng khi chúng ta kêu gọi Đức Giê-su, Ngài luôn sẵn sàng lắng nghe. Khi anh ta đến gần, Đức Giê-su hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Câu hỏi này không chỉ dành riêng cho người mù, mà còn dành cho mỗi người trong chúng ta. Thiên Chúa luôn muốn chúng ta bày tỏ những nhu cầu và khát vọng của mình với Ngài. Khi chúng ta dám trình bày những điều đó, chúng ta đang mở lòng cho sự chữa lành và biến đổi mà Ngài có thể mang đến.
Niềm tin của người mù không phải là một điều hiển nhiên; nó là kết quả của một trái tim khao khát tìm kiếm sự chữa lành. Anh đã không để những rào cản xung quanh ngăn cản tiếng kêu cầu của mình. Trong cuộc sống, chúng ta cũng thường phải đối mặt với những khó khăn và thử thách. Có thể chúng ta gặp những người không tin tưởng vào khả năng của mình, hoặc chúng ta tự hỏi về sức mạnh của đức tin trong những lúc khó khăn. Hãy nhớ rằng, đức tin cần được nuôi dưỡng và phát triển, đặc biệt là trong những thời điểm đen tối nhất.
Đức Giê-su, với lòng nhân ái vô bờ bến, đã không chỉ đơn thuần là một Đấng quyền năng, mà còn là một người bạn đồng hành, luôn sẵn sàng lắng nghe tiếng kêu cứu từ những tâm hồn đau khổ. Khi Ngài dừng lại trước tiếng kêu cầu của người mù, Ngài đã cho thấy rằng mỗi tiếng kêu từ những người bị bỏ rơi, bị xã hội khinh miệt đều có giá trị. Ngài không bị cuốn vào dòng người đông đúc hay bị chi phối bởi những lo toan thường ngày; trái lại, Ngài dành thời gian cho người cần Ngài nhất.
Sự nhạy bén của Đức Giê-su cũng thể hiện trong cách Ngài không chỉ nhìn thấy một người mù ăn xin bên vệ đường, mà còn thấy được nhu cầu sâu thẳm trong lòng anh. Ngài đã tạo cơ hội cho anh bày tỏ không chỉ khát vọng về sự chữa lành thể xác mà còn về niềm tin và hy vọng mà anh đang nắm giữ. Câu hỏi của Ngài: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” không chỉ là một lời mời gọi, mà còn là một cách khẳng định giá trị của người mù, khuyến khích anh thể hiện mong muốn của mình một cách trực tiếp và rõ ràng.
Điều này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc bày tỏ ước muốn và nhu cầu của bản thân. Trong cuộc sống, chúng ta thường giữ lại những tâm tư và khát vọng của mình vì nhiều lý do: sợ bị đánh giá, ngại ngùng hay đơn giản là cảm thấy không xứng đáng. Nhưng Đức Giê-su cho thấy rằng chúng ta không cần phải giấu giếm. Ngài muốn chúng ta mở lòng, kêu cầu Ngài trong những lúc khó khăn, và bày tỏ những ước muốn sâu xa nhất của chúng ta.
Hơn nữa, phản ứng của Đức Giê-su cũng là một lời nhắc nhở cho chúng ta về trách nhiệm của mình trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta có thể không phải là Đức Giê-su, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi từ Ngài cách để lắng nghe và đáp lại những tiếng kêu cứu xung quanh mình. Trong xã hội ngày nay, rất nhiều người vẫn đang ngồi bên vệ đường, khao khát được nghe tiếng nói của tình thương và sự quan tâm. Chính chúng ta, qua hành động và lời nói của mình, có thể mang lại sự chữa lành và hy vọng cho họ.
Hãy để lòng yêu thương của Đức Giê-su hướng dẫn chúng ta, và hãy nhớ rằng, khi chúng ta dám kêu gọi, Ngài luôn sẵn lòng lắng nghe và ban cho chúng ta sự chữa lành mà chúng ta cần. Sự gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người mù không chỉ là một câu chuyện cổ xưa; nó vẫn sống động và đầy ý nghĩa trong cuộc sống của chúng ta hôm nay. Hãy mở lòng và tin tưởng vào khả năng biến đổi của Ngài.
Ngài hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Đây không chỉ là một câu hỏi đơn giản mà là một lời mời gọi. Ngài muốn người mù bày tỏ ước muốn của mình một cách cụ thể. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa luôn muốn chúng ta chia sẻ với Ngài những mong muốn và nhu cầu của chúng ta. Khi chúng ta dám trình bày những khát vọng sâu thẳm của mình với Ngài, chúng ta mở lòng cho những phép lạ có thể xảy ra trong cuộc sống của mình.
Khi người mù đã bày tỏ mong muốn của mình: “Lạy Ngài, xin cho tôi nhìn thấy được,” Đức Giê-su đáp: “Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” Ngay lập tức, anh ta nhìn thấy và theo Ngài, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa. Câu chuyện này cho thấy rằng sự thay đổi bắt đầu từ lòng tin.
Thưa cộng đoàn, niềm tin của chúng ta cũng có thể mang lại sự thay đổi trong cuộc sống. Khi chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa, chúng ta không chỉ nhận được sự chữa lành về thể xác mà còn cả về tinh thần. Đức tin giúp chúng ta nhìn thấy những điều mà trước đây chúng ta không thể thấy. Nó giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày, và từ đó, chúng ta có thể sống một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa và niềm vui.
Hãy tự hỏi bản thân: “Niềm tin của tôi đang ở đâu trong cuộc sống này?” Chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn và thử thách, nhưng hãy nhớ rằng niềm tin có thể giúp chúng ta vượt qua tất cả. Hãy kiên trì kêu cầu Thiên Chúa, bày tỏ lòng tin của mình, và không ngừng mong mỏi sự thay đổi.
Nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để giữ vững niềm tin và dũng cảm để tìm kiếm Ngài trong mọi hoàn cảnh. Amen.
2024
MẦU NHIỆM NƯỚC THIÊN CHÚA
14.11 Thứ Năm trong tuần thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
Tv 146:7,8-9,9-10; Lc 17:20-25
MẦU NHIỆM NƯỚC THIÊN CHÚA
Tìm kiếm Thiên Chúa vẫn luôn là thao thức của con người. Nhiều người Do Thái nôn nao chờ đợi Nước Thiên Chúa nhưng dù có thao thức, có chờ đợi họ cũng không gặp dẫu rằng Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa họ. Chúa Giêsu đã giải thích lý do: “Nước Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được”. Tìm kiếm Thiên Chúa chỉ để thỏa mãn hay để biện minh cho hành động của mình thì chẳng bao giờ có thể gặp được Ngài.
Ngay thời ngôn sứ Đa-ni-en, dân Do thái đã bàn tán về ngày nước Thiên Chúa đến và sự chờ đợi cuồng nhiệt lan tràn khắp nước Ít-ra-en. Người ta khảo sát các điềm trời và các tai họa xảy ra. Họ tính toán khá thông thái để tiên báo về ngày giờ tận thế. Đức Giêsu loan báo nước Thiên Chúa đã đến ngoài sức tính toán tự nhiên của con người, nên biệt phái muốn hỏi Đức Giêsu bao giờ triều đại Thiên Chúa đến.
Câu trả lời của Đức Giêsu làm sửng sốt: Nước Thiên Chúa đến không ai có thể quan sát được. Tất cả mọi dấu chỉ loan báo và tính toán đều vô giá trị. Nước ấy đã đến và biệt phái không nhận ra vì con tim và lỗ tai của họ đóng kín, câm lặng, chính hành động của Đức Giêsu cho thấy và cho hiểu về nước Chúa đã đến vì Người nhờ ngón tay Thiên Chúa để trừ quỷ, và lời Người đang sưởi nóng con tim của những kẻ khốn cùng. Thời cứu độ đã bắt đầu, nhưng ai không đón tiếp Đức Giêsu, không thể nhận biết được nước Thiên Chúa.
Khi trả lời những kẻ không tin, Đức Giêsu quay lại phía các môn đệ, các ông biết Đức Giêsu đã đến phục hưng lại nước Thiên Chúa và Người phải trở lại để hoàn tất mọi sự. Người đã tiên báo cho các ông rằng trước ngày quang lâm xảy ra những khốn khổ, những ngày khủng khiếp làm mọi người xao xuyến lo âu. Lúc đó, họ không còn kiên nhẫn chờ đợi ngày Con Người trở lại và họ sẽ bị thôi thúc tìm dấu chỉ và tin những tiên tri giả. Họ sống giữa những cảnh buồn sầu khổ sở lớn lao rồi lại để mình bị loại bỏ.
Trọng tâm của bài giảng của Chúa Giêsu là mầu nhiệm nước Chúa. Mầu nhiệm ấy không thể nắm bắt được bằng mắt trần hay bằng lý luận của con người. Chúa Giêsu mời gọi mọi người đi vào mầu nhiệm Nước Chúa. Nước Chúa không ở chỗ này hay chỗ kia. Nước Chúa chỉ đến bằng cái chết của Chúa Giêsu mà thôi. Chúa Giêsu đã hé mở cho các môn đệ thấy cuộc khổ nạn của Ngài và các cuộc bách hại mà Giáo Hội sẽ trải qua. Chính qua các cuộc bách hại mà hạt giống đức tin được gieo vãi, Giáo Hội được thanh luyện, củng cố và lớn lên. Do đó, không phải cái vẻ hào nhoáng với các cơ cấu tổ chức và biểu dương bên ngoài rầm rộ của Giáo Hội thể hiện mầu nhiệm Nước Chúa, nhưng là chính ở sức mạnh tinh thần của niềm tin, một niềm tin sẵn sàng mất tất cả, ngay cả sự sống của mình để được trung thành với những giá trị của Tin Mừng. Chính niềm tin ấy mới thể hiện được mầu nhiệm thâm sâu của Nước Chúa.
Con Người đến trong vinh quang sáng chói hơn cả tia sáng bom nguyên tử, bom khinh khí và chiếu sáng khắp nơi không gì che lấp được. Con Người đến thình lình đột ngột như các tai họa đổ xuống loài người và luôn luôn sẵn sàng đến bất cứ lúc nào.
Trước khi biến cố này xảy đến, Đức Giêsu phải chịu xỉ vả, hạ nhục, phản bội bởi thế hệ này và các thế hệ kế tiếp. Tình yêu chắc chắn chiến thắng. Nhưng trước khi chiến thắng hận thù và chia rẽ, Người phải hành động để thuyết phục chứ không dùng bạo lực. Giáo hội cũng phải chịu khổ nhục một thời và các Kitô hữu phải biết kiên trì giữ vững đức tin luôn luôn sẵn sàng đón tiếp Con Người đến.
Qua cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã vạch ra cho con người đường đi vào vĩnh cửu, đó là sống sung mãn trong từng giây phút hiện tại. Chính trong cuộc sống mỗi ngày mà con người phải tìm kiếm và xây dựng những giá trị vĩnh cửu. Sống như thế là sống tỉnh thức theo tinh thần mà Chúa Giêsu hằng nhắc nhở trong Tin Mừng của Ngài; sống như thế, con người mới có thể nhận ra ý nghĩa của cuộc sống. Một cuộc sống có đáng sống và có ý nghĩa hay không, là tùy ở thái độ trân trọng và tích cực của con người đối với mỗi giây phút hiện tại.
Nguyện xin Chúa ban thêm niềm tin để chúng ta không ngừng đón nhận Chúa qua từng biến cố và gặp gỡ mỗi ngày.
Ngày xưa, người Do thái đương thời với Đức Giêsu cũng luôn mong đợi một Đấng Thiên Sai oai phong lẫm liệt, Ngài đến để thiết lập một triều đại hùng cường, mở mang bờ cõi và đem lại cho dân tộc họ một cuộc sống ấm no, hạnh phúc theo kiểu bề ngoài.
Niềm hy vọng như thế đã làm chủ suy nghĩ của họ, nên khi Đức Giêsu đến, họ không nhận ra Ngài và khước từ những đặc tính của Nước Trời mà Đức Giêsu loan báo. Nguyên nhân sâu xa chính là lòng dạ sắt đá của họ. Sự cứng lòng tin đã làm cho tâm hồn họ trở nên u tối, mê muội, nên khó chấp nhận ánh sáng là chính Đức Giêsu. Vì thế, họ đã đang tay giết luôn cả Đấng mang Nước Trời đến cho mình.
Vì biết rõ tâm hồn họ, nên Đức Giêsu đã mời gọi: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, vì Nước Trời đã gần đến”. Nước Trời mà Đức Giêsu loan báo ở đây không thể hiểu theo nghĩa vật lý, tức là mắt thấy, tay sờ được… Nhưng Nước Trời ở đây là chính Ngài. Thực hành những lời Đức Giêsu dạy chính là đi vào mối tương quan thân tình với Ngài và được ở trong Ngài. Sống lời Ngài dạy và đem ra thực hành chính là làm cho Nước ấy được lan rộng.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta muốn được nhận ra Chúa thực sự thì phải trở nên nhỏ bé, khiêm nhường. Cần phải lột bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới với những suy nghĩ và hy vọng mới theo tinh thần Tin Mừng thì mới có thể gặp được Nước Trời.
2024
LÒNG BIẾT ƠN
13.11 Thánh Frances Xavier Cabrini, Đt
St 3:1-7; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Lc 17:11-19
LÒNG BIẾT ƠN
Thánh Frances Xavier Cabrini là công dân Hoa Kỳ đầu tiên được phong Thánh. Chính lòng tin tưởng mãnh liệt vào sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa, đã ban cho thánh nữ sức mạnh để trở nên một phụ nữ dũng cảm làm việc cho Ðức Kitô.
Thánh Frances sinh ở Lombardi, nước Ý vào năm 1850, trong một gia đình có đến 13 người con. Khi 18 tuổi, ngài ao ước trở thành một nữ tu nơi ngài theo học sư phạm, nhưng vì sức khỏe yếu kém nên bị từ chối. Sau đó, thánh nữ làm việc bác ái ở Cô Nhi Viện Ðấng Quan Phòng ở Cadogne, nước Ý. Vào tháng Chín 1877, ngài tuyên khấn và mặc áo dòng.
Khi đức giám mục đóng cửa Cô nhi viện vào năm 1880, ngài đặt sơ Frances làm tu viện trưởng tu hội Nữ Tu Thánh Tâm Truyền Giáo và bảy phụ nữ khác làm việc ở Cô nhi viện cũng đã gia nhập tu hội này.
Ngay từ khi còn nhỏ, Thánh Frances đã có ý định đi truyền giáo ở Trung Cộng, nhưng theo sự khuyên bảo của Ðức Giáo Hoàng Lêo XIII, cùng với sáu nữ tu khác, ngài đến thành phố Nữu Ước để phục vụ hàng ngàn người Ý di dân đang sinh sống ở đây.
Ngài gặp nhiều chán nản và khó khăn trên bước hành trình. Khi đến thành phố Nữu Ước, căn nhà được hứa để làm Cô nhi viện đầu tiên ở Hoa Kỳ thì lại không có. Ðức tổng giám mục khuyên ngài trở về Ý. Nhưng Frances, một phụ nữ can đảm có thừa, đã rời bỏ tư dinh của đức tổng và tự tay gầy dựng Cô nhi viện. Và ngài đã thành công.
Trong 35 năm, Thánh Frances Xavier Cabrini đã thành lập 67 trung tâm để chăm sóc người nghèo, trẻ mồ côi, người ít học và bệnh nhân. Nhận thấy nhu cầu cần thiết của người di dân Ý trước viễn ảnh bị mất đức tin, ngài mở trường học và các lớp dạy giáo lý cho người lớn.
Cho đến ngày ngài qua đời ở Chicago, tiểu bang Illinois ngày 22.12.1917, tu hội của ngài đã có mặt tại các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ và Nam Mỹ.
Vào năm 1946, ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô XII tuyên phong Hiển thánh và đặt làm quan thầy của người di dân.
Lòng biết ơn biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự. Biết ơn là một trong những đức tính tốt đẹp của con người đối với Đấng Tạo Hoá. Vì Ngài đã ban muôn vàn phúc lộc cho chúng ta: từ không khí để ta hít thở, mặt trời để soi sáng ta, cho nước để ta uống, cho muôn loài muôn vật để ta sử dụng và làm thức ăn. Ngài luôn quan phòng, giữ gìn ta trong mọi nơi, mọi lúc… Thiên Chúa còn ban cho ta biết bao điều cao cả qua cha mẹ, qua anh chị, qua thầy cô, qua bạn hữu, qua tất cả những người đã giúp đỡ và làm ơn cho ta… Thể hiện lòng biết ơn là một nghĩa vụ hàng đầu trong cuộc sống con người.
Tạ ơn là tâm tình của Chúa Giêsu, của Mẹ Maria, và của các tông đồ, tâm tình đó đã lấp đầy những trang Tin Mừng.
Chúa Giêsu luôn là mẫu mực của lòng tri ân. Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một bài ca tạ ơn liên lỉ dâng lên Thiên Chúa: Ngài tạ ơn Chúa Cha trước khi hồi sinh Ladarô, Ngài tạ ơn Chúa Cha khi nhân bánh ra nhiều để nuôi dân chúng. Khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài đã cầm bánh và rượu dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Chính vì thế, Chúa Giêsu rất coi trọng lòng biết ơn trong cuộc sống của con người.
Hôm nay, Thánh Luca nhắc cho ta nhớ lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành mười người phong hủi, tất cả đều được khỏi bệnh. Nhưng chỉ có một người đến tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa. Chúa Giêsu không khỏi buồn lòng trước sự vô ơn của con người, nên Ngài đã thốt lên: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”? (Lc 17, 17-18).
Lời kinh “Magnificat” là lời tạ ơn trọn hảo của Đức Maria dâng lên Thiên Chúa. Đây cũng là lời kinh ca ngợi đẹp lòng Thiên Chúa “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi…” (Lc 1, 47-56).
Trong các thư của Thánh Phaolô, thánh nhân cũng nhấn mạnh đến lời tạ ơn. Hơn nữa, ngài luôn sống trong tâm tình tạ ơn. Ngài nói: “Tôi luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa” (Plm 1, 4). Ngài còn nhắc nhở mọi người “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn” (1 Tx 5, 18).
“Cảm ơn” là tỏ lòng biết ơn với người đã làm điều tốt cho mình. Mỗi khi ta nhận được một ơn huệ gì, thì ta phải biết tạ ơn Chúa và cảm ơn những người làm ơn cho ta. “Cảm ơn” ấy là hai từ mà ta vẫn nói hàng ngày. “Cảm ơn”, lời nói cửa miệng tưởng như có thể nói với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, nhưng nhiều khi ta không biết nói lời cảm ơn.
Trong câu chuyện Lamartine đã kể lại một giấc mơ có nội dung như sau: lần kia có người thợ giày đến nói với ông: “Từ nay xin ông tự đóng lấy giày mà đi”. Kế đó, người thợ bánh mì cũng đến nói với ông: “Tôi nghĩ đã đến lúc ông hãy tự làm bánh mì mà ăn”. Sau đó, người bán thịt cũng lên tiếng: “Tôi cũng nghĩ ông hãy nuôi heo giết lấy thịt mà ăn”. Ngay cả người giúp việc cho ông cũng thưa: “Từ nay xin ông tự dọn bữa, quét nhà, giặt quần áo, tôi xin nghỉ việc”.
Khi ông hỏi lý do thì mọi người đều nói, vì ông đã nhận được rất nhiều điều mọi người đã phục vụ ông, mà không bao giờ ông biết nói lời “cảm ơn”. Lamartine sợ toát mồ hôi và kêu lên: “Trời ơi! Nếu mọi người đều nghỉ việc thì tôi chết mất”. Chính lúc đó ông tỉnh giấc, sực nhớ đây chỉ là một giấc chiêm bao, ông vô cùng mừng rỡ. Dù sao giấc mơ cũng là một lời nhắc nhở cho ông rằng, tất cả những điều ông nhận được đều là “hồng ân”, tất cả mọi người đều là “ân nhân” của ông. Ông đã mắc mợ mọi người. Ông đã hiểu ra rằng “người không biết cảm ơn thì không đáng được nhận ơn”. Vì vậy, ông luôn phải biết cảm ơn mọi người về những gì họ đã làm cho ông.
Trong xã hội ngày nay, con số những người biết ơn Chúa, tôn thờ Chúa, vẫn còn là một con số rất khiêm tốn. Còn những kẻ vô ơn thì nhiều vô kể. Chúa luôn ban ơn cho người lành cũng như kẻ dữ, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Thế mà con người ngày càng kiêu ngạo, vô ơn đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Hỏi rằng trong chúng ta có mấy người biết cảm tạ Chúa và cảm ơn anh em? Biết bao nhiêu lần chúng ta than vãn, kêu la, trách móc hết việc này đến việc khác, hết người này đến người kia, Hơn thế nữa, nhiều người còn oán trách cả Thiên Chúa. Vậy, Lời Chúa hôm nay dạy mỗi người chúng ta hãy biết nói lời cảm ơn từ những chuyện nhỏ nhất, bởi vì chúng ta đã nhận được biết bao nhiêu hồng ân Chúa ban cho ta qua vũ trụ vạn vật, qua mọi người trên trái đất này và nhất là qua những người thân cận, những người xung quanh ta.
2024
ĐỊNH HƯỚNG CUỘC SỐNG
12.11 Thánh Josaphat, Gmtđ
St 2:1-8,11-14; Tv 37:3-4,18,23,27,29; Lc 17:7-10
ĐỊNH HƯỚNG CUỘC SỐNG
Thánh Josaphát sinh khoảng năm 1580, tại Ucraina, trong một gia đình theo Chính thống giáo. Cha mẹ làm nghề buôn bán. Vì bận công việc, hai ông bà ít có thời giờ chăm lo giáo dục và huấn luyện lòng đạo đức cho con. Nhưng bù lại, Josaphát đã được hưởng một sự giáo dục đầy đủ về cả trí lẫn tâm, nhờ tiếp xúc gặp gỡ thường xuyên với một linh mục, có lòng đạo đức, nhờ đó Josaphát đã sớm gắn bó với Giáo Hội Chính thống Ucraina, theo nghi lễ Xilavônia hiệp nhất với Rôma. Ngay từ thơ ấu, Josaphát đã hấp thụ nơi linh mục này tinh thần cầu nguyện và hăng hái làm việc tông đồ. Nhiều lần sau khi đi học về, cậu Josaphát thường mang ảnh Chuộc tội ra đứng ở nơi công cộng và rao giảng như một “ông cụ non” về sự thương khó của Chúa Giêsu. Ban đầu nhiều người cho cậu bé là kỳ dị, nhưng dần dà họ như bị thôi miên bởi vẻ mặt rạng rỡ và giọng nói đầy cảm động của Josaphát đến nỗi nhiều người đã bỏ cả công việc để đến nghe thuyết giảng. Đúng là một tông đồ miệng còn hơi sữa!
Năm lên mười bảy tuổi, Josaphát nghe như có tiếng gọi dấn thân phục vụ Chúa đắc lực hơn, nên đã mạnh dạn ngỏ ý xin cha mẹ cho vào tu ở một đan viện. Nhưng ông bà thân sinh vốn ham mê công việc buôn bán, lại muốn con lập gia đình để có người nối dõi tông đường, nên đã cương quyết từ chối ý định của con nhưng sau vì thấy Josaphát một mực từ chối đời sống hôn nhân, nên hai ông bà thân sinh bằng lòng cho con tự do đi theo tiếng Chúa gọi.
Josaphát xin vào đan viện thánh Basiliô ở Vilna, với ý hướng dâng hiến cuộc đời cùng với những hy sinh, phạt xác theo nếp sống đan tu đề cầu nguyện cho Giáo Hội. Những tưởng được an tâm để theo đuổi nguyện vọng, ai ngờ thầy lại gặp cảnh trớ trêu: Đan viện nơi thầy Josaphát ở đã mất sự hiệp nhất từ trong nội bộ. Bề trên của đan viện có khuynh hướng ngả theo phe ly khai, kéo theo một số thầy. Thế là nhà dòng đâm ra chia rẽ, kẻ theo Bề trên, người theo thầy Josaphát, khiến thầy mấy lần bị những người thuộc phe đối nghịch làm khó dễ . Phân vân trước hai ngã đường: Phải trung thành với Giáo Hội Chúa Kitô hay vâng phục Bề trên? Sau những ngày cầu nguyện và suy nghĩ, thầy Josaphát đã quyết định không đứng về phe ly khai. Thầy mạnh dạn lên tiếng: “Trong trường hợp Bề trên công khai làm trái luật Chúa và Giáo Hội, không ai được phép vâng theo!” Ít lâu sau câu chuyện lục đục này của nhà dòng tới tai Đức Giám mục giáo phận, ngài liền cách chức vị Bề trên ấy, sai đi một nơi hẻo lánh để hồi tâm và đặt thầy Josaphát lên làm Bề trên thay thế.
Sau hai năm trong cương vị Bề trên đan viện, thầy Josaphát được thụ phong linh mục. Ngày đêm cha hăng hái lao mình vào việc củng cố sự hiệp nhất trong nội bộ đan viện và trong Giáo Hội Ucraina đã hiệp nhất với Rôma, kêu gọi những anh em ly khai trở về với Giáo Hội mẹ. Ngài cũng hết tâm chăm lo cho những người nghèo khổ có nơi ăn chốn ở . Người thời bấy giờ quen gọi ngài là “Cha của những người khốn khổ”. Năm 1617, ngài được phong làm Tổng Giám mục
Vì nhiệt tâm tông đồ, năm 1623, Đức Giám mục Josaphát lên đường đi Vitebsk để viếng thăm, ủy lạo và cổ vũ tinh thần hiệp nhất của các tín hữu nơi đây. Những thành công hoạt động tông đồ của vị Giám mục vừa mạnh mẽ vừa nhân hậu này đã khiến những người đối nghịch gọi ngài là “tên bắt cóc các linh hồn”. Họ để lòng thù ghét và thừa dịp ngài đến viếng thăm Vitebsk, họ đã hạ sát ngài ở đây.
Đúng như ngài đã linh cảm trước khi lên đường và khi ấy ngài đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, con biết những kẻ thù nghịch của Chúa sẽ giết con; nhưng con sẵn sàng hiến dâng mạng sống con cho Chúa. Con chỉ xin Chúa một điều là cho họ được ơn trở về với Hội Thánh Chúa”.
Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh vào năm 1867 với tước hiệu” Ðấng bảo vệ sự thống nhất Giáo Hội”. Ngài là vị thánh Ðông phương đầu tiên được phong tước hiệu quí hóa này.
Nhân vật nổi tiếng trong Giáo Hội hiện nay được thế giới nhắc nhớ và thương mến nhất, hẳn phải là Mẹ Terêsa Calcutta, một người đã được nhiều giải thưởng nhất: giải Magsaysay do chính phủ Phi Luật Tân dạo thập niên 60; đầu năm 1971, Mẹ lại được Ðức Phaolô VI trao giải Gioan XXIII vì hòa bình; giải thưởng Kenedy do chính phủ Hoa Kỳ tặng, tất cả số tiền nhận được, Mẹ đã dùng để xây dựng trung tâm Kenedy tại một khu ổ chuột ở ngoại ô Calcutta; tháng 12/1972 chính phủ Ấn nhìn nhận sự đóng góp của Mẹ và trao tặng Mẹ giải Nêru; nhưng đáng kể hơn nữa là giải Nobel Hoà bình năm 1979, đây là giải thưởng đã làm cho tên tuổi Mẹ Têrêsa được cả thế giới biết đến, cũng như những lần khác, khi một viên chức chính phủ Ấn gọi điện thoại để chúc mừng, Mẹ đã trả lời: “Tất cả vì vinh quang Chúa”.
“Tất cả vì vinh quang Chúa”, đó là động lực đã thúc đẩy Mẹ Têrêsa dấn thân phục vụ người nghèo trên khắp thế giới. Với bao nhiêu danh vọng và tiền bạc do các giải thưởng mang lại, Mẹ vẫn tiếp tục là một nữ tu khiêm tốn, nghèo khó, làm việc âm thầm giữa những người nghèo khổ nhất. Thông thường, các giải thưởng cho một người nào đó như một sự nhìn nhận vào cuối một cuộc đời phục vụ làm việc hay một công trình nghiên cứu; nhưng đối với Mẹ Têrêsa, mỗi giải thưởng là một bàn đạp mới, một khởi đầu cho một công trình phục vụ to lớn hơn và làm cho nhiều người biết đến và ngợi khen Thiên Chúa nhiều hơn.
Qua cuộc đời của Mẹ Têrêsa, chắc chắn thế giới sẽ hiểu hơn thế nào là tinh thần phục vụ đích thực trong Giáo Hội. Một Giáo Hội càng phục vụ thì bộ mặt của Chúa Kitô phục vụ càng sáng tỏ hơn; trái lại, khuôn mặt Chúa Kitô sẽ lu mờ đi, nếu Giáo Hội chưa thể hiện được tinh thần phục vụ đích thực của Ngài.
Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay mời gọi chúng ta nhìn nhận những thiếu sót của chúng ta: có lẽ dung mạo của một Chúa Kitô phục vụ và phục vụ cho đến chết chưa được phản ảnh trên gương mặt của các Kitô hữu; tinh thần phục vụ đích thực của Kitô giáo vẫn chưa được sáng tỏ và thể hiện qua cách sống của các Kitô hữu. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Khi làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc bổn phận mà thôi”. Ðầy tớ là người làm tất cả những mọi sự vì chủ, đầy tớ là người hoàn toàn sống cho chủ. Dĩ nhiên, ở đây, Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ trong xã hội. Ngài đã xem quan hệ trong xã hội con người và Thiên Chúa như một quan hệ chủ tớ; Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao?
Như vậy, ở đây, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trước mắt người Do thái, để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ sống thực sự khi nó sống cho Thiên Chúa mà thôi. Cái nghịch lý lớn nhất mà Kitô giáo đề ra là càng tìm kiếm bản thân, càng sống cho riêng mình, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng sống cho Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, nghĩa là càng phục vụ vô vị lợi, con người càng lớn lên và càng tìm lại được bản thân; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là phục vụ một cách vô vị lợi. Công Ðồng Vaticanô II trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng” đã để lại một châm ngôn đáng được chúng ta suy niệm và đem ra thực hành: “Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi”.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại định hướng cơ bản trong cuộc sống chúng ta: đâu là mục đích và ý nghĩa cuộc sống chúng ta? đâu là giá trị đích thực mà chúng ta đang tìm kiếm và xây dựng trong cuộc sống hiện tại.
