2020
Ở lại trong tình yêu của Thầy
14.5 Thánh Matthia
Ga 15, 9-11
Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY
“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”, đó là lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ, và cũng là lời mời gọi cho bất kỳ ai muốn nên nghĩa thiết với Ngài, và muốn có được niềm vui trọn vẹn. “Hãy” đó là một sự mời mọc, sự khuyến khích đầy yêu mến và tế nhị, vì Chúa Giêsu luôn tôn trọng tự do của các tông đồ, cũng như tôn trọng tự do đáp trả của mỗi chúng ta.
Ngài mời gọi các tông đồ hãy “Ở lại trong”, đây quả là một điều hết sức đặc biệt được thánh sử Gioan diễn tả về mối thâm tình kết hiệp giữa thầy Giêsu và các môn đệ, giữa Thiên Chúa và con người. “Ở lại trong” chứ không phải “ở lại với” (diễn tả một sự liên hệ gần kề, mang tính thể lý), “ở lại trong” diễn tả một sự liên kết mật thiết hơn nhiều, đó là sự đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha, các môn đệ ở trong Chúa Giêsu, và như thế có nghĩa rằng tất cả nên một bản vị, một Hiện hữu duy nhất không thể tách lẻ hay chia rời.
Niềm vui của Chúa Giêsu là được ở lại trong tình thương của Chúa Cha. Ở lại là tuân giữ điều răn mà Chúa Cha truyền dạy. Trong sứ mạng rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã tìm cách làm đẹp lòng Chúa Cha bằng chính lời nói và hành động của mình, “tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi”. (Ga 5, 30). Ngài còn khẳng định: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4, 34). Khi phải thực hiện chọn lựa, Ngài luôn đặt thánh ý Chúa Cha trên hết để hướng dẫn cuộc đời mình: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39).
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn có được niềm vui. Chúa Giêsu đã nhận niềm vui từ Chúa Cha và Ngài không giữ riêng cho mình. Ngài mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta ở lại trong tình thương của Ngài (Ga 15, 9) để có niềm vui ấy. Là người môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta chỉ có niềm vui thực sự khi ở lại trong tình thương của Ngài. Chúng ta có thể ở lại trong tình thương này khi biết tuân giữ điều răn của Chúa. Điều răn này được tóm gọn trong luật mến Chúa yêu người.
Khi để tâm hồn chìm trong suy tưởng về tình yêu theo mối tương liên này, ta cảm nhận có một sức mạnh tình yêu lan tỏa từ đời đời. Chúa Cha là nguồn mạch tình yêu. Chúa Giêsu là người trực tiếp đắm mình trong nguồn suối đó. Và Ngài biết, nếu chỉ giữ lại cho riêng mình là chưa đạt tới cùng đích của thánh ý, nhưng phải được sẻ chia để nhiều tâm hồn khác cũng được hưởng nguồn ân huệ ấy.
Vì thế, trong cuộc sống hằng ngày, ta cần tìm cách làm theo thánh ý Chúa và đẹp lòng Ngài, nhất là khi phải quyết định một chọn lựa nào đó. Sống theo thánh ý Chúa được thể hiện qua lời nói và hành động của chúng ta trong đời sống. Đó có thể là một lời hỏi thăm, an ủi những ai buồn phiền hay là giúp đỡ những người lâm vào hoàn cảnh túng thiếu. Trong xã hội thực dụng hôm nay, dù biết rằng ta sẽ gặp khó khăn khi tuân giữ điều răn của Chúa, thậm chí là lội ngược dòng nữa nhưng ở lại trong Chúa đó là cách thức để ta có niềm vui của Chúa và niềm vui ấy được nên trọn vẹn.
Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ : “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 9). Lưu lại trong tình yêu con người sẽ được tình yêu tắm gội và biến đổi. Nhưng muốn ở lại trong tình yêu, con người phải tuân giữ lệnh truyền yêu thương của Ngài, một tình yêu hướng về người khác và trao ban điều tốt lành cho người khác. Vì yêu thương Thiên Chúa đã thông ban sự tốt lành cho các thụ tạo của Ngài, Ngài đã cho con người được chung hưởng tình yêu của Người.
Chúa Giêsu đã ở lại trong tình thương của Chúa Cha. Ngài lệ thuộc vào Cha trong mọi sự. Đến lượt chúng ta cũng hãy gắn kết mọi sự đời mình trong Thầy Giêsu. Chỉ khiở lại trong Người và được Ngài ở với, chúng ta mới đạt được hạnh phúc tròn đầy. Ở lại để biết Chúa xót thương tôi ra sao! Sự ở lại này phải đưa tôi tới hành độngbiết xót thương người khác nữa. Những việc làm cụ thể sẽ nói lên thiện chí ta đã‘giữ các điều răn’của Ngài ra sao. Việc làm không có nghĩa là chỉ thi hành bằng những hình thức bên ngoài và nghĩ rằng thế là xong nhiệm vụ. Hình thức bên ngoài cũng cần nhưng đó chỉ là những yếu tổ bổ sung, điều cần thiết nhất vẫn là tấm lòng. Hành động thiếu tình yêu thì việc làm chỉ là giả tạo và người làm việc ấy chỉ là giả hình đáng nhận lời kết án: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm” (Is 29,13).
Chính khi các tông đồ thực hiện những điều Chúa dạy, thì các ông mới được ở trong niềm vui của Đức Kitô, và như vậy niềm vui của các ông mới được nên trọn vẹn. Quả thế, niềm vui của Chúa Giêsu là yêu mến và vâng phục Chúa Cha; niềm vui của Chúa Giêsu cũng chính là niềm vui của người môn đệ, mà chính Ngài đã chia sẻ cho họ. Do vậy, niềm vui của người môn đệ chính là yêu mến và vâng phục Chúa Giêsu, và qua đó họ vâng phục Chúa Cha.
Quy tụ tất cả mọi người ở lại trong Chúa. Đó là ước mơ cháy bỏng Chúa Cha chia sẻ với Con của Người. Thiên Chúa cũng mong mỗi người hiệp thông cùng Ngài tâm tư ấy. Một khi đón nhận được tình yêu chúng ta sẵn sàng ra đi, chịu hao mòn trên dòng đời, chịu biến tan vì yêu thương và tha thứ. Cuối cùng sức mạnh Thiên giới sẽ hút ta trở về để được ở lại mãi mãi trong cung lòng rất thánh, nơi phát sinh sứ mạng yêu thương.
Trong xã hội ngày nay, lời mời gọi “Hãy ở lại trong tình thương của Chúa” luôn là một động lực mạnh mẽ, thúc bách người Ki-tô hữu đến gần Chúa hơn. Năm Lòng Chúa Thương xót như là một phương thế cụ thể mà Đức Giêsu qua Giáo Hội giang rộng vòng tay đón nhận và ôm ấp bất kỳ ai đến với Ngài.
2020
Cắt tỉa để sinh hoa trái
13.5.2020
Thứ tư tuần V PS
Ga 15, 1-8
CẮT TỈA ĐỂ SINH HOA TRÁI
Hình ảnh cây nho và các cành nho cho thấy sự ở lại thâm sâu và sự hiệp thông thường trực giữa Chúa Giêsu và các môn đệ chân thật của Người, đồng thời nêu bật dây liên kết bên trong bằng việc mang hoa trái. Giống như cành nho, vì liên kết với cây nho, được thông dự vào sự sống của cây nho, người tín hữu, nhờ gắn bó với Đức Kitô, được thông dự vào sự sống chân thật, là sự sống của chính Thiên Chúa.
Tuy vậy, sự thông dự này bó buộc họ phải sống và hành động theo nếp sống mới đã được Chúa Giêsu mạc khải cho biết. Niềm tin vào Chúa luôn được thử thách, gọt dũa và cắt tỉa như hình ảnh của cây nho.
Hệ quả của sự cắt tỉa trong việc trồng nho: Có một dạo phong trào trồng nho đã nở rộ tại một số tỉnh dọc theo duyên hải miền Trung. Cây nho không còn là một thứ cây xa lạ đối với nhiều người Việt Nam nữa. Cây có trái là chuyện thường, nhưng cây phải bị cắt tỉa mới có thể đâm chồi, trổ hoa và sinh trái, đó là hình ảnh đặc trưng của cây nho. Thật thế, với đôi mắt không chuyên môn, khi nhìn vào thân nho bị cắt tỉa, có lẽ ai cũng phải xót xa, có lẽ người ta sẽ nhìn vào người trồng nho như một con người nhẫn tâm, vì người trồng nho xem ra cắt tỉa cây nho không chút tiếc xót. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, người ta sẽ ngạc nhiên khi nhìn thấy từ những cành trơ trụi những mầm non nhú ra và hoa cũng bắt đầu xuất hiện.
Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh để nói về những thực tại Nước Trời. Nhưng trong các hình ảnh ấy, cây nho hẳn phải chiếm một chỗ ưu việt : ưu việt vì cây nho là giống cây phổ thông nhất của miền Palestina, ưu việt vì trong Cựu ước cây nho vốn được xem là biểu trưng của dân riêng. Nhưng như các tiên tri đã nhiều lần lên tiếng tố cáo : thay vì sản xuất rượu ngon, cây nho Israel chỉ mang lại thứ rượu đắng của bất trung và phản bội. Tiếp tục truyền thống tiên tri, Chúa Giêsu cũng lấy lại hình ảnh cây nho, nhưng cây nho chính là Ngài.
Lòng tín trung mà Thiên Chúa hằng chờ đợi nơi Israel nay Ngài đã tìm thấy nơi cây nho đích thực là Chúa Giêsu. Một giao ước mới phát sinh, bởi vì lòng trung tín của Chúa Giêsu được diễn tả trong sự vâng phục và vâng phục cho đến chết trên Thập giá, không phải là cố gắng thuần tuý của con người, mà chính là lòng thủy chung của con Thiên Chúa trong chừng mực của con người. Cây nho của giao ước mang lại những trái xum xuê có tên là tình yêu. Đó là kết quả của sự cắt tỉa : cây nho không thể sinh hoa kết trái nếu không bị cắt tỉa, tình yêu sẽ không là tình yêu đích thực và phong phú nếu không được cắt tỉa khỏi những ngọn nhành thừa thải của ích kỷ.
Giáo hội Israel mới chính là cây nho của Chúa. Lịch sử cho thấy có lúc xem ra Giáo hội bị cắt tỉa một cách tàn nhẫn, nhưng cũng chính những lúc đó Giáo hội mang lại nhiều hoa trái hơn cả. Những cuộc bách hại đẫm máu lại là những cắt tỉa làm cho Giáo hội sinh được nhiều hoa trái nhất. Đó là cái nhìn chúng ta phải có để nhìn vào Giáo hội: sức sống của Giáo hội có khi không chỉ được nhìn thấy và đánh giá qua những biểu dương bên ngoài, hoa trái đích thực khi chấp nhận được cắt tỉa khỏi những phù phiếm rườm rà của thế tục. Cơ cấu hữu hình có thể bị phá vỡ, cơ sở vật chất có thể bị cướp mất, những quyền cơ bản nhất gắn liền với tự do tôn giáo có thể bị tước đoạt, đôi tay hoạt động có thể bị khóa chặt; đó có thể là những cắt tỉa cần thiết để cây nho Giáo hội trổ sinh hoa trái dồi dào.
Ta còn nhớ rằng lời của Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta chiêm ngắm người trồng nho, là chính Chúa Cha. Thật vậy, Người nói : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho” (c. 1) ; và Người nói tiếp : « Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: “Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” » (c. 8). Điều Chúa Cha ước ao, và qua đó Ngài được tôn vinh, là chúng ta sinh nhiều hoa trái. Chúng ta có thể tự hỏi, đâu là hoa trái mà Chúa Cha ước ao chúng ta làm phát sinh ? và chúng ta phải làm sao để làm phát sinh nhiều hoa trái ? Và Chúa Cha không chỉ ước ao chúng ta sinh hoa trái, nhưng còn “chăm sóc” chúng ta, vì Ngài là người trồng nho.
Khi chúng ta chịu phép Rửa tội, Giáo Hội đã tháp nhập chúng ta như những nhành cây nho vào Mầu nhiệm Phục sinh và Khổ Nạn của Chúa Giêsu là thân cây nho. Từ gốc nho này chúng ta lãnh nhận nhựa sống và sống sự sống của Chúa Giêsu, tự bản chất là sinh hoa kết quả khi kết hiệp với Chúa Giêsu, hầu được tham dự vào cuộc sống vĩnh hằng. Như các môn đệ, chúng ta cũng vậy, nhờ sự trợ giúp của các Mục tử trong Giáo hội, chúng ta lớn lên trong vườn nho của Chúa, được bao bọc trong tình yêu của Ngài. Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết :”Nếu hoa trái của chúng ta là tình yêu, thì điều tạo ra hoa trái này chính là việc “ở lại” cách thâm sâu và trung tín với Chúa”. Điều quan trọng là luôn gắn kết với Chúa Giêsu, phụ thuộc vào Người bởi vì “nhành nho tự nó không thể sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho” (Ga 15,4). Chúa Giêsu nói rõ ràng, “các con cũng vậy, nếu không ở trong Thầy” (Ga 15,5).
Hoa quả mà Chúa Cha hy vọng nơi chúng ta, là những việc lành phúc đức, là những công việc tốt chúng ta làm. Mang lại hoa trái không có nghĩa là làm những điều phi thường, nhưng là những điều bình thường. Hoa quả ấy là những việc lành phúc đức, là những việc tốt chúng ta làm. Nhưng thử hỏi : kết hiệp với Đức Kitô như thế nào để giúp chúng ta sinh nhiều hoa trái ? Thưa, đức tin và đức ái, nghĩa là ở trong ân sủng của Thiên Chúa. Nếu chúng ta sống trong ân sủng, các hành vi đạo đức của chúng ta sẽ là hoa trái dễ chịu của Chúa Cha. Thật quí trọng biết bao khi luôn được sống trong ân sủng của Thiên Chúa! “Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như ngành nho, và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại, quăng vào lửa cho nó cháy đi” (Ga 15, 6).
Để sinh nhiều hoa trái, chúng ta được mời gọi ở lại trong Chúa Giêsu, như cành nho gắn liền với thân nho. Chúa Giêsu ở lại trong chúng ta, và chúng ta được mời gọi ở lại trong Ngài. Và như chúng ta đều biết, “ở lại trong nhau” là ngôn ngữ của tình yêu. Thực vậy, Chúa Giêsu sẽ nói tới tình yêu trong phần tiếp theo: “Chúa Cha yêu mến thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy”. Lời mời gọi ở lại, được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối, qua hình ảnh thân nho, cành nho và trái nho, và theo những cách thức khác nhau.
Và để sinh nhiều hoa trái, chúng ta phải trở nên môn đệ của Chúa Giêsu; để trở nên môn đệ, chúng ta phải ở lại trong Ngài; và để ở lại trong Ngài, chúng ta phải đón nhận Lời của Ngài như là nhựa sống, như là lương thực nuôi sống chúng ta. Trong những lời này, Đức Giê-su còn mời gọi chúng ta xin. Nhưng chúng ta xin gì, nếu không phải là xin trở thành người môn đệ sinh nhiều hoa trái cho Vinh Danh Thiên Chúa Cha.
2020
Ơn bình an
12.5.2020
Thứ Ba tuần V PS
Ga 14, 27-31
ƠN BÌNH AN
Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (c. 27). Sự bình an mà Chúa Giêsu ban không có nghĩa là không có những trắc trở gian nan như mặt hồ lặng sóng nhưng là sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn khi phải đối mặt với phong ba bão táp. Người luôn tin tưởng phó thác vào Chúa Cha nên đã có được bình an trong tâm hồn mặc dù những thử thách đang bủa vây.
Khi Chúa Giêsu biết mình sắp bị giới lãnh đạo Do Thái bắt nộp, bị môn đệ Giuđa phản bội và giờ Chúa Cha tôn vinh đã cận kề, Người đã trăn trối lại cho các môn đệ những lời tâm huyết sau cùng. Các môn đệ cảm thấy hoang mang sợ hãi, tâm hồn đầy xao xuyến, Thầy đi rồi còn tương lai của các ông sẽ về đâu? Một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Hiểu được tâm trạng đó, Chúa Giêsu hứa ban bình an và niềm vui của Người cho các ông.
Các môn đệ lo lắng sợ hãi vì không biết phải đi con đường nào giữa trăm ngàn ngã rẽ, không biết tin cậy vào đâu trước những thế lực xấu đang bủa vây. Chúa Giêsu đã động viên các ông và khẳng định “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Ai đi theo con đường của Chúa chắn chắn sẽ tới đích. Ai tin vào Chúa sẽ không phải thất vọng bao giờ. Ngược lại ai cậy dựa vào sức riêng mình và sự bảo đảm của cải vật chất trần gian sẽ phải gánh chịu nỗi bất an ê chề.
Người ta có thể có được sự bình an khi cuộc sống không có chiến tranh hận thù ghen ghét. Sự bình an của thế gian ban có thể được bảo đảm bằng của cải vật chất, bằng những tiện nghi khoa học tối tân đáp ứng mọi nhu cầu của con người. Sự bảo đảm này có giá trị nhất định, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta tiến xa hơn trong niềm tin Kitô giáo, đó là sự bình an đích thực nơi Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu đã đón nhận mọi đau khổ, đã uống trọn chén đắng Cha trao để nên một trong thánh ý Cha, Người đã đánh đổi cả mạng sống để cho nhân loại được bình an.
Bình an mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ là bình an đích thực, nghĩa là đặt niềm tin vào Chúa quan phòng, không lo sợ bất cứ điều gì từ bên ngoài tác động vì luôn có Chúa trong mình. Cũng như Chúa Giêsu luôn bình an, dù đứng trước mọi khó khăn chống đối, trước cuồng phong bão táp hay trước sự bách hại của vua chúa quan quyền; thì đây Chúa Giêsu cũng ban cho những ai bước theo Người được sự bình an đích thực trong tâm hồn, khi luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa.
Trong Thánh Kinh, từ thời Cựu Ước, người ta dùng từ “bình an” để chào hỏi nhau lúc gặp gỡ. Còn ngôn sứ Isaia thì tiên báo Đấng Messia sẽ là “Hoàng Tử Bình An”. Khi Chúa Giêsu sinh hạ nơi hang đá Bêlem, các thiên thần cũng đã ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình An dưới thế cho người Chúa thương”. Như thế, Chúa Giêsu chính là sự Bình An đích thực của Thiên Chúa, và sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống từ trời chính là ban bình an cho nhân loại.
Sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống trần gian qua lời thiên sứ hát mừng là “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”, thì nay khi sắp lìa bỏ những người Chúa thương mà trở về với Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng để lại ơn bình an ấy. Ơn bình an mà từ đây, những người theo Chúa thì không còn sợ hãi tội lỗi, ma quỷ và sự chết nữa. Thật vậy, khi có Chúa, Kitô hữu không chỉ được hưởng bình an ngay tự bây giờ, mà còn hi vọng được về “quê Bình An” vĩnh cửu trên trời.
Bình an là điều tốt lành ai ai cũng trông mong. Người sống trong chiến tranh mong hòa bình mau trở lại. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, lòng người vẫn khắc khoải trước bao thách đố xảy ra hằng ngày. Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ, cũng như cho cả chúng ta, sự bình an quý giá vô vàn so với thứ bình an không có chiến tranh.
Bình an của Chúa Giêsu mang đến không phải là thứ bình an mà thế gian ban tặng. Bình an của thế gian thường chỉ là đồng nghĩa với an phận, với trốn tránh, với thoả hiệp. Bình an của Chúa mang đến chỉ có thể có được bằng một giá đắt đỏ: Nó đòi hỏi sự chiến đấu, chấp nhận mất mát, có khi cả hy sinh mạng sống mình nữa. Bình an ấy chỉ có khi con người có thể thốt lên như Thánh Phaolô “Lương tâm tôi không trách tôi điều gì.” Còn gì quý hơn một cuộc sống mà tâm hồn luôn an bình thư thái. Bởi thế chúng ta có thể đề ra cho mình cả một chương trình sống mà mục tiêu là tạo dựng và gìn giữ bình an trong tâm hồn.
Bình an Chúa Giêsu trao ban là ân huệ phục sinh của Người. Hay nói cách khác: “Chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2, 14). Ai có được Người thì chẳng còn thiết gì hơn nữa. Chỉ cần một lần được ẵm Chúa trên tay, cụ Simêon đã cảm thấy toại nguyện, nên bộc phát cầu nguyện: “Xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được nhìn thấy ơn cứu độ” (Lc 2, 29).
Ngày hôm nay, có biết bao người đang sống trong bất an vì chiến tranh, bạo lực, ghen ghét, đố kỵ… Trong số đó, có người tìm kiếm hoặc cậy dựa vào thứ bình an giả tạo chóng qua, được xây dựng trên nền tảng của sự hưởng thụ vật chất và hào quang của địa vị, danh vọng trần thế. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta biết tìm đến với Chúa để đón nhận được nguồn bình an đích thực ngang qua việc biết tìm nương ẩn bên Chúa, sống trong sự hiện diện của Chúa và tín thác nơi sự quan phòng yêu thư ơng của Người.
Lạy Chúa, có nhiều lần con tự trấn an mình bằng những gì mình có, con chiếm hữu và lo giữ lấy. Trước bạn bè, con giả vờ như rất an tâm giữa những tiếng ồn ào, huyên náo; nhưng thật sâu bên trong lại chẳng an tâm. Xin ban cho con bình an của Chúa, thứ bình an mà không đau khổ nào có thể chạm tới, bình an của một tâm hồn luôn sống trong sự thật.
2020
Yêu và giữ Lời
11.5.2020
Thứ hai tuần V PS
Ga 14, 21-26
YÊU VÀ GIỮ LỜI
Lời Chúa Giêsu trong trang Tin Mừng hôm nay là một soi sáng cho chúng ta về căn bản của tình yêu mà mỗi người chúng ta cần phải có đối với Thiên Chúa: “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc về tình cảm. Nếu có được những rung cảm ấy thật quí, chúng là các dấu chỉ cho phép tin tưởng rằng: chúng ta đang yêu mến Ngài.
Yêu và giữ lời người mình yêu, đó là một kinh nghiệm mà ai đó đang yêu hay đã trải qua tình yêu đều thấu hiểu. Khi yêu, ta muốn cho người mình yêu được hạnh phúc.
Một khi yêu thương một người cách đích thực, ta rất dễ dàng tự ý từ bỏ quan điểm riêng, sở thích riêng của mình để sống hòa hợp với ý muốn và ước vọng của người mình yêu. Nghĩa là, ta không còn chỉ sống cho riêng mình, nhưng sống cho và sống vì người mình yêu mến. “Yêu mến và giữ lời” đây cũng là điều mà Chúa Giêsu đòi buộc nơi mỗi người. Nếu ai đó hỏi tôi, hay hỏi bạn rằng “bạn có yêu mến Chúa Giêsu không?” Thì chắc hẳn câu trả lời sẽ là “có, tôi yêu mến Người”. Tiếp đến, bạn có thể sẽ được hỏi “dấu chỉ nào chứng thực bạn yêu mến Chúa Giêsu”. Với câu hỏi này, chúng ta sẽ có rất nhiều những câu trả lời khác nhau. Tuy nhiên, câu trả lời đúng và đẹp lòng Chúa nhất có thể là “Tôi giữ lời Người truyền dạy cho tôi”.
Bằng chứng lòng mến Chúa là tuân giữ Lời Chúa. Tình yêu có tính cách hỗ tương, nên người yêu mến Chúa sẽ được Chúa yêu mến và tỏ mình ra cho. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14, 21). Điều này cho thấy Thiên Chúa mà chúng ta yêu mến, không phải là một Thiên Chúa xa vời, nhưng Người ở rất gần, thậm chí là ở trong và ở với chúng ta “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23).
Chúa tỏ mình ra cho những ai đón nhận Lời Chúa, những ai tự do chấp nhận Chúa. Người không đến cứu giúp cách lạ thường, không làm những điều kỳ diệu, ngoạn mục để áp lực con người tin theo Chúa. Chúa chỉ đến cư ngụ nơi nhà những ai vì tình yêu mở cửa đón Chúa trong thân tình. Những ai càng cặn kẽ giữ Lời Chúa, thì chứng tỏ lòng yêu mến Chúa đích thực, vì vậy, càng xứng đáng được Thiên Chúa ngự vào lòng kẻ ấy. Điều này làm chúng ta xác tín về diễm phúc được Thiên Chúa ngự trong ta, vì “Thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần” (1Cr 6,19).
Như vậy, khi chúng ta để cho Lời Chúa làm chủ và để Thánh Thể Chúa nuôi dưỡng đời mình thì thân xác ta nên đền thờ, là nơi Chúa ngự và ở lại. Chỉ có đức tin được thúc đẩy bởi lòng mến mới có thể cảm nghiệm được diễm phúc có Chúa ở cùng, nhất là khi lãnh nhận Thánh Thể.
Chúa Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản “Ai nghe và giữ giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính…Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người mình yêu, chứ không dừng lại ở những rung động ở thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình.
“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại nơi người ấy”. Mỗi lần, bạn ấy xin cha mẹ đi chơi, chúng tôi đều cười nhạo: “Lớn rồi mà còn xin với xỏ. Mình trưởng thành rồi, muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm tuỳ ý”. Bạn ấy đã giải thích một cách đơn sơ nhưng hợp lý hợp tình: “Hẳn ba má không cần tôi xin, nhưng chắc chắn ba má tôi rất vui khi tôi xin phép như vậy. Tôi làm thế để được làm con và làm con thảo của ba mẹ tôi”.
Cũng là điều dễ hiểu khi yêu mến ai thì cũng sẵn lòng nghe lời người ấy. Thế nhưng, yêu mến Chúa Giêsu và làm theo lời Ngài để rồi được Thiên Chúa đến ngự trong tâm hồn thì quả là một phần thưởng quá lớn lao không ai dám mơ tưởng, thậm chí không thể biến thành hiện thực được. Dù thế, chính Chúa Giêsu đã thực hiện điều Ngài đã nói khi Ngài là Người Con Chí Ái sẵn lòng vâng phục Chúa Cha cho đến chết. Và khi sống lại từ cõi chết, Ngài còn khiến điều đó trở thành khả thi cho chúng ta: làm theo lời Chúa Kitô là vác thánh giá, chịu đóng đinh với Ngài, mà ai cùng chịu chết với Ngài thì sẽ cùng Ngài sống lại.
Tuy nhiên, nếu chưa có cũng chẳng nên bận tâm, vì chúng chỉ là những phản ứng trong cơ thể chứ không phải là điều kiện của tình yêu. Một tình yêu đúng nghĩa đòi buộc phải tìm đủ mọi cách để làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người yêu. Dừng lại tất cả nơi rung cảm phần nào nói lên tâm trạng vị kỷ nơi con người muốn cho đi nhưng đồng thời lại bù đắp, cái tôi vẫn là tâm điểm của tình yêu.
Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu trở nên khuôn mẫu của tình yêu. Cuộc đời của Ngài là một thể hiện trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Ðối diện với Thập Giá và cái chết, Chúa Giêsu run sợ chẳng muốn nhận lấy, nhưng xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha. Sau cùng, Ngài đã uống cạn chén đắng để chu toàn trọn vẹn thánh ý Cha.
Chúa Giêsu đã tặng cho chúng ta bí quyết để đạt được cuộc sống hạnh phúc đời đời với Ngài: yêu mến Chúa và làm theo lời Ngài. Thích hay không thích thì thập giá cũng đã cắm đầy dẫy trong cuộc đời của chúng ta. Vấn đề là chúng ta có biết đón nhận những thập giá đó một cách mau mắn và với trọn niềm yêu mến hay không.
Hôm nay, Chúa Giêsu cũng muốn môn đệ của Ngài đi lại con đường Ngài đã đi qua: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”. Giữ lời Chúa Giêsu cũng là yêu mến Thiên Chúa Cha. Vì lời Ngài là của Cha, Ðấng đã sai Ngài đến trần gian. Lời dạy của Chúa Giêsu là gì, nếu không phải là gì khác là biết quên mình vì Chúa và vì anh em, quên đi bản thân bằng cách dành cho Thiên Chúa và tha nhân một chỗ đứng ưu tiên trong tư tưởng và hành động.
