2020
Làm theo ý Chúa
LÀM THEO Ý CHÚA
Đứng trước “giờ” Chúa Cha “ấn định” để làm vinh danh Cha, Chúa Giêsu không ngồi đếm ngược thời gian mà chìm sâu trong cầu nguyện để nhận ra giờ của Chúa Cha. Đó là giờ “mọi sự đã hoàn tất”, là giờ mà Chúa Giêsu hoàn toàn vâng phục để Ý Chúa Cha được thực hiện. Đó là “giờ cao điểm” Chúa Con chứng minh Ngài là Con yêu dấu của Chúa Cha, không bao giờ làm điều gì gây cản trở hay sai lệch ý Chúa Cha. Đó cũng là “giờ” mọi người biết Chúa Cha yêu thương họ đến mức nào qua cái chết của người Con Chí Ái của Ngài.
Chúa Giêsu nói những lời này khi Ngài bắt đầu bước vào cuộc thương khó. Chúa Giêsu coi đó là “Giờ của Ngài, giờ Ngài được tôn vinh”. Thật thế, khi Ngài trút hơi thở trên thập giá, trước cảnh đất trời rung chuyển, viên sĩ quan ngoại giáo đã thốt lên: “Quả thật, Người này là Con Thiên Chúa”. Từ người không tin nhận Thiên Chúa, ông đã trở nên người nhận biết Thiên Chúa qua cái chết của Đức Giêsu.
Chương 17 của Tin Mừng theo thánh Gioan, mà Giáo Hội cho chúng ta nghe hôm nay và những ngày sớm tới, là quà tặng tuyệt vời mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, để dẫn chúng ta vào mầu nhiệm cầu nguyện của Chúa Giêsu, là phần không thể thiếu của « Sự Thật toàn vẹn ».
Chúa Giêsu đã thưa với Chúa Cha: “Phần Con, Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, đã hoàn tất công trình Cha trao phó”. Chúng ta cũng vậy, hãy hoàn tất công trình của Thiên Chúa bằng cách làm theo ý Người ở giữa trần gian.
Chúa Giêsu ngước mắt lên lên trời và cầu nguyện với Chúa Cha. Cả chương này là kinh cầu nguyện của Chúa Giêsu, thường lệ được gọi là kinh cầu nguyện cho chức vụ tư tế. Vì trong những lời cầu nguyện ấy, Chúa Giêsu đặc biệt cầu nguyện cho các tư tế của Người là các Tông đồ lúc đó và các Tông đồ bây giờ là hàng giáo sĩ. Người cũng cầu nguyện cho hàng giáo dân chúng ta, vì khi rửa tội chúng ta cũng được tham dự vào chức tư tế phổ quát của Chúa Giêsu.
Thay cho lời cầu nguyện thầm lặng, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và lớn tiếng cầu nguyện cốt để dạy cho các Tông đồ và cho chúng ta biết cầu nguyện.
Trong bữa Tiệc ly, nghĩa là trong bài nói chuyện với các Tông đồ và trong kinh nguyện cho chức vụ tư tế này, Chúa Giêsu đã nói đến Chúa Cha rất nhiều lần, đếm được cả thảy 45 lần, để như là kéo chúng ta đến với Chúa Cha, qui tất cả về Cha. Ngài cho biết rằng Ngài được Chúa Cha sai đến để làm công việc của Cha.
Ðây cũng là dịp nhắc nhở chúng ta đến với Chúa Cha không phải như Ðấng có quyền phép mà chúng ta đứng từ xa nhìn và run sợ, song như là một người Cha hiền lành và nhân từ. Và trong bữa Tiệc Ly, Chúa Cha như một Cha già ngồi giữa đoàn con chung quanh bàn tiệc, Người Cha yêu thương con cái, muốn ở giữa con cái mình và muốn ban cho họ hạnh phúc trọn vẹn, nghĩa là muốn cho họ được sống đời đời.
Khi còn nhỏ chúng ta hay chơi trò thảy bổng lên những chiếc lá vàng khô để nó bay theo chiều gió, để biết gió thổi về hướng nào, nên bây giờ chúng ta cũng quăng lên trên không những việc làm của chúng ta giống như những chiếc lá vàng kia, thì thấy nó sẽ bay theo ý Chúa hay nó lại bay khắp phương theo ước muốn và những dục vọng của chúng ta. Ðó là điều chúng ta cần trung thành xét lại trước mặt Chúa.
Và rồi ta hãy khao khát được hiểu biết sâu xa lời nguyện của Chúa Giêsu, bởi vì, nếu hành động và lời nói công khai của Ngài mặc khải cho chúng ta về ngôi vị của Ngài, về tương quan của Ngài với Thiên Chúa và với con người, thì chắc chắn, lời nguyện của Ngài còn nói cho chúng ta nhiều hơn nữa. Cũng giống như lời nguyện riêng tư của mỗi người chúng ta diễn tả con người thật của chúng ta ở chiều sâu, với Chúa và với nhau.
Ta được mời gọi ra khỏi mình, ra khòi những bận tâm, những khó khăn, những yếu đuối và giới hạn của chúng ta để đi vào chốn riêng tư của lời nguyện Chúa Giêsu ngỏ với Thiên Chúa Cha. Bởi vì, chúng ta sẽ không chỉ hiểu biết Ngài sâu xa hơn, nhưng còn học được cách thức Ngài cầu nguyện với Thiên Chúa, và ngang qua cầu nguyện, học được cách Ngài sống với Thiên Chúa Cha.
“Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống và sự sống của con người là nhận biết vinh quang Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã đón nhận sự chết, đã phục sinh để đem lại sự sống đời đời cho con người. Khi con người tin nhận Chúa Giêsu là con Thiên Chúa chính là lúc con người được sống sung mãn trong chân lý “Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha -Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Ga 17, 3).
Vì tin và chịu phép rửa, chúng ta được gọi là Kitô hữu; nghĩa là được trở nên con Chúa Cha trong Người Con đích thực của Ngài là Chúa Giêsu. Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng có thể làm vinh danh Thiên Chúa Cha bằng cách ‘sống đời hiến tế’ qua việc ‘làm theo ý Chúa Cha’ bằng đời sống hy sinh, chấp nhận khổ giá trong đời.
Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống, chúng ta hãy luôn xác tín niềm tin vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, sống những giá trị Tin mừng, sống trong chân lý và ân sủng của Chúa. Khi sống như vậy, chúng ta đang góp phần làm vinh danh Chúa giữa một thế giới với những giá trị trái ngược với Tin mừng.
Muốn thực thi ý Người, chúng ta hãy lắng nghe và vâng lời Người dạy bảo, chúng ta hãy tìm hiểu ý Người trong mọi công việc quan trọng, khi quyết định một việc gì hay khi phải lựa chọn một điều chi, chúng ta phải tự hỏi: “Nếu là Chúa Giêsu thì Ngài đã làm thế nào? Tôi làm điều này vừa ý Người hay không?” Mỗi ngày ta đọc kinh Lạy Cha và lặp lại nhiều lần “chúng con nguyện danh Cha cả sáng ở dưới đất cũng như trên trời”, nhưng sự thật chúng ta làm theo ý mình hơn ý Chúa, làm theo ước muốn và tính toán nhỏ mọn của mình hơn là làm theo ý muốn của Chúa, như vậy không phải là làm sáng danh Chúa mà làm theo cái tôi ích kỷ của mình.
Lắng nghe lời nguyện của Chúa Giêsu, chúng ta khám ra rằng, tình yêu đến cùng của Chúa Giêsu dành cho chúng ta bắt nguồn từ tình yêu đến cùng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta xác tín về tình yêu Thiên Chúa dành cho cho chúng ta, như thánh Phaolo nói: “Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 39).
Ta biết rằng làm theo ý Chúa là làm cho mọi người nhận biết Cha, nhận biết Chúa Giêsu là Ðấng Cha đã sai đến, có nghĩa là làm việc Tông đồ và rao giảng cho mọi người chưa nhận biết hay còn thờ ơ với Chúa, vì thế mà chúng ta phải rao giảng Lời Chúa bằng lời nói cũng như bằng chính cuộc sống của chúng ta.
2020
Can đảm lên !
CAN ĐẢM LÊN !
Trong thân phận làm người, Chúa Giêsu cũng phải đối diện với nỗi cô đơn. Ngài không lập gia đình, không có một người bạn đời để chia sẻ. Bù lại, Ngài có những người thân yêu ở làng Nazareth. Nhưng ngay cả cha mẹ Ngài cũng không hiểu hết được Ngài (Lc 2, 50). Khi đi rao giảng Tin Mừng, Ngài có những người bạn mới là các môn đệ.
Tiếc thay, họ không phải là những người luôn luôn hiểu Ngài. Ngài muốn chia sẻ cho họ tất cả cái riêng tư giữa Ngài với Cha. Nhưng họ chưa đủ sức kham nổi. Chúa Giêsu không phải là người thích cô đơn, khép kín. Ngài dễ đến với dân chúng, với mọi hạng người. Ngài gặp gỡ họ, loan Tin Vui, và cho họ được tâm thân an lạc. Các bệnh nhân, tội nhân, trẻ em, phụ nữ, cũng không ngại đến với Ngài để trò chuyện hay chia sẻ một bữa ăn.
Dù vậy tìm được một sự đồng cảm trọn vẹn nơi con người vẫn là điều khó đối với Chúa Giêsu, bởi lẽ Ngài còn thuộc về một thế giới khác trên cao. Ngài mãi mãi là một màu nhiệm đối với trí khôn hạn hẹp của con người. Chỉ khi trở về với nguồn cội đời mình, Chúa Giêsu mới ra khỏi được nỗi cô đơn trống trải ấy. “Tôi không (xét đoán) một mình, nhưng có tôi và Đấng đã sai tôi” (Ga 8, 16). Chính vì Chúa Giêsu luôn nói và làm mọi sự theo ý Cha, nên Ngài chẳng bao giờ cô đơn . “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi một mình, vì tôi luôn làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8, 29).
Vào giây phút chia ly này, khi Chúa Giêsu biết điều sắp xảy đến: “Anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả, và để Thầy một mình. Nhưng Thầy không một mình đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy” (c. 32). Chúa Giêsu không cô đơn trong cuộc sống, mà ngay cả khi Ngài kêu lớn tiếng trên thập giá : “Lạy Thiên Chúa tôi, tại sao Chúa bỏ tôi?” (Mc 15, 34), lúc đó lại là lúc Chúa Giêsu gần Cha hơn cả, kết hợp với Cha hơn cả. Chúa Giêsu thực sự chẳng bao giờ cô đơn tuyệt đối, vì Cha thực sự chẳng bao giờ bỏ Ngài, và Ngài cũng chẳng bao giờ bỏ Cha.
Chúa Giêsu khẳng định: “Trời đất qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21, 33). Thật vậy, thực tại trần thế này chỉ như ngôi nhà tạm bợ, mọi sự rồi sẽ qua đi, Lời Chúa thì tồn tại qua muốn thế hệ, đó là Lời sáng tạo, Lời thông ban sự sống và Lời Cứu Độ toàn thể nhân loại. Đây là điều mà Thánh sử Gioan đã xác quyết trong những trang đầu của Tin Mừng: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1, 1).
Mỗi người tín hữu kitô được mời gọi lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Quả thật Lời Chúa không chỉ được nghe bằng đôi tai nhưng hơn cả cần được nghe bởi con tim. Một con tim biết rung lên những nhịp đập của tình yêu thương, lòng cảm thông, tâm hồn chia sẻ… sẽ lắng nghe được Lời Chúa và tiếng tha nhân, để từ đó sẽ có những lựa chọn, quyết định và hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.
Chúa không hứa với chúng ta ai theo Người thì sẽ được mọi tiện nghi, thuận lợi. Theo Chúa thì phải chấp nhận thử thách gian lao. Lịch sử Hội Thánh đã minh chứng điều đó. Điều quan trọng là chúng ta hãy tin tưởng vào sự chiến thắng của Chúa Giêsu Kitô Phục sinh, để can đảm, trung thành với ơn nghĩa Chúa, vượt qua mọi thử thách trong đời sống đức tin. Với cái nhìn đức tin, chúng ta nhận ra rằng, những thiên tai, bệnh tật, tai nạn… là những biến cố Chúa dùng để cảnh giác chúng ta điều chỉnh lại lối sống của mình cho phù hợp với Tin Mừng.
Có lẽ giữa muôn vàn thử thách, bách hại của thế gian đối với người Kitô hữu, nếu người nào luôn ở trong Chúa, gắn liền với Chúa, đều cảm thấy bình an sâu thẳm trong tâm hồn cho dù họ đau đớn, mất mát. Chúa tiên báo trước, để các môn đệ và ngay cả chúng ta không lạ lẫm gì khi mình đi ngược dòng với thế gian, bị thế gian cho rằng là những con người dại dột. Hơn nữa, các môn đệ phải hy sinh, đau khổ rất nhiều, chịu bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời, vì Tin Mừng, vì chính Chúa Giêsu là niềm tin, là đối tượng tôn thờ duy nhất của họ.
Đời sống đức tin của các Kitô hữu mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin mừng hôm nay thì hoàn toàn khác. Ở giữa thế gian này, người tín hữu có thể phải chịu đủ mọi thử thách, thậm chí họ chẳng bao giờ được an ủi về mặt lợi lộc, vật chất thế gian. Nhưng họ vẫn có sự bình an, thanh thản trong thẳm sâu tâm hồn dù họ gặp phải muôn vàn khốn khó giữa cuộc sống cơm áo gạo tiền thường ngày.
Chúa Giêsu là sức mạnh và là niềm trông cậy của những ai tin tưởng nơi Ngài. Ngài là niềm hy vọng của những kẻ sầu khổ, thất vọng, là ánh sáng chiếu soi tăm tối. Chúa bảo chúng ta hãy can đảm lên, vì có Chúa ở bên, vì có Chúa là đấng thấu suốt tâm can mỗi người. Trong những gian nan khốn khó, chúng ta cũng hãy can đảm vì Ngài sẽ không cho những gì xảy ra quá sức chịu đựng; bởi Ngài đã chiến thắng sự dữ và thần chết. Vì tình yêu mà Chúa đã vượt thắng mọi sợ hãi, và chấp nhận khổ giá.
Cùng vác thập giá với Thầy là số phận của người môn đệ Ðức Kitô. Mặt khác, an bình và hy vọng là quà tặng của Ðấng Phục Sinh và là bảo chứng cho những người môn đệ trung tín sẽ được cùng phục sinh với Ngài. Người Kitô hữu không trốn chạy trước gian nan khốn khó nhưng chiến thắng nó bằng phương thế và tinh thần của Chúa Kitô. Mời bạn dùng tinh thần lạc quan Kitô đó để loan báo Tin Mừng Phục Sinh trong cuộc sống của mình.
Ta xin Chúa cho ta luôn can đảm, cho ta nhớ rằng Chúa đã không báo trước cho con nhuãng điều thuận lợi, may lành, mà là báo trước những sự đau khổ, bất lợi và thiệt thòi gắn liền với ý tưởng phụng sự Chúa . Vì thế, khi gặp những nghịch cảnh, tan không ngỡ ngàng nhưng biết đón nhận với lòng yêu mến Chúa. Với tình yêu, ta sẽ vượt qua tất cả. Khi ta thông phần vào thập giá Chúa thì ta cũng được chia sẻ phần vinh quang Phục sinh.
2020
Xin điều Chúa dạy
23.5.2020
Thứ Bảy
Ga 16, 23-28
XIN ĐIỀU CHÚA DẠY
Trang Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng hai chữ “Ngày ấy…”, vẽ lên một tương lai rất tốt đẹp: “Ngày ấy…chúng con xin Chúa Cha điều gì thì Ngài sẽ ban cho các con nhân danh Thầy.” Nhưng “ngày ấy” là ngày nào?
Trở về với Tin Mừng hôm qua, ta thấy Chúa Giêsu nói: “Ít lâu nữa chúng con sẽ không thấy Thầy, nhưng lại ít lâu nữa chúng con lại thấy Thầy” (Ga 16,17). Vậy “ngày ấy” là ngày Thầy trò gặp lại nhau sau một thời gian xa cách. Khi gặp lại nhau như thế, liên hệ Thầy trò sẽ kết gắn bó, đến nỗi tuy hai nhưng chỉ là một, Thầy ở trong trò và trò ở trong Thầy.
Và rồi ta thấy chính Thầy trò liên hệ mật thiết với nhau như không còn khoảng cách để rồi có hệ quả tốt đẹp là “Chúng con nhân danh Thầy mà xin điều gì với Chúa Cha thì Ngài sẽ ban cho chúng con hết.”
Thật đúng như lời Chúa Giêsu nói ở trước chương này, trong dụ ngôn cây nho: “Nếu chúng con ở trong Thầy và Thầy ở trong chúng con, thì chúng con muốn xin gì cứ xin, chúng con sẽ được như ý” (Ga 15, 7). Và điều này rất đúng, bởi vì khi chúng ta và Chúa Giêsu ở trong nhau, nên một với nhau thì Chúa Giêsu muốn gì, xin gì thì ắt chúng ta cũng muốn và xin như thế. Nói cách khác chúng ta không muốn và không xin gì ngoài những gì Chúa Giêsu muốn và xin. Và bởi vì Chúa Cha luôn nhận lời Chúa Giêsu xin nên cũng sẽ luôn nhận lời chúng ta.
Và ta thấy chính Chúa Giêsu đã xác quyết với chúng ta: trong mọi hoàn cảnh, hãy cứ tin tưởng chạy đến cầu xin Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu, và nhờ Người, cũng là Cha của tất cả chúng ta. “Thật, Thầy bảo thật các con: điều gì các con sẽ nhân danh Thầy mà xin Cha, thì Ngài sẽ ban cho các con” (Ga 16, 23). Nhưng tại sao Thiên Chúa phải chờ đợi, tại sao Thiên Chúa muốn chúng ta chạy đến kêu xin, đang khi Ngài đã biết rõ những nhu cầu của chúng ta? (Mt 6, 8). Ngài tôn trọng tự do của con người. Như vậy, lời cầu xin của chúng ta, rất nghịch lý, lại là một lời đáp, một lời đáp rất đẹp lòng Thiên Chúa, như người Cha vui thích nhìn đứa con thơ chạy đến níu tay mình. Trong lời cầu nguyện xin ơn, thực sự như thánh Augustinô diễn tả, “Thiên Chúa khát khao chúng ta khao khát Ngài”
Ngài khát khao trao tặng cho chúng ta không chỉ những ơn lành “nhỏ lẻ” như cách chúng ta vẫn thường cầu xin – vì tầm nhìn đức tin giới hạn, nhưng Thiên Chúa là Cha toàn tăng và tốt lành khát khao trao ban cho chúng ta Thánh Thần (Lc 11,13), khát khao trao ban trọn vẹn chính Ngài cho chúng ta. Đấng ban ơn thì quý trọng hơn hồng ân bội phần.
Như thế, mỗi lần chúng ta xin ơn, mỗi lần chúng ta cầu nguyện thực chất là mỗi lẫn chúng mở rộng lòng mình hơn cho Thiên Chúa bước vào. Vì vậy, ngày hôm nay Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy học cách cầu xin “nhân danh Thầy”: là để Chúa Thánh Thần uốn lòng chúng ta nên giống Chúa Giêsu, và hiệp làm một với Chúa Giêsu trong lời khẩn nguyện hằng ngày dâng lên Thiên Chúa Cha – cho Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn mỗi người để chính mình và toàn thế giới được hưởng ơn cứu độ muôn đời.
Chúa Cha không chỉ sẵn lòng ban cho chúng ta điều chúng ta xin, nhưng còn bày tỏ chính ngôi vị của Người cho chúng ta nơi Chúa Giêsu: “Thầy đã dùng dụ ngôn mà nói những điều ấy với anh em. Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở”. Nếu chúng ta hiểu lịch sử cứu độ là lịch sử qua đó Thiên Chúa bảy tỏ khuôn mặt đích thật của Người, khuôn mặt mà ma quỉ đã làm cho con người hiểu lệch lạc (St 3), thì lời này của Đức Giê-su là điểm tới, là điểm hoàn tất của lịch sử cứu độ. Như Ngài sẽ nói trên Thập Giá: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19, 28-39).
Như thế, chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Cha, không còn qua những dụ ngôn nữa, hay nói rộng hơn, qua những dấu chỉ nữa, nhưng là qua chính ngôi vị của Chúa Giêsu, qua chính Lời của Chúa Giêsu. Xin cho chúng ta cảm nếm chính Thiên Chúa, khi chiêm ngắm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, nhất là mầu nhiệm Vượt Qua.
Từ đó ta hiểu rằng điều tốt đẹp nhất tôi sẽ nhận được trong “ngày ấy” không phải là việc tôi xin gì và được gì, nhưng là việc tôi và Chúa Giêsu ở trong nhau và nên một với nhau, khiến tôi chỉ còn muốn những gì mà Chúa Giêsu muốn và xin những gì mà Chúa Giêsu xin.
Chúa Giêsu đã nói: «Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy… Và ai thấy Thấy là thấy Chúa Cha». Như thế, con đường Thầy đi qua và cùng đích Thầy hướng đến đều hội tụ nơi ngôi vị của Chúa Giêsu. Nhưng tất cả vấn đề là ở chỗ, con đường Thầy đi là con đường Thập Giá, là con đường «điên rồ và sỉ nhục». Nhưng, đối với Thiên Chúa, đó lại là con đường của «sự thật và sự sống», là con đường của «sức mạnh và khôn ngoan», là con đường diễn tả chính Thiên Chúa, diễn tả dung nhan rạng người của Ngài, có khả năng làm cho chúng ta no thỏa.
Qua cái chết của Ðức Kitô, không chỉ các môn đệ mà còn tất cả những ai tin Ngài đều được đón nhận tước vị ấy. Và nhờ bí tích Rửa Tội, mỗi người Kitô hữu cũng được lãnh nhận tước hiệu làm con Thiên Chúa. Ðây không phải là một tước hiệu khoác lên con người, nhưng là một tiếp xúc với sự sống Thiên Chúa. Với Ðức Kitô và trong Ðức Kitô, điều Kitô hữu cầu xin sẽ được nhận lời.
Ðức Kitô đã đem lại cho tín hữu một giá trị mới nhưng đồng thời Ngài đòi buộc họ sống xứng đáng với giá trị ấy: “Chính Cha yêu mến chúng con bởi vì chúng con yêu mến Thầy và tin rằng Thầy bởi Thiên Chúa mà ra”. Tin nhận và yêu mến Ðức Kitô sẽ cho phép người tín hữu sống trong tình yêu của Thiên Chúa. Như các tông đồ, Kitô hữu cũng được Chúa Giêsu chọn làm bạn tri kỷ của Ngài. Tất cả những hiểu biết về Thiên Chúa đã được gói gọn trong lời Ngài, và chẳng thể được gọi là bạn tri kỷ hoặc là kẻ yêu mến Ngài một khi lời Ngài bị đuổi đi không được đón nhận và đáp trả.
Khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta xin: “Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn”, chúng ta, với tư cách là người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ xin điều gì, để Thiên Chúa Cha ban cho chúng ta và làm cho chúng ta ở trong niềm vui trọn vẹn, nếu không phải là xin trở thành người môn đệ “sinh nhiều hoa trái”? Và ta thấy Chúa nói người môn đệ “sinh nhiều hoa trái” mà Chúa Giêsu mong muốn, là những người biết yêu thương nhau và làm lan truyền tình yêu như Ba Ngôi Thiên Chúa và cho Vinh Danh Chúa Ba Ngôi, trong giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và trong môi trường sống của mình. Xin cho chúng ta thực hiện điều chúng ta xin như Chúa mời gọi.
2020
Tình yêu đích thực
21.5.2020
Thứ Năm
TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC
Ga 16, 16-20
Thánh Gioan Tông Đồ được gọi là môn đệ Chúa yêu để rồi qua và với Tin Mừng Gioan, Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.
Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sàng suốt của lý trí.Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.
Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.
Chúa Giêsu chính là tình yêu, Chúa Giêsu chính là sức sống của các tín hữu. Chúng ta họp nhau cử hành thánh lễ của mỗi ngày Chúa Nhật để xin Chúa Kitô bổ sức cho chúng ta, để chúng ta tiếp tục sống, để cho mọi người thấy rằng, Ngài thật sự là Đấng đang hiện diện và tác động trong chúng ta, Ngài chính là lẽ sống mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta, Ngài là sức mạnh để chúng ta tiếp tục chiến đấu, Ngài là niềm hy vọng để chúng ta tiếp tục tiến bước.
Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người”. Cũng như kiến thức ý khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc củanhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loải cây cỏ, tin và yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.
Tình yêu đích thực đối với Chúa Giêsu hệ tại ở sự thi hành ý muốn của Chúa Giêsu. Ý muốn ấy được thể hiện trong Lời của Người và trong các điều răn của Người. Ai yêu mến Chúa Giêsu thì thực hiện các lệnh truyền của Người (c. 21). Và đàng khác, chính trong lòng yêu mến đối với Chúa Giêsu mà chúng ta mới có thể sống chính những giá trị của Chúa Giêsu và hành xử như chính Người đã hành xử (c.15). Hai yếu tố “yêu mến Chúa Giêsu” và “tuân giữ lời Chúa Giêsu” có mối tương quan biện chứng.
Thực vậy, chúng ta chứng minh tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa bằng sự tuân giữ những điều răn của Ngài bởi vì lề luật của Ngài là những chỉ dẫn yêu thương tuyệt hảo nhất. Chúng nói cho chúng ta biết những gì Thiên Chúa muốn và không muốn. Nhưng đồng thời cũng chỉ cho chúng ta hay đâu là điều tốt lành nhất cho bản thân, gia đình và xã hội.
Lòng yêu mến Chúa thực đòi ta giữ giới răn của Người. Điều đó rất tự nhiên. Bởi khi yêu nhau, người ta sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh vì nhau. Người ta cũng sẵn sàng làm theo ý của nhau nếu đó là những ý muốn chính đáng. Điều cần nói ở đây là việc ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa chẳng đem lại lợi lộc gì cho Người, nhưng đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Bởi lẽ, lề luật của Chúa là một hàng rào cần thiết để bảo vệ ta được an toàn và khỏi rơi xuống vực thẳm tội lỗi. Đồng thời chúng cũng là những bảng chỉ đường giúp ta đi đúng con đường dẫn đến sự sống, đến hạnh phúc. Biết như vậy nhưng dường như ta vẫn cảm thấy khó khăn và ngại ngùng khi phải tuân giữ, phải thực thi các giới răn của Người.
Chẳng hạn điều răn thứ I: “Thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự”, sẽ giúp chúng ta chu toàn những bổn phận đối với Đấng Tối Cao đã đành, mà còn giúp chúng ta tránh đi được những mê tín dị đoan và những sự thờ phượng nhảm nhí làm giảm giá trị con người, như thờ con bò, con rắn, thờ tiền tài, danh vọng, lạc thú.
Chẳng hạn điều răn thứ IV: “Hãy hảo kính cha mẹ”, sẽ giúp chúng ta chu toàn những bổn phận đối với cha mẹ, là những người đã có công sinh thành dưỡng dục chúng ta đã đành, mà còn nhờ đó đem lại cho gia đình chúng ta một bầu khí hoà thuận, cảm thông và hạnh phúc.
Chẳng hạn điều răn thứ V: “Tôn trọng thân xác và mạng sống của mình cũng như của người khác”. Rồi điều răn thứ VII và thứ X: “Tôn trọng đức công bằng, không được lấy hay giữ của người ta một cách trái phép”. Tất cả những điều răn này không phải chỉ đem lại cho cá nhân một sự bảo đảm an toàn, mà hơn thế nữa còn đem lại cho xã hội một sự ổn định và trật tự.
Và như chúng ta đã nói, bên trên những lợi ích cá nhân, gia đình và xã hội, việc tuân giữ những điều răn của Chúa sẽ là một phương thế giúp chúng ta biểu lộ tình yêu mến và gắn bó của chúng ta đối với Chúa, vì tình yêu mà không có việc làm thì chỉ là một tình yêu chết mà thôi. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã phán dạy chúng ta: Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ những điều răn của Thầy.
Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa. Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian. Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta”.
Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự. Người Kitô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.
Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm rằng: Khi yêu ai, chúng ta cảm thấy được những gì làm vui lòng người chúng ta yêu và không có gì cưỡng bức chúng ta tự nhiên làm tất cả để người yêu được vui, được hạnh phúc. Yêu mến Chúa cũng vậy. Yêu mến Chúa là sống theo ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý muốn của Chúa trên cuộc sống chúng ta và trên cuộc sống của xã hội loài người.
Thật vậy, chính đời sống yêu thương nhau chân thành, hy sinh phục vụ nhau theo mẫu mực của tình yêu Chúa yêu thương chúng ta sẽ biểu lộ cho mọi người nhận thấy sự hiện diện sống động của Chúa, Ngài đang sống và đang có mặt sống động trên trái đất chúng ta, như Ngài đã nói khi từ biệt các môn đệ: “Thầy không bỏ anh em cô độc. Thầy sẽ đến với anh em. Anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống”.
