2020
Nhìn lại đời sống đức tin của ta
16/09/2020
Thứ Tư Tuần XXIV Mùa Thường Niên
Lc 7, 31-35
NHÌN LẠI ĐỜI SỐNG CỦA TA
Chúa Giêsu đến, Ngài có thái độ như ngược hẳn với Gioan Tẩy Giả “cũng ăn, cũng uống” – Một hành vi rất “người”, sống dung hòa với con người và chính Ngài cũng là một con người như chúng ta- “thì họ lại bảo: Đây là tay ăn nhậu, bạn với thu thuế và người tội lỗi” (c.34). Đức Giêsu có mục đích của Ngài. Không phải Ngài từ chối việc “ăn chay, kiêng khem” hoặc đời sống khổ hạnh nhiệm nhặt của Gioan Tẩy Giả. Nhưng Ngài không chay tịnh ý nói lên niềm vui của bữa tiệc thời Mê-si-a.
Và đây, thời Mêsia đã tới “Chẳng lẽ các ông lại bắt khách dự tiệc ăn chay khi chàng rể đang ở với họ? Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, lúc đó họ mới ăn chay” (5,33-34) . Hành động “ăn uống” của Chúa Giêsu cũng bị người Do Thái chối từ. Họ lên án Chúa kết bạn với những tay ăn nhậu và tội lỗi. Ôi! Lưỡi không xương, ngươi muốn uốn theo đường nào cũng được, để chỉ nhằm biện minh cho tâm địa “chối từ”‘ của chủ ngươi mà thôi.
Ta thấy những người Biệt Phái là những người như thế nào trong thời của Chúa Giêsu. Với họ và luật sĩ Chúa Giêsu nói: vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Lời nói của Chúa Giêsu biểu lộ tâm trạng xót xa của Chúa, trước sự cứng tin của những kẻ không chấp nhận giáo huấn của Ngài, đồng thời Ngài cũng tạo nên một ý thức cho người nghe.
Để diễn tả sự cố chấp đó, Chúa Giêsu mượn trò chơi hát đối của trẻ em Do Thái ngồi chơi ngoài chợ làm dụ ngôn. Trò chơi này được chia làm hai phe để xướng đáp phù hợp. Phe một hát những bài ca bi ai, thì phe hai hát đáp lại bằng cử điệu đấm ngực than khóc: phe một cất giọng ca vui vẻ giả làm đám cưới, thì phe hai phải vui mừng nhảy nhót. Nhưng nhiều khi gặp những trẻ khó tính theo ý riêng hay có sự cố bất hoà với nhau, thì chúng không đối đáp theo lệ đã quen của trò chơi, khiến cho trò chơi mất ý nghĩa và mất vui “ phe một thổi sáo mà phe hai không nhảy múa”.
Chúa Giêsu áp dụng ý nghĩa trò chơi: ông Gioan tẩy giả sống khổ hạnh, nêu cao tinh thần sám hối, và rao giảng sự sám hối , thì những kẻ chống đối cho ông là người điên, bị quỷ ám, nên họ không đón nhận lời ông rao giảng và không ăn năn sám hối. Còn Đức Giêsu sống hoà đồng, bình dị với mọi người, cùng ăn cùng uống với mọi người, diễn tả tình thương cứu độ nên được dân chúng mến phục, thì họ lại bảo Ngài sống bê tha, buông thả, tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và người tội lỗi, nên họ đã không tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, không đón nhận lời giáo huấn của Ngài. Nhưng đức khôn ngoan đã được tất cả con cái biện minh cho.
Con cái của đức khôn ngoan là những người tin nhận Đức Giêsu Kitô, là người thể hiện ý định của Thiên Chúa, họ là con cái Thiên Chúa. Chính việc họ tin nhận Đức Kitô đã biện minh rằng Đức Giêsu chính là Đấng cứu thế, và những người cố chấp là sai lầm. tuy ông Gioan và Chúa Giêsu có hai đường lối khác nhau nhưng cả hai đều cùng chung một mục đích là loan báo thời cứu độ đã đến, cả hai cùng phục vụ thánh ý của Thiên Chúa qua sứ vụ tiền hô của Gioan và sứ vụ cứu thế của Đức Kitô. Chúa Giêsu khiển trách và vạch rõ sai lầm của những người cố chấp, đặc biệt là nhóm biệt phái kinh sư. Chúa Giêsu đã áp dụng một phương pháp sư phạm khôn khéo và một cách thức tế nhị, đúng như người ta thường nói: “với người khôn thì nói mánh với người dại thì đánh đòn”.
Trong Hội Thánh, trong một cộng đoàn, trong một công việc, tuy chúng ta có những hình thức khác nhau, nhưng cùng chung một lý tưởng là phục vụ nước Cha trị đến, chúng ta cần phải biết thống nhất trong đa dạng và hiệp nhất trong khác biệt trong đời sống chung và trong công việc chung.
Qua việc Chúa Giêsu than trách những người Dothái, chúng ta cũng nghe Chúa dạy chúng ta rằng: khi chúng ta làm bất cứ việc gì trong sứ vụ nào, chúng ta cũng không tránh khỏi những sự chê bai chống đối của người khác, làm cản trở công việc của chúng ta, chúng ta cần bình tĩnh và can đảm chịu đựng, vượt qua để trung thành với sứ vụ như Gioan tẩy giả, như Đức Kitô đã nêu gương cho chúng ta. Chúng ta cũng bắt chước Chúa Giêsu luôn yêu thương tôn trọng, tế nhị với người khác khi chúng ta cần sửa sai cho họ một điều gì. Khi đi làm tông đồ, và bản thân chúng ta cần khổ chế như Gioan tiền hô và cũng cần sống hoà đồng như Đức Kitô để tạo tình thân với mọi người, thuận lợi cho việc rao giảng.
Cái tôi của con người được xem như là điều chính yếu khẳng định rằng người đó hiện hữu. Và cái tôi cũng nói lên ý riêng của bản thân người đó trước những biến cố, hành vi, lời nói của người khác. Khi con người không hiểu nhau, trách cứ nhau và có thể dẫn đến xung đột, chia rẽ…. đều xuất phát từ cái tôi ích kỷ, coi ý riêng là trên hết hoặc đề cao “cái rốn vũ trụ” của mỗi người.
Mong chờ Ðấng Cứu Thế, nhưng không chấp nhận những thể hiện của thời cứu thế; trông đợi Ðấng Cứu Tinh, nhưng phải là Vị Cứu Tinh do mình tạo ra, đó là thái độ của những người Do thái thời Chúa Giêsu. Thái độ ấy cũng là cơn cám dỗ triền miên của các Kitô hữu thời đại chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”. Chúng ta mang danh hiệu Kitô, chúng ta muốn làm môn đệ Ngài, nhưng có lẽ chúng ta chưa từ bỏ chính mình để chấp nhận và sống theo giáo huấn của Ngài.
Ta nghe Chúa Giêsu kết luận: “Đức Khôn Ngoan đã được con cái mình biện minh cho” (c.35). Thật thế, dân chúng và người thu thuế đã chấp nhận ý đinh của Thiên Chúa (x.c.29). Sự khôn ngoan của Thiên Chúa đang hoạt động để thực thi ý định này được nhìn nhận là công chính, vì tất cả những ai là con cái Người- con cái của Đức Khôn Ngoan- là những người nhỏ bé, nghèo hèn, khiêm hạ, là các tội nhân đã nhận ra điều ấy
Và rồi ta cần nhìn lại bản thân trong cách sống khó hoà nhập với người khác, với Lời Chúa, với lời khuyên của Hội Thánh, đôi khi chúng ta cũng có thái độ sống khó đồng tình, khó cộng tác, không hiệp thông để tương trợ lẫn nhau làm cho bản thân, cộng đoàn không thăng tiến. Có khi làm hỏng việc chung nữa. Trong đời sống chung chúng ta cũng tránh sự phê phán lên án người khác theo khuôn mẫu tiêu chuẩn, thước đo của mình, để tránh bớt sự sai lầm của mình, cản trở đời sống, công việc của người khác và sự thăng tiến cũng như lợi ích chung.
2020
Đức Mẹ Sầu bi
Đức Mẹ Sầu bi
Khi Mẹ sống lời tiên tri Simeon: “ Suốt đời Bà, tâm hồn Bà sẽ bị đau đớn như lưỡi đòng đâm thâu qua” (Lc 2,35)
Lưỡi đòng đó là;
- Tội lỗi nhân loại
- Những đau khổ của Đức Kitô
- Khi Đức Mẹ bước theo chân Con mình trên đường khổ giá và đứng dưới chân Thánh Giá để chứng kiến và thông phần đau khổ của Con Mình là Đức Kitô.
- Khi Đức Mẹ dâng tất cả những đau đớn riêng biệt, bất thường và đời thường của mình tức là chính trái tim như bàn thờ đầy lòng mến, đầy khiêm tốn, và cầu nguyện.
“Con Trẻ này là duyên cớ cho nhiều người trong dân Israel bị hư hỏng hay được cứu rỗi và sẽ là dấu hiệu gây mâu thuẫn. Còn Bà một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng bà”. Trong giây phút đó Mẹ Maria chưa hiểu rõ thế nào là một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn. Mẹ đã bất đầu đi trên con đường đức tin trong sự vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa. Thiên Chúa dùng tiên tri Simeon để loan báo mầu nhiệm Thánh Giá của Chúa. Có thể lúc đó Mẹ chưa hiểu hoàn toàn Thánh Giá đau khổ thế nào nhưng mẹ cẩn thận ghi nhớ những kỷ niệm ấy trong lòng. Đây là thái độ thường xuyên của Me. Mẹ không hiểu nhưng không vì thế mà Mẹ chối bỏ , Mẹ luôn giữ trong lòng để suy niệm.
‘Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Bà’. Thập Giá của Chúa, mầu nhiệm đau khổ bao trùm trên đời Mẹ, trên hành trình đức tin của Mẹ khi Mẹ đứng dưới chân Thập Giá của Chúa Giêsu trên đỉnh đồi Golgotha. Sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá đối với Chúa Giêsu như là sự thông chia đau khổ, mặt khác là sự yên ủi cho Ngài. Mẹ tham dự vào sự đau khổ có sức mạnh cứu rỗi của Thiên Chúa. Mẹ Maria đã âm thầm dâng hiến chính mình cùng với hy tế của Con và lãnh nhận đặc ân được tham dự vào công cuộc cứu rỗi trở nên người Mẹ của toàn thể nhân loại. Lúc đó Mẹ Maria hiểu rõ hơn mầu nhiệm Thánh Giá và Mẹ sẵn sàng lãnh nhận lời mạc khải của Chúa Giêsu .
‘Đứng gần Thánh Giá Chúa Giêsu có Mẹ Người và thấy môn đệ mình yêu, Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa bà, đây là con bà” và Chúa nói với môn đệ: “Đây là mẹ con. Sau đó môn đệ đón Đức Mẹ về nhà mình”.
Mẹ Maria cũng vậy, dù phải đứng dưới chân thập giá và phải chứng kiến cái chết thảm thương của con Mẹ là Đức Giêsu, nhưng lòng mẹ vẫn ngập tràn niềm tín thác vào quyền năng và tình thương của Đấng Tối Cao. Về mặt xác thịt con người, chắc chắn lòng mẹ không khỏi tan nát, buồn đau, nhưng trong lòng tin, Mẹ vẫn có được niềm hy vọng hướng về tương lai tươi sáng của sự phục sinh vinh hiển của con Mẹ. Vì lẽ đó, hôm nay chúng ta mừng lễ với Mẹ: Vui mừng với Mẹ, vì khi gặp nỗi khổ đau tột cùng là phải chứng kiến cái chết thê thảm của con Mẹ, Mẹ vẫn không để nỗi khổ đau ấy bóp chết con tim yêu mến và ngập tràn hy vọng của Mẹ.
Nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ Sâu Bi, Giáo hội nhắc nhớ cho chúng ta biết về giá trị của hạnh phúc, giá trị của niềm hy vọng trong chính nỗi khổ đau và chết chóc. Ngay ở bài đọc 1 trích trong thư gửi tín hữu Do thái hôm nay, chúng ta được nhắc nhớ về niềm hy vọng trong đau thương, hoạn nạn. Tác giả thư Do thái viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính”. Suy gẫm đoạn lời Chúa này, bấy lâu nay ta không khỏi thắc mắc: Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà xin Cha Ngài khỏi phải chết và rõ ràng tác giả thư Do thái bảo rằng Ngài đã được nhậm lời!
Mẹ Maria chịu đau khổ, sự đau khổ của Mẹ không chỉ là đau khổ thể xác mà còn làm cho tâm hồn Ðức Mẹ nát tan, giày vò vì từ khi nói lời xin vâng, dâng con vào đền thánh,lạc mất con vv.cuộc đời của Ðức Mẹ luôn hướng về cây thập giá. Có thể nói, mọi hành vi của Ðức Mẹ đều chuẩn bị cho con Mẹ là Chúa Giêsu tự hiến tế để cứu chuộc nhân loại. Mẹ hiểu rõ con Mẹ là của Mẹ, do Mẹ sinh ra nhưng không thuộc về Mẹ: “Cha Mẹ, không biết con phải làm việc cho Cha con sao ? Mẹ đã âm thầm giữ kín mọi kỷ niệm.mọi sự việc và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ đã hân hoan, vui mừng,ca ngợi tình thương bao la của Thiên Chúa trong ngày truyền tin, Mẹ lại sinh ra nhân loại trong sự đau khổ trên núi Canvê. Mẹ hoàn thành sứ mạng đồng công cứu chuộc của Mẹ. “Ðứng gần thập giá Chúa Giêsu có Mẹ Người”
Mẹ Maria đã anh dũng đứng dưới chân thập giá khi con Mẹ bị treo trên cây thập hình nhuốc hổ . Mẹ đứng đó khi nhiều môn đệ và những người thân cận chạy trốn vì sợ hãi,vì sợ chết.Mẹ đã ý thức lời Chúa nói:” Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”. Mẹ đã nhận lãnh thánh Gioan,đại diện Giáo Hội làm con của Mẹ và như thế, Mẹ đã cho nhân loại thấy rõ cái chết của Chúa là hy lễ cao quí nhất có sức biến đổi thế gian và là nguồn sự sống mới cho nhân loại.Mẹ đau khổ nhưng sự đau khổ của Mẹ góp phần vào công cuộc cứu rỗi nhân loại nhờ Mẹ kết hợp sự đau khổ của Mẹ với sự đau khổ của Chúa Giêsu.
Sống ở đời này, ai trong chúng ta cũng phải kinh qua đau khổ. Ta không đau khổ vì điều này thì sẽ đau khổ vì điều khác. Đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công, vì thiên tai, vì nhân tai. Đau khổ vì bị tù đầy, bị kỳ thị, bị khinh khi, miệt thị. Và đau khổ lớn nhất của thân phận nhân loại chúng ta đó là vì sự chết chóc đau thương. Nhưng đứng trước mọi nỗi đau khổ, Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hay đón Đức Mẹ về nhà mình, đón Mẹ về với tâm hồn mình để Mẹ dạy cho ta con đường tin yêu, hy vọng ngay trong nỗi đau khổ tột cùng.
2020
Lời mời quá khó
Ngày 14 tháng chín Thứ Hai
LỜI MỜI QUÁ KHÓ
Hơn một lần ta thấy Chúa đã xác quyết: Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Thế nhưng con đường ấy như thế nào? Phải chăng là một con đường ngợp những cánh hoa. Tôi xin thưa không phải là như thế, nhưng là một con đường vừa khúc khuỷ, vừa nhỏ bé mà ít người muốn đặt chân vào. Và cụ thể hơn nữa, đó là con đường đau khổ, con đường thập giá như lời Người đã xác quyết: Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta. Đó là con đường duy nhất, rẽ ngang vào một lối khác, chắc chắn thế nào chúng ta cũng bị lạc.
Thánh giá là một nghịch lý trong đạo Thiên Chúa giáo nói chung và đạo công giáo nói riêng. Một đàng thánh giá là nguyên nhân thất vọng, tai họa và sự chết. Đàng khác Thánh giá mang lại nguồn hy vọng, toàn thắng và sự sống.
Trước khi Đấng Cứu thế đến, thánh giá là hình phạt khiếp sợ cho tội nhân. Bị coi là một tội nhân nên Đức Giêsu phải chịu đóng đinh trên thánh giá với hai người trộm cướp. Ngày nay Thánh giá đã trở nên dấu hi vọng và toàn thắng cho người Kitô giáo. Đó chính là điều mà thánh Phaolô đã khẳng định: Rao giảng Đức Kitô chịu đóng đanh, điều mà người Do thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hi lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1Cr 1,23-24).
Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Bởi vì “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ. Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu.Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).
Chúa Giêsu chết trên thập giá, muốn minh chứng rằng Người yêu thế gian hơn yêu chính mình. Nơi thập giá,Chúa Giêsu chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là một tình yêu ở dạng thức cao nhất:Tình Yêu đến mức tận cùng, một Tình Yêu tự hiến trọn vẹn của Thiên Chúa. Yêu là hiến tế, là hy sinh chính mình. Hiến dâng chính mình vì thiện ích của kẻ khác. Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như là sự đền bù vì ơn cứu độ nhân loại.
Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.
Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh. Tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt đến nỗi Chúa Cha “đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, là một hy lễ dâng lên Chúa Cha, cũng là sự tự hiến cho loài người trở nên lương thực nuôi sống chúng ta.
Thánh Phaolô nhấn mạnh sự tương phản chưa từng thấy trong mầu nhiệm Thập giá. Sự hạ mình sâu thẳm của Đức Giêsu Kitô “Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu. Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa” ( Pl 2,6-11).
Theo cái nhìn của Phaolô cũng như của Gioan, Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng chính là Chúa Giêsu được tôn vinh. Đó là sự tôn vinh Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và Tình Yêu ấy đã biểu lộ rõ ràng nhất nơi Thập giá Chúa Kitô. Không nơi nào Tình Yêu của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn như nơi “con người Chúa Giêsu chịu đóng đinh”.
Và rồi như lời Chúa mời gọi, ta thấy muốn được vào Nước Trời, chúng ta phải có công nghiệp, mà muốn có công nghiệp, chúng ta phải vác lấy thập giá mình. Công nghiệp của chúng ta mặc dù là nhỏ bé nhưng lại là một sự cộng tác cần thiết cho chính bản thân chúng ta được cứu rỗi. Bởi đó chúng ta đừng vội lẩm bẩm kêu trách mỗi khi gặp phải những gian nguy thử thách. Trái lại hãy coi đó là một diễm phúc vì được làm chính việc của Chúa, vì được cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ. Hơn nữa những khổ đau chúng ta phải chịu trong cuộc sống hiện tại, sẽ không thể nào sánh ví được với hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu mà chúng ta sẽ được đón nhận trên quê hương Nước Trời.
Là Kitô hữu, chúng ta thấy chúng ta không thể chối bỏ thánh giá, mà phải tôn vinh Thánh giá như phương tiện cứu rỗi. Kitô hữu phải hãnh diện về biểu hiệu của Thánh giá. Tuy nhiên người mang danh Kitô không được dừng lại ở thánh giá mà phải vượt qua thánh giá và tìm cho ra ý nghĩa của việc mang vác thánh giá. Vì có sự liên hệ giữa thánh giá và phục sinh mà Đức Giêsu mời gọi người môn đệ vác lấy thánh giá để theo Người (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23).
Mỗi người chúng ta đang sống một cuộc đời cho chính mình. Mỗi người chúng ta đang đón nhận thập giá với thái độ khác nhau. Có người chấp nhận thập giá để đền tội. Có người chấp nhận thập giá vì lòng yêu mến tha nhân. Và cũng có người đang từ chối thập gía trong cuộc đời. Hạnh phúc hay đau khổ tuỳ thuộc vào việc chọn lựa sống của chúng ta. Nhưng dù con người có muốn hay không?
Dù muốn dù không thì ta thấy Thập giá vẫn hiện diện. Thập giá của bổn phận. Thập giá của hy sinh từ bỏ những tham lam bất chính, những ham muốn tội lỗi, những ích kỷ tầm thường. Đón nhận thập giá sẽ mang lại cho ta tâm hồn bình an vì đã sống đúng với bổn phận làm người. Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta đền bù những thiếu sót trong cuộc sống của mình và của tha nhân. Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta tiến tới vinh quang phục sinh với Chúa trên thiên đàng.
2020
Danh cực Thánh của Mẹ
12.9 Thứ Bảy
Kính danh cực thánh Đức Mẹ
Gl 4, 4-7; Lc 1, 39-47
DANH CỰC THÁNH CỦA MẸ
Maria là ái nữ của Ông Gioan kim và Bà Anna… Maria không phải là một nữ thần, không phải là nữ hoàng chiến sĩ của thần thoại, không phải là một nhân vật kỳ dị bí ẩn hiện trong sương mù lịch sử cổ đại. Bà là một con người, một cá nhân duy nhất được chúc phúc và tôn vinh, nhưng Bà vẫn chỉ là một con người
Khi đến lúc đọc về Đức Maria Vô Nhiễm thì bạn nên luôn nhớ rằng ta tiếp xúc với một con người khả ái đang sống. Ta không lạ khi người Công giáo thành viên của Nhiệm Thể Đức Kitô, và vì vậy “những người còn lại trong dòng dõi Đức Maria” đã kính trọng danh thánh của Mẹ mình đến mức độ ấy.
Bài ca nhập Lễ mừng Danh Cực Thánh Đức Bà Maria trích từ thánh vịnh (45) là một chứng tá hùng hồn cho biết lý do tại sao chúng ta ca tụng danh xưng tuyệt mỹ này:
Phú hào trong xứ đến cầu ân xin Công Nương đoái nhìn họ: Bà được dẫn tới Quân Vương, cùng các trinh nữ theo sau hầu cận. Lòng hoan hỷ, đoàn người tiến bước, vẻ tưng bừng, vào tận hoàng cung… Thần Thiếp xin nức lòng ca ngợi, truyền tụng Danh thơm Đức Vua.”
Mẹ Thánh Chúa Kitô đem chúng ta đến trình diện với Ngài. Mẹ trình lên Ngài những nhu cầu và kiến nghị của chúng ta; Mẹ là khí cụ Lòng Thương Xót của Ngài và Mẹ có toàn quyền sử dụng “Kho Tàng Ân Sủng” mà Ngài đã dành được cho chúng ta trên Đồi Canvariô; Mẹ an ủi tâm hồn ta và qua sự lo lắng từ mẫu, Mẹ ban cho con cái của Mẹ bất cừ thứ bình an và hạnh phúc nào mà chúng ta biết được trong thung lũng đầy nước mắt này không gì hơn là bình an của Chúa Kitô. Chúng ta có thể ra sức bảo tồn sự bình an này trong tâm hồn đau khổ và mỏi mệt của chúng ta, nhưng Đức Bà vẫn sẵn sàng và tha thiết chia sẻ liên tục bình an ấy cho chúng ta.
Vâng, danh thánh Maria, một danh xưng ngắn ngủi và đơn sơ ấy đối với chúng ta chứa đựng cả một trời ân sủng. Trong danh xưng Thần Linh [Maria] ấy có một sức quyến rũ mạnh mẽ và ngọt ngào kỳ diệu đến nỗi chỉ cần nói lên thì lòng người cứng cỏi cũng trở nên mềm dịu, và câu văn chỉ cần viết danh xưng này cũng trở thành tuyệt tác. Và trong tin tưởng cũng như xác tín, ta có thể nói rằng : “không ai trìu mến và tôn kính kêu danh thánh Maria mà lại không được ban cho một số ân sủng xứng đáng.”
Tên Maria là võ khí hiệu lực, là thuẫn vững chắc, bênh chữa ta khỏi thù địch hãm hại hồn xác.
Biết bao kẻ vượt biển bị gió bão như vùi dập, biết bao kẻ sắp rơi vào tay kẻ cướp, quân thù, đã thoát khỏi tai nạn ấy, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Biết bao kẻ sắp xiêu lòng trước những cơn cám dỗ mãnh liệt, đã được ơn cứu thoát, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Trên giường bệnh, trong cơn hấp hối, người ta được mạnh sức cậy trông lòng Thương xót Chúa, khỏi mắc mưu quỷ cám dỗ, vì đã tin tưởng kêu tên Mẹ Maria.
Ngày 8 tháng 9, thánh nữ Anna hiểu rằng bà sắp sinh Người Con bà hằng ước nguyện. Bà sấp mình cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho con mình. Lúc đó, Mẹ Maria được Chúa cho xuất thần rất cao cả, không thấy được mình sinh vào trần gian như thế nào. Lúc ra khỏi cơn xuất thần ấy, Mẹ đã thấy mình đẹp đẽ nằm trên tay thân mẫu mình. Thánh nữ Anna được gìn giữ khỏi mọi đau đớn thông thường nơi các bà mẹ sinh con.
Các thiên thần hầu cận Mẹ, cùng với vô số thiên thần khác tháp tùng, đến tỏ niềm tôn kính Mẹ. Họ hát lên một khúc ca thiên đàng, rồi bắt đầu phục vụ Mẹ.
Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ cho các thiên thần biết rằng từ đời đời Người đã tác tạo cho Mẹ và cho Ngôi Con danh hiệu Maria và Giêsu. Trong hai danh hiệu đó, Người được thoả lòng hoàn toàn. Rồi Người phán: “Danh hiệu Maria phải được hiển vinh lạ thường. Những ai thành thực sốt sắng kêu cầu danh hiệu ấy sẽ được ban nhiều ân sủng. Những ai kính cẩn đọc lên sẽ được ủi an. Mọi người đều tìm được trong danh hiệu ấy phương dược trị liệu bệnh tật mình; được ánh sáng soi đường; được kho tàng cứu giúp sự túng nghèo. Danh hiệu Maria làm run sợ hoả ngục và đạp nát đầu cựu xà Satan”. Chính Chúa đặt danh hiệu ấy cho Mẹ.
Càng thực tâm nhiệt thành tôn kính danh hiệu Maria rất dịu ngọt của Mẹ, con càng đi trên đường của Mẹ. Con nên biết rằng Thiên Chúa đã ban cho Danh hiệu ấy không biết bao nhiêu đặc ân. Mẹ không thể nghĩ đến hay nghe đọc đến mà lại không dâng lời cảm tạ Chúa.
Trên trời dưới đất, đừng kể tên Chúa Giêsu, thì chẳng có tên nào trọng, đáng kính và linh ứng cho bằng tên Ðức Mẹ. Thánh Giêrônimô nói rằng: “Tên Maria chẳng phải cha mẹ hay người thế gian đặt cho Người, nhưng chính Thiên Chúa soi lòng ông thánh Gioakim và bà thánh Anna đặt tên ấy cho Mẹ Maria”.
Maria, một tên rất linh thiêng. Nghe tên Maria, các thánh trên trời đều vui mừng, ma quỉ đều khiếp sợ Người, thế gian được cậy trông.
Tên Mẹ quyền phép chừng nào! Tên Mẹ có quyền mở cửa thiên đàng, đóng cửa hoả ngục, Tên Mẹ có quyền buộc trói ma quỷ, và ban mọi ơn lành cho người thế. Chúng con quyết từ nay năng tin tưởng kêu tên Mẹ. Chúng con đã thoát bao cơn nguy hiểm, đã chống trả được bao chước cám dỗ, đã tránh được nhiều tội, và được nhiều ơn lành xác hồn, tất cả đều nhờ Mẹ.
Tên Maria là võ khí hiệu lực, là thuẫn vững chắc, bênh chữa ta khỏi thù địch hãm hại hồn xác.
Biết bao kẻ vượt biển bị gió bão như vùi dập, biết bao kẻ sắp rơi vào tay kẻ cướp, quân thù, đã thoát khỏi tai nạn ấy, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Biết bao kẻ sắp xiêu lòng trước những cơn cám dỗ mãnh liệt, đã được ơn cứu thoát, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Trên giường bệnh, trong cơn hấp hối, người ta được mạnh sức cậy trông lòng Thương xót Chúa, khỏi mắc mưu quỷ cám dỗ, vì đã tin tưởng kêu tên Mẹ Maria.
