2021
Giới thiệu Chúa cho người khác
4.1 Thánh Elizabeth Ann Seton
1 Ga 3:7-10; Tv 98:1,7-8,9; Ga 1:35-42
GIỚI THIỆU CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC
Mẹ Seton là một trong những rường cột của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ. Ngài sáng lập tu hội đầu tiên dành cho phụ nữ Hoa Kỳ, Dòng Nữ Tu Bác Ái, mở trường học đầu tiên trong giáo xứ Hoa Kỳ và thiết lập cô nhi viện đầu tiên ở Hoa Kỳ. Tất cả những điều trên ngài thực hiện trong vòng 46 năm đồng thời vừa nuôi dưỡng năm người con.
Êlidabét An Bêlê Seton quả thực là người của thế hệ Cách Mạng Hoa Kỳ, ngài sinh ngày 28 tháng Tám 1774, chỉ hai năm trước khi có bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Bởi dòng dõi và hôn nhân, ngài có liên hệ đến các thế hệ đầu tiên sống ở Nữu Ước và vui hưởng kết quả của một xã hội tiến bộ. Được nuôi nấng trong một gia đình nề nếp Anh Giáo, ngài biết được giá trị của sự cầu nguyện, Kinh Thánh và sự kiểm điểm lương tâm hàng đêm trước khi đi ngủ. Cha của ngài, Bác Sĩ Risa Bêlê, không đóng góp nhiều cho nhà thờ nhưng ông là người rất nhân đạo, đã dạy được cho cô con gái bài học yêu thương và phục vụ tha nhân.
Sự chết sớm của người mẹ năm 1777 và của bà vú nuôi năm 1778 đã đem lại cho ngài 1 cảm nhận về sự tạm bợ của trần gian và thúc giục ngài hướng về vĩnh cửu. Thay vì ủ rũ chán chường, ngài đối diện với các biến cố mà ngài coi là sự “hủy hoại khủng khiếp” với một hy vọng đầy phấn khởi.
Vào năm 19 tuổi, Elizabeth là hoa khôi của Nữu Ước và kết hôn với một thương gia đẹp trai, giầu có là ông Viliam Magi Seton. Họ được năm người con trước khi doanh nghiệp lụn bại và ông chết vì bệnh lao. Vào năm 30 tuổi, bà Elizabeth t đã là một góa phụ, không một đồng xu và phải nuôi nấng năm đứa con.
Trong khi sống ở Ý, bà được chứng kiến phong trào Tông Đồ Giáo Dân qua gia đình của những người bạn. Ba điểm căn bản sau đã đưa bà trở về đạo Công Giáo: tin tưởng sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, sùng kính Đức Mẹ và tin rằng Giáo Hội Công Giáo là một giáo hội tông truyền do Đức Kitô thành lập. Nhiều người trong chính gia đình bà cũng như bạn hữu bà đã tẩy chay bà khi bà trở lại Công Giáo vào tháng Ba 1805.
Để nuôi con, bà mở trường học ở Bantimo. Ngay từ ban đầu, nhóm giáo chức của bà đã theo khuôn khổ của một tu hội, mà sau đó được chính thức thành lập vào năm 1809.
Hàng ngàn lá thư của Mẹ Seton để lại cho thấy sự phát triển đời sống tâm linh của ngài, từ những việc tốt lành bình thường cho đến sự thánh thiện cách anh hùng. Ngài chịu đau khổ vì những thử thách như đau ốm, hiểu lầm, cái chết của những người thân yêu (chồng và hai con gái), cũng như sự lo lắng đến đứa con trai hoang đàng. Ngài từ trần ngày 4 tháng Giêng 1821, và vào ngày 17-3-1963, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tuyên xưng ngài là vị chân phước đầu tiên người Hoa Kỳ. Ngài được phong thánh ngày 24-9-1975.
Trở về với Tin Mừng hôm nay, ta thấy Tin mừng Gioan nhiều lần đề cập tới việc giới thiêu của ông Anrê. Hôm nay Anrê đã giới thiệu Chúa Giêsu cho em ông là Si-mon: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Ga.1, 41). Rồi sau đó đã dẫn em đến gặp Người. Lần khác, ông đã dẫn cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá” giới thiệu với Chúa Giêsu, để rồi sau khi đã cầu nguyện tạ ơn, Người đã nhân mấy chiếc bánh và cá đó ra nhiều để nuôi hơn năm ngàn người ăn no. Rồi lần thứ ba, khi Đức Giê-su vào Giêrusalem trước cuộc khổ nạn, cũng chính Anrê đã giới thiệu mấy người Hy Lạp đến gặp Chúa Giêsu, khiến Người đã nhận ra dấu chỉ đã đến giờ Người ban ơn cứu độ bằng việc chịu chết trên thập giá (Ga 12,31-32).
Nói về Chúa Giêsu cho người khác biết. Chúng ta cũng thấy được gương tốt của Thánh Anrê tông đồ. Anrê đã đến và xem chỗ Chúa Giêsu ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy (Ga 1,39-40). Trong khoảng thời gian rất ngắn ngủi này, Anrê đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô. Anrê đã không thể không nói cho người thân của mình là Simon em ông biết (Ga 1, 41). Chắc chắn hai anh em đã trao đổi với nhau về Chúa Giêsu, trước khi Anrê dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu. Gặp được Chúa Giêsu là đổi tên, là đổi đời: “Anh sẽ được gọi là Kêpha (là Đá Tảng) (Ga 1, 42).”.
Gioan đã có rất nhiều ảnh hưởng nơi dân chúng. Dân chúng rất ngưỡng mộ Ngài. Khi được Chúa Giêsu hỏi “Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?” (Mt 21,25), thì nhóm Pharisêu đã cảm thấy thật lúng túng. Nói bởi người thì sợ dân chúng phản đối, nói bởi trời thì sao quý vị lại không nghe lời Gioan, nghe những lời mà Gioan đã nói về nhân vật Giêsu. Nói chúng tôi không biết là cách để chữa cháy, để tránh trả lời một sự thật. Họ không dám chấp nhận sự thật.
Hiệu quả của việc giới thiệu Chúa cho tha nhân: Nếu Anrê không giới thiệu em ông là Si-mon với Đức Giêsu thì có lẽ Hội Thánh ngày nay không được xây dựng trên Tảng Đá dức Tin của Phêrô. Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá” với Đức Giêsu, thì có lẽ sẽ không có phép lạ nhân bánh ra nhiều của Chúa Giê-su.
Vậy bài học Hội thánh muốn chúng ta học nơi thánh Anrê là: Hãy giới thiệu Đức Giêsu với tha nhân và dẫn đưa họ đến gặp gỡ Người. Công cuộc rao giảng Tin Mừng thường theo thể thức: Đức Tin được truyền từ người này đến người kia. Chúa và Hội Thánh hôm nay rất cần những tín hữu biết vững lòng tin vào Chúa và sẵn sàng chia sẻ niềm tin với người thân như Anrê đã gặp em mình là ông Simon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (nghĩa là Đấng Kitô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu (Ga 1,40-42a).
Hãy đến mà xem: Chúa Giêsu không hối thúc người ta phải tin Người mà chỉ nới với họ: “Hãy đến mà xem”. Họ đã đến, đã xem thấy lối sống thân thiện, niềm nở, nồng ấm của Người. Họ biết mình đã gặp được một con người tuyệt vời, và thế là phát sinh một tình cảm. Khi ở với Đức Giêsu, họ cảm thấy bình an thoải mái trong tâm hồn. Nhờ tiếp xúc với Chúa Giêsu, họ còn khám phá ra chính bản thân mình và quyết tâm sống theo lối sống của Người.
Khác biệt giữa sự áp đặt và tự nguyện theo Chúa: Những người hành quyền trên người khác thì muốn chế ngự người khác, biến họ thành nô lệ theo ý mình. Trái lại, Chúa Giêsu không gò ép ai. Người cho người ta tự do lựa chọn theo hay không theo làm môn đệ Người. Chính thái độ sống và gương sáng của Chúa Giêsu đã khiến các ông tự nguyện theo làm môn đệ Người.
Gioan đã xác tín rằng Chúa Giêsu đích thị là Minh Quân. Chắc chắn Gioan phải mừng thầm vì đồ đệ của mình đã gặp được Minh Quân, Gioan vui mừng vì đã giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. Gioan đã đóng đúng vai trò Tiền Hô của mình và Chúa Giêsu cũng là Đấng Minh Quân của Gioan. Chẳng phải Gioan đã nhảy mừng trong bụng mẹ mình, khi chỉ mới là 6 tháng tuổi khi gặp được Đức Kitô? Gặp được Chúa là gặp được niềm vui, và niềm vui thì cần được chia sẻ, loan tỏa cho mọi người.
“Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”: Một vấn nạn được đặt ra là: Tại sao nhiều người công giáo lại không nhiệt tình nói về Chúa cho tha nhân ? Có thể là do ngại ngùng vì chưa nắm vững đức tin, sợ người kia vặn hỏi sẽ không biết giải thích ra sao. Cung có thể điều người công giáo đang quan tâm là tiền bạc vật chất hơn là đức tin tôn giáo. Họ chưa thấy được giá trị thực sự của đức tin nên dĩ nhiên không thiết tha với việc giúp người thân được niềm vui hạnh phúc giống như mình. Nhưng có lẽ lý do sâu xa nhất là do không mên Chúa nên không cần giới thiệu Chúa, không quan tâm đến viêc “làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” như kinh Lạy Cha dạy.
2021
Yêu thương và phục vụ
2.1.2021 Thánh Cả Basil và Grêgôriô Nazianzen, Gmtsht
1 Ga 2:22-28; Tv 98:1,2-3,3-4; Ga 1:19-28
YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ
Phụng vụ hôm nay nhắc cho chúng ta chân dung của hai vị thánh xuất thân từ Đông Phương, thánh Basiliô (sinh năm 330 tại Xêdarê, miền Capađôcia) và thánh Grêgôriô (sinh năm 330, tại Na-zi-an). Cả hai vị, tuy theo hai con đường để đi tìm chân lý, nhưng đều có chung một đích điểm: hai vị là bạn và là những người có khát vọng đi tìm sự khôn ngoan của Thiên Chuá.
Hai Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian đều được sinh ra tại Cappadoce, thuộc hai gia đình quí phái, danh tiếng, có địa vị vững chắc trong xã hội lúc đó.
Ngay trong ca nhập lễ các Thánh Giám mục đã có viết: “Ta sẽ kiểm điểm đoàn chiên của Ta và đặt một mục tử chăn dắt chúng. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (lời Chúa phán). Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian là các vị mục tử tốt lành Chúa đã đặt lên để chăn dắt đoàn chiên của Ngài.
Hai Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian đều được sinh ra tại Cappadoce, thuộc hai gia đình quí phái, danh tiếng, có địa vị vững chắc trong xã hội lúc đó. Hai vị Thánh đều học cùng trường tại Athènes Hy Lạp, thành đạt trong việc học, hai Ngài đều cùng về quê hương và sống với nhau trong một mái nhà tu viện. Dù rằng tính khí mỗi người khác nhau, nhưng hai vị Thánh đã sống nghĩa thiết chan hòa, sống theo gương mục tử nhân hậu hiền lành noi theo Chúa Giêsu. Thánh Basiliô có tài lãnh đạo, có óc tổ chức, chỉ huy, điều khiển. Thánh Grêgôriô Nazian lại thích chiêm niêm, sống âm thầm và là một tu sĩ sáng ngời các nhân đức.
Cả hai vị Thánh đều được chọn làm Giám mục của hai Giáo phận. Thánh Basiliô được đặt làm Giám mục năm 370 tại Césarée de Cappadoce. Thánh Giám mục Basiliô là một mục tử can trường, đầy dũng khí, hiên ngang. Nhờ lòng dũng cảm: lời giảng dậy, chữ viết và nhờ tài khéo léo, can thiệp trực tiếp của Ngài với Chính quyền, Ngài đã đem lại cho Hội Thánh một chỗ đứng vững chắc, tách quyền Giáo Hội ra khỏi thế quyền. Ngài giúp cho những người nghèo lấy lại phẩm giá của mình và bảo vệ đức tin của đoàn chiên cách sâu xa, vững chắc.
Thánh Grêgôriô Nazian được tấn phong Giám mục Sasime năm 371, và vào năm 380, Thánh nhân được cử làm Giám mục Constantinople giữa sóng gió do bè rối Ariô gây nên. Ngài có tài hùng biện, mọi người đều theo Ngài. Thánh nhân được đặt cho một cái tên hết sức thân thương: “Cha của những kẻ khốn cùng”.
Thánh Basiliô qua đời ngày 01/1/379 và Thánh Grêgôriô Nazian tạ thế ngày 25/1/390.
Cả hai vị Thánh đã sống hiền lành, khiêm nhượng theo gương Chúa Giêsu Cứu Thế. Cuộc sống của các Ngài đã họa lại gương mặt đầy yêu thương của Chúa. Thánh Grêgôriô đã để lại câu nói bất hủ: “Nếu vì tôi mà bão táp này (bè rối Ariô) nổi dậy, hãy ném tôi xuống biển, để anh em khỏi bị khổ sở”.
Giáo Hội Chính Thống đã đặt ba vị Thánh Basiliô cả, Grêgôriô Nazian và Gioan Kim Khẩu lên hàng đầu giữa các bậc tiến sĩ trong Giáo Hội Chúa Kitô. Vì những công nghiệp, tài đức và nhân đức của các Ngài, Hội Thánh còn gọi các Ngài bằng tên rất đẹp, ấn tượng và thân thương: “đuốc thiêng của Hội Thánh”.
Tin Mừng ngày hôm nay cũng cho chúng ta thấy một mẫu gương khiêm tốn là thánh Gioan Tẩy Giả. Một nơi khác trong Tin Mừng, đã có lần Đức Kitô khen ngợi thánh Gioan là vị ngôn sứ cao trọng nhất trong số các ngôn sứ (Mt 11,11). Nhưng thái độ của Gioan trong Tin Mừng hôm nay (Ga 1,19-28) cho thấy sự khiêm nhường tuyệt vời của vị Tiền Hô: “Tôi đây làm phép rửa torng nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” (Ga 1,26-27).
Đúng là sứ vụ của một ngôn sứ, tiên báo Đấng Mêsia sẽ đến: Thánh Gioan Tẩy giả đã đóng đúng vai trò của mình, ngài nhìn nhận sự thật về sứ vụ là dọn đường cho Đức Kitô đến, bằng việc dọn lòng cho dân chúng hoán cải và sẵn sàng tin vào Tin Mừng cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến trong trần gian. Thắc mắc của những người được sai đến với ông Gioan đã được giải thích thoả đáng, một khát vọng mong chờ chung của Dân Hípri: Mong Đấng Mêsia xuất hiện. Gioan không phải là Đấng Kitô, nhưng phép rửa mà Ngài thực hiện mang tính duy nhất, đúng hơn là mang tính cánh chung, để kêu gọi lòng dân trở lại với đường ngay nẻo chính; chuẩn bị cho dân đón nhận một Phép Rửa trong nước và thần khí mà Đức Kitô sẽ thực hiện.
Sứ vụ của Gioan, cũng như tấm gương của hai vị thánh mà Giáo Hội kính nhớ hôm nay cho chúng ta suy nghĩ về thái độ sống của chúng ta, với danh nghĩa là Kitô hữu. Chúng ta nghe nói nhiều đến sứ vụ ngôn sứ của Dân Thiên Chuá, và cũng là của từng Kitô hữu chúng ta (GLCG, số 785), một sứ vụ mời gọi chúng ta sống làm sao để trở nên nhân chứng của Đức Kitô giữa lòng đời vốn có nhiều biến chuyển này.
Trước hết, thiết nghĩ mỗi người chúng ta nên suy tư về việc đào sâu đời sống Đức tin của mình, cùng với cảm thức siêu nhiên của Đức Tin. Khi chúng ta có một cảm thức Đức Tin về Thiên Chuá, Đấng yêu thương và cứu chuộc chúng ta, như Đức Thánh Cha nói đến trong Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng”, chúng ta có thể mạnh mẽ ác tín và hăng say làm chứng cho tình yêu Thiên Chuá trong cuộc đời: “Động lực đầu tiên cho việc loan báo Tin Mừng chính là tình yêu của Đức Giêsu mà chúng ta đón nhận được, cảm nghiệm được Chúa Giêsu cứu độ thúc giục chúng ta yêu mến Người ngày một hơn. Nhưng tình yêu đó là gì nếu không chỉ dừng lại ở việc cần thiết phải nói về Ngài, giới thiệu về Ngài và làm cho người khác biết Ngài?”.
Nhìn chung, cách sống đạo của Kitô hữu tại Việt Nam rất phong phú, nhưng thiết nghĩ một tinh thần ham học hỏi để đào sâu đời sống Đức tin cần được khai triển và sống cụ thể hơn trong đời sống thường ngày, hơn là chỉ dừng ở những hoạt động đạo đức. Việc đạo đức thì luôn tốt, nhưng sẽ phong phú và sinh ích lợi nhiều hơn nếu chúng ta đi vào chiều sâu của đời sống Đức tin, qua việc hăng say học Giáo Lý, tập chia sẻ Tin Mừng, và ngay cả chia sẻ những cảm nghiệm Đức Tin trong nhóm đạo đức mà chúng ta đang tham gia. Dĩ nhiên, việc chia sẻ này bao hàm cả hai chiều kích: Tôi muốn chia sẻ cảm nhận về tình thương Chuá đã dành cho tôi, và những bạn bè trong nhóm cũng sẵn lòng để lắng nghe những cảm nhận đó với lòng tôn trọng.
Hơn nữa, thái độ khiêm tốn luôn là điều đáng khích lệ cho mỗi người tín hữu chúng ta. Khiêm tốn là nhìn nhận đích thực những gì mình có, như thánh Gioan Tẩy Giả đã chứng tỏ cho chúng ta thấy.
Đó không phải là nhìn nhận những gì mình có để vênh vang, tự cao tự đại; nhưng là để biết tạ ơn Chuá vì mọi ơn chúng ta có được đều là do ơn lành Chúa ban, chứ tự thân, con người không thể tự có được. Đồng thời ý thức rằng ơn Chuá ban là để làm cho mình nên tốt hơn, và để phục vụ Giáo Hội cùng xã hội. Hai điều này luôn phải đi đôi với nhau. Một đàng, mỗi người ý thức thân phận yếu hèn của mình để luôn cảnh giác với những thói hư tật xấu vốn có thể ngấm ngầm làm cho chúng ta ra kiêu ngạo, tự mãn. Đàng khác, phục vụ điều thiện, phục vụ công ích, mà tiên vàn là phục vụ những người thân cận của mình, là bổn phận và sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Thái độ phục vụ cũng là điều đáng để chúng ta suy nghĩ để rồi chúng ta tìm cách phục vụ tha nhân.
2020
Lắng nghe và thực hành lời Chúa như Mẹ
1.1.2021 Mẹ Thiên Chúa
Lc 2:16-21
LẮNG NGHE VÀ THỰC THI LỜI CHÚA NHƯ MẸ
Chúa có một người Mẹ thật tuyệt vời. Một người Mẹ cho Chúa dòng sữa, cho Chúa tình thương. Một người Mẹ đã nói lời xin vâng bằng cả cuộc đời dấn thân cho chương trình Thiên Chúa Cha được nên trọn. Một người Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa Cha và được mọi ân huệ lớn lao đến nỗi là người có phúc hơn mọi người nữ.
Người Mẹ đó Chúa đã tặng ban cho nhân loại chúng con. Qua Môn đệ Gioan, Mẹ Maria đã nhận chúng con là con cái của mẹ. Mẹ đã đi vào trong từng cuộc đời chúng con. Mẹ vẫn đang đồng hành để chia sẻ buồn vui trong kiếp người chúng con. Chúng con xin cám ơn Chúa đã ban Mẹ Maria cho chúng con. Xin cho chúng con luôn chạy đến cùng Mẹ, luôn nương nhờ ơn phước của Mẹ, để nhờ Mẹ chúng con được đón nhận ơn lành của Chúa.
Sau khi được sứ Thần Thiên Chúa loan báo về thân thế của Hài Nhi Giêsu và dấu chỉ cho biết người là Đấng Cứu Thế đã sinh ra trong thành vua Đavít, các mục đồng hối hả chạy đến hang đá và họ đã chính mắt thấy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, y như lời Thiên Thần đã báo trước. Điều nầy cho thấy, Đức Giêsu đã được sinh ra từ lòng mẹ là Đức Maria như mọi bà mẹ khác và Đức Maria chính là Mẹ Thiên Chúa, vì Hài Nhi Giêsu là Thiên Chúa (2, 11).
Khi tuyên xưng Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là Con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong biến cố Nhập Thể. Lễ kính trọng thể “Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa” có gốc tích rất lâu đời và được phổ biến trên khắp thế giới.
Trong lịch canh tân Phụng Vụ, lễ kính trọng thể Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa này được cử hành vào ngày mồng 1 tháng giêng, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, ngày kính nhớ việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giê-su, nhưng cũng trùng với ngày Tân Niên, ngày đầu năm mới cầu cho hòa bình thế giới. Đức Phao-lô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy này được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rô-ma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Ma-ri-a góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quý đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống”
Cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng ta mừng kính đặc ân cao trọng nhất trong 4 đặc ân Đức Mẹ đã lãnh nhận : Mẹ Thiên Chúa. Những tưởng rằng trong ngày đại lễ này Giáo Hội sẽ cho chúng ta nghe những bài Tin Mừng nói về vai trò quan trọng của Đức Mẹ trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhất là những khi Ngài làm phép lạ với đầy uy quyền (hóa bánh ra nhiều, chữa lành mọi thứ bệnh tật, tại tiệc cưới Cana …)hoặc khi Chúa phục sinh vinh quang …vv…vì Con đầy quyền năng thì Mẹ cũng được vinh dự. Thế nhưng Giáo Hội lại cho chúng ta chiêm ngắm Mẹ nơi hang đá máng cỏ, một nơi chẳng có gì là hoành tráng và danh dự, một nơi có vẻ như không xứng hợp với tước vị Mẹ Thiên Chúa của Ngài?! Rồi trong chính trình thuật này, Thánh Luca cũng không cho thấy Mẹ nói một lời nào, chỉ nhìn, lắng nghe và suy niệm trong lòng……
Với lời xin vâng, ta thấy Mẹ tin tưởng vào Thiên Chúa: Việc này Mẹ đã làm ngay từ khi thụ thai Con Thiên Chúa, chính Bà Isave đã khen ngợi Mẹ về điều đó “ Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45). Đường lối và cách hành động Của Thiên Chúa thật khó hiểu không phài vì phi lý hoặc vô lý, nhưng vì đường lối và cách thức hành động ấy không nằm trong khung suy tư của con người. Thiên Chúa có lý của Ngài. Con người chỉ có thể nhận ra cái lý của Thiên Chúa với lòng tin, với đức mến và sự cậy trông.
Trong khiêm nhường thẳm sâu, Mẹ đã hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa. Hơn thế nữa, Mẹ cũng khám phá ra rằng : Khi Thiên Chúa muốn thì không gì có thể cưỡng lại được, Ngài sẽ thực hiện mọi sự theo ý muốn của Ngài.
Mẹ vâng phục thánh ý Thiên Chúa: Mẹ không chỉ vâng phục thánh ý Thiên Chúa trên bình diện lý trí bằng sự tin tưởng và phó thác, mà trên bình diện thực tiễn, Mẹ đã tuân theo và thực hiện thánh ý đó trong cuộc sống, Mẹ chấp nhận những gian nan thử thách Chúa đang gửi đến trong âm thầm nhẫn chịu. Sự vâng phục đó không chỉ nhất thời, bây giờ và lúc này, nhưng trải dài trong suốt cuộc đời của Mẹ, khi bôn ba đây đó trong công cuộc truyền giáo, khi chia sẻ thân phận “không chỗ gối đầu” với người Con thân yêu của mình.
Và cao điểm nhất, khi Mẹ đứng dưới chân thập giá, khi phải tận mắt chứng kiến cái chết đau thương và hy sinh chính mạng sống của Con mình, chúng ta mới thấy được tuyệt đỉnh của sự vâng phục: Mẹ đã kết hợp sự vâng phục của Mẹ với sự vâng phục của Con. Có thể nói : nếu chúng ta dùng hình ảnh toán học để so sánh thì trong gia đình Thánh Gia, mẫu số chung của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse là sự vâng phục Thiên Ý, còn tử số là sự vâng phục theo cách riêng của mỗi người: Chúa Giêsu thực hiện bằng cái chết, Mẹ Maria thực hiện trong âm thầm chấp nhận còn Thánh Giuse thực hiện bằng thi hành ngay khi thánh ý ban ra.
Đức Maria là người đã lắng nghe và thực hiện Lời Chúa.
Hẳn ta còn nhớ, một hôm, trước những lời giáo huấn sâu sắc, mới mẻ, đầy tình yêu thương, thông cảm, tha thứ của Chúa Giêsu, một người phụ nữ đã lớn tiếng ca tụng Người Mẹ đã cưu mang và đã cho ngài bú. Nghe những lời đó, Chúa Giêsu mời người phụ nữ và những người chung quanh đi xa hơn nữa trong cái nhận định tốt đẹp đó. Đối với Chúa Giêsu, điều đáng trân trọng và quý giá, chính là niềm tin, lòng yêu mến và phó thác được thể hiện qua việc lắng nghe và thực hiện Lời Chúa.
Một lần khác, khi Chúa Giêsu đang giảng dạy, rất đông dân chúng bu quanh, thì có người báo cho biết là, có Mẹ và anh em ngài muốn gặp ngài. Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khẳng định : những ai lắng nghe và thực hiện thánh ý Thiên Chúa là Mẹ và là anh em của ngài.
Lắng nghe Lời Chúa và thực thi thánh ý Chúa. Đó chính là cái cốt lõi cuộc sống, ơn gọi và hạnh phúc của con người. Đức Maria là người đầu tiên đã sống như thế. Và, Đức Maria xứng đáng được xưng tụng là Mẹ Thiên Chúa.
Nếu chúng ta noi gương Mẹ, nếu chúng ta gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng mình điều gì mà Chúa Giêsu nói với chúng ta và điều gì Ngài làm trong chúng ta, chúng ta thật sự bước trên đường thánh thiện Kitô giáo và chúng ta sẽ không bao giờ thiếu đạo lý của Ngài và ân sủng của Ngài. Cũng vậy, bằng việc chiêm niệm theo cách thức này giáo huấn Chúa Giêsu đã cho chúng ta, chúng ta sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Ngài. Có như vậy, ta sẽ thực sự trở thành con của Mẹ cách trọn hảo hơn.
2020
Lời đã thành xác phàm
31 18 Tr Thứ Năm. NGÀY THỨ BẢY TUẦN
BÁT NHẬT GIÁNG SINH.
1 Ga 2,18-21; Ga 1,1-18
LỜI ĐÃ THÀNH XÁC PHÀM
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” đó là lời xác quyết của thánh sử Gioan, là lời xác quyết của các tông đồ, của Giáo Hội và cũng là lời xác tín của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của câu Lời Chúa này diễn tả mầu nhiệm nhập thể, một Ngôi vị của Thiên Chúa đã được sinh ra và ở giữa chúng ta, để nhờ Người chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa và hưởng trọn lời hứa cứu độ.
Ngay từ câu đầu tiên của Tin Mừng thánh Gioan đã khẳng định căn tính và nguồn gốc của Ngôi Lời (Logos). “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Lúc khởi đầu là một kiểu nói gợi lên sự khởi đầu tuyệt đối theo sách Sáng thế: “Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất”. Điều này cho thấy nguồn gốc của Đức Giêsu không phải bởi thụ tạo mà bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời ấy là Thiên Chúa thật, Đấng được sinh ra mà không phải được tạo thành. Hay nói cách khác, Ngôi Lời đã có từ trước khi tạo dựng, nên Người hiện hữu mà không phải do tạo dựng.
Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời. Bằng danh xưng này, ngài muốn diễn tả ra thực tại thâm sâu nhất của Đức Giêsu, sự kiện Người nhiệm xuất từ Thiên Chúa và tầm quan trọng của Người đối với loài người chúng ta. Dân Israel nhận biết vị Thiên Chúa của riêng mình như là Đấng nói với họ: không phải như vị Thiên Chúa khép kín mình lại và giam mình trong cõi thinh lặng, vị Thiên Chúa vô danh, xa cách và gây ra sợ hãi, nhưng như vị Thiên Chúa ngỏ lời với họ và cho họ biết các ý định và ý muốn của Ngài. Ngài đã nói với Abraham, đã gọi ông và đã ban cho ông lời hứa là muôn dân được chúc phúc (St 12,1-3).
Qua trung gian Moses, Ngài đã giải phóng dân Ngài khỏi kiếp nô lệ và đã cho biết ý muốn của Ngài đặc biệt trong “Thập Điều”. Nhờ các ngôn sứ, Ngài đã can thiệp vào trong các tình cảnh khác nhau của lịch sử dân Ngài. Ngài đã ngỏ lời với họ, để cho họ truyền đạt như là lời khuyên nhủ, lời khuyến cáo, lời hứa và lời động viên. Lời Thiên Chúa ở tại khởi đầu của toàn thể lịch sử. Bằng Lời tạo dựng quyền năng, Thiên Chúa đã gọi mọi sự ra hiện hữu.
Nhờ Lời này, Thiên Chúa giao tiếp với các tạo thành của Ngài, tự mạc khải ra cho họ, cho họ được thông dự vào tất cả dự phóng và ý muốn của Ngài về họ. Lời Thiên Chúa đã ban sự hiện hữu và sự sống. Lời này ngỏ với chúng ta, và kêu gọi chúng ta dấn thân. Lời này vừa là yêu cầu vừa là lời hứa. Lời này đến từ Thiên Chúa, làm nền tảng và xác định tương quan giữa Thiên Chúa và loài người.
Con Thiên Chúa đến trên địa cầu để làm cho chúng ta sống trên mặt đất này trở nên con Thiên Chúa. Vì thế, toàn trái đất hãy vui mừng và hải đảo hãy hân hoan, vì ơn cứu độ đã được ban tặng cho thế giới.
Như lời thánh Gioan giải thích, “phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Trở nên con Thiên Chúa ư! Thật không thể tưởng tượng được, mầu nhiệm cao vời khôn thấu này. Thánh Gioan Kim Khầu nói : “Con Thiên Chúa đã trở nên con của loài người để làm cho con người trở nên con Thiên Chúa”.
Thiên Chúa làm người. Các tác giả Tin Mừng đều chứng minh cho chúng ta thấy điều đó. Thiên Chúa làm người không chỉ là mượn thân xác con người, mà làm một con người thực thụ, như bao con người khác sống trong kiếp nhân sinh, chỉ trừ tội lỗi. Mầu nhiệm này diễn tả mối tương quan gần gũi giữa Thiên Chúa và con người. Sự kiện Giáng sinh không chỉ là một câu chuyện cổ tích, nhưng là sự hiện diện của Thiên Chúa làm người và ở với nhân loại cho đến ngày tận thế.
Chúng ta tìm kiếm Người và khi đã tìm được thì hãy tiếp nhận Người : vì chỉ trong Chúa Giêsu chúng ta mới có ơn cứu độ ; chỉ mình Chúa Giêsu mới mang lại cho chúng ta ý nghĩa đầy đủ về cuộc sống và khổ đau. Vì vậy, chúng ta hãy đọc Tin Mừng, chiêm ngắm Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta và cố gắng sống theo lời Chúa dạy. Chúng ta sẽ thấy sự thật như thế nào khi chúng ta đang nỗ lực làm cho thế giới chúng ta đang sống ngày một tốt đẹp hơn.
Thánh Gioan còn khẳng định thêm: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại”.
Chính Ngôi Lời ấy đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, như Đức Chúa hứa qua lời ngôn sứ I-sai-a trong Cựu Ước “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Em-ma-nu-en”. Ngài đã đến thế gian từ cung lòng Thiên Chúa Cha, và từ nay sự hiện diện của Ngôi Lời Nhập Thể là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Quả thế, “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (1,1c) “đã trở nên xác phàm” (1, 14) và sống thân phận làm người với sự mong manh, lệ thuộc vào không gian và thời gian.
Đó là một con người đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình, một dân tộc và một nền văn hóa riêng như mỗi người chúng ta. Đó là một vị Thiên Chúa đã xuống thế mang thân phận làm người, để đưa con người lên với Thiên Chúa.
Mầu nhiệm nhập thể ấy thật thâm sâu, Ngôi Lời là nguồn Ân Sủng (Đức Giêsu) tái tạo sự sống cho nhân loại, một “mắt xích” nối kết con người với Thiên Chúa và con người với con người. Nhờ đó, trong sự thông hiệp chúng ta được nên một trong Đức Kitô và nên một trong Thiên Chúa.
Như vậy, Ngôi Lời nhập thể là niềm vui, là niềm hạnh phúc viên mãn mà con người luôn khát khao. Chúng ta kỹ niệm ngày Chúa Giáng Sinh cũng với tâm tình như vậy, một niềm vui rộn rã vì Hài Nhi Giêsu đã và đang ở giữa chúng ta.
Ước gì trong cuộc sống, chúng ta luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa, nhất là mùa giáng sinh này.
