2021
Loan báo Tin Mừng
03 22 Đ Thứ Hai Tuần V Phục Sinh.
THÁNH PHI-LÍP-PHÊ VÀ THÁNH GIA-CÔ-BÊ TÔNG ĐỒ, lễ kính.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
1Cr 15,1-8; Ga 14,6-14.
Loan báo Tin Mừng
Theo truyền thống, việc cử hành lễ này bắt nguồn từ việc cung hiến đại thánh đường dâng kính Mười hai vị thánh Tông Đồ tại Rôma ngày 1 tháng 5 năm 565. Nhân dịp này, có lẽ người ta đã đặt dưới bàn thờ thánh tích của các Tông Đồ Philípphê và Giacôbê. Vì thế, ở Tây Phương, người ta mừng lễ chung cả hai thánh.
Thánh Philipphê (tiếng hy-lạp = Philippos = người thích ngựa), là một trong nhóm Mười hai, quê quán tại Betsaide, cùng thành phố với Anđrê và Phêrô (Ga 1,44). Trong danh sách các Tông Đồ, ngài luôn chiếm vị trí thứ năm, và trong sách Tin mừng của Gioan, ngài xuất hiện ba lần trong tư cách người bạn tâm giao của Đức Giêsu. Ngài đã nói với Nathanael: Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: Đó là ông Giêsu… Cứ đến mà xem (Ga1,45 –46). Rồi cùng với Anđrê, ngài tham gia vào hai việc quan trọng: lúc đầu, lúc Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều và trước ngày Chúa chịu khổ nạn – đó là ngày Đức Giêsu vinh quang tiến vào Giêsusalem; lần sau, khi ngài làm môi giới cho các khách hành hương Hy Lạp muốn gặp Đức Giêsu (Ga12, 20 –21). Tin mừng của Gioan còn cho ta thấy ngài tại bàn Tiệc Ly, ngài nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha …” (Ga 14, 8 tt).
Theo truyền thuyết, có lẽ Philípphê đã rao giảng Tin Mừng cho miền Tiểu Á và chịu đóng đinh tại Hiérapolis, vùng Phrygie. Nghệ thuật ảnh tượng thường minh họa ngài với cây thập giá trong cuộc tử đạo, hay đang lúc chịu đóng đinh.
Giacôbê – được gọi Hậu hay Tiểu huynh – cũng là một trong nhóm Mười hai. Người ta thường đồng hóa ngài với Giacôbê, người anh em của Chúa (Gl 1,19, Mc 6,3), là giám mục Giêrusalem và nhân vật hàng đầu của Hội thánh tiên khởi (Cv 15). Đức Giêsu hiện ra cho ngài sau khi Người đã phục sinh (Cv 15, 1- 8) và có lẽ ngài cũng là tác giả của thư Giacôbê.
Theo lưu truyền, Giacôbê Hậu chịu tử đạo tại Giêrusalem. Sau khi đẩy ngài từ trên cao Đền thờ xuống, người ta kết liễu đời ngài bằng cuộc ném đá. Nghệ thuật ảnh tượng minh họa ngài với một cái chùy cối xay, hay cuốn sách.
Lời cầu xin của Philípphê với Đức Giêsu: Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha; như thế là chúng con mãn nguyện (Phúc Âm ngày lễ: Ga 14,6-14) và lời đáp của Thầy: Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha, tất cả đều là trọng tâm của lời kinh Phụng Vụ.
Lời nguyện nhập lễ gợi lại mục đích đời sống Kitô hữu: là “được thông phần vào cuộc Khổ nạn và Phục Sinh” của Đức Kitô để “được chiêm ngưỡng vinh quang của Người”. Quả vậy, chính Đức Kitô là đường dẫn đến Chúa Cha: Thầy là Đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến với Cha mà không qua Thầy… Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha Thầy (câu 6 và 9). Các câu này trở đi trở lại nhiều lần trong Thánh lễ và trong các giờ kinh Phụng Vụ.
Cả Philípphê lẫn Giacôbê đều được thấy Đấng Phục Sinh và đã làm chứng về Người. Giacôbê được thánh Phaolô nhắc đến (1 Cr 15,8) như là một nhân chứng về sự sống lại của Chúa: … sau đó, Ngài cũng hiện ra cho Giacôbê (bài đọc một trong Thánh lễ).
Lời nguyện trên lễ vật gợi lại lòng đạo đức đích thật được các Tông Đồ Philípphê và Giacôbê giảng dạy và chúng ta được mời gọi “thực thi cách tinh truyền và không có gì đáng trách”. Như thế, chúng ta cũng nhớ đến Thư của thánh Giacôbê – Theo lưu truyền được gán cho Giacôbê, người anh em của Chúa – qua đó chúng ta đọc: Lòng đạo đức tinh truyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian (Gc 1,27). Vậy sự tôn thờ đích thật, phù hợp với lời giảng dạy của các ngôn sứ, không thể tách rời khỏi lẽ công bình và lòng yêu mến các kẻ “Hèn mọn”: … Hãy tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ (Is 1,17)
Giáo Hội mừng kính hai thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê. Hai vị thánh này xuất thân từ Bếtsaiđa, cùng quê với Phêrô và Anrê thuộc nhóm môn đệ của Gioan Tẩy Giả, và trở thành những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu.
Nếu như Giacôbê tiền là anh của Gioan, là con của ông Dêbêđê, thì Giacôbê chúng ta mừng kính hôm nay là Giacôbê hậu, con của ông Anphê. Tiền và hậu chỉ sự phân biệt chứ không nói lên đặc tính gì quan trọng.
Còn thánh Philipphê là người đã giới thiệu ông Nathanaen cho Chúa Giêsu; đồng thời cũng là người giới thiệu nhóm người Hy Lạp khi họ xin được gặp Chúa Giêsu.
Nhìn thấy Thiên Chúa! Khát vọng khôn nguôi của con người, nền tảng vững chắc cho Đức Tin chúng ta! Lời kêu xin của Philípphê cũng là niềm khao khát của mỗi người chúng ta. Lời mở đầu Tin Mừng Gioan khẳng định: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ!” (Ga 1,18). Nhưng vì tình yêu tế nhị và đầy cảm thông cho niềm tin chúng ta, Thiên Chúa đã trở nên hữu hình với một gương mặt nhân loại để chúng ta nhìn ngắm Ngài để chúng ta tin: Gương Mặt tuyệt vời của Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha!”
Hai vị thánh được Giáo Hội mừng kính hôm nay nếu chỉ dựa trên những gì Sách Thánh nói, thì không có gì nổi trội đặc biệt. Thế nhưng, họ đã được chọn làm Tông đồ của Chúa, chứng tỏ nơi tâm hồn các ông đã có sẵn lòng nhiệt thành và sự sốt sắng đáp trả khi được ơn kêu gọi. Với thánh Philipphê khi xin Chúa: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”; và thánh Giacôbê, vị Tông đồ được sánh bước với Thầy và được thấy những việc Chúa làm. Như thế đủ thấy các ngài được chọn là để thấy, để nghe, để ra đi và để làm chứng cho chính Chúa.
Cuộc đời người tín hữu là một cuộc hành trình, hành trình ấy cũng khởi đi từ Thiên Chúa, và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Ở đó, nếu Người Kitô hữu bước đi trên con đường mang tên Giêsu thì sẽ đến được đích. Nhưng nhiều lúc trong cuộc đời, chúng ta lại chỉ bước đi trên con đường riêng do mình vạch ra.
Năng lực của đức tin được thể hiện khi người tin hành động nhân danh Đức Giêsu và với mục đích vinh danh Thiên Chúa. Khi tin thật Đức Giêsu là con đường dẫn tới Thiên Chúa Cha, là nguồn sự sống, chúng ta sẽ trung tín và kiên trì bước đi đến cùng.
Mỗi người chúng ta cũng được Chúa chọn qua bí tích Rửa Tội; và vì vậy, chúng ta cũng được diễm phúc: thấy những việc Chúa làm trong cuộc đời mình; nghe những lời Chúa nói qua Tin Mừng, qua Giáo Hội; được sai đi loan báo Tin Mừng và làm chứng bằng đời sống gương mẫu về công bình, bác ái, niềm tin, lòng trông cậy và tình mến Chúa.
2021
LAO ĐỘNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA
01 20 Tr Thứ Bảy Tuần IV Phục Sinh.
(Tr) Lễ thánh Giu-se thợ.
Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.
Cv 13,44-52; Ga 14,7-14.
Bài đọc lễ Thánh Giuse Thợ:
St 1,26-2,3 (hoặc Cl 3,14-15.17.23-24); Mt 13,54-58
LAO ĐỘNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA
Chúa Giêsu khi từ cõi chết sống lại, Ngài hiện ra với bà Maria Madalêna, Ngài không tỏ vinh quang như trên núi Hiển Dung cho các môn đệ (x Mt 17), mà bà Maria Madalêna thấy Chúa Giêsu Phục Sinh tưởng đó là người làm vườn (x Ga 20,15). Chúa Giêsu Phục Sinh hữu ý mang dáng dấp người làm vườn là Ngài muốn nối tiếp sứ mệnh Thiên Chúa trao cho ông Adam phải canh tác vườn, nói lên quyền làm chủ vạn vật Thiên Chúa đã tạo dựng (x St 1,26 – 2,3.15 : Bài đọc), để Đức Giêsu trở nên mẫu người lao động cho cả loài người. Thánh Gioan Kim Khẩu nói : “Thiên Chúa làm người, cho con người được làm Thiên Chúa”. Nghĩa là nơi Đức Giêsu có hai bản tính : Bản tính loài người và bản tính Thiên Chúa.
Do đó ai muốn trở nên giống Thiên Chúa trong bản tính loài người, thì phải lao động việc trần thế, và qua Bí tích Khai Tâm, con người đã được thông dự vào bản tính Thiên Chúa, thì còn phải lao động vào việc Nước Thiên Chúa.
Suốt ba mươi năm đầu cuộc đời Đức Giêsu, trong xưởng mộc với ông Giuse, cha Ngài tại Nazareth, thì người ta chỉ nhìn Ngài là “con bác thợ mộc” (x Mt 13,55 : Tin Mừng), Ngài nói : “Con không thể làm gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Cha làm, điều gì Người làm thì Con cũng làm như thế” (Ga 5,19).
Giáo huấn của Công Đồng Vat.II, dạy chúng ta biết về giá trị lao động trần thế : “Hoạt động của con người phát xuất từ con người, nên quy hướng về con người. Thật vậy, khi làm việc, con người không những biến đổi sự vật và xã hội, mà còn cải thiện chính mình. Bởi vì khi làm việc, con người học biết được nhiều điều, phát triển tài năng, cũng như thoát ra và vượt khỏi chính mình. Nếu được hiểu cho đúng thì, sự tăng triển này còn đáng gía hơn mọi của cải thu tích được. Giá trị của con người hệ tại ở “cái mình là” hơn là ở “cái mình có”.(Hiến Chế Hội Thánh Trong Thế Giới Hôm Nay số 35).
Như thế làm việc không nhất thiết phải đạt thành công trước mắt, nhưng đã trở nên nghĩa người hơn. Chính Đức Giêsu suốt đời làm việc không ngơi nghỉ giống Cha trên trời (Ga 5,17), thế mà cuối đời xem ra thất bại, bị mọi người khai trừ! Nhưng chính lúc ấy, Tổng trấn ngồi xử án, lại chỉ riêng vào Đức Giêsu đang đứng trước một rừng người, và ông lớn tiếng tuyên bố: “Này là Người” (x Ga 19, 5).
Kinh thánh kết án kẻ lười: “Kẻ lười tệ kém hòn phân, ai mà đụng nó là tay phủi liền” (Hc 22,2).Ai không chu toàn bổn phận mình, nó là anh em với quân phá hoại (Cn 18,9).
Khi làm việc con người được thoát ra: tức là thoát ra khỏi kiếp loài vật, vì con vật ăn sẵn những gì Thiên Chúa hoặc con người tạo nên cho nó: như con sâu ăn lá cây, con gà ăn giun, con heo ăn cám… Trái lại, con người dùng thực phẩm do tay mình làm ra.
Khi làm việc con người vượt khỏi chinh mình, tức là nhờ làm việc, con người có thêm của cải để chia sẻ. Chính nhờ biết chia đi, mà con người được biểu lộ giống Chúa, vì Thiên Chúa làm mọi sự chỉ để ban tặng cho loài người.
Tất cả những việc Đức Giêsu làm trong sách Tin Mừng ghi lại chỉ nhằm mục đích cho mọi người nhận biết Ngài là Thiên Chúa cứu độ duy nhất (Cv 4,12), để dạy mọi người cách sống yêu. Đức Giêsu đã biểu lộ tình yêu của Ngài qua việc làm : Kẻ đói Ngài cho ăn, người bệnh tật Ngài chữa lành, nhất là Ngài hết lòng rao giảng Lời Chúa Cha nhằm cứu độ loài người,và huấn luyện các môn đệ để nối tiếp sứ mệnh của Ngài. Những việc làm ấy, chỉ có giảng Lời và huấn luyện môn đệ, dù người ta chống đối, loại trừ, nhưng vẫn còn tồn tại cho đến tận thế. Như vậy, giảng Lời và huấn luyện con người,tạo chất xám phục vụ Nước Thiên Chúa quan trọng nhất. Vì ngay khi Đức Giêsu còn trên dương thế, những ai chỉ muốn Ngài cho bánh ăn, hoặc được lành bệnh, thì Ngài trốn đi cầu nguyện ! (x Lc 4).
Thánh Giuse trong Tin Mừng chỉ cho biết ông làm nghề thợ mộc, công việc này để phụ giúp Đức Maria nuôi dưỡng Đức Giêsu. Nhưng ông khuất đi rất sớm, thì chắc chắn Đức Giêsu phải vất vả tiếp nối công việc của cha Giuse để phụ kinh tế trong gia đình với Mẹ Ngài. Thế thì việc lao động cơ bắp của ông Giuse không quan trọng lắm, mà quan trọng nhất là ông luôn tỉnh thức mau mắn làm theo Lời Chúa dạy, để đóng góp vào chương trình cứu độ loài người Con Thiên Chúa thực hiện.
Thực vậy, Thánh Matthêu ghi lại ba lần trong đêm tối ông Giuse mau mắn chỗi dậy thực thi Lệnh Chúa truyền :
Lần I : Ban đêm Chúa ra lệnh cho ông Giuse phải chỗi dậy đón Maria, vợ ông về chung sống, để Maria sinh Con Đấng Tối Cao được an toàn, nếu không sẽ bị người đời ném đá, và ông còn có nhiệm vụ đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu, để Chúa Giêsu được sinh ra làm ứng nghiệm lời Sách Thánh đã tiên báo Đấng Cứu Thế thuộc dòng vua Đavid, vì ông Giuse thuộc dòng này (Mt 1,18t).
Lần II : Ban đêm Chúa ra lệnh cho ông Giuse mau chỗi dậy để đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập, vì vua Hêrôđê đang lùng kiếm giết Hài Nhi (Mt 2,13-18).
Lần III : Đang đêm Chúa bảo ông Giuse chỗi dậy đưa Maria và Hài Nhi trở về Nazareth, vì Ngài có sứ mệnh giải phóng loài người thoát nô lệ Satan, hơn sứ mệnh của ông Môsê đưa dân Do Thái thoát nô lệ Ai Cập (Mt 2,19-23).
Ba lần trong đêm ông Giuse chỗi dậy làm theo ý Chúa tiên báo về Đức Giêsu sau ba ngày từ cõi chết sống lại, để hoàn tất việc giải phóng loài người thoát tay tử thần.
Như thế, qua Kinh Thánh Chúa muốn mọi người xác tín : Phải chu toàn việc Nước Thiên Chúa trước khi chu toàn việc trần thế, thì cuộc đời con người mới hạnh phúc. Chính vì thế mà kẻ nào chỉ lo chạy đến cầu cứu Đức Giêsu cho của ăn vật chất, hoặc được lành bệnh, thì Ngài đã trốn họ. Nếu họ cứ tìm đến Ngài, Ngài phải lên tiếng nhắc nhở : “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”. Họ liền hỏi Người : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” Đức Giêsu trả lời : “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,27-29).
Vậy mọi người muốn được Chúa chăm sóc, thì phải thực hành Lời Ngài dạy : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
“Tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước nhất”, cụ thể là mau mắn làm theo ý Chúa để chung tay phát triển Tin Mừng, xây dựng Hội Thánh, với tinh thần thánh Tông Đồ dạy : “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha. Bất cứ làm việc gì, hãy làm tận tâm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời,vì biết rằng anh em sẽ nhận được phần thưởng Chúa ban, là gia nghiệp dành cho dân Người. Đức Kitô là Chủ, anh em hãy phục vụ Người” (Cl 3,14.17,23-24 : Bài đọc).
Muốn sống tinh thần lao động như Đức Giêsu, như thánh Giuse, ta phải cầu nguyện : “Lạy Chúa, việc tay chúng con làm xin Ngài củng cố” (Tv 90/89,17c : Đáp ca). Để “ngày lại ngày, xin chúc tụng Chúa, Thiên Chúa cứu độ ta, Người đỡ nâng ta” (Tv 68/67,20 : Tung Hô Tin Mừng).
Lễ thánh Giuse Lao Động được đặt vào đầu tháng năm, tháng Hoa kính Đức Mẹ. Hội Thánh muốn con cái mình hãy làm việc với tinh thần giống Chúa Giêsu và thánh Giuse, để trở thành những bông hoa tươi thắm dâng kính Mẹ Maria.
2021
CON ĐƯỜNG GIÊSU
30.4 Thứ Sáu Tuần IV Phục Sinh
– Thánh Pi-ô V, Giáo Hoàng.
– Các bài đọc Lời Chúa: Cv 13,26-33; Ga 14,1-6.
CON ĐƯỜNG GIÊSU
Antonio Ghislieri sinh hạ trong một gia đình nghèo ở Lombardie (Ý). Nhờ sự giúp đỡ của một người giàu có, Antonio được học vào dòng Đa Minh lúc lên 15 tuổi. Sau khi lãnh chức linh mục, Ngài làm việc một thời gian trong toà án thẩm tra, làm Giám Mục Sutri, Hồng Y và năm 1566, được bầu lên ngôi Giáo Hoàng với tước hiệu Piô V.
Triều đại của Ngài vắn vỏi 6 năm, nhưng đem lại cho Giáo Hội nhiều kết quả lớn, là thực thi những quyết nghị của công đồng Triđentinô (1545-1563).
Ngài sống đơn sơ khó nghèo, không theo lối một số hàng giáo sĩ, dọn đường cho một thế hệ Giám Mục mới. Ngài cho ra cuốn Giáo Lý Lamã, phiên dịch ra tiếng bình dân phổ thông, sửa đổi sách Nhật Tụng và sách Lễ, thiếp lập Bộ Kiểm Duyệt sách xấu, cho tái bản bộ sách Thánh Tôma mà Người tôn phong Tiến Sĩ.
Ngài kêu gọi các vua Công Giáo liên minh chống lại Thổ Nhĩ Kỳ đang mang tâm dẫn đại quân vịnh Lepante. Hình như Ngài, trong thị kiến, đã nhìn thấy diễn tiến của trận hải chiến. Quân Hồi thảm bại. Giáo dân đã cầu nguyện nhiều với Đức Mẹ Mân Côi và chính Đức Thánh Cha như biết trước đó là diễn tiến cuối cùng của đời Ngài. Mấy tháng sau, Ngài qua đời ngày 01 tháng năm 1572.
Nhờ dựa vào cuộc thẩm tra, Đức Piô V cũng đấu tranh chống sức bành trướng của đạo Tin lành tại Ý và Tây Ban Nha. Về phần nước Anh, ngài ủng hộ Marie Stuart mà phạt vạ tuyệt thông cùng chủ trương hạ bệ nữ hoàng Élisabeth (1570). Song việc này chỉ khiến cho tình cảnh của những người Công giáo trong vương quốc này càng thêm éo le hơn.
Vì lo âu trước tai họa người Thổ Nhĩ Kỳ đang gieo rắc cho Ki-tô-giáo ở Tây Phương, nên Đức Piô V – trong một Châu Âu bị phân hóa – đã cũng với Venise và Tây Ban Nha, thành lập một Liên minh Kitô-giáo. Từ đó, dưới sự chỉ huy của Don Juan d’Autriche, hạm đội liên quân đã thắng trận Lépante (ngày 7 tháng 10 năm 1571), khiến hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ của Ali Pacha thoát chạy tán loạn. Nhân chiến công hiển hách đó đã làm nức lòng giới Kitô giáo đồng thời chấm dứt huyền thoại về đế quốc Ottoman bất bại, Đức PiôV thành lập ngày lễ Đức Bà Toàn Thắng (hay Đức Bà mân Côi).
Vì thế, vị Giáo Hoàng của công cuộc Canh Tân Hội thánh Công giáo cũng là vị thánh của chuỗi Mân Côi. Đặc biệt ngài cũng là người cổ vũ việc lần hạt qua sắc chỉ Consueverunt (1569). Sắc chỉ này giải thích và phần nào xác định hình thức truyền thống của chuỗi Mân Côi (xem thông điệp Marialis cultus, số 42).
Hôm trước ngày người qua đời, Đức Piô V nói với các Hồng y qui tụ quanh mình: “Ta gửi gắm cho chư vị Hội thánh mà ta rất yêu mến. Xin chư vị hãy bầu cho Ta một người kế vị nhiệt thành; vị đó chỉ lo tôn vinh Thiên Chúa và không mưu cầu điều gì khác dưới trần thế này ngoài vinh dự của Tòa thánh và lợi ích cho các nước theo Kitô giáo”.
Ngài được tôn phong Hiển Thánh năm 1712 do Đức Clemente XI.
Trên hành trình dốc tâm theo Thầy Giêsu, các môn đệ luôn xác tín rằng, để có một ngày mai tươi sáng huy hoàng, không ai dại gì để đi vào chỗ chết. Cả chúng ta ngày hôm nay cũng vậy, không ai dại gì đánh đổi cuộc sống mình để chết và đau khổ. Đây là nỗi thao thức chung của chúng ta hôm nay cũng như của các môn đệ năm xưa. Vậy mà bỗng dưng Thầy Giêsu loan báo: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta, và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại.” (Mc 9,30).
Chúa Giêsu một lần nữa tỏ cho chúng ta sứ mạng Ngài. Sứ mạng của Ngài là đến trần gian để dẫn đưa nhân loại về cùng Cha, đến sự sống đời đời. Chính Chúa Giêsu là con đường duy nhất, mà ai muốn đến cùng Cha, muốn có sự sống đích thực thì phải qua con đường đó. Nếu chúng ta từ chối Chúa Giêsu, không bao giờ chúng ta có thể đạt được hạnh phúc viên mãn.
Nhưng thế nào là đi vào con đường của Chúa Giêsu là đón nhận Chúa Giêsu? Lời Chúa nhắc nhở cho chúng ta: Yêu mến là chu toàn giới luật. Luật yêu thương mà Chúa đã sống và truyền lại cho chúng ta. Nếu chúng ta biết sống yêu là một dấu chứng chúng ta đang đi trong con đường tình yêu của Chúa Giêsu. Ðể cùng với Chúa Giêsu chúng ta đi về cùng Cha hưởng nguồn hạnh phúc vĩnh cửu.
Chúa Giêsu ra đi không phải đi tìm hạnh phúc cho riêng mình, nhưng cho các tông đồ và cho cả nhân loại. Ngài ra đi để chúng ta được cứu rỗi, Ngài đi trước để dọn chỗ cho chúng ta được sống đời đời hạnh phúc bên Chúa Cha. Chính qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Ngài đã trở thành con đường duy nhất dẫn chúng ta đến với Chúa Cha. Khi suy nghĩ về mục đích của cuộc đời hiện tại và về cuộc sống mai sau, chúng ta hãy biết sống tỉnh thức bằng việc giữ tâm hồn trong sạch, luôn tín thác vào Chúa, Ngài sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc muôn đời nơi Nhà Cha của Ngài là Thiên Đàng vinh phúc đã được dọn sẵn cho chúng ta.
Và ta thấy Tin mừng kể, “điều này làm cho các tông đồ khó hiểu”. Rồi trang Tin mừng hôm nay, Thầy Giêsu lại loan báo một sự ra đi, bỏ lại các ông, lại làm cho các ông bối rối lo lắng hơn, xem ra những mục đích và dự tính của các ông đang bị vỡ mộng. Chính trong tâm trạng đó, Thầy Giêsu đã trấn an các ông. Như có lần Ngài trấn an bằng việc đưa ba môn đệ lên núi Tabore để cho các ông thấy vinh quang của Ngài.
Như lần Ngài đã hỏi các ông: “Anh em không nhớ sao, khi Thầy bẻ năm chiếc bánh cho năm ngàn người ăn, anh em đã thu lại được bao nhiêu thúng đầy mẩu bánh. . . .khi Thầy bẻ bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người ăn anh em đã thu lại được bao nhiêu giỏ đầy mẩu bánh”(Mc 8, 17-20). Chính vì thế hôm nay Thầy Giêsu trấn an các ông. “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.
Vâng tin là không cần điều kiện, không cần thế chấp, mà là tín thác và hy vọng, là dấn thân và trông cậy. Đây chính là điều Thầy Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ của Ngài. Hãy tin vào Ngài. Con đường bước theo Thầy Giêsu, dẫu có bước vào sự chết, đau khổ, dẫu có bị bỏ rơi, hay sỉ nhục cũng không phải là điên dại hay hủy diệt, mà là sự sống và hạnh phúc.
Tin vào Thầy Giêsu chúng ta đi vào sự sống. Tin vào Thiên Chúa chúng ta đi vào sự khôn ngoan. Đây chính là luận cứ của thánh Phaolô trong bài đọc một.
Tại hội trường Antiôkia, thánh Phaolô muốn chứng minh cho người Do thái thấy, Thiên Chúa Cha đã sắp xếp mọi sự, để cho Chúa Giêsu đến trần gian, chịu đau khổ và sự chết, nhưng ngày thứ ba Ngài đã sống lại. Thiên Chúa đã dùng chính Chúa Giêsu để hoàn tất lịch sử Do thái, để đi vào lịch sử nhân loại. Thánh Phaolô nhắc. “Điều Thiên Chúa đã hứa với cho ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Chúa Giêsu sống lại”.
Tin vào Thiên Chúa là bước đi trong sự khôn ngoan, nhận ra chương trình Thiên Chúa là tin Đức Giêsu đến để hoàn tất những gì Kinh thánh đã loan báo. Một khi đã tin vào Thiên Chúa, thì phải đón nhận Đức Giêsu, chấp nhận đi theo con đường của Ngài. Ngài về cùng Chúa Cha để dọn chỗ cho chúng ta, và như Ngài khẳng định: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.
Thế giới có biết bao nhiêu con đường để đi về quê trời: những con đường ấy đã làm cho biết bao nhiêu người lầm lạc, và cả ta nữa. Con đường Đạo: Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Cơ Đốc, Đạo Hồi, Đạo Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo, và Đạo Công Giáo của chúng ta. Cũng thờ Chúa Giêsu, cũng tin Chúa Giêsu nhưng không đi trên con Đường Sự Thật của Chúa. Nên đã lạc lối. Làm sao biết đường Chúa đi.
Con người sống giữa trần gian với biết bao lạc thú, biết bao cám dỗ, biết bao đam mê, biết bao dục vọng mà bản thân ta cứ buông xuôi theo dòng đời. Kẻ thì chạy theo danh vọng, người thì đi kiếm tiền tài, kẻ lại tìm những thú vui trần thế…Có những kẻ tàn ác đi tìm kiếm uy quyền để giết hại đồng loại; có những người bệnh hoạn đắm chìm trong dâm tục hoang dã. Họ là những người lạc lối đức tin. Họ không biết đường Chúa đi, vì họ không đi trong sự thật. “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14, 6)
2021
TIN
28.4 Thứ Tư Tuần IV Phục Sinh
– Thánh Phê-rô Cha-nen (Chanel), Linh mục, Tử đạo.
– Thánh Lu-i đơ Mông-pho (Luis Grignion de Montfort), Linh mục.
– Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan, Linh mục (1840); Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu, Thầy giảng (1840) và Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành, Thầy giảng (1840), Tử đạo.
– Các bài đọc Lời Chúa: Cv 12,24-13,5a; Ga 12,44-50.
TIN
Trang Tin Mừng hôm nay có thể tóm lược cách tổng quát về những lời rao giảng công khai của Chúa. Chúa Giêsu đã nhắc đến hai điểm chính yếu là: “Tin Ngài là tin Chúa Cha và thấy Ngài là thấy Chúa Cha”.
Chúa Giêsu tự định nghĩa mình là người được sai đi của Cha. Thánh Gio-an không giới thiệu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng là Con Cha. Hầu như bất cứ điều quan trọng nào đều chỉ về Cha và không chỉ về Con. Tất cả đều tương quan với Cha. Chúa Giêsu thực hiện sứ mệnh do Cha ban, Người làm cho họ nhận biết sứ điệp của Cha. Chúa Giêsu chính là sứ điệp của Cha.
Thái độ của Đức Kitô luôn luôn bày tỏ sự hoàn toàn tùy thuộc, hoàn toàn vâng lời lúc nào cũng sẵn sàng đối với Cha. Nếu Người cho lời Người là quan trọng vì đó là lời của Cha: “Chính lời Tôi nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết, thật vậy, không phải Tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai Tôi, truyền lệnh cho Tôi phải nói gì và tuyên bố gì”
Tin Chúa thì sẽ mang lại ánh sáng cho cuộc đời, vì đức tin là ánh sáng, không tin thì sống trong tối tăm. Từ chối không tin Con Người thì tự kết án mình, mặc dù Chúa Giêsu không đến để kết án mà để cứu rỗi. Không ai có thể thoát ra khỏi sự xét xử cuối cùng này, và sự xét xử ấy là bởi thái độ do con người tin nhận hay từ chối từ Thiên Chúa: “Ai nghe lời Ta mà không tin giữ thì không phải Ta kết án kẻ đó, nhưng chính Lời Ta sẽ xét xử nó” (Ga 12,47-48), không ai có thể thoát khỏi sự xét xử này, nhưng sự xét xử đó sẽ đến trong ngày sau hết.
Tin Chúa là tin Thiên Chúa Cha, thấy Chúa là thấy được Thiên Chúa Cha. Tin Chúa sẽ mang lại ánh sáng soi cho cuộc đời của mình. Ðức tin là ánh sáng, không tin là sống trong bóng tối.
Từ chối không tin. Con người tự kết án mình. Mặc dầu Chúa Giêsu không đến để kết án mà để cứu rỗi, không ai có thể thoát ra khỏi sự cứu rỗi cuối cùng này, và sự xét xử đến từ thái độ của người đó, đón nhận hay chối từ Thiên Chúa. “Ai nghe lời Ta mà không tuân giữ thì không phải Ta là người kết án kẻ ấy vì Ta không đến để luận phạt thế gian mà đến để cứu rỗi. Ai chê chối Ta và không nhận lời Ta thì sẽ có người xét xử kẻ ấy, tức là lời giảng dạy của Ta sẽ xét xử kẻ ấy trong ngày sau hết. Không ai có thể thoát khỏi sự xét xử này, nhưng sự xét xử đó sẽ đến trong ngày sau hết”.
Trong hiện tại, Thiên Chúa luôn luôn kêu mời con người hãy trở về lại với Ngài sau những lần sa ngã, chối từ không tin Ngài. Thời giờ chúng ta đang sống là thời giờ của lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta đừng lợi dụng lòng nhân từ này, đừng khinh dễ bỏ qua ơn soi sáng của Chúa. Những trang Phúc Âm cho chúng ta biết rõ ý muốn của Thiên Chúa như thế nào nơi mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta tin nhận Ngài, lắng nghe lời Ngài và sống kết hiệp với Ngài.
Nơi con người Chúa Giêsu có nhiều thứ ánh sáng. Đó có thể là thứ ánh sáng phản chiếu vinh quang quyền năng, thứ ánh sáng mà khi đối diện con người phải cúi đầu. Chúa Giêsu không tỏ lộ ánh sáng này cho các môn đệ và dân chúng theo Ngài, ngoại trừ một lần trên núi Thabor, Ngài biến hình sáng láng trước mặt ba môn đệ: Phêrô, Yacôbê và Gioan.
Ánh sáng thường gặp nơi Ngài là ánh sáng soi đường dẫn lối, một thứ ánh sáng không làm cho con người sợ hãi, nhưng mời gọi bước theo. Anh sáng phát xuất từ ngọn lửa yêu thương phục vụ xem ra không huy hoàng rực rỡ, nhưng lại hữu hiệu. Đối diện với ánh sáng này, con người sẽ hoặc là tiếp nhận, hoặc là chối từ. Khi chối từ tức là con người còn nằm trong bóng tối và ánh sáng trở thành ánh sáng xét xử. Chúa Giêsu không kết án, vì Ngài đến để cứu chuộc, nhưng chính thái độ cố chấp của con người sẽ kết án họ.
Không có ánh sáng đồng thời với bóng tối, ở đâu có ánh sáng, ở đó sẽ không còn bóng tối. Nhưng để tiếp nhận ánh sáng, con người phải chấp nhận từ bỏ, tiêu hao chính mình. Chúa Giêsu đã đem lửa xuống trần gian và Ngài ước mong cho nó cháy lên. Gặp gỡ Đức Kitô, con người sẽ gặp được ngọn lửa yêu thương của Ngài. Ngọn lửa càng sáng, càng đòi tiêu hao nhiều nhiên liệu. Ngọn lửa Đức Kitô đã tỏa sáng khắp vũ trụ khi Ngài được giương cao trên Thập giá và hiến thân cho đến giọt máu cuối cùng.
Trong cuộc sống, Thiên Chúa luôn kêu mời con người trở về với Ngài sau những lần sa ngã hay lúc họ chối từ Ngài, thời giờ chúng ta đang sống là thời giờ của lòng nhân từ thương xót Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta đừng lạm dụng lòng nhân từ Chúa, đừng khinh dể bỏ qua ơn soi sáng của Ngài. Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, ta tháy rõ ý Chúa muốn nói với mỗi người, đó là Ngài muốn chúng ta lắng nghe lời Ngài và sống kết hợp với Ngài “biết giới răn Cha Ta là sống đời đời” (Ga 12,50).
Biết Chúa Giêsu cũng là biết Chúa Cha. Mặc dù chúng ta không có kinh nghiệm nhìn thấy Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt như các môn đệ đầu tiên khi xưa, nhưng chúng ta được diện kiến một Chúa Giêsu thật mỗi khi chúng ta đến trước Thánh Thể. Khi chúng ta bước vào một nhà thờ và ngắm nhìn tôn nhan Chúa trước bàn thờ, điều quan trọng là chúng ta luôn luôn nhận thức được rằng chúng ta đang ở trong sự hiện diện thiêng liêng trọn vẹn của Thiên Chúa Con. Và vì lý do đó, chúng ta cũng ở trong sự hiện diện vẹn toàn và thiêng liêng của Chúa Cha. Sự hiện diện của Ngài là có thật và tuyệt đối, chỉ đơn giản là bị ẩn khỏi giác quan của chúng ta mà thôi.
Một điều quan trọng để suy ngẫm ở đây là sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Suy tư về sự hiệp nhất của các Ngài khi cầu nguyện là một phương thức rất hiệu quả cho đời sống của chúng ta. Tại sao ư? Bởi vì chúng ta được kêu gọi chia sẻ sự hiệp nhất của các Ngài, và chúng ta được kêu gọi chia sẻ sự hiệp nhất với nhau.
Để sống hiệp nhất thì thật khó. Nó đòi hỏi phải có một tình yêu thật lớn lao. Nó có nghĩa là sống thật với người khác, tìm cách thấu hiểu trọn vẹn con người của tha nhân, chấp nhận và yêu mến họ. Và Chúa Ba Ngôi là mô hình mẫu mực cho chúng ta noi theo. Dù là cha mẹ, con cái, vợ chồng, bạn bè hoặc bất cứ ai, chúng ta đều được mời gọi đến với sự hiệp nhất sâu xa và luôn mãi.
Khi chúng ta biết đến Chúa Con, chúng ta tự động biết về Chúa Cha. Và tin tốt là nếu chúng ta biết Chúa, và người khác biết đến chúng ta, thì chúng ta có thể giúp họ biết đến Chúa thông qua chúng ta. Đây là một trong những cách tuyệt vời để truyền giáo và mang Chúa đến với những người mà chúng ta biết và yêu mến.
