Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Suy niệm hàng ngày

Home / Phụng vụ / Suy niệm hàng ngày
04Tháng Bảy
2021

VỮNG TIN VÀO CHÚA

04/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

05  26  X    Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên.

(Tr) Thánh An-tôn Ma-ri-a Da-ca-ri-a.

St 28,10-22a; Mt 9,18-26.

VỮNG TIN VÀO CHÚA

“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tâm hồn tan nát.” (ca nhập lễ các Thánh Mục Tử). Chúa đã tuyển chọn thánh Antôn Maria Zacaria lên chức linh mục. Thánh nhân đã sống hết mình theo lời của Chúa:”…Người ấy sẽ hành động theo lòng và ý muốn của Ta” (1Sm 2, 35).

Năm 1509, Antôn Maria Zacaria mở mắt chào đời trong một gia đình đạo đức, quyền quí tại Crémone. Thánh nhân ngay từ lúc còn nhỏ đã có lòng thanh  sạch, đã yêu quí đức khiết tịnh một cách cương quyết, sâu xa. Ngài cảm nghiệm Lời Chúa trong tám mối phúc thật:” Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8).

Thánh nhân có tâm hồn trong trắng, luôn hướng về Chúa và yêu thương các kẻ nghèo hèn, bần cùng đúng như Lời Chúa dậy:” Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Thánh nhân có trí thông minh sáng suốt, con đường học vấn của Người bắt đầu và đang rực rỡ huy hoàng, nhưng Người lại tuân theo ý Chúa:”…Hãy về bán hết của cải, phân chia cho người nghèo khó và đi theo Ta”.

Chính vì ý thức sâu xa Lời Chúa và có tâm hồn hướng về Chúa, muốn tận hiến cuộc đời mình cho một mình Chúa, thánh nhân đã cố gắng trau dồi kiến thức thánh: triết học, thần học và tu đức học. Với ơn Chúa giúp, với sự cố gắng, phấn đấu không mệt mỏi, thánh Antôn Maria Zacaria đã được lãnh nhận sứ vụ linh mục.

Với thánh chức, thánh nhân đã cùng với Bartôlômêô Ferrariô và Giacôbê Morigia lập tu hội triều vào năm 1533 có tên là hội thánh Phaolô và nhóm nữ tu thiên thần vào năm 1535 để cùng nhau sống tinh thần huynh đệ Tin Mừng. Với tinh thần huynh đệ Phúc Âm, thánh nhân đã chu toàn bổn phận và rao giảng, loan truyền Lời Chúa chống ảnh hưởng tai hại của bè rối Luther. Thánh nhân có tinh thần phục vụ cao vời và có một lòng yêu mến Chúa sâu xa, yêu mến Bí Tích Thánh Thể và khuyến khích nhiều người sùng kính, tôn vinh Thánh Thể Chúa.

Ngày 5 tháng 7 năm 1539 thánh nhân đã ra đi về với Chúa an bình sau nhiều tháng năm nhiệt thành với sứ vụ tại Crémone, thọ 36 tuổi. Với tuổi đời còn trẻ, còn nhiều hăng say, Chúa đã cất Ngài về để chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa mãi mãi. Thánh nhân đã về với Chúa như Lời Chúa nói: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, để anh em ra đi, thu được kết quả, và kết quả anh em được lâu bền” (Ga 15, 16). Đức Thánh Cha Lêô XIII đã cất nhắc Ngài lên bậc hiển thánh vào năm 1807 vì lòng nhiệt thành truyền giáo và tinh thần cầu nguyện vượt bậc của Ngài.

Một trình thuật phép lạ “hai trong một”: hai phép lạ, hai tình huống cùng bộc lộ một niềm tin, hai con người (một già, một trẻ) cùng hướng về Đức Giê-su. Với ý nghĩ đơn sơ: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu,” người phụ nữ bị băng huyết không những sờ được áo mà còn chạm đến lòng thương xót của Ngài. Lời kêu xin đầy xác tín của người cha: “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống” cũng đủ để “hối thúc” Chúa Giêsu đứng dậy – đi vào – cầm tay nâng cô bé chỗi dậy. Chúa Giêsu là Đấng mang lại sự sống, Ngài loan báo rằng trong Nước Thiên Chúa, sự chết phải nhường chỗ cho sự sống. Để lãnh nhận sự sống ấy, điều kiện tiên quyết là tin vào Ngài.

Tin Mừng hôm nay nằm trong một loạt hành động của Chúa Giêsu về việc loan báo Nước Trời. Ngài chữa lành các loại bệnh hoạn tật nguyền cho người cùng khổ, nghèo hèn. Hôm nay, Ngài đến với 2 giai cấp trong xã hội, tuy họ khác nhau về đẳng cấp chức vị : một người đàn bà bệnh tật và một cô gái nhỏ, con của vị thủ lãnh trong xã hội. Nhưng cả hai đều chung một thái độ. Đó là niềm tin vào quyền năng và tình thương của Chúa Giêsu sẽ cứu chữa họ. Nhờ thế, mà họ được chữa lành.

Mở đầu Tin Mừng, Thánh sử giới thiệu con người đến van xin Chúa cứu chữa con gái của ông. Đó là vị thủ lãnh. Chúng ta chú ý đến thái độ của ông ta  “ bái lạy” và thưa : “ Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng , xin Ngài đến đặt tay lên cháu là nó sẽ sống”. Ông khẳng định mạnh mẽ : Nó chết rồi, nhưng Ngài đặt tay, nó sẽ sống. Cùng với hành vi bái lạy và lời xác tín của ông cho chúng ta thấy đức tin của ông mạnh mẽ dường nào. Trước thái độ nài xin của ông, Chúa Giêsu không đòi hỏi niềm tin nào hơn nữa, thánh sử viết : Ngài đứng dậy đi theo ông.

Trên đường đến nhà ông, có một người đàn bà bị bệnh băng huyết. Nghĩa là máu trong người bà đã bị mất rất nhiều sau 12 năm bệnh hoạn. Chắc hẳn nhìn vào con người gầy còm, xanh xao ấy mọi người đều biết bà bị mắc bệnh và bệnh này người Do thái coi là ô uế, đối với người nào vô tình chạm vào bà hoặc bà đã đụng đến họ.

Nhưng bất chấp mọi lời đàm tiếu, những cử chỉ khinh chê của người khác, bà đã tiến đến và chạm vào áo Chúa Giêsu, và bà nghĩ : “ chỉ cần sờ vào tua áo Chúa, là được cứu” ( c. 21). Niềm tin mạnh mẽ của bà này còn vượt lên niềm tin của vị thủ lãnh kia. Vì ông ta còn yêu cầu Chúa Giêsu đến dặt tay lên con ông, còn bà này , bà chỉ cần sờ đến tua áo Chúa. Bà tin, quyền năng và tình thương Chúa không chỉ trong con người Chúa Giêsu mà còn trong cả những vật mà Giêsu chạm tới. Một hành vi đơn giản, một suy luận đơn sơ nhưng mang đậm triết lý thần học : Đấng Thánh sẽ thánh hóa mọi vật mà Ngài chạm đến. Một đức tin đơn sơ của bà đã được Chúa Giêsu chính thức khen thưởng : “ Này con cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con” (c.22).

Hành vi “sờ tua áo” lén lút của bà được Chúa tuyên dương công khai trước mặt mọi người. Ngài nhấn mạnh : lòng tin của con. Như thế chính nhờ lòng tin của bà mà bà được khỏi bệnh. Máu là biểu tượng của sự sống. Sự sống đang lần lượt ra đi khỏi con người bà, nay dừng lại. Sự sống đã trở lại và sẽ hồi sinh trong bà chỉ vì một hành vi đức tin đơn sơ của bà. Thánh sử nói tiếp : Ngay giờ ấy, bà được cứu chữa. Đức tin của bà dẫn đến hành động của Chúa Giêsu ngay tức khắc. Ngay khi bà tuyên xưng niềm tin thì ơn cứu độ đã đến với bà. Bà được cứu cả thể xác lẫn tâm hồn.

Chúa Giêsu đến nhà viên thủ lãnh thấy quang cảnh nhà ông đã bao phủ màu tang chế. Kèn trống đang thổi inh ỏi… nhưng Ngài vẫn nói : “ Con bé không chết, nó ngủ thôi !”. Mọi người chế nhạo Chúa Giêsu. Vì cho là Người ngớ ngẩn : Đứa bé đã chết và gia đình em đã chuẩn bị cho cuộc tang lễ, bộ đầu óc ông để ở đâu mà lại phát ngôn một câu nghe không có tỉnh táo. Họ chế nhạo vì sao Chúa quá khờ dại, không nhận ra những dấu hiệu tang tóc, đau thương. Nhưng Chúa không muốn họ ở lại đó, Ngài ra lệnh họ lui ra ngoài và Chúa tiến vào : “cầm lấy tay em bé, nó liền chỗi dậy”. Câu trả lời của Chúa đối với đám đông là ở đây, là thái độ “ cầm tay em bé” . Một cử chỉ thông truyền sự sống. Và đúng thật Đấng ban sự sống đã đến cầm tay và ban truyền sự sống cho em. Đây là đỉnh cao của sứ vụ Đấng Mêsia- Đấng có quyền trên sự chết và sự sống của con người. Đấng ban sự sống cho con người cũng là Đấng sẽ chỗi dậy sau cái chết, để mọi người cũng được sống lại như Ngài.

Chỉ với 7 câu, Thánh sử Matthêu đã nêu bật sứ vụ của Đấng Mêsia. Đây là cuộc chữa lành không chỉ là bệnh tật mà còn là mạng sống của con người. Chúa Giêsu đã đến để kéo sự sống ra khỏi tay ác thần. Ngài ngăn chặn những tội ác xấu xa của ma quỷ đang thống trị trên thế giới, trong con người. Ngài tỏ lộ uy quyền của Đấng Mêsia- Đấng cứu độ đến từ quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Ngài sẽ cứu những ai đặt tin tưởng nơi Ngài, những ai dám giao phó mạng sống họ trong tay Ngài như bà bị loạn huyết và ông thủ lãnh này.

Thế giới ngày nay đang bị ác thần thống trị khắp nơi, nhưng con người không nhận ra hoặc thậm chí không cần nhận ra điều đó. Họ sẵn sằng làm nô lệ cho đồng tiền, danh dự, vinh quang, phú quý vinh hoa giả tạo. Lương tâm của họ bị che khuất. Cảm thức về tội lỗi bị chai lỳ, không còn sức hút nhạy cảm.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: niềm tin của chúng ta cần được rèn luyện, để sau những thử thách, đức tin càng được vững mạnh hơn. Điều quan trọng là trong mọi biến cố, chúng ta luôn vững tin và tín thác vào Chúa.

Read More
02Tháng Bảy
2021

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

02/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

 

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

03  24  Đ  Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên.

THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh, Linh mục (U1853), Tử đạo.

Không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Ep 2,19-22; Ga 20,24-29.

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).

Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ).

Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi…”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.

Ngày hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Biến cố tử nạn của Chúa Giêsu đã làm tâm trạng các môn đệ thêm trĩu nặng, mất phương hướng, bao hy vọng tiêu tan chỉ còn lại nổi sầu đau ảm đạm, cộng thêm sự sợ hãi vì bắt bớ của những người Do Thái. Các môn đệ lần lượt rời Giê-ru-sa-lem, trong đó có cả Tô-ma, thành viên của nhóm tông đồ. Do vậy, khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ, hiện ra với nhóm tông đồ, Tô-ma không có mặt. Ông đang buồn rầu, bi quan, chán nản đến độ không muốn gặp các thân hữu, ông đóng cửa ở nhà một mình. Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền… Thế là Tô-ma hụt mất cơ hội diện kiến Đấng Phục sinh.

Thế nhưng, khi gặp lại các thân hữu họ kể cho ông nghe “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” thì ông lại không tin. Bởi lẽ, ông là một người sống rất thực tiễn, luôn đòi hỏi sự minh xác bằng lý trí, sự kiểm chứng bằng giác quan. Ông muốn được tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” và đó là điều kiện ông cần để tin. Bởi trong suy nghĩ của ông, nếu Thầy đã Phục sinh chắc hẳn vẫn còn mang những vết thương nơi thân xác.

Một điều thật lạ là Đấng phục sinh ấy lại chiều theo ý của ông, bởi Ngài biết đầu óc ông thực tiễn và bằng tình yêu Ngài không muốn mất ông (x.Ga 17,12). Khi hiện ra lần nữa (tám ngày sau), sau lời chúc bình an, Chúa Giêsu đã gọi chính tên ông và nói: “Tô-ma hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Rõ ràng, Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần này như thể cho chỉ một mình ông, và mời ông làm những điều mà ông đã đòi hỏi.

Chúng ta không rõ Tô-ma có dám làm những điều ông muốn xác minh hay không, nhưng chắc một điều là chính thái độ bao dùng và yêu thương của Thầy dành cho ông đã chinh phục tâm hồn ông. Cả con người ông thổn thức, run rẩy, xúc động và môi ông mấp máy rồi bật lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, một lời tuyên xưng đức tin cao độ nhất, chân xác nhất và sống động nhất của Tin mừng. Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận, nó là tất cả những gì bản thể người của ông muốn nói. Ông không gọi là thầy, nhưng tuyên xưng là Chúa, điều mà trước đó không chưa hề nghĩ đến khi rong ruỗi theo Chúa Giêsu.

Chính lời xác quyết đó của Tô-ma, là cơ hội cho đức tin của mỗi chúng ta, những người tin vào Chúa mà không được minh xác đức tin của mình bằng giác quan. “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Quả vậy, con người ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm, luôn đòi hỏi tính minh xác qua giác quan, một nghĩa nào đó chúng ta là những Tô-ma thứ thiệt. Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tô-ma, cám ơn lời chứng của ngài. Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin, vì chúng ta biết chắc rằng chuyện Chúa phục sinh không phải do một ảo giác tập thể.

“Phúc cho ai không thấy mà tin” còn là một đặc ân cho mỗi ki-tô hữu, vì mỗi chúng ta được thừa hưởng một mối phúc mà thánh Tô-ma không có được. Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt, mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (x.Ga 17, 20), trong đó có cả Tô-ma.

 

Read More
01Tháng Bảy
2021

Tiếng gọi ân tình

01/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

02  23  X  Thứ Sáu Tuần XIII Thường Niên.

(Tr) Lễ Đức Mẹ Hà Nội.

Thứ Sáu đầu tháng. Ngày đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu.

St 23,1-4.19;24,1-8.62-67; Mt 9,9-13.

TIẾNG GỌI ÂN TÌNH

Tội lỗi có nhiều thứ loại, nhiều cấp độ và cũng nhiều cách thế để đối xử với tội nhân. Với kẻ này, người ta tránh né tiếp xúc, với người kia, họ bắt giam, cải tạo; có kẻ phải tù chung thân hay bị lên án tử vì y là tên phản dân hại nước, nguy hiểm cho xã hội, không đáng sống. Xem ra cách ly là biện pháp thông thường nhất.
Còn Chúa Giê-su với phương châm: “Ta đến không phải để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi kẻ có tội,” Ngài gần gũi tiếp xúc với tội nhân. Trong khi những người khác khinh bỉ, Ngài và các môn đệ cùng ngồi ăn uống với những người tội lỗi và thu thuế. Hơn thế nữa, Ngài đã kêu gọi làm môn đệ – rồi sau sẽ chọn làm tông đồ – một người thu thuế là Lê-vi, ngay lúc ông ta đang làm nghề thu thuế trước mắt mọi người.

Hãy tưởng tượng mỗi người chúng ta ở trong vị trí của Mátthêu hôm nay. Ta đã quá nhiều lần nghe những câu chuyện về Chúa Giêsu như thế này, một người làm phép lạ mà mọi người tin rằng Người có thể là Đấng Cứu Thế. Người mở mắt người mù, nói về sự tha thứ của Thiên Chúa và đối xử tử tế với những người nghèo và bị ruồng bỏ. Bây giờ, Người đang tiến về phía mỗi người chúng ta và lúc đầu, như thể Người sẽ đi thẳng ngang qua ta.

Thế rồi sau đó Chúa Giêsu dừng lại, nhìn thẳng vào ta và nói: “Hãy theo tôi”. Dĩ nhiên là ta mất cảnh giác, không kịp phản ứng: Tại sao Chúa Giêsu lại nói điều này với tôi? Tôi chưa bao giờ gặp Người trước đây.

Những câu hỏi khác bắt đầu tràn ngập tâm trí ta: Tại sao lại là tôi? Thế còn tất cả những tội lỗi và sự thất bại của tôi thì sao? Chắc chắn Đức Giêsu phải biết tôi là ai và tất cả những gì tôi đã làm. Nếu không có gì khác, Người hẳn đã biết tôi bởi công việc tôi đang làm.

Nhưng khi ta nhìn vào mắt Chúa Giêsu, ta bắt đầu cảm thấy bình an. Ta không chắc chắn chính xác nơi bình an đến, nhưng bạn nhận ra rằng ta không cần câu trả lời trước khi ta nói đồng ý với Chúa Giêsu. Có một cái gì đó về con người này, bạn chỉ cần tin tưởng nơi Người.

Tin Mừng hôm nay cho thấy được ý nghĩa nổi bật của bữa ăn trong cuộc đời Chúa Giêsu. Tin Mừng thường ghi lại những lần Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với những người thu thuế tội lỗi, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Ngồi đồng bàn với người nào là muốn chia sẻ, muốn nói lên tình thân thiện của người đó. Qua những lần ngồi đồng bàn với tất cả mọi hạng người, Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta bộ mặt của một Thiên Chúa nhân hậu luôn hiện diện trong mọi sinh hoạt của con người, một Thiên Chúa chia sẻ cuộc sống của con người và muốn đi vào kết hiệp thâm sâu với con người.

Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu thường mượn hình ảnh bữa tiệc để nói về Nước Trời: “Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới”. Nước Trời giống như một tiệc vui. Tôn giáo mà Chúa Giêsu loan báo không phải là những nghi lễ hay những luật lệ cứng nhắc, mà là tôn giáo của tình yêu. Trích dẫn lời Tiên Tri Ôsê: “Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải lễ tế”, Chúa Giêsu đả phá những tôn giáo chỉ xây dựng trên những nghi lễ trống rỗng, mà quên đi cái lõi của tôn giáo là tình thương.

Chúa Giêsu gọi Matthêu theo Ngài. Người thu thuế đứng dậy theo Chúa, không thắc mắc, chẳng tính toán, chẳng chần chừ. Và rồi, không biết Chúa có lên tiếng gọi hay không mà những người thuộc bọn thu thuế và quân tội lỗi đã đến đồng bàn với Ngài. Tiếng gọi của Chúa mạnh đủ để lôi kéo, thay đổi, và tái tạo trái tim nhân loại vốn đã quá đầy, quá nặng bởi đam mê, bạc tiền và quyền lực.

Xưa kia, Chúa Giêsu đã cất tiếng gọi. Ngài gọi các môn đệ, gọi anh mù, gọi các trẻ em, gọi người phụ nữ samari,… Tiếng gọi của Ngài đậm tình thân ái, tràn sự cảm thông, mênh mông nghĩa tình của Vị Thiên Chúa làm người đi giữa cuộc đời. Trên hành trình dương thế, Chúa Giêsu cảm thấu, hiểu sâu tất cả những bềnh bồng trôi nổi của kiếp nhân sinh cũng như sự trì kéo của phận người dòn mỏng. Ngài thương lắm những ai bị đẩy ra lề xã hội, bị loại trừ, bị xa tránh như thể những con chiên bị lạc đàn, bị đuổi khỏi bầy, bị bơ vơ trơ trọi giữa bầy. Ngài đặc biệt tìm kiếm những người như thế, Ngài cất lời gọi họ thật thiết tha da diết, Ngài đến với họ, ở với họ.

Ngày nay, Chúa vẫn cất tiếng gọi. Ngài gọi tôi, gọi bạn, gọi hàng hàng lớp lớp những người từ mọi nơi, mọi thời. Lời gọi được gởi đến tận cùng thế giới, đến mọi ngõ ngách cuộc đời, đến mọi khóc khuất của hồn người. Biết có mấy khi ta hỉ hả đáp lại tiếng Ngài, thanh thản bước về phía Ngài và an bình ở lại trong Ngài ?

  1. Thật thế, đến với Chúa, Matthêu tìm được ý nghĩa đời mình ; đến với Chúa, bọn thu thuế và tội lỗi tìm lại phầm giá của người con ; đến với Chúa, ta được sống dồi dào, sống trọn vẹn, sống đời đáng sống nhờ lãnh nhận thần lực Thánh Thể và Lời hằng sống, nhờ yêu bằng trái tim của Thiên Chúa Tình Yêu, nhờ đi trên lối nẻo của Đấng là Đường và Sự Thật. Nhưng, làm sao nghe được tiếng gọi ân tình của Chúa ? Làm sao ý chí ta đủ mạnh, tâm tư ta đủ sáng để dứt khoát đứng dậy, rời khỏi nơi ta đang ở để đến với Ngài ?

Hẳn sẽ rất cần nơi tôi, nơi bạn một tâm hồn khiêm tốn và thẳng thắn đủ để thấy rõ và chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, để ý thức nhu cầu cần đến lòng xót thương hải hà của Chúa, để nhận ra sự thúc bách phải điều chỉnh lối sống, phải hoán cải, phải rời khỏi những gì ta đang bám víu mà, rất có thể đó là một suy nghĩ, một hành động, một chương trình sống, một mối tương quan, một thói quen, một cử chỉ hay thái độ nào đó. Ta cùng mở lòng đón đợi Lời Gọi Yêu Thương của Chúa trong giờ suy niệm này và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại cách sống đạo của chúng ta. Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta là bữa tiệc dấu chứng tình yêu của Ngài. Tham dự vào bữa tiệc ấy là tham dự vào tinh thần yêu thương chia sẻ với Ngài. Nếu không có tinh thần yêu thương, thì tất cả những kinh kệ, những hành động phụng vụ chỉ là trống rỗng vô ích. Của lễ đẹp lòng Chúa nhất phải chăng không là những hành động yêu thương, chia sẻ, tha thứ đó sao? Lúc đó bàn thờ của chúng ta không chỉ nằm trong bốn bức tường nhà thờ, mà còn phải là gia đình, công sở, phố chợ. Nơi nào có hành động yêu thương, tha thứ, chia sẻ, thì nơi đó có Chúa hiện diện, có bình an, có Nước Trời.

Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi chúng ta hãy nhận ra mình bất xứng để cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình. Mặt khác, từ những gì đã cảm nghiệm, Chúa cũng muốn mời gọi chúng ta sẵn sàng cảm thông cho những yếu đuối của anh chị em mình, sống khiêm tốn và đón nhận Thánh giá trong hành trình môn đệ của mình như một hồng ân.

Read More
30Tháng Sáu
2021

Sống Niềm Tin

30/06/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

THÁNG BẨY – 2021

Tháng Năm (đ), Tháng Sáu (t) – Tân Sửu

Cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha

Ý chung: Tình huynh đệ trong xã hội.

Chúng ta hãy cầu nguyện, để trong mọi hoàn cảnh xã hội, kinh tế và chính trị mâu thuẫn, chúng ta trở thành các kiến trúc sư can đảm, say mê đối thoại và xây dựng tình huynh đệ.

01  22  X  Thứ Năm Tuần XIII Thường Niên.

Thứ năm đầu tháng. Ngày các Linh mục.

St 22,1-19; Mt 9,1-8.

Sống Niềm Tin

Tin Mừng hôm nay thuật lại một phép lạ xày ra nhờ ảnh hưởng của tập thể. Một người tê liệt được khiêng đến cho Chúa Giêsu. Phúc Âm Maccô và Luca cho thấy rõ hơn quang cảnh của phép lạ này: vì không có chỗ để chen vào, người ta leo lên gỡ mái nhà và thòng người tê liệt xuống trước mặt Chúa Giêsu. Tất cả sự việc diễn ra không kèm theo một câu nói hay một lời van xin nào, thế nhưng, hành vi của họ đã đủ diễn đạt tấm lòng của họ. Chúa Giêsu thấy lòng tin của họ, tức lòng tin của những người khiêng người tê liệt, Ngài đã chữa lành bệnh nhân.

Dấu lạ đòi hỏi lòng tin. Một khi lòng tin đã đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa, thì con người sẽ dễ dàng gặp được dấu lạ và lòng tin có thể chuyển dấu lạ hay ơn lành sang cho người khác. Với đám đông đang vây quanh Chúa Giêsu để nghe Ngài giảng, thì việc đưa bệnh nhân đến gần Ngài quả là một cố gắng vượt mức. Nhìn vào cố gắng này, chắc chắn nhiều người sẽ đặt câu hỏi về Chúa Giêsu: Ngài là ai mà con người phải cố gắng tìm gặp đến thế? Ðặt câu hỏi tức là đã bắt đầu tiến đến gần Thiên Chúa.

Tin là điều kiện cần để con người đón nhận phúc lành của Thiên Chúa. Niềm tin giúp ta khao khát tìm gặp Người. Niềm tin cho ta hy vọng đủ lớn để vượt qua những cản trở bởi thế lực xấu xa, bởi mưu mô của Tên Dối Trá và bởi yếu đuối phận người. Niềm tin còn cho ta cơ hội hàn gắn những gì đã gãy đứt do tội lụy, như thể Adam tìm lại được thiên đàng, như thể đôi phu phụ nối lại mối tình xưa, như thể đứa con đi hoang tìm lại được mái ấm, … Quả vậy, khi bày tỏ niềm tin vào Thiên Chúa, là ta sẵn sàng để cho Người hợp lòng hai mối cầu yêu thương đang xa cách, cho Người nối hai đầu dây tình nghĩa đang đứt lìa. Khi đó, tâm linh chết dở của ta được cứu sống, xác thân tật bệnh của ta được chữa lành.

Anh bại liệt hôm nay được đón nhận cả hai: phúc lành và ơn tha thứ. Anh được chữa lành cả hồn lẫn xác. Gân cốt anh hết bị trói buộc bởi bệnh tật, tâm hồn anh thoát khỏi xích xiềng của tội lỗi. Anh nối lại tương quan nghĩa tình với cộng đồng và tái hiệp thông với sự sống của Thiên Chúa. Anh được hưởng trọn vẹn hoa trái của niềm tin và ơn tha thứ.

Thời nào cũng thế, rất cần những tâm hồn nhân loại biết đặt trọn niềm tin vào Tạo Hóa như trẻ thơ tin tưởng cha mẹ mình. Biết bao cuộc hành hương thành kính, biết bao phép lạ được thực hiện mà chẳng kể đến sự chữa lành thể xác, nhưng là sự hồi sinh tâm linh cách diệu kỳ. Hóa ra, lời tha thứ – cái lành lặn bên trong lại cần thiết hơn cả. Tiếc là không phải ai cũng nhận ra sự cần thiết này. Đám đông dân chúng bên anh bại liệt hôm nay được một phen kinh hãi vì nhận ra điều xưa nay chưa từng thấy: Thiên Chúa đã trao quyền tha tội cho loài người ngang qua Đức Giêsu. Còn những luật sĩ học rộng biết nhiều lại không thể biết cái biết của thường dân, họ không thể chấp nhận phép lạ trong phép lạ họ vừa chứng kiến: Quyền tha tội đã làm một hành trình dài từ thiên giới đến trần gian.

Lãnh nhận quyền xá giải từ Chúa Giêsu, Giáo Hội luôn thi hành cách trung thành và quảng đại nơi con cái mình. Nhưng ở đâu và đời nào cũng vậy, năng quyền này ít nhiều bị chất vấn, bị nghi ngờ cách này cách nọ với muôn vàn lý lẽ lớn nhỏ khác nhau. Có thể nói những vấn nạn về năng quyền xá giải của Giáo hội đều phát xuất từ cái thiếu căn bản này: thiếu lòng tin. Chính vì thiếu lòng tin, nên ta để vuột mất những hoa trái đẹp đẽ do lòng tin mang lại như đã kể trên đây. Chính vì thiếu lòng tin, nên ta cứ trật trầy trong cõi u mê đời người với đủ thứ tật bệnh xác hồn. Chính vì thiếu lòng tin mà con đường gặp gỡ Giêsu của ta cứ mãi mịt mờ và tiếng gọi về đây bên Cha, ta nối lại tình xưa Chúa vẫn cứ nghìn trùng xa cách.

Trong lắng đọng, thành tâm và khiêm hạ, ta hãy để Lời Chúa hôm nay cật vấn và gọi mời ta rà soát lại xem ta tin Chúa thế nào và ở mức độ nào? Ta tin vào quyền tha tội của Giáo hội ra sao?  Hãy để trái tim yêu khoan hậu và toàn năng của Chúa chạm vào đáy lòng ta, sáng soi mọi ngõ ngách của hồn ta, cho ta gặp được Người, để Người ban lời tha thứ và chữa lành xác hồn ta.

Ðời sống đức tin cũng không ra ngoài định luật cần được nuôi dưỡng và đỡ nâng. Ơn cứu độ được gửi đến cho tất cả, chứ không cho riêng một ai, mỗi cá nhân đón nhận nhưng rồi phải san sẻ cho người khác. Sự thánh thiện hoặc tội lỗi của một người cũng có ảnh hưởng đến người khác. Chúa Giêsu đã lên án mạnh mẽ những ai làm cớ vấp phạm cho người khác xa lìa Thiên Chúa.

“Tin là chấp nhận những điều mình không thấy, và hoa trái của lòng tin là chúng ta sẽ thấy những gì chúng ta tin”, ước gì kinh nghiệm này của thánh Augustinô thêm vào với tiếng gọi của sứ điệp Lời Chúa hôm nay thúc bách ta tìm đến tòa giải tội, phơi bày trước Chúa tâm linh khuyết tật của ta, để Người chữa lành và ban ơn tha thứ kịp thời, cho ta được hồi sinh trong sự sống mới, được nối lại mối tình xưa nồng nàn thương mến giữa Chúa và ta.

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 245
  • Page 246
  • Page 247
  • …
  • Page 343
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.