2021
ĐỪNG SỢ NGƯỜI ĐỜI
10 01/6 X Thứ Bảy Tuần XIV Thường Niên.
(Tr) Lễ Đức Mẹ ngày thứ Bảy.
Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự, Thầy giảng (U1840); và Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm Quỳnh), Trùm họ (U1840), Tử đạo.
St 49,29-32;50,15-26a; Mt 10,24-33.
ĐỪNG SỢ NGƯỜI ĐỜI
Lời Chúa hôm nay ở trong bối cảnh sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu. Sau khi tuyển chọn các môn đệ, Chúa sai họ đi với định hướng duy nhất là loan báo Nước Trời đã đến gần trong thái độ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Chúa cũng tiên báo cho họ về những cuộc bách hại họ sẽ phải trải qua như bị nộp, bị thù ghét vì danh Chúa và họ sẽ đồng số phận bị loại bỏ như Chúa. Chúa biết điều đó làm cho các ông rất sợ hãi nên Chúa đã trấn an và khuyến khích: “Đừng sợ!” vì Chúa luôn hiện diện bên họ. Chúa trấn an họ: một khi đã đặt niềm tin vào Chúa, họ sẽ được yêu thương chăm sóc vì mạng sống con người còn quí hơn chim trời và hoa cỏ đồng nội. Qua đó, chúng ta cũng cảm được Chúa Kitô đang khuyến khích chúng ta đừng sợ trước những thách đố khi làm chứng cho Người giữa lòng xã hội hôm nay.
Nếu chú ý xem Chúa đã giúp các môn đệ vượt qua sự sợ hãi như thế nào, chúng ta sẽ nhận ra bí quyết của Chúa chính là phấn chấn các ông tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa ở với các ông mọi lúc. Vì Thiên Chúa là Cha yêu thương, luôn quan tâm săn sóc đến các tạo thành của Ngài, ngay cả những sinh vật nhỏ bé như chim sẻ và hoa đồng nội. Đây là một điểm giáo lý quan trọng nên Chúa Giêsu thường nhắc lại với các môn đệ trong những tình huống cụ thể. Như khi các ông hoảng sợ vì biển động, Chúa đã đến trấn an: “Chính Thầy đây đừng sợ!” (Ga 6,20); hoặc trong bài diễn từ sau bữa tiệc ly, Chúa cũng nói với các ông: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian.” (Ga 16,33).
Nhờ sự phấn khích của Chúa, các ông đã trung thành theo Chúa và sẵn sàng làm chứng cho Chúa đến hơi thở cuối cùng. Mặc dầu đức tin của các ông có bị thử thách khi Chúa đi vào cuộc khổ nạn, nhưng trong chính tình huống đó, Chúa vẫn tỏ cho các ông tình yêu thương xót, cảm thông, tha thứ của Thiên Chúa và tiếp tục tín nhiệm ban sức mạnh Thánh Thần cho các ông và sai các ông đi làm chứng nhân cho Chúa.
“Đừng sợ!”, là lời Thiên Chúa đã nói hơn 365 lần trong Thánh Kinh để trấn an dân Chúa trong lịch sử cứu độ; và cũng là lời Chúa Giêsu liên tục củng cố niềm tin cho các môn đệ của Người. Vì thế, là những Kitô hữu trong ơn gọi bước theo sứ mạng của Chúa Giêsu giữa lòng thế giới đầy tràn những biến động hiện nay, chúng ta hãy tin rằng: Chúa Giêsu cũng đang nói với mỗi người chúng ta: Đừng sợ! “Lòng anh em đường xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14,1). Đây là một lời trấn an rất cần thiết và có sức nâng đỡ tuyệt vời nhất cho thân phận yếu hèn của mỗi người chúng ta.
Khi đăng quang trong ngôi vị giáo hoàng, cả hai Đức Thánh Cha: Gioan Phaolô II và Bênêđitô XVI đều nhận lãnh sứ vụ trong thái độ nương tựa vào lời Chúa: “Đừng sợ!” Vâng, chính niềm xác tín vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo Hội như Đầu nhiệm thể của Người, mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trở nên một nhân vật xây dựng hòa bình được toàn thế giới mến phục và Đức Bênêđictô XVI mới dám can đảm nhận chức Giáo Hoàng khi đã cao niên. Từ kinh nghiệm này, trong vai trò đại diện cho Chúa Kitô, các ngài lại tiếp tục trấn an các tín hữu: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô” (ĐTC GP II), và “Hãy mở rộng ra những cánh cửa cho Chúa Kitô, và các con sẽ tìm thấy sự sống thật.” (ĐTC Bênêđictô XVI).
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào thực tế cuộc sống và tỏ ra thái độ phù hợp với người có lòng tin. Từ chuyện phải vất vả kiếm sống đến chuyện tương lai của con cái và những khó khăn trong việc sống đạo, chúng ta được mời gọi để múc lấy ánh sáng của Tin Mừng và chiếu dọi vào những thực tế ấy. Là người Kitô hữu, tôi phải sống những thực tại ấy thế nào? Lý tưởng của tôi là tìm mọi cách để có nhiều của cải vật chất hay là tìm kiếm Nước Chúa và sự công chính trước?
“Môn đệ không hơn Thầy, tôi tớ không hơn chủ”. Chúa Giêsu đã đi con đường của nghèo khó, thua thiệt, bách hại, thập giá, tha thứ và tha thứ cho đến cùng. Nhưng Chúa Giêsu không chỉ đề ra cho chúng ta một lý tưởng, một con đường để đi theo, Ngài chính là con đường, là sự thật và là sự sống. Chúng ta tin rằng nếu chúng ta kết hiệp với Ngài, chúng ta sẽ được sức mạnh của Ngài để thắng vượt mọi gian nan thử thách. Chúng ta cũng tin rằng bên kia những hao mòn và chết chóc trong thân xác, tâm hồn chúng ta sẽ được mãi mãi kết hiệp với Ngài.
Chúng ta hãy tin chắc rằng Chúa đang quan tâm, thương yêu và nhớ đến từng người chúng ta.
Tưởng nghĩ mỗi ngày sống của mỗi người chúng ta, giữa sự thật và giả dối luôn tồn tại. Buộc con người phải chọn một. Đối với mỗi người Kitô hữu không thể nào sống trong sự giả dối được, vì Thiên Chúa không thuộc về sự giả dối. Ngài là sự thật, ai sống trong sự thật mới thuộc về ngài. Ước mong chúng ta không chỉ sống cho sự thật mà còn đòi sự thật cho những người thấp cổ bé họng, vì chỉ sự thật mới giải phóng chúng ta.
Tất cả những thế lực thù hằn của thế gian chống lại người môn đệ của Chúa, hay những sự dữ và sự ác cho dù có mạnh bạo đến đâu cũng chỉ có thể giết chết thân xác con người là cùng, còn linh hồn của chúng ta vẫn sống. Sự chết của thân xác không đáng sợ, vì con người ai cũng mang trong mình thân xác hay chết đó. Đáng sợ là cái chết về phần linh hồn, mà chỉ có một Đấng có quyền trên linh hồn con người mà thôi. Đó chính là Thiên Chúa.
Vì vậy, chúng ta hãy kiên trì trong đức tin vào Người, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn và bắt bớ.
2021
SỐ PHẬN KITÔ HỮU
09 30 X Thứ Sáu Tuần XIV Thường Niên.
(Đ) Thánh Au-gut-ti-nô Zhao Rong, Linh mục và các bạn tử đạo tại Trung Hoa.
St 46,1-7.28-30; Mt 10,16-23.
SỐ PHẬN KITÔ HỮU
Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giê su biết trước trong khi thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng , các Tông đồ sẽ gặp bách hại, thất bại, ghen ghét và chống đối. Sự chống đối này còn xảy ra ngay trong gia đình nơi thân thương gần gũi với mình. Nên Ngài không những trấn an các ông đừng lo sợ vì có Thiên Chúa ở cùng nâng đỡ mà còn dạy các ông cần phải biết Khôn ngoan như rắn và đơn sơ như Chim câu. Điều này đòi hỏi người môn đẽ phải luon có đời sống cầu nguyện và tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.
Có lẽ ai trong chúng ta cũng biết, rắn là loài vật luồn lách rất giỏi, tinh ranh và khôn ngoan, quỷ quyệt (St 3). Nó có thể cắn chết người (rắn lửa trong sa mac) và cứu người(con rắn đồng của Môi sê). Xưa cũng như nay, người ta còn dùng rắn để chữa nhiều bệnh. Chúa Giê su mượn hình ảnh con rắn để dạy các môn đệ cũng như những ai muốn làm môn đệ Ngài khi thi hành sứ vụ phải biết khôn ngoan cẩn trọng nhưng không quỷ quyệt, luồn lách, thâm độc. Sự khôn ngoan này phải xuất phát từ tấm lòng từ bi chân thành, ngay thẳng, đơn sơ như chim bồ câu.
Nói đến chim câu là nói đến sự trung thành (St 8, 8-12), hiền lành, trong trắng , đơn sơ là biểu tượng của Chúa Thánh Thần, của hòa bình, an lành. Chúa Giê su dùng hình ảnh này không những để khuyến khích các tông đồ mà cả chúng ta nữa, những người muốn theo Chúa, làm môn đệ Chúa phải luôn thành thưc, tín trung và phó thác vào tình yêu Chúa trong bất kỳ mọi hoàn cảnh của cuộc sông.
Thật vậy, thời nào cũng có những cuộc bách hại gây khó khăn cho người môn đệ. Nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại đầy dẫy những bất công, con người chỉ muốn sống tự do, hưởng thụ an nhàn tự tại cho riêng mình. Thời đại mà người công chính, lương thiện, người bênh vực chân lý thì mất dần tiếng nói trong xã hội, trong các công sở. Nếu không khôn ngoan như con rắn để phân định sự kiện. Nếu không đơn sơ như chim câu mở rộng tâm hồn đón nhận sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và trung thành, tín thác vào tình yêu của Chúa. Người môn đệ dễ bị chán nãn thất vọng trước nhựng thất bại, chống đối ghét ghen, phản bội, kết án của xã hôi, bạn bè và ngay cả chính những người thân trong gia đình.
Tin Mừng hôm nay một lần nữa cho chúng ta hiểu được thế nào là ơn gọi và số phận của người Kitô hữu. Chúa Giêsu đã được cụ già Simêon gọi là dấu chỉ gợi lên chống đối. Cái chết của Ngài trên Thập giá là cao điểm của những chống đối mà con người dành cho Ngài. Tiếp tục sứ mệnh của Ngài, Giáo Hội ở mọi nơi và mọi thời, không thể thoát khỏi số phận bị chống đối ấy. Hình thức và mức độ của những cuộc bách hại có khác nhau, nhưng tựu trung ở đâu và lúc nào Giáo Hội cũng bị bách hại.
Ý thức về sự bách hại không phải là một mặc cảm; lên tiếng về những bách hại cũng không hề là một ý đồ chính trị. Giáo Hội tự bản chất luôn bị đặt vào thế bị chống đối. Chấp nhận đi theo Chúa Kitô, sẵn sàng chiến đấu chống lại tội lỗi, lên tiếng chống lại bất công và can đảm lội ngược dòng, sống như thế tức là đã bị bách hại rồi. Một Giáo Hội phục vụ có thể được thương mến, nhưng một Giáo Hội bị bách hại lại càng là Giáo Hội trung thành với Chúa Kitô hơn. Trong một chuyến viếng thăm tại Braxin, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Tôi thà thấy muôn ngàn lần một Giáo Hội bị bách hại, hơn là một Giáo Hội thỏa hiệp”.
Làm chứng nhân của Chúa luôn là một thách đố lớn lao đối với Ki-tô hữu. Như Chúa Giêsu đã báo trước, thánh giá sẽ quyện lấy cuộc đời người làm chứng cho Chúa. Thánh Phê-rô và Gioan đã bị người Do Thái giam giữ và cấm không được rao giảng về Chúa Giêsu Kitô trước khi được thả về.
Tuy nhiên, hai thánh tông đồ đã dõng dạc tuyên bố phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm và các ngài tiếp tục loan báo Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng Cứu Độ, dù bị đe dọa tính mạng. Người Ki-tô hữu thời đại hôm nay vẫn đang bị sự cấm đoán vô hình đến nỗi không dám mang theo mình một cuốn Thánh Kinh, không dám làm dấu thánh giá trước mặt mọi người trong một đám tiệc.
Nỗi sợ hãi làm cho nhiều người không còn nghe được tiếng Chúa mời gọi làm chứng cho Ngài và tưởng rằng họ sẽ tìm được bình an trong sự lẩn trốn. Nhưng, người ta không thể làm chứng cho Chúa mà không có can đảm và hy sinh, như Barclay quả quyết; và cần phải biết rằng con đường dễ dãi không thu hút người ta; trái lại những gì đòi hỏi sự dũng cảm rốt cuộc sẽ có sức thuyết phục hơn.
Mỗi ngày sống là mỗi cơ hội Chúa ban cho chúng ta để làm chứng cho Chúa. Tuy nhiên, đó cũng là thời gian thách thức đức tin của chúng ta vào Chúa và thách đố lòng trung thành của chúng ta vào việc làm chứng cho Chúa.
Ngày nay, nhiều người không dám cứu giúp những nạn nhân bị tai nạn giao thông, vì họ sợ mất thời gian, công sức, tiền bạc,…, nhưng, có lẽ nguyên do lớn nhất là họ sợ bị hiểu lầm rằng chính họ là người gây ra tai nạn.
Chúa Giêsu đã cho các Tông đồ biết, các ông sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền, bị người ta đánh đòn vì chính Danh của Thầy mình. Ngay cả các bạn hữu thân tình cũng chống lại người môn đệ của Chúa. Đi theo Chúa, rao giảng về Người là dám đón nhận những hoạn nạn, khổ đau có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Kẻ nào bền chí đến cùng, kể ấy sẽ được cứu thoát”.
Là Kitô hữu, chúng ta có dám trung kiên làm chứng cho chân lý của Tin Mừng không? Đã bao giờ chúng ta phải đau khổ vì công khai làm chứng cho Đức Kitô? Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người Kitô hữu hãy luôn trung thành với Chúa, trông cậy vào Người, ngay cả trong những lúc đen tối, ngặt nghèo nhất.
2021
NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN
08 29 X Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên.
St 44,18-21.23b-29;45,1-5; Mt 10,7-15.
NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN
Nhiều bậc tôn sư như Đức Khổng, Đức Phật có thói quen dẫn môn sinh rảo khắp thôn làng thành thị giảng dạy giáo thuyết của mình. Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ đi lưu động trong “các thành hay làng mạc.” Nhưng việc rao giảng thì không phải đợi đến một nơi nào, mà đã phải thực hiện ngay khi còn đi đường. Chính nội dung của lời rao giảng “Nước Trời đã đến gần” cho thấy tính cấp bách khẩn thiết của sứ mạng: không được có thái độ tự mãn hoặc thụ động ngồi chờ người ta đến nhưng trái lại phải nhanh nhẹn tích cực lên đường đến với tha nhân, trở thành sứ giả đem Tin Mừng bình an đến mọi nhà mọi người, ngay cả khi bị xua đuổi, từ chối.
Trong trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ một số chỉ thị cụ thể liên quan đến việc thi hành sứ mệnh đã lãnh nhận. Trước hết, về chính việc rao giảng Tin Mừng: Hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong cùi được khỏi bệnh và khử trừ ma quỉ. Vì là người được Chúa ủy thác, nên phải thi hành đúng chỉ thị của Ngài: rao giảng Nước Trời, cứu vớt những người nghèo khổ, bị bỏ rơi bên lề xã hội.
Liên hệ đến tâm thức và cách sống của nhà truyền giáo, Chúa Giêsu nói đến tính cách nhưng không của việc hiến thân, tinh thần vị tha, giao tiếp hiền hòa với những ai đón nghe lời rao giảng cũng như với những ai từ chối. Ðã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Ðừng mang vàng bạc, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giầy hay cầm gậy. Vì thợ thì có quyền được nuôi ăn. Khi vào nhà nào thì hãy chào thăm và chúc lành cho nhà đó.
“Nước Trời đã đến gần” (c.7) là sứ điệp quan trọng Chúa Giêsu mang đến cho nhân loại. Nước Trời còn được biểu hiện nơi chính con người Đức Giêsu, vì Ngài là hiện thân của Chúa Cha, đến trần gian để minh chứng tình yêu Cha dành cho nhân loại. Vâng, sứ điệp ấy đã được Chúa Giêsu thông truyền lại cho các môn đệ, để các ngài tiếp nối công trình cứu độ của Ngài nơi trần gian qua Giáo hội. Khi được chuyển trao sứ điệp quan trọng này, các môn đệ cũng được Chúa Giêsu ban cho những năng quyền để khắc phục sự dữ (x.c.8), đồng thời Ngài cũng đòi hỏi người môn đệ phải thật nghèo khó, thanh thoát (x.c. 9-11), để hết mình phục vụ Nước Trời (x.c.12-13). “Nước Trời đã đến gần” còn là sứ điệp quan trọng cho con người thời đại hôm nay không?
Khi mà trong thực tế, nhiều người như cảm thấy Thiên Chúa rất xa lạ, mơ hồ đối với họ, vì những cảm thức duy thực dụng đã lún sâu trong tâm khảm của họ. Đứng trước thảm trạng đau buồn ấy, người môn đệ Chúa Giêsu phải làm gì để “Nước Trời” thực sự được hiện diện giữa trần gian hôm nay! Phải chăng đây là sứ mệnh quan trọng và cấp bách, đang hối thúc mỗi chúng ta hãy can đảm mạnh dạn lên đường, để tung gieo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người. Dẫu có những khó khăn và thử thách đang chờ đón phía trước, nhưng chúng ta hãy vững tin vào quyền năng Chúa Giêsu, Ngài luôn đồng hành bên chúng ta để thi thố những việc kỳ diệu cho vinh danh Ngài.
Điều quan trọng là mỗi chúng ta hãy ý thức “chúng ta đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (c.8b). Con người hôm nay đang dần giàu lên về nhiều mặt: vật chất, sự hiểu biết, sự hưởng thụ, danh vọng . . . nhưng lại vô cùng nghèo về tình yêu, sự thật và công lý. Thế nên, từ sâu thẳm nội tâm, con người vẫn thật sự khao khát một chiều kích tâm linh đích thực, có thể lấp đầy sự trống vắng của cõi lòng họ. Thế nhưng, người môn đệ Đức Kitô không chỉ giới thiệu về Nước Trời bằng những chân lý mặc khải, nhưng chính một nếp sống đơn sơ, nghèo khó, thanh thoát của người môn đệ sẽ có sức thuyết phục rất mạnh mẽ, vì con người hôm nay “cần chứng nhân hơn thầy dạy”.
Chúa Giêsu chính là hiện thân của tình yêu thương, lòng bao dung tha thứ, lòng xót thương trên những nỗi khổ đau của con người về thể lý và tinh thần. Chính Ngài đã thi thố quyền năng trên bệnh tật, sự chết, ma quỷ khi Ngài chữa lành cho con người khỏi áp lực của sự dữ. Khi sai các tông đồ đi truyền giáo, Đức Giêsu cũng ban cho các ông năng quyền trên sự dữ, nhờ đó các tông đồ có thể chữa lành bệnh tật, làm cho kẻ chết sống lại và khu trừ ma quỷ (x.c.8a). Lời nhắn nhủ của Chúa Giêsu phải luôn là hành trang cho người môn đệ: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (c.8b).
Chúa Giêsu còn đi xa hơn khi đòi hỏi người môn đệ phải có một tâm hồn thanh thoát với của cải, danh vọng và tình cảm con người: “Đừng sắm vàng bạc hay tiền, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo… hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi…” (c. 9-11). Sự thanh thoát với nếp sống giản dị của người môn đệ là dấu chứng thuyết phục nhất cho lời rao giảng cùng với những năng quyền Chúa đã ân ban. Sứ điệp đầu tiên mà người môn đệ mang đến cho mọi người chính là sự bình an: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (c.12). Đây chính là khát vọng sâu xa nhất mà con người hằng mong đợi: sự an bình và hạnh phúc.
Chúa Giêsu là hiện thân của Nước Trời, là nội dung sứ điệp truyền giáo. Vì thế, khi thi hành sứ vụ, người môn đệ luôn phải đặt Chúa làm trọng tâm mọi hoạt động của mình. Tất cả những gì người tông đồ có được đều là hồng ân nhưng không Thiên Chúa ban tặng. Vì thế, người tông đồ cần luôn ý thức sâu xa hồng ân mình được nhận lãnh cách nhưng không, để không tự hào, hay khoe mình về những thành công đạt được trong khi thi hành sứ vụ.
Chúa Giêsu không những ủy thác việc rao giảng Tin Mừng cho các môn đệ, Ngài còn muốn đời sống các ông phù hợp với lời giảng dạy. Nội dung cốt yếu của sứ điệp không do quyết định tự do hoặc sáng kiến của người rao giảng, mà là do chính Chúa Giêsu ấn định, đó là Nước Trời. Người được sai đi với tư cách là thừa tác viên phải thi hành đúng như Chúa đã truyền. Ngài mời gọi họ dấn thân sống đầy đủ mỗi ngày lý tưởng truyền giáo và lý tưởng của người môn đệ. Ðiều quan trọng phải nhớ là hành trang của nhà truyền giáo khi theo Chúa Giêsu là lời của Ngài và đời sống nghèo khó của Ngài. Tất cả những sự khác phải được coi là dư thừa, nhiều khi còn là ngăn trở cho việc truyền giáo. Kinh nghiệm cho thấy rằng những ai dấn thân sống nghèo khó và hy sinh cho người khác, sẽ được Chúa cho lại gấp trăm.
Ngày hôm nay, con người cần chứng nhân hơn thầy dạy. Thế nên, người môn đệ của Chúa phải truyền giảng Tin Mừng trước tiên bằng một cuộc sống tràn đầy tình yêu thương, với một nếp sống đơn sơ giản dị, thanh thoát với mọi sự vật trần thế, để chỉ lo tìm vinh danh Chúa và mưu ích cho các tâm hồn. Giữa một xã hội đang đầy dẫy những phức tạp muôn mặt, con người khó tìm kiếm được sự bình an đích thực. Đây chính là nhiệm vụ của người môn đệ, đem bình an của Chúa đến cho mọi nhà và từng tâm hồn, để tất cả đều cảm nghiệm niềm hạnh phúc sâu xa với sự bình an tràn trào, vì Chúa đang ở cùng con người.
2021
CHỌN LỰA CỦA CHÚA
07 28 X Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên.
Thứ Tư đầu tháng. Kính Thánh Cả Giuse.
St 41,55-57;42,5-7a.17-24a; Mt 10,1-7.
CHỌN LỰA CỦA CHÚA
Tin mừng hôm nay kể về việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ. Họ không có của cải, không có học thức cao, không có địa vị trong xã hội. Họ được chọn từ trong dân gian, những người chỉ làm việc thường, không được giáo dục đặc biệt, không có lợi thế xã hội. Người ta nói Chúa Giêsu không tìm kiếm những người phi thường, Ngài tìm những người tầm thường để làm việc một cách rất phi thường. Sứ điệp của việc chọn gọi ở chỗ. Chúa Giêsu nhìn mỗi người, không phải chỉ để thấy họ thế nào, nhưng để thấy Ngài có thể khiến họ trở nên như thế nào. Không ai nên nghĩ rằng mình không có gì để dâng cho Chúa. Chúa Giêsu có thể lấy điều một con người tầm thường hơn hết dâng lên để sử dụng trong việc trọng đại.
Con người thường hay chọn những người cùng một sở thích hay tính tình giống nhau. Chúa Giêsu chọn các Tông-đồ có tính tình khác nhau, nhiều khi đến chỗ xung khắc: Matthêu người thu thuế. Tất cả mọi người đều coi Matthêu là người phản quốc (làm việc cho ngoại bang), như một người làm tay sai cho những chủ nhân chiếm xứ mình để cầu lợi.
Trái ngược với Matthêu, một người ái quốc thương dân là Simon (người nhiệt thành). Nếu Simon người cuồng tín đó gặp Matthêu tại một nơi nào khác ngoài tập thể của Chúa Giêsu, thì chắc chắn giữa hai ông sẽ xảy ra án mạng. Rồi một Phêrô nhanh nhẩu nói năng phải ở với Gioan thâm trầm, ít nói. Và một Thomas từ chối không tin tất cả lời chứng Chúa đã sống lại và hiện ra của tất cả Tông-đồ khác. Thế mà Thiên Chúa có thể làm cho các ông dẹp khác biệt cá nhân, để sống chung và cùng nhau thi hành sứ vụ Ngài trao. Tại dây có một chân lý trọng đại là những người thù ghét lẫn nhau lại có thể thương yêu nhau, khi cả hai đều mang sứ điệp Tin Mừng. Trái lại trong bài đọc một gia đình tổ phụ Giacob chúng ta thấy: Anh em trong nhà lại ám hại nhau.
Chúa Giêsu không chọn những người tài cao và học rộng, giàu sang và quí phái, chức vụ và uy quyền trong xã hội, nhưng Ngài đã chọn người có tấm lòng và thiện chí. Chỉ cần hai điều này thôi, còn mọi điều khác Chúa sẽ lo liệu.
Có một tác giả đã tưởng tượng ra việc Chúa chọn các tông đồ như sau: sau những đêm dài cầu nguyện, Ngài rảo bước khắp nơi nhưng không chọn được người nào, Ngài đành quăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện Ngài không chọn được một ai.
Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu nguyện: nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa không chọn được một ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng, cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết, cũng thế.
Chán nản vì mất thời gian vô ích, Chúa Giêsu rời vận động trường để ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy đám dân chài. Ngài đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm hết lực vào công việc họ đang làm. Ngài nghĩ thầm trong lòng, họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm tông đồ của Ngài.
Các tông đồ được chọn không phải vì các ngài có tấm lòng và thiện chí như tiêu chuẩn của Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương họ trước cả khi họ biết Chúa. Các tông đồ được Chúa chọn cũng không phải vì các ông có quả tim tinh tuyền như Chúa đòi hỏi, nhưng vì lòng nhân từ của Ngài mà Ngài hy vọng sẽ hướng dẫn, dạy dỗ họ, để họ đổi mới mà thành những chứng nhân tông đồ cho muôn dân.
Với thánh sử Mác-cô và Luca chỉ nêu danh sách 12 tông đồ khi Chúa gọi các ngài; còn Matthêu thì nhắc đến nhóm 12, khi Chúa sai các ông đi rao giảng. Như vậy, Matthêu đã nhấn mạnh đến sứ mạng của nhóm 12 hơn là việc kêu gọi các ngài, và đề cao mối liên lạc mật thiết giữa tông đồ đoàn và sứ mạng truyền giáo. Họ là những chứng nhân tiêu biểu, đã được Chúa Giêsu huấn luyện, trao quyền hành và nhiệm vụ truyền giáo, như chính Người đã được Chúa Cha sai đi.
Dù các ông có tính tình, hoàn cảnh, trình độ, khuynh hướng khác nhau, thậm chí đối chọi nhau; Chúa vẫn muốn họ làm chứng bằng chính đời sống và cảm nghiệm:
Họ phải làm chứng về tình thương của Chúa đối với họ: dù họ hèn kém, bất xứng, đầy khuyết điểm… nhưng họ đã được Chúa thương và tuyển chọn.
Họ phải làm chứng về sức đổi mới của Chúa: tuy là con người xác thịt, với thời gian và nhờ sống bên Chúa Giêsu, họ đang thay đổi cách sống, cách nghĩ và thấm nhiễm tinh thần của Nước Trời.
Họ phải làm chứng về sự hiệp nhất, về sự keo sơn giữa nhiều con người đầy khác biệt và mâu thuẫn nhau.
Họ phải làm chứng về quyền năng và về vai trò chủ động của Thiên Chúa: họ chỉ là đầy tớ vô dụng làm không được bao nhiêu, chính Thiên Chúa làm tất cả nơi họ trong công trình cứu độ.
Sự chọn gọi các môn đệ của Chúa Giêsu là có chủ đích: Đó là để sai đi, công bố Tin Mừng Nước Trời, cùng với sứ mạng, các môn đệ được trao cho quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đây là dấu chỉ của thời đại Nước Trời đã đến, Tin Mừng thắng được sự dữ, Tin Mừng đến để phục vụ, để cứu chữa. Lệnh sai đi của Chúa Giêsu năm xưa vẫn còn hiệu lực cho Giáo Hội hôm nay, người kitô hữu có bổn phận đến với muôn dân, mang Tin Mừng của Chúa đến bằng sự phục vụ, yêu thương và cứu chữa. Như trong bài đọc một. Giuse nhận ra kẻ thù là anh em, sẵn sàng chia sẻ khi anh em gặp khốn khó, cấp dưỡng khi anh em bị bỏ rơi.
Lời mời gọi các tông đồ ra đi truyền giáo năm xưa của Chúa Giêsu vẫn luôn là lời mời gọi cho mỗi người trong mọi thời đại. Giữa một thế giới mà niềm tin vào Chúa Giêsu còn quá ít ỏi, Kitô hữu chúng ta cần phải ý thức hơn rằng, việc loan báo Tin Mừng lại là một vấn đề ưu tiên hơn bao giờ hết.
