2021
Tinh Thần Trẻ Thơ
Tháng Mân Côi
01 25 Tr Thứ Sáu Tuần XXVI Thường niên.
THÁNH TÊ-RÊ-SA HÀI ĐỒNG GIÊ-SU, TRINH NỮ, TIẾN SĨ HỘI THÁNH, QUAN THẦY CÁC XỨ TRUYỀN GIÁO, lễ kính.
Thứ Sáu đầu tháng. Ngày đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Kinh thần vụ: Thánh Trinh nữ.
Is 66,10-14c; Mt 18,1-5.
Tinh Thần Trẻ Thơ
Ngày 19 tháng 10 năm 1997, thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu được ĐGH Gioan Phaolô II trao tặng danh hiệu Tiến sĩ Hội thánh. Ngài là người trẻ nhất (24 tuổi) trong 3 vị nữ thánh được trao tặng danh hiệu này.
Nhìn vào cuộc đời của chị Têrêsa chúng ta chắc không khỏi ngạc nhiên thắc mắc: “Đâu là điều khiến chị có được danh hiệu ấy ?”; bởi cuộc đời chị quá đơn giản và bình thường, chẳng có chi là nổi trội. Thậm chí có người còn nhận xét: “Có lẽ với cuộc đời ấy chị đã chìm vào quên lãng, nếu không để lại cuốn tự thuật ‘Truyện một tâm hồn’ mà chị viết vì vâng phục.”
Bạn đã bao giờ nghe về Thánh Thérèse hay Thánh Têrêsa Hài Đồng và những bí mật về thánh nữ ? Bạn có biết tại sao có rất nhiều người chọn ngài làm thánh quan thầy, và là người bạn gần gũi nhất của mình không ?
Thérèse Martin sinh ra trong một thị trấn thuộc Alencon, Pháp vào ngày mùng 2 tháng 1 năm 1873. Chị ấy là con gái út trong gia đình gồm 5 chị em gái. Khi chị ấy còn rất nhỏ, mẹ của chị ấy mắc căn bệnh ung thư. Vào thời đó, họ không có thuốc và sự điều trị tốt như ngày nay. Các bác sĩ đã cố gắng hết sức nhưng căn bệnh của bà Martin vẫn ngày càng nặng thêm. Bà ấy đã mất khi Thérèse mới chỉ 4 tuổi.
Đó là khi bố của Thérèse quyết định tốt hơn nên chuyển nhà đến Lisieux, một thị trấn khác, nơi có nhiều người thân sinh sống. Ở đó có tu viện Carmelite, một tu hội dòng kín, nơi mà các thiếu nữ làm một công viêc đặc biệt đó là cầu nguyện cho toàn thế giới. Khi Thérèse được 10 tuổi, một chị gái của chị là Pauline đã xin nhập dòng Carmelite ở Lisieux. Điều đó thật khó khăn cho Thérèse vì chị Pauline giống như người mẹ thứ hai của Thérèse, chăm sóc và dạy dỗ chị ân cần như mẹ chị đã từng làm. Thérèse nhớ chị Pauline đến phát ốm. Suốt cả tuần sau đó chị vẫn chưa khỏi, các bác sĩ không biết chị ấy đã gặp vấn đề gì. Bố và 4 chị gái của Thérèse đã cầu xin Thiên Chúa giúp. Một ngày sau, tượng Đức Mẹ trong phòng ngủ của Thérèse bỗng dưng mỉm cười với Thérèse và chị ấy hoàn toàn bình phục!
Một lần khác, Thérèse nghe tin về một người đàn ông đã gây ra ba vụ giết người và thậm chí còn không biêt hối lỗi. Chị ấy quyết định cầu nguyện và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho ông ấy (như từ bỏ một cái gì đó mình thích hay làm một việc nào đó mà mình không thích). Chị ấy cầu xin Chúa thay đổi tâm hồn người đàn ông ấy. Trước khi người đàn ông đó chết, ông ta hỏi về cây thánh giá và hôn lên hình Chúa Giêsu. Thérèse cảm thấy rất hạnh phúc, chị biết rằng ông ta đã tin vào Chúa và nhân đón nhân ơn sám hối.
Thérèse rất yêu mến Chúa Giêsu. Chị muốn dâng hết cả con người mình cho Chúa. Chị muốn gia nhập dòng Camelô để có thể dâng hiến đời mình để làm việc và cầu nguyện cho mọi người, nhất là những người còn chưa biết đến lòng thương xót Chúa. Nhưng Thérèse gặp một trắc trở. Chị ấy còn quá trẻ, chị cần phải cầu nguyện và chờ đợi thêm. Cuối cùng thì chị cũng được 15 tuổi, được phép gia nhập vào tu viện.
Chị Thérèse đã làm gì trong thời gian ở tu viện ? Không gì đặc biệt cả. Bí mật của chị ấy là: Yêu mến. Có một lần Thérèse nói rằng: “Thiên Chúa không muốn chúng ta phải làm điều này điều kia cho Ngài, mà Ngài muốn chúng ta yêu Ngài là đủ”. Vì thế, Thérèse đã ước muốn và thực hành đời sống yêu mến Chúa. Chị tập kiên nhẫn và ân cần với mọi người, điều đó thật không dễ chút nào. Trong thời ấy, lúc các chị đang giặt quần áo bằng tay (lúc đó máy giặt chưa được phát minh!). Có một chị luôn làm bắn tóe nước bẩn vào mặt chị Thérèse. Nhưng Thérèse chẳng bao giờ tỏ ra bực bội. Thérèse thường hay giúp đỡ một chị lớn tuổi có tính cáu gắt và luôn phàn nàn về mọi thứ, bởi vì chị Thérèse không cảm thấy thích việc đó. Thérèse muốn đối xử với chị ấy như với chính Chúa Giêsu. Chị biết rằng khi mình yêu những người khác tức là mình đang yêu chính Chúa Giêsu. Tình yêu khiến Thérèse trở nên hạnh phúc.
Thérèse chỉ sống đời tu 9 năm. Căn bệnh lao đã xảy đến với chị, nó khiến chị phải chịu rất nhiều đau đớn. Không có sự điều trị đối với căn bệnh ấy, các bác sĩ cũng không thể giúp được nhiều cho chị. Thérèse qua đời khi mới chỉ 24 tuổi. Nhưng trước khi chết, chị đã hứa sẽ không từ bỏ điều bí mật của mình. Chị hứa sẽ luôn yêu thương và giúp đỡ mọi người khi về quê trời. Trước khi mất, Thérèse đã nói: “Tôi sẽ gửi mưa ơn lành từ trời xuống mặt đất”. Và chị ấy đã làm được điều đó! Tất cả mọi người trên thế giới, những người đã nhờ thánh Thérèse Lisieux cầu xin đến Thiên Chúa đều nhận được sự đáp trả qua lời cầu nguyện của họ.
Thérèse đã khám phá ra “con đường nhỏ” để đến với Thiên Chúa: Thérèse muốn nên Thánh. Ngài biết Thiên Chúa rất muốn giúp đỡ mình và đặt hết mọi tin tưởng nơi Thiên Chúa và yêu Chúa hết cả tấm lòng, sau đó ngài quan tâm, đối xử tốt với mọi người xung quanh, từ những việc đơn giản nhất. “Con đường nhỏ” của Thérèse là làm mọi việc bạn có thể làm cho người khác vì yêu mến Chúa. Đó chắc chắn là cách để bạn có thể nên thánh.
Tin Mừng Mátthêu được cấu trúc xoay quanh năm diễn từ dài của Chúa Giêsu, và diễn từ thứ tư bắt đầu với chương 18 nói về nếp sống của người môn đệ trong cộng đoàn. Tin Mừng hôm nay nhắc đến hai đặc điểm của nếp sống người môn đệ trong cộng đoàn.
Trước hết là thái độ sống trẻ thơ. Một tiểu thuyết gia nọ đã đưa ra nhận định: “Khi người lớn chúng ta không còn giữ liên hệ nào với các trẻ nhỏ, thì chúng ta không còn giữ được tính người nữa, mà đã trở thành như những chiếc máy chỉ biết ăn uống và kiếm tiền”. Lòng tin tưởng của trẻ thơ gợi lên cho chúng ta về sự tin tưởng mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải có đối với Thiên Chúa Cha, Ðấng ngự trên trời. Thái độ trẻ thơ khâm phục trước vũ trụ và thiên nhiên nhắc nhớ sự khâm phục mà chúng ta cần có đối với vũ trụ do Thiên Chúa Cha chúng ta dựng nên. Thái độ đáp trả của trẻ nhỏ trước tình yêu thương nhắc chúng ta phải đáp trả đối với tình yêu thương của Thiên Chúa.
Nhận định trên đây giúp chúng ta hiểu tại sao Chúa Giêsu muốn các môn đệ trong cộng đoàn mà Ngài thiết lập phải trở nên như những trẻ nhỏ: đơn sơ, tin tưởng phó thác, không có thái độ kẻ cả.
Chúa Giêsu gọi em nhỏ đến ngay lập tức. Ngài đặt em đứng giữa các ông . Trẻ nhỏ thời bấy giờ được xem là người yếu thế, không thể tự quyết, có bổn phận phải phục tùng, không được ý kiến và phải vâng lời người lớn trong mọi sự cách tuyệt đối, như trong thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Ga-lát “Bao lâu người thừa tự còn là một đứa con nít, nó chẳng khác gì một kẻ nô lệ” (Gl 4, 1).
Trẻ nhỏ là một kẻ nô lệ. Chúng ta nghe Chúa Giêsu trả lời: “Thày bảo thật anh em, nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời”. Một chân lý sống. Một lời khẳng định mang tính quả quyết. một câu điều kiện để được hưởng hạnh phúc thiên đàng. Thật vậy, để đạt được Nước Trời, phải thay đổi và trở nên trẻ nhỏ, nghĩa là phải tập cho mình tinh thần phó thác, khiêm nhu của con trẻ. Và Chúa Giêsu kết luận: “vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời”. Kẻ nào tự cho mình là bé mọn, là thấp kém, không là “cái rốn vũ trụ”, thì trước mắt Thiên Chúa, kẻ ấy có tầm quan trọng trong vương quốc của Ngài.
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn đẩy xa hơn tinh thần trẻ thơ đến độ “Ai tiếp đón em nhỏ vì danh Thày là tiếp đón chính Thầy”. Ngài đồng hóa mình với em nhỏ, vì Ngài đã vâng lời Thiên Chúa đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thánh giá “Xin cho ý Cha được thể hiện”. Ngài tín thác vào tình yêu Thiên Chúa ngay cả trong lúc cảm thấy đau đớn nhất, cô đơn nhất “Con phó hồn con trong tay Cha”.
Những đức tính tốt của tuổi thơ sẽ giúp cho các thành phần trong cộng đoàn chấp nhận và phục vụ nhau, không kỳ thị phân biệt. Cộng đoàn những con người cụ thể dĩ nhiên có những khuyết điểm, những bất toàn, tội lỗi. Chúa Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài không muốn môn đệ Ngài có thái độ sống kỳ thị tách biệt khỏi những người khác, nhất là những người tội lỗi. Trái lại, Chúa Giêsu đã mở ra một viễn tượng mới, Ngài mạc khải thái độ nhân từ thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, đến nỗi đã bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc, và vui mừng khi tìm được nó. Chúa Giêsu mời gọi con người ăn năn sám hối trở về với sự thật, với tình thương và với người anh em.
Xin Chúa cho chúng ta sống tinh thần trẻ thơ trước mặt Chúa và trong tương quan với người khác. Xin cho chúng ta sống tin tưởng, yêu thương phục vụ mọi người vì tình yêu Chúa.
2021
BÌNH AN CỦA CHÚA
30 24 Tr Thứ Năm Tuần XXVI Thường Niên.
Thánh Giê-rô-ni-mô, Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.
Nkm 8,1-4a.5-6.7b-12; Lc 10,1-12.
BÌNH AN CỦA CHÚA
Thánh Giê-rô-ni-mô (Jérôme) qua đời tại Bethléem ngày 30 tháng chín năm 419 hoặc 420. Lễ kính Ngài đã khá phổ biến ở Gaule trong thế kỷ VIII, sau đó lan khắp phương Tây (thế kỷ IX – X).
Eusebius Hieronimus Sophronius sinh khoảng năm 340 tại Stridon, gần trên giới Dalmatie, trong một gia đình Kitô giáo, sung túc. Đến Roma, Jérôme theo học trường của nhà tu từ nổi tiếng Donatius và vì rất mê say văn chương cổ điển, Jérôme đã tạo cho mình một thư viện phong phú.
Được Đức giáo hoàng Libère (352-366) rửa tội cho, Jérôme lưu lại Trèves ít lâu, sau đó tới Aquilée; tại đây Jérôme có ấn tượng về lòng đạo đức của các giáo sĩ thành phố. Khoảng năm 372, Jérôme sang phương Đông, đến Antiochia thì ngã bệnh. Trong bức thư (nổi tiếng) gữi Eustochium, Jérôme kể lại trường hợp lương tâm Kitô giáo của ông bị mê hoặc theo văn chương đời, vì, trong một thị kiến, Thiên Chúa xét xử đã nói với Jérôme rằng: “Người là đệ tử Cicéron, chứ không phải môn đệ Kitô…”.
Lúc bấy giờ Jérôme rút vào hoang mạc Chalcis (Syrie), nơi đây có nhiều nhà khổ tu; tại đây ông học tiếng Hébreu. Sau đó ông trở lại Antiochia, thụ phong linh mục, rồi đến Constantinople (380-381), tiếp tục học khoa chú giải với thánh Apollinaire de Laodicée và thánh Grégoire de Naziance, dịch các bài giảng của Origène từ tiếng hy lạp và cuốn Chronique của Eusèbe de Césarée. Năm 382, Jérôme tháp tùng Paulin d’Antioche và Epiphane de Salamine dự công đồng chung Roma. Jérôme được đánh giá là chuyên viên giỏi. Ngài ở lại Roma, được chỉ định làm cố vấn cho Đức giáo hoàng Damase; Đức Damase giao cho Ngài xem lại bản văn la tinh các sách Phúc âm và Thánh vịnh. Đồng thời, Ngài làm linh hướng cho nhiều phu nhân trong giới quí tộc như Marcella, Paula, Eustochium …
Sau khi Đức giáo hoàng Damase qua đời, Ngài trở thành nạn nhân của một nhóm tố cáo Ngài quá cứng rắn trong các yêu sách về dòng khổ tu và quá mới mẽ trong các công trình về Kinh Thánh. Thánh nhân từ giã Roma, xuống tàu trở lại phương Đông. Ngài đi viếng Palestine, thăm Ai-cập và hoang mạc Nitrie (Hạ Ai Cập), vùng có nhiều thầy khổ tu sinh sống. Tại Alexandria, Ngài tham vấn nhà thần học trứ danh là Didyme Mù. Sau hết, Ngài đến Bethléem và ở đây cho đến khi qua đời. Tại đây thánh nhân có thể toàn tâm toàn ý hoàn tất bản dịch Kinh thánh từ tiếng Hy lạp (bản Septuaginta) và từ Hébreu (phần lớn Cựu Ước).
Trong các tác phẩm lịch sử của thánh nhân, ngoài các tác phẩm khác, có thể kể De viris illustribus (Những con người lừng danh) là bản tổng kết quí báu bốn thế kỷ văn chương Kitô giáo. Cũng cần nhắc đến lượng thư từ đồ sộ Ngài viết, từ mẫu giấy nhỏ đến cả thiên luận thuyết quan trọng, hiện giờ chúng ta còn lưu giữ được trên một trăm hai mươi thư.
Jérôme cũng là một nhà bút chiến dữ dội và đáng gờm. Năm 383, Ngài từng phản bác Helpidius phủ nhận sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria. Sau đó, Ngài tấn công Vigilance để bênh vực việc tôn kính các vị tử đạo và một số tập quán trong đời tu dòng. Trong cuộc tranh luận lâu dài về Origène (393-402), thánh Jérôme chống lại Rufin và Jean, giám mục Jérusalem. Những năm cuối đời Ngài gặp nhiều chuyện buồn: các đồ đệ và bạn hữu qua đời; quân man di xâm chiếm, đốt phá các tu viện. Cuối cùng Ngài qua đời ở Bethléem, thọ tám mươi tuổi. Bethléem là nơi Ngài từng lao động trí tuệ và đền tội suốt ba mươi lăm năm cuối đời.
Thánh Jérôme là một trong những vị thánh thường được nhiều ảnh tượng công giáo ghi khắc, khi là một hối nhân nơi hoang mạc (Lorenzo Lotto, Louvre; Rubens, Dresde; Van Dyck, Dresde; L.Giordano, Madrid…), khi là một tiến sỹ Hội thánh hay một hồng y, đôi khi có thêm một con sư tử mà Ngài từng nhổ cái gai ở chân cho (Durer, Petit Palais, Paris).
Kinh Thánh thường dùng danh từ bình an với bốn ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất, trên bình diện quân sự thì bình an ám chỉ một tình trạng không có chiến tranh giữa các dân tộc. Ý nghĩa thứ hai trên bình diện cá nhân, thì bình an ám chỉ tình trạng yên ổn của từng người. Ý nghĩa thứ ba trên bình diện tôn giáo, thì bình an là mối liên hệ tình nghĩa tốt đẹp giữa Thiên Chúa và chúng ta. Cuối cùng, bình an còn được Kinh Thánh dùng để nói lên tình trạng trong đó mọi người trên mặt đất sống hoà thuận với Chúa, với người khác và với chính bản thân.
Đây là sự bình an mà Chúa nói đến khi Ngài tuyên bố: Ta để lại sự bình an cho các con, Ta ban sự bình an của Ta cho các con. Đây cũng chính là sự bình an mà các thiên thần đã cầu chúc trong đêm Giáng sinh: vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Sự bình an này chẳng la gì khác ngoài việc thực thi Nước Chúa trên trần gian. Để thực hiện sự bình an này, Đức Kitô đã xuống thế làm người để hoà giải con người với Thiên Chúa cũng như hoà giải con người với nhau. Bởi vì sự bình an đích thực phải là kết quả của sự hoà giải.
Người truyền giáo phải là kẻ nói những lời bình an, thực hiện những sự bình an, trao ban sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta cần kiểm điểm lại lời nói và việc làm của mình xem có phải là lời nói và việc làm như Chúa hay không? Đó là “Bình an cho anh chị em. Bình an cho nhà này”.
Chúng ta hãy đến lãnh nhận ơn bình an của Chúa: “Thầy ban cho chúng con bình an của Thầy”, để rồi chúng ta cũng có thể trao sự bình an đó cho anh chị em xung quanh.
Như thế, để có được sự bình an của Chúa, chúng ta cũng phải sống tinh thần hoà giải. Có được sự bình an trong tâm hồn mà thôi chưa đủ, Đức Kitô còn muốn chúng ta mang sự bình an này đến cho những người chung quanh chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta hãy cầu nguyện như lời kinh của thánh Phanxicô Assie: Lạy Chúa, xin hãy biến con thành khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Bởi vì như lời Chúa đã phán: Phúc cho ai xây dựng hoà bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Lời Chúa dạy cho các đồ đệ chúc “bình an cho nhà này” là tiếng vang trước cho lời chúc bình an của Chúa Giêsu Phục sinh trước khi sai các tông đồ ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Chúa: “Bình an cho chúng con”. Chắc chắn khi nghe những lời chúc của Đấng Phục sinh: “Bình an cho chúng con”, các tông đồ nhớ lại lời dạy trước lúc Phục sinh của Chúa, khi Chúa sai các ngài đi thực tập trước công việc truyền giáo mà các ngài sẽ chu toàn sau biến cố Phục sinh: “Vào nhà nào, chúng con hãy cầu chúc: bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
Chúa Phục sinh ban sự bình an thật cho các tông đồ, để các ông ra đi và đến phiên các ông, các ông cũng sẽ cầu chúc như Chúa đã chúc: “Bình an cho nhà này”. Các ông nói như Chúa đã nói, làm các công việc và những việc lạ như Chúa đã làm, hay đúng hơn theo như lời Chúa nói là hơn cả những gì Chúa đã làm nữa: “Bình an cho chúng con. Bình an cho nhà này”.
Ước gì mỗi người chúng ta được thật sự lãnh nhận ơn bình an của Chúa, ơn bình an mà Chúa đã phải chết trên thập giá để thực hiện cho chúng ta, cho tất cả mọi người. Ước gì mỗi người chúng ta trước hết lãnh nhận ơn bình an đó của Chúa và để cho ơn bình an, ơn cứu rỗi thánh hóa, biến đổi chúng ta để rồi chúng ta có thể nói và làm như Chúa đã nói và làm “Bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
2021
Các Tổng Lãnh Thiên Thần – Cộng Đồng Siêu Việt
29 23 Tr Thứ Tư Tuần XXVI Thường Niên.
CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MI-CA-EN, GAP-RI-EN VÀ RA-PHA-EN, lễ kính.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Đn 7,9-10.13-14 (hoặc Kh 12,7-12a); Ga 1,47-51.
Các Tổng Lãnh Thiên Thần – Cộng Đồng Siêu Việt
Trước cải tổ phụng vụ, các tổng lãnh thiên thần Michel, Gabriel và Raphael được mừng kính lần lượt vào các ngày 29 tháng chín, 24 tháng 3 và 24 tháng mười, hiện thời cùng mừng chung ngày 29 tháng chín, ngày kỷ niệm lễ cung hiến một đại giáo đường kính thánh Michel ở thế kỷ IV, trong một miền quê Roma nhưng ngày nay không còn. Việc tôn kính các tổng lãnh thiên thần Michel, Gabriel và Raphael đã được Công đồng Latran năm 745 chấp thuận, dưới sự chủ tọa của Đức giáo hoàng Zacharie. Và thế là người ta phân biệt các ngài với các thiên thần chỉ có tên trong các “ngụy thư” được tôn kính ở phương Đông là Uriel, Salathiel, Jébudiel và Barachiel.
Michel (trong tiếng Do thái là Mika’el, “ai bằng Thiên Chúa?”) được nhắc đến trong sách Đaniel (10, 13.21; 12,1) thư Giuđa (1, 9), còn sách Khải Huyền (12,7 …) mô tả cuộc chiến do tổng lãnh thiên thần Michel và các tổng lãnh Thiên thần chống lại con Rồng và các thiên thần của nó.
“Con Mãng xà … mà người ta gọi là ma quỷ hay Satan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ, nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống cùng nó” (12, 9).
Việc tôn kính thánh Michel được phát triển trên núi Gargan miền Pouilles (Italia) từ thế kỷ XI, đặc biệt sau lần người Lombards chiến thắng Sarrasins trong thế kỷ XII, gần Siponto mà người ta nói là nhờ sự bảo vệ của tổng lãnh thiên thần Michel. Tu viện nổi tiếng trên núi Saint-Michel ở Pháp là một trung tâm phát triển lòng sùng kính thánh Michel và, từ năm 966, sau khi có các tu sỹ Biển đức đến tại đây, nhà dòng trở thành một trong những trung tâm hành hương nổi tiếng nhất.
Gabriel (tiếng Do thái Gabri’el, “người của Chúa”, hoặc “Chúa là sức mạnh của tôi”) là tên riêng gọi một thiên thần xuất hiện lần đầu tiên trong sách Đanien (8, 16; 9, 21) trong một sứ vụ thiên thần truyền tin. Trong Tân ước, Gabriel là sứ giả được Chúa sai (Lc 1, 19.26) loan báo việc Gioan tẩy giả sinh ra (Lc 1, 11 – 20) và báo việc Chúa Giêsu sinh ra từ Mẹ đồng trinh (Lc 1, 26 – 28 ). Được tôn kính là tổng lãnh thiên thần từ thế kỷ II, thánh Gabriel được Giáo hội Syrie xem là đứng đầu các thiên thần.
Raphael (tiếng Do thái Repa’el, “Thiên Chúa chữa lành”) là tên một thiên thần chỉ xuất hiện trong sách Tobia (3, 17). Raphael đồng hành với Tobia, giúp công việc thành công (5, 12s), chữa Tobia cha hết mù, cứu Sara khỏi tay ma quỉ. Raphael là một trong 7 thiên thần đứng trước vinh quang Chúa (12, 15), dâng lên Chúa lời cùng của những người thánh thiện cũng như việc lành của họ.
Chúng ta mừng các vị tổng lãnh thiên thần, nhưng đồng thời cũng mừng tất cả các thiên sứ được nhắc tới từ sách Sáng Thế cho tới sách Khải Huyền. Các vị hiện diện cách vô hình để hướng dẫn dòng lịch sử cứu độ.
Tuy các vị là những sứ giả của Chúa, có nhiệm vụ bộc lộ cho con người biết các kế hoạch của Chúa và mang tới lệnh Người truyền, nhưng trước hết các vị là cộng đoàn đông đảo những vị thờ lạy Thiên Chúa hằng sống.
Tin Mừng theo thánh Gioan trích đọc hôm nay là phần kết của tuần lễ khám phá. Gioan Tẩy Giả và các môn đệ đầu tiên đã khám phá ra Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng Mêsia, Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, là Con Thiên Chúa, là vua Israel.
Một cách tế nhị và kín đáo, Chúa Giêsu xác nhận tất cả những điều trên và Người hứa: các anh sẽ thấy trời rộng mở và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người. Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi, vì thế Người cũng là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, là cầu nối giữa chúng ta ở dưới đất và Thiên Chúa ở trên trời, mà hình ảnh chiếc thang của Giacop đã tiên báo. Chúa Giêsu thực thi vai trò cầu nối nhờ các thiên thần là thụ tạo vô hình mà Thiên Chúa đã dựng nên để phục vụ Người và giúp đỡ chúng ta.
Hội Thánh dạy có nhiều phẩm thiên thần. Hôm nay Hội Thánh kính mừng các tổng lãnh thiên thần.
Chương 28 sách Sáng thế thuật lại giấc mơ của ông Giacop. Ông thấy có một cái thang dựng dưới đất và đầu nó chạm tới trời, trên đó các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống. Giờ đây, trước mặt các môn đệ đang khám phá ra con người của Chúa Giêsu thì Người khẳng định, trời mở ra và các thiên sứ cũng lên xuống trên mình, và rằng Người là chiếc thang nối liền trời và đất, là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.
Đồng thời cũng có các thiên sứ lên lên xuống xuống tấp nập ngày đêm để làm cho việc nối liền trời và đất, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và loài người được trở nên sống động và hữu hiệu hơn.
Các tổng lãnh thiên thần Micaen, Gaprien và Raphaen mà Hội Thánh mừng kính hôm nay không phải là những sứ thần có tên riêng, mà là những danh xưng chung chỉ sứ vụ các ngài thực hiện. Nhờ sự năng động di chuyển của các ngài mà mệnh lệnh của Thiên Chúa được thực thi và mọi phúc lành của Thiên Chúa được chuyển đến chúng ta một cách mau lẹ và hiệu quả.
Lễ các tổng lãnh thiên thần Micael, Gabriel và Raphael nhắc chúng ta rằng phụng vụ trần thế của chúng ta liên kết với phụng vụ các thiên thần cử hành trên trời: “Cùng với muôn vàn thần thánh thờ phụng Chúa trên trời qua Đức Kitô Chúa chúng con, chúng con ca ngợi Chúa dưới trần gian này…” (kinh tiền tụng lễ hôm nay). Chính là trước mặt Chúa Giêsu đó, Đấng chúng ta tuyên xưng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết rằng “các thiên thần thán phục”
Thiên Chúa yêu thương mỗi người, Thiên Chúa không ngừng bao bọc che chở chúng ta bằng sự hiện diện của vô số các thiên thần. Ðó phải là niềm tin hôm nay khi mừng kính các thiên thần Micae, Gabriel và Raphael, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta hâm nóng lại. Thiên Chúa đã ban cho cuộc sống chúng ta như một phép lạ, nhờ các sứ thần của Ngài, Ngài hướng dẫn và che chở chúng ta trong từng đường đi nước bước của chúng ta.
Nguyện xin các thiên thần nhất là thiên thần bản mệnh của mỗi người luôn nhắc nhở ta, để ta luôn tiến bước trong tin yêu và hy vọng nơi Thiên Chúa là tình yêu.
2021
Tôn trọng quan điểm người khác
28 22 X Thứ Ba Tuần XXVI Thường Niên.
(Đ) Thánh Ven-xet-lao, tử đạo.
(Đ) Thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn, tử đạo.
Dcr 8,20-23; Lc 9,51-56.
Tôn trọng quan điểm người khác
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay kể thầy trò Chúa Giê-su đi từ Galilê về Giêrusalem (để hoàn tất công trình cứu độ), khi đi qua miền đất Samari, các ngài đã không được đón tiếp, nên hai vị tông đồ Giacôbê và Gio-an (mệnh danh là con của sấm sét) đã nổi nóng đòi Thầy hô biến cho lửa từ trời xuống thiêu huỷ dân Samari như lửa đã từng thiêu đốt làng Sôđôm và Gômôra xưa.
Các môn đệ ngăn cản Chúa Giê-su lên Giêrusalem chịu chết, muốn Chúa Giê-su khiến lửa xuống đốt kẻ ngỗ nghịch, Pharisiêu thách thức Chúa Giê-su xuống khỏi thập giá mới tin… nhưng Chúa Giê-su thực hiện ý Chúa Cha là đến để cứu chứ không phải để diệt. Con đường chết đi để cứu độ mới là con đường của Thiên Chúa.
Chúa Giê-su hôm nay phải quở trách hai tông đồ đừng vội nóng giận: những người Samari từ chối không đón tiếp Chúa Giê-su trong dịp này đâu đáng trách hơn những kẻ đóng cửa không tiếp một người Samari vì người này là kẻ đối nghịch.
Con đường để cứu vớt sự sống của Đức Ki-tô là con đường Thập Giá. Để mặc lấy những tâm tình của Đức Giêsu, tất yếu các môn đệ cần phải hiểu mầu nhiệm Thập Giá. Lúc này họ không hiểu và cũng không dám hỏi, nhưng sau này Đức Giêsu Phục Sinh sẽ giúp các ông hiểu. Không hiểu mầu nhiệm Thập Giá, và vì thế không thể mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, sẽ tất yếu bị chi phối bởi các thần loại quyền bính, độc quyền và nhất là thần loại bạo lực để phân biệt, chia rẽ và thanh toán nhau. Và chưa hiểu mầu nhiệm Thập Giá, chắc chắn cũng chính là vấn đề của chúng ta.
Với cái nhìn của các Tin Mừng, xem ra mỗi lần Chúa Giê-su gặp mặt người Samari (bờ giếng Giacóp) hay khi Người nói đến người Samari (dụ ngôn người Samari nhân hậu)… là Chúa dạy chúng ta có một cái nhìn mới về những kẻ không cùng một niềm tin như chúng ta. Những người không cùng tôn giáo thường hay gây hấn với nhau, nhiều khi có thái độ rất tàn bạo, đặc biệt nhất là những người tự xưng mình được Thiên Chúa duy nhất mặc khải cho, và người của Cựu Ước xưa đã như vậy rồi.
Người ta thường nói: “Chín người mười ý”, vì thế bất đồng ý kiến là điều tất nhiên phải có trong xã hội loài người. Vậy mà vẫn có nhiều người không chấp nhận thực tế nầy: Họ bắt buộc người khác phải thương như mình, phải ghét như mình, phải đồng quan điểm với mình trong mọi chuyện. Có người tự cho rằng ý kiến của mình bao giờ cũng đúng, quan điểm của mình lúc nào cũng phải; ai cùng quan điểm với ta thì ta hợp tác, ai khác quan điểm với ta thì ta xa lánh hoặc loại trừ. Ứng xử như thế là một sai lầm đáng tiếc.
Hai môn đệ Chúa Giê-su là Gioan và Gia-cô-bê cũng có lần vấp phạm vào lỗi lầm này. Tin mừng thánh Luca (Lc 9, 51-56) thuật lại sự việc xảy ra như sau:
Hôm ấy, các sứ giả của Chúa Giê-su đến thương lượng với dân chúng tại một thôn làng xứ Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Chúa Giê-su đi qua làng của họ tiến về Giê-ru-sa-lem, nhưng dân làng không chấp thuận.
Họ không chấp thuận vì quan điểm của họ là phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi Ga-ri-dim mới xứng hợp và họ bài bác những người Do-thái có quan điểm trái nghịch, chủ trương tôn thờ Thiên Chúa tại Giê-ru-sa-lem.
Thế là từ bất đồng quan điểm đưa đến chỗ bất hòa, từ bất hòa đưa đến xung đột. Hai tông đồ Gioan và Gia-cô-bê vô cùng tức tối trước hành động ngang ngược của dân làng này khi họ không thuận cho Chúa Giê-su đi qua làng. Hai anh em muốn hủy diệt dân làng ngay nên thưa với Chúa Giê-su: “Thưa thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?”
Chúa Giê-su lập tức phản đối thái độ quá khích này. Ngài quở mắng Gioan và Gia-cô-bê về thái độ bất bao dung đó, rồi Ngài dẫn các môn đệ đi tránh qua làng khác tiến về Giê-ru-sa-lem.
Khi xem xét một sự việc hay một đối tượng nào đó, chúng ta thường chỉ đứng ở một vị trí, một góc nhìn nào đó để xem xét, nên thường chỉ thấy được một mặt, một khía cạnh nào đó của sự việc mà thôi. Vì thế, cái nhìn của chúng ta thường có tính cách phiến diện, một mặt, một chiều, không phản ánh đúng sự thật khách quan.
Đừng vội cho rằng quan điểm của mình thì đúng còn quan điểm của bạn thì sai.
Phê bình, công kích người khác khi họ có một hướng nhìn, một ý kiến, một quan điểm khác với hướng nhìn, ý kiến, quan điểm của mình thì thật là chủ quan, thiếu khôn ngoan, sáng suốt.
Tốt hơn, sau khi đã xem xét một sự việc, một vấn đề dưới góc độ này, theo quan điểm này, chúng ta hãy đứng vào những vị trí khác, những quan điểm khác để nhìn sự việc theo những chiều hướng khác.
Biết phối hợp những hướng nhìn khác nhau, nhiều ý kiến trái chiều, nhiều quan điểm đối lập… sẽ giúp chúng ta đến gần sự thật hơn và tránh được xung khắc, bất hoà vì bất đồng quan điểm.
