2021
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI
14 11 Tr Thứ Ba Tuần III Mùa Vọng.
Thánh Gio-an Thánh Giá, Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.
Mt 21, 28-32
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI
Gioan là thánh vì cuộc đời ngài là một nỗ lực quả cảm dám sống trọn với tên của ngài: “của Thánh Giá”. Sự điên rồ của thập giá cuối cùng đã được thể hiện. Câu nói bất hủ của Ðức Kitô: “Ai muốn theo ta hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo ta” (Mc 8, 34b) là câu chuyện cuộc đời Thánh Gioan. Mầu Nhiệm Vượt Qua – từ sự chết đến sự sống – đã được thể hiện trong cuộc đời Thánh Gioan như một người cải cách, một nhà thơ thần bí và là một linh mục thần học.
Sinh ngày 24 tháng 6 năm 1542 tại Fontiveros, Tây Ban Nha. Gioan hiểu được sự quan trọng của tình yêu tự hiến là nhờ cha mẹ. Cha ngài đã hy sinh của cải, danh vọng và sự an nhàn khi kết hôn với cô con gái của người thợ dệt và vì đó đã bị gia đình từ bỏ. Sau khi cha ngài từ trần, mẹ ngài cố gắng đùm bọc gia đình trong khi họ lang thang đầu đường xó chợ để kiếm việc làm. Những tấm gương hy sinh ấy đã giúp Gioan theo đuổi tình yêu vĩ đại của chính ngài dành cho Thiên Chúa.
Dù gia đình đã tìm được việc làm, nhưng vẫn không đủ ăn nên Gioan phải lang thang giữa thành phố giàu có nhất Tây Ban Nha. Năm mười bốn tuổi, Gioan được nhận vào làm việc trong bệnh viện với nhiệm vụ trông coi các bệnh nhân bị chứng bệnh bất trị hoặc bị điên dại. Chính trong sự đau khổ và nghèo nàn này, Gioan đã nhận biết và đã đi tìm hạnh phúc không ở nơi trần gian, nhưng ở nơi Thiên Chúa.
Năm 1563, sau khi Gioan gia nhập dòng Carmel đi chân đất, Thánh Têrêsa Avila nhờ ngài tiếp tay trong công việc cải cách. Cả hai đều tin rằng nhà dòng phải trở về với đời sống cầu nguyện. Nhiều tu sĩ Carmel cảm thấy bị đe dọa bởi sự cải tổ này nên một số tu sĩ đã bắt cóc thánh nhân. Ngài bị nhốt trong một xà lim nhỏ hẹp ở Toledo, Tây Ban Nha và bị tra tấn ba lần một tuần bởi chính các tu sĩ. Trong cái tăm tối, lạnh lẽo, và cô quạnh của xà lim, tình yêu và đức tin của ngài bừng lên như lửa. Ngài mất hết tất cả ngoại trừ Thiên Chúa và Thiên Chúa đã đem cho ngài niềm vui vĩ đại trong cái xà lim nhỏ bé đó.
Sau chín tháng tù đầy, Cha Gioan vượt ngục bằng lối cửa sổ duy nhất của xà lim mà ngài đã leo lên đó bằng sợi dây được kết bằng tấm vải trải giường, và đem theo tất cả các bài thơ huyền bí mà ngài sáng tác trong thời gian tù đầy. Vì không biết mình đang ở đâu, ngài phải theo một con chó để đi vào thành phố. Ngài trốn trong bệnh xá của một tu viện và ở đây ngài đọc thơ cho các nữ tu nghe. Từ đó, cuộc đời ngài tận tụy cho việc chia sẻ và dẫn giải tình yêu Thiên Chúa.
Lẽ ra cuộc đời nghèo khổ và tù đầy đã biến ngài thành một con người yếm thế cay đắng. Nhưng ngược lại, ngài đã trở thành một người đam mê bí ẩn, sống với sự tin tưởng rằng “Có ai thấy người ta yêu mến Thiên Chúa bởi sự tàn nhẫn đâu?” và “Ở đâu không có tình yêu, hãy đem lại tình yêu – và bạn sẽ tìm thấy tình yêu.”
Vì niềm vui chỉ xuất phát từ Thiên Chúa nên Thánh Gioan tin rằng những ai tìm kiếm hạnh phúc ở trần gian này thì giống như “một người đang chết đói mà há miệng đớp lấy không khí.” Ngài dạy rằng chỉ khi nào chúng ta dám cắt bỏ sợi dây dục vọng thì chúng ta mới có thể bay lên cùng Thiên Chúa.
Là một tu sĩ dòng Carmel, ngài cảm nghiệm sự thanh luyện tinh thần; là vị linh hướng, ngài cảm được cuộc chiến đấu tinh thần nơi người khác; là một thần học-tâm lý gia, ngài diễn tả và phân tích giá trị của sự đau khổ trong các văn bản của ngài. Hầu hết các văn bản của ngài đều nhấn mạnh đến cái giá phải trả của tinh thần kỷ luật, con đường hiệp nhất với Thiên Chúa là: sống kỷ luật, từ bỏ mình, thanh luyện. Một cách độc đáo và mạnh mẽ, Thánh Gioan nhấn mạnh đến sự mâu thuẫn của Tin Mừng: Thập giá dẫn đến sự cứu chuộc, đau khổ dẫn đến sự ngất ngây, tăm tối dẫn đến sự sáng, khi từ bỏ là lúc làm sở hữu, hy sinh bản thân để kết hợp với Thiên Chúa. Nếu bạn muốn giữ mạng sống mình thì bạn sẽ mất. Thánh Gioan quả thật là người “của Thánh Giá.”
Ngài từ trần năm 49 tuổi ngày 14 tháng 12 năm 1591 tại Ubeda, Andalusia, Tây Ban Nha – cuộc đời thật ngắn ngủi, nhưng trọn vẹn. Cha Gioan được mai táng trong hầm mộ dưới nền nhà thờ. Vào đêm ngày Thứ Hai sau lễ an táng, các đan sĩ nhìn thấy một luồng sáng lớn bừng cháy trong nhiều phút.
Sau khi thánh nhân qua đời được chín tháng, mộ phần của ngài được mở ra lần đầu. Bà Doda Anna de Penisola vì muốn đem thi hài đấng thánh về trở về ngôi nhà bà đã xây dựng cho ngài tại thành phố Segovia nên đã xin được phép chính thức cải táng thi hài sau khi ngài qua đời 18 tháng.
Lúc đó, một thuộc quyền của đức vua là trung sĩ Phanxicô de Medina Zavallos được sai đến Ubeda để thương lượng việc chuyển hài cốt. Vâng theo thượng lệnh, cha bề trên đã đưa viên sứ giả vào nhà thờ ban đêm. Và khi mở cửa mộ, họ nhận ra một mùi thơm và thấy thi hài đấng thánh vẫn còn nguyên vẹn và mềm mại. Cha bề trên khi ấy từ chối không cho đem thi hài đi khỏi viện cớ lệnh chính thức chỉ truyền chuyển các xương mà thôi. Lúc ấy, trung sĩ Zavollas cắt một ngón tay để trình cho bà Doda Anna để làm bằng chứng xác thánh vẫn còn nguyên vẹn. Khi ngón tay bị cắt, máu tuôn ra nhỏ giọt như thể của một người đang sống.
Sau chín tháng chờ đợi thêm nữa, trung sĩ Zavollas lại đến Ubeda. Mộ phần được mở ra và thi hài được thấy vẫn còn toàn vẹn bên dưới lớp vôi đã được đổ vào lần trước. Trung sĩ cho xác thánh vào một chiếc bao và đem đi, nhưng mùa thơm từ xác thánh tỏa ra khắp nơi và gợi sự tò mò khi viên trung sĩ đi ngang qua, đến nỗi ai cũng gạn hỏi là trong bao có gì. Đến Madrid, các đan sĩ dòng Kín đặt xác thánh một một quan tài để chuyển về Segovia cho xứng đáng. Khi đến nơi, thi hài đấng thánh đã được nghinh tiếp với tất cả sự cung kính tôn vinh và được trưng bày trong nguyện đường cho các tín hữu đông đảo đến kính viếng.
Thi hài đấng thánh được cải lên vào các năm 1859 và 1909. Đến năm 1926, một đài vị nguy nga bằng cẩm thạch và đồng với màu sắc đep đẽ đã được xây dựng bằng số tiền quyên góp toàn quốc và được các nghệ nhân danh tiếng nhất Tây Ban Nha thực hiện. Trong lúc chuyển dời thi hài đấng thánh đến đài vị mới này, thi hài đấng thánh lại được mở ra cho các tín hữu kính viếng. Lần cải táng gần đây nhất là vào năm 1955 nhân chuyến kinh lý của cha tổng quyền dòng Carmêlô. Lúc ấy , thi hài đấng thánh đã thấy hơi biến màu nhưng vẫn còn mềm mại tươi tốt.
Đức Giáo Hoàng Clement X tôn phong Chân Phước cho cha Gioan ngày 25 tháng 01 năm 1675 và Đức Giáo Hoàng Benedictus XIII đã nâng Ngài lên hàng hiển thánh ngày 27 tháng 12 năm 1726. Đức Giáo Hoàng Pius XI đã tuyên xưng cha Gioan của Thánh Giá là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 24 tháng 8 năm 1926.
Những điều kiện để vào được Nước Trời mà Chúa Giê-su nói đến trong Tám Mối Phúc Thật là những phẩm chất thấy được nơi hình ảnh trẻ em. Trẻ em là hình ảnh của những người nghèo vì chưa sở hữu tài sản đồng thời cũng rất có khả năng đón nhận với tấm lòng đơn sơ: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 2).
Một cách tự nhiên, trẻ em là những người hiền hoà dễ mến, từ nét mặt hiền hoà không cau có, không đe dọa ai, đến nụ cười tươi tắn, lời nói nhẹ nhàng như khơi gợi tình thương mến: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5, 4). Trẻ em có tâm hồn trong sạch, không quanh co dối trá, không thủ lợi lừa đảo, không tính toan mưu mô: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8).
Qua dụ ngôn “Hai người con”, Chúa Giêsu muốn gián tiếp cảnh cáo thái độ cứng lòng của các đầu mục dân Do Thái, và kêu gọi họ phải ăn năn sám hối nếu muốn được hưởng ơn cứu độ. Dụ ngôn trình bày về hai thái độ của hai đứa con trong một gia đình:
Người thứ nhất tượng trưng các người thu thuế tội lỗi, tuy lúc đầu đã phạm tội không làm theo thánh ý Thiên Chúa khi không tuân giữ Luật Mô-sê, nhưng đã tin Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai và hồi tâm sám hối tội lỗi, nên đủ điều kiện vào Nước Thiên Chúa của Người.
Người con thứ hai tượng trưng cho các thượng tế và đầu mục dân Do thái. Tuy bề ngoài họ rất có lòng đạo, thể hiện qua việc tuân giữ Luật Môsê trong từng chi tiết, nhưng lại cứng lòng không tin vào Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu do Thiên Chúa sai đến. Trái lại còn ra tay giết hại Đức Giê-su trên cây thập giá. Nên cuối cùng họ sẽ bị loại ra ngòai Nước Thiên Chúa.
Nhờ ơn của Bí tích Rửa tội, mỗi chúng ta trở nên công dân của Nước Trời, vì thế, ta cần phải hoàn thiện con người mình mỗi ngày cho xứng là tín hữu, bằng việc không ngừng sám hối. Việc sám hối không chỉ là việc của người tội lỗi, cũng không chỉ là ân hận khóc than về quá khứ, nhưng là cố gắng mỗi ngày cắt tỉa những thói hư tật xấu và cố gắng làm nhiều điều tốt.
Mỗi ngày cần phải tái khẳng định niềm tin vào Chúa Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa Cha và là Đấng cứu độ chúng ta để dám phó thác cuộc đời cho Ngài; đồng thời, mỗi người cần phải lắng nghe, suy gẫm và thực hành những điều Tin Mừng chỉ dạy. Tin vào Tin Mừng còn là sống và loan báo niềm vui mà Tin Mừng đem lại. Đó là niềm vui ơn cứu độ, niềm vui được giải thoát khỏi sự chết và được hưởng sự sống của Thiên Chúa, niềm vui và tự hào vì được trở nên con Thiên Chúa.
Giáo Hội là hình ảnh Nước Trời nơi trần gian, mà chúng ta đang là những thành viên. Chúng ta có bổn phận chung tay xây dựng Giáo Hội bằng sự hiệp thông, hiệp nhất và vâng nghe theo sự hướng dẫn của Giáo Hội. Chúa đang mời gọi mỗi người, dù ở bậc sống nào, dù là nghề nghiệp gì, cũng cần phải góp phần mình xây dựng Giáo Hội. Cùng với mọi thành viên khác, chúng ta làm cho Tin Mừng tình thương của Chúa được lan tỏa đến các anh chị em chung quanh qua chính đời sống và hành động của mỗi người.
2021
NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH
13 10 Đ Thứ Hai Tuần III Mùa Vọng.
Thánh Lu-xi-a, Trinh nữ, Tử đạo, lễ nhớ.
Mt 21, 23-27
NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH
Thánh nữ Lucia mồ côi cha ngay từ lúc còn nhỏ tuổi. Người sinh ra tại Syracusas nước ý. Ngay từ nhỏ, thánh nữ Lucia đã quyết dành riêng cho Chúa, hiến toàn thân mình cho Giavê Thiên Chúa làm như của lễ toàn thiêu dâng lên Ngài. Tuy nhiên, con đường của thánh nữ có chỗ quẹo, chỗ ngoằn ngoèo. Mẹ thánh nữ đã quyết tâm ép buộc Người lập gia đình. Thiên Chúa có chương trình của Ngài.
Nhờ lời cầu nguyện của Lucia, Chúa đã nhậm lời thánh nữ cho mẹ Người khỏi lập tức cơn bệnh loạn huyết hiểm nghèo, bà đã mắc phải từ lâu. Ðược Chúa yêu thương, làm phép lạ và tỏ ra cho thánh nữ biết, Ngài tuyển chọn thánh nữ. Nên sau biến cố Chúa tỏ mình, chữa lành, thánh nữ đã từ khước cuộc hôn nhân này, bán tất cả gia tài Người có để làm của hồi môn, rồi phân phát cho kẻ nghèo khó như lời Chúa truyền cho chàng thanh niên giầu có.
Vì bị từ chối kết hôn, chàng trai đáng lẽ là chồng của Lucia đã đang tâm tố cáo với Hoàng đế Lucia có đạo, thánh nữ đã bị bắt và giải tới trước mặt quan Paschase. Quan Paschase đã dùng hết lời lẽ dụ dỗ thánh nữ và dùng đủ mọi cực hình để bắt thánh nữ dâng hương tế thần nhưng quan hoàn toàn thất vọng vì sự quả cảm và lòng tin sắt đá của thánh nữ đối với Chúa. Quan cho dẫn thánh nữ tới nơi tội lỗi nhất hầu hủy hoại sự trinh tiết của thánh nữ.Nhưng Chúa đã gìn giữ Người, cho thân xác Người trở nên nặng nề như núi đá khiến không ai có thể kéo nổi.
Chúa lại một lần nữa gìn giữ thân xác trinh nữ vì rằng khi quan Paschase quá nóng giận đã cho quân lính tẩm dầu vào thân xác trinh nữ hầu hủy hoại thân xác của người, Chúa đã gìn giữ thân xác Người vẹn toàn giữa lửa hồng rực rỡ. Chúa đã dọn chỗ cho trinh nữ Lucia và cho Người được phúc tử đạo vào năm 304 dưới thời bắt đạo của Ðiôclêtianô. Thánh nữ đã tiên báo Giáo Hội sẽ được hưởng bình an, thơ thới. Xác thánh nữ được chôn cất ngay trên quê hương của Người.
Chúa Giê-su từng phân tích hai lối dùng quyền bính, một của thói đời và một của những người theo Ngài. Theo thói đời, những người nắm giữ quyền bính thường dùng mọi phương tiện để thống trị dân (Lc 22, 25). Chính vì tham vọng thống trị, nên họ thường tìm mọi cách tiêu diệt những ai bất phục họ. Thái độ của các thượng tế và kỳ mục đối với Chúa Giêsu trong câu Tin Mừng trên là một bằng chứng. Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài rằng quyền bính là để phục vụ cho sứ mạng. Chúa Giê-su đã sống như thế. Chúa Cha đã ban cho Người mọi quyền bính trên trời dưới đất (Mt 28, 18), nhưng Ngài không bày tỏ quyền uy để thống trị, mà cốt để ý muốn Chúa Cha thể hiện dưới đất. Thậm chí, Ngài còn hiến mạng sống cho sứ vụ. Nói cách khác, quyền bính Ngài không uy hiếp bất cứ ai; trái lại, để đưa dẫn con người vượt thắng uy lực của sự dữ và cứu độ con người.
Ta thấy từ lúc Chúa Giêsu bắt đầu sứ điệp loan báo Tin Mừng để thực hiện ơn cứu độ của Thiên Chúa ban tặng. Chúa Giêsu đã thu hút lôi cuốn rất đông dân chúng đến với Người, bằng chứng hai lần dân chúng đi theo Người đến nỗi quên cả ăn uống, và Chúa đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để họ có lương thực mà ăn. Rồi khi Chúa vào Thành Giêrusalem dịp lễ vượt qua Người được đông đảo dân chúng tung hô: “hoan hô con Vua Đavit đấng nhân danh Chúa mà đến” (Mt 21, 9b). Chúa Giêsu đã có ảnh hưởng và uy tín rất lớn nơi dân chúng. Thế nhưng trong sứ vụ công bố Tin Mừng của Chúa các thượng tế và kỳ lão là các nhóm đã nhiều lần cản trở sứ vụ của Người, họ ghen tỵ, bắt bẻ, gài bẫy để tìm cách triệt hạ Người.
Tin Mừng hôm nay tiếp theo biến cố ngày hôm trước Chúa vào trong đền thờ đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, sau khi nghỉ đêm tại Bêtania ngày hôm sau Chúa lại vào Đền thờ để giảng dạy, các thượng tế và kỳ lão thấy Chúa, họ liền đến để tra vấn Người: “Ông lấy quyền nào mà làm những điều này? Ai đã ban quyền ấy cho ông?” (Mt 21, 23b). Đời công khai sứ vụ của Chúa, Người đã làm nhiều phép lạ mà người đời không thể làm được.
Vậy những việc của Người chỉ phát xuất từ nơi Thiên Chúa. Chúa không trả lời trực tiếp về câu hỏi họ đặt ra, vì Người biết mục đích việc tra vấn của họ là để gài bẫy, tìm cách bắt bớ triệt hạ Chúa. Để đánh động cách nghĩ của giới trí thức này, Chúa đã nhắc lại ngôn sứ Gioan và đặt lại câu hỏi với họ “phép rửa của ông Gioan xuất phát từ đâu: Thiên Chúa hay loài người” (Mt 21, 25a). Gioan đã đi bước trước để dọn đường cho Chúa đến, dân chúng cũng đến với ông rất đông và đã tiếp nhận phép rửa do chính ông làm, nhưng các nhóm thượng tế và kỳ lão này vẫn cố tình lảng tờ như không biết. Sự đánh động của Chúa để họ nhìn ra cách sống nơi chính họ, nhưng họ vẫn chai lì. Họ bắt đầu suy luận về câu hỏi của Chúa, và không dám trả lời cách dứt khoát để rồi họ trả lời Người: “Chúng tôi không được biết”. (Mt 21, 27a)
Tất cả những lời tiên báo về Chúa Giêsu Kitô, họ đã họ nghe biết và học hỏi kinh thánh từ đời nọ đến đời kia, nhưng khi Chúa xuất hiện thì lòng họ rất bối rối và lo sợ.
Sự bối rối của các luật sĩ và biệt phái về Chúa Giêsu, mặc dù những phép cả thể Chúa làm nhưng họ vấp phạm, vì Chúa Giêsu cũng được sinh ra từ làng quê nghèo Be-lem, cũng chỉ là con người nên họ bối rối không chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Thánh, và họ lo sợ vì lời giảng dạy của Chúa Giêsu có uy quyền, Lời chữa lành (hãy vác chõng mà về), Lời trừ tà thần ma quỷ (quỷ cũng phải nghe lời), Lời ban sự sống (Larazo sống lại), Lời mà toàn dân nghe theo Chúa mà bỏ họ, nên họ sợ. Và họ cứ bối rối lo sợ mặc dù đã nghe và thấy những phép lạ Chúa Giêsu đã làm, để rồi họ không tin.
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (21, 23-27) đã tường thuật sự nghi ngờ, bối rối khi họ đối thoại với Chúa Giêsu. Họ bàn tính với nhau rằng: “Nếu ta nói bởi trời, thì ông sẽ nói với ta: Vậy tại sao các ngươi không tin ông ấy? Và nếu ta nói bởi người ta, thì chúng ta lại sợ dân chúng. Vì mọi người coi Gioan như một vị tiên tri” (Mt 21, 25-26). Chính họ không nhận ra Chúa, vì họ không thuộc về Thiên Chúa, họ thuộc về chính họ, thuộc phàm tục, thuộc trần gian.
Trong cách sống đạo hôm nay nhiều khi chúng ta hay phê phán về người này hay người khác, linh mục nọ tu sĩ kia, nhưng chúng ta chưa nhìn lại chính mình, những Lời dạy của Chúa chắc hẳn chúng ta đã được nghe đi nghe lại rất nhiều lần, nhưng chúng ta đã thực hành được bao nhiêu việc như Lời Chúa dạy. Tham dự Thánh Lễ cứ phải so đo: cha này làm lễ lâu hơn cha kia, cha già giảng lâu hơn cha trẻ; đi học giáo lý: dì phước này nói nhiều hơn GLV kia. Vô tình chúng ta đi vào cách sống hình thức như nhóm thượng tế và kỳ lão khi xưa, và còn nguy hại hơn là phê phán đằng sau lưng, nơi phố chợ hay trên bàn nhậu … không dám trực diện như nhóm thượng tế và kỳ lão.
2021
KHÔNG NHẬN RA CHÚA
11 08 Tm Thứ Bảy Tuần II Mùa Vọng.
(Tr) Thánh Đa-ma-xô I, Giáo hoàng.
Mt 17, 10-13
KHÔNG NHẬN RA CHÚA
Theo chứng từ của người thư ký của ngài là thánh Giêrôme, thì thánh Đamasô là “một người không ai sánh bằng, rất hiểu biết Kinh Thánh, một tiến sĩ trinh trắng của một Giáo hội trinh trắng, rất yêu quý sự khiết tịnh, và sung sướng khi nghe được những lời khen ngợi nhân đức này.”
Thánh Đamasô rất hiếm khi được nghe những lời tán dương mình như vậy. Những tranh giành nội bộ có tính cách chính trị, các tà thuyết, các tương giao căng thẳng với chính các Giám mục của ngài và của Giáo hội Ðông phương đã làm cản trở sự bình an trong triều đại Giáo Hoàng của ngài.
Là con của một linh mục Rôma, có lẽ thuộc gốc Tây Ban Nha, Đamasô khởi sự là một phó tế trong nhà thờ của cha mình, sau đó ngài là linh mục của một nhà thờ mà sau này là vương cung thánh đường San Lorenzo ở Rôma. Ngài phục vụ Ðức Giáo Hoàng Liberius (352-366) và đi theo Ðức Giáo Hoàng khi bị lưu đầy.
Khi Ðức Liberius từ trần, Đamasô được bầu làm Giám mục Rôma vào tuổi 60; nhưng một thiểu số khác lại chọn và tấn phong một phó tế khác là Ursinus làm Giáo Hoàng. Cuộc tranh luận giữa Đamasô và Giáo Hoàng đối lập gây nên nhiều xung đột giữa vương cung thánh đường, gây gương mù cho các Giám mục Ý. Cho dù cuộc chiến cụ thể đã ngưng, nhưng đức Đamasô còn phải chiến đấu với các đối thủ ngài trong suốt cuộc sống của mình.
Trong một thượng Hội đồng do Đamasô triệu tập nhân ngày sinh nhật của ngài, đức Đamasô yêu cầu các Giám mục tán thành các hành động của ngài. Nhưng câu trả lời của các Giám mục thật cộc lốc: “Chúng tôi quy tụ để mừng sinh nhật, chứ không để kết án một người vắng mặt (unheard).” Khoảng năm 378, những người ủng hộ vị Giáo Hoàng đối lập còn tìm cách đưa đức Đamasô ra tòa về một tội phạm nghiêm trọng – có lẽ tội dâm dục. Ngài đã phải thanh minh trước toà dân sự cũng như trước một công đồng của Hội Thánh.
Khi là Giáo Hoàng, ngài có lối sống thật đơn giản trái ngược với các giáo sĩ ở Rôma, và ngài rất hăng say chống lại tà thuyết Ariô và các tà thuyết khác. Một sự hiểu lầm trong văn từ về Ba Ngôi Thiên Chúa đã đe dọa mối giao hảo thân thiện với Giáo hội Ðông phương, và đức Đamasô là người ôn hoà đã dàn xếp cách tốt đẹp.
Chính trong thời Giáo Hoàng của ngài (380) mà Kitô giáo được tuyên bố là tôn giáo chính thức của Rôma, và tiếng Latinh trở nên ngôn ngữ chính thức trong phụng vụ nhờ sự cải cách của Ðức Giáo Hoàng. Cũng nhờ ngài khuyến khích thánh Giêrôme học hỏi Kinh Thánh để rồi dịch Kinh Thánh từ nguyên bản sang Latinh, nhờ đó mà bộ phổ thông (Vulgate) được chào đời, đó là bộ Kinh Thánh mà Công Ðồng Triđentinô (11 thế kỷ sau) tuyên bố là “có giá trị để đọc giữa công chúng, được dùng để tranh luận, và để rao giảng.”
Thánh Đamasô là một văn sĩ – không phải là tác giả của nhiều cuốn sách như các văn sĩ Kitô hữu khác đã thực hiện. Ngài ưa thích viết các vần thơ trên các tấm bia đá: Là những câu nói ngắn toát lên cái ý nghĩa chính cần phải được phô diễn. Ngài viết rất nhiều bia mộ cho các vị tử đạo. Và ngài viết một tấm bia về chính bản thân ngài cho thấy đức khiêm nhường của ngài và lòng kính trong của ngài đối với các vị tử đạo.Trong một nghĩa địa Rôma có một hầm mộ Giáo Hoàng do ngài xây dựng ngài để lại ở đó là tấm bia có hàng chữ như sau: “Tôi, Đamasô, ao ước được chôn táng ở đây, nhưng tôi sợ làm thế sẽ xúc phạm đến hài cốt của các Thánh.” Thay vì thế, khi ngài chết, ngài được chôn táng chung với mẹ ngài và một em gái của ngài.
Từ một sắc lệnh của Đamasô (được gán cho thánh Giáo Hoàng Đamasô): Có rất nhiều cách sắp đặt Tên của Chúa Giêsu dưới nhiều hình thức: “Ngài là Chúa, bởi lẽ Ngài là Thần khí; là Ngôi Lời, bởi vì Ngài là Thiên Chúa; là Con, bởi Ngài là Con độc nhất sinh bởi Đức Chúa Cha; là Người, vì Ngài được sinh ra bởi Đức Trinh nữ; là tư tế, vì Ngài hiến dâng minh làm hiến tế; là Đấng chăn chiên, vì Ngài là người canh gác; là Sâu bọ, vì Ngài đã sống lại; là Núi, vì Ngài mạnh mẽ; là Đường, vì chỉ có một con đường thẳng tắp qua Ngài để đến với sự sống; là Con Chiên, vì Ngài chịu đau đớn; là Đá – Góc, vì Ngài là lời dạy bảo; là Thầy, vì Ngài chỉ cho biết phải sống thế nào; là Mặt trời, vì Ngài là là Đấng chiếu soi; là Chân lý, vì Ngài từ Chúa Cha mà đến; là Sự sống, vì Ngài là Đấng tạo dựng; là Bánh vì Ngài là xác thịt; là người Samari, vì Ngài là người bảo vệ; là Chúa Kitô, vì Ngài đã được xức dầu; là Giêsu, vì Ngài là Đấng Trung gian; là Cây nho, vì chúng ta được cứu chuộc bởi máu Ngài; là Sư tử, vì Ngài là vua, là Tảng Đá, vì Ngài vững mạnh; là bông hoa, vì Ngài là Đấng được chọn; là ngôn sứ, vì Ngài đã mặc khải điều sẽ xảy đến.”
Chúa Giêsu trao quyền rao giảng Lời Chúa cho Giáo Hội qua thánh Phêrô, vị đại diện tối cao của Giáo Hội tiên khởi và kế tiếp là trao cho các Tông Ðồ cho đến ngày nay. Cho nên chúng ta thấy trong Do Thái giáo, các luật sĩ là những người cắt nghĩa luật Chúa và họ đã nói với các môn đệ Chúa Giêsu: “Elia phải đến trước đã”. Theo truyền thuyết, Elia là một tiên tri đại diện cho các tiên tri trong Cựu Ước, không chết nhưng được đưa về trời và sau này ông sẽ trở lại và các luật sĩ cắt nghĩa: Cần phải đợi Elia trở lại đã.
Chúa Giêsu cũng xác nhận với các môn đệ: “Thật, Elia phải đến để chấn hưng mọi sự”. Elia ấy chính là Gioan Tẩy Giả đã rao giảng sự ăn năn thống hối, hãy sửa lối đi cho ngay thẳng, lối đi quanh queo hãy san cho bằng. Những nơi gồ ghề, hố sâu hãy lấp cho bằng thì mọi người sẽ thấy ơn cứu độ. Gioan tiền hô đã đi trước để dọn đường cho Chúa Kitô sẽ đến sau, Ngài đến để mang ơn cứu độ xuống cho trần gian và một số môn đệ Gioan đi theo Chúa Giêsu để xem Ngài, đồng thời Gioan cũng đã xác định vị thế của mình trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.
Con người của Gioan Tẩy Giả thật là khiêm nhường trong vị thế của ông: “Còn tôi, tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Người”. Gioan Tẩy Giả mang sứ mệnh như tiên tri Elia trong Cựu Ước nhưng cũng là một con người ăn chay hãm mình trong rừng vắng, khiêm nhường, đơn sơ trong công việc dọn đường cho Ðấng Cứu Thế sẽ đến.
Thật là một tấm gương cao quí đáng cho chúng ta bắt chước noi theo. Gioan Tẩy Giả không cao trọng nhờ sự lạ lúc sinh ra nhưng cao trọng do sứ mệnh dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến mà ông đã làm trong sứ mệnh của mình. Trong ngục tối, ông dám nói thẳng sự thật, dám làm chứng nhân cho Thiên Chúa ở giữa trần gian.
Chúa Kitô đến mang sứ mệnh cứu rỗi của Thiên Chúa Cha. Người ta không nhận ra Người, và người ta cũng đối xử với Ngài như các tiên tri trong Cựu Ước, đó là bắt bớ, đánh đập, hành hạ và sau cùng bị lãnh bản án tử hình treo trên thập giá một cách nhục nhã đau thương.
Bao nhiêu năm tháng chờ đợi Ðấng Cứu Thế đến, trải dài trong Cựu Ước vậy mà khi Ngài đến con người đã không nhận ra Ngài. Mỗi người chúng ta đôi lúc cũng đã không nhận ra Ngài trong cuộc sống, chúng ta vẫn nhớ Lời Chúa nhắc với chúng ta: “Ai làm cho một kẻ bé mọn nhất trong anh em ấy là làm cho chính Ta”.
Những kẻ bé mọn đó là ai? Thưa, họ là những người mà Chúa Giêsu đã nói: :Ta đói các con cho Ta ăn, Ta khát các con cho Ta uống. Ta rách rưới các con đã cho áo mặc. Khi Ta ở tù các con đã viếng thăm”. Lời nói của Chúa Giêsu làm mỗi người trong chúng ta suy nghĩ và tự nhận: Ailà anh em tôi? Không phải những ai xa lạ, không phải là những ai ở xa để rồi chúng ta không thấy được. Không phải là những bậc giàu có sang trọng trong xã hội, những người thiếu thốn, những người chạy gạo ăn bữa hôm lo bữa mai, những người không có thân nhân bà con, không mái nhà che mưa che nắng vào những trưa hè nóng oi bức, vào những cơn mưa tàn tã của thời tiết thu đông.
Mỗi người trong chúng ta tự hỏi như người luật sĩ và biệt phái trong Tin Mừng hỏi Chúa Giêsu: “Nhưng ai là anh em tôi?” Chúng ta cùng nhau xin Chúa cho chúng ta biết rõ, cảm nhận một cách sâu xa hơn câu trả lời của mình trong Mùa Vọng này để chúng ta đi đến niềm nở với người anh chị em, cùng nhau nắm chặt bàn tay thân ái đón mừng Chúa đến.
Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và đến với chúng ta hàng ngày qua các biến cố. Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm để đến và ở lại với loài người chúng ta. Qua bí tíchThánh Thể, hàng ngày chúng ta được thưởng nếm sự sống Thần Linh để sống dồi dào sung mãn. Thiên Chúa vẫn đến với chúng ta qua từng công việc bổn phận với những biến cố vui buồn lớn nhỏ của bản thân, của gia đình và của thời cuộc. Ước gì chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa để biết cải hóa con người mình theo lời Chúa khuyên dạy.
Sống tâm tình Mùa Vọng, mùa hồng ân, chúng ta có thời gian để chiêm nghiệm chân lý sự sống, để thay đổi những gì chưa phù hợp với những giá trị của Tin Mừng. Ước gì chúng ta thực hiện được lời thánh vịnh 142 “Ngay từ buổi sớm mai, xin cho con nghiệm thấy tình thương của Chúa”.
2021
Pharisiêu Cứng Lòng
10 07 Tm Thứ Sáu Tuần II Mùa Vọng.
(Tr) Đức Trinh Nữ Maria Lôretô.
Mt 11, 16-19
Pharisiêu Cứng Lòng
Ngày 31/10/2019, Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích ra sắc lệnh xác lập: lễ nhớ tuỳ chọn Đức Trinh nữ Maria Loreto được ghi vào lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo Roma và được mừng vào ngày 10/12 mỗi năm.
Sắc lệnh viết: “Sự tôn kính Nhà Thánh Loreto, có từ thời Trung cổ, là nguồn gốc của đền thánh đặc biệt này, và ngày nay nhiều khách hành hương vẫn đến để nuôi dưỡng đức tin bằng Lời Thiên Chúa nhập thể cho chúng ta.
“Đền thờ này gợi lại mầu nhiệm Nhập thể và thúc đẩy tất cả những ai đến thăm viếng được cảm nhận “thời gian viên mãn”, khi Thiên Chúa sai Con của Người, sinh bởi một người nữ và qua cả lời thiên thần loan báo trong Tin Mừng lẫn lời xin vâng đáp lại của Đức Trinh Nữ. Được bao phủ bởi Thánh Thần, người tôi tớ khiêm nhường của Chúa đã trở nên ngôi nhà của Thiên Chúa, hình ảnh tinh khiết nhất của Giáo hội thánh thiện.”
“Tại Nhà Thánh, trước hình Mẹ của Đấng Cứu Thế và của Giáo hội, các thánh và các chân phước đã đáp lại tiếng gọi của riêng mình, những bệnh nhân đau đớn đến khẩn cầu và được an ủi, dân Chúa đã bắt đầu ca ngợi và cầu nguyện với Mẹ bằng kinh cầu Loreto vốn được phổ biến trên toàn thế giới. Đặc biệt những người di chuyển bằng máy bay tìm thấy nơi Mẹ là đấng bảo trợ trên trời.
Dưới ánh sáng này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban sắc lệnh với thẩm quyền của ngài, thiết lập lễ nhớ tuỳ chọn Đức Trinh nữ Maria Loreto được ghi vào lịch Roma ngày 10/12, ngày lễ tại Loreto và được mừng mỗi năm.
Do đó, lễ nhớ mới phải được ghi vào tất cả các lịch, sách phụng vụ Thánh Lễ và phụng vụ các Giờ kinh; những bản văn phụng vụ liên quan kèm theo sắc lệnh này và các bản dịch, được chuẩn nhận bởi các Hội đồng Giám mục, sẽ được phổ biến sau khi được Bộ này xác nhận.
Kiêu ngạo, mù lòa là căn bệnh của những người Do Thái được Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là óc phê phán chủ quan và họ cứ tưởng mình sáng hóa ra lại chẳng thấy gì. Vì nếu người mù biết mình tối thì họ sẽ cố gắng tìm hiểu sự việc trước mắt khi không nhìn được sự khác. Còn người chủ quan và phiến diện thì muôn đời sẽ tăm tối trước chân lý, vì khi chỉ nhìn được một khía cạnh của chân lý mà họ cứ tưởng là đã đạt được chân lý để rồi cứ thế mà cố chấp trước những vẻ đạp của chân lý. Họ chẳng khác gì năm người mù đi xem voi, người thì cho con voi là cái cột đình to tướng, kẻ lại nói con voi là chiếc quạt khổng lồ, người khác lại cho con voi là quả núi đồ sộ.
Khi thánh Gioan Tẩy Giả đến rao giảng ơn cứu độ, người không ăn uống thì được gán cho nhãn hiệu là bị quỉ ám. Ðức Kitô đến, Người ăn uống như bình thường thì bị kết án là người mê ăn uống, là bạn của quân thu thuế và tội lỗi. Họ chỉ hiểu ơn cứu độ theo quan điểm riêng của mình, chỉ nhìn Ðấng Messia theo cái nhìn phiến diện nên người Do Thái đã khép chặt cửa lòng trước lời mời gọi của ơn cứu rỗi. Với cái nhìn phiến diện đã nảy sinh những phe phái chủ quan chẳng khác gì bọn trẻ nít ngồi nơi phố chợ: “Chúng tôi thổi sáo sao các bạn không nhảy múa. Chúng tôi than vãn sao các bạn không than khóc?” Chính vì thế mà ơn cứu độ đến và qua đi mà người Do Thái chẳng nhận ra: “Ngài đã đến trong nhà Ngài nhưng người nhà đã không nhận ra Ngài, không đón tiếp Ngài”.
Chúa Giêsu đã phải than phiền, trách móc những kẻ khôn ngoan giả thời Ngài. Thế hệ mà Ngài đã đến, rao giảng lời Chân lý, nhưng họ đã trở thành người khuyết tật của đôi tai, đôi mắt, thành những kẻ cứng lòng tin. Rao giảng thế nào, họ cũng chẳng tin. Nếu Gioan Tẩy Giả đến sống khắc khổ, mời gọi ăn năn sám hối, thì họ lại lên án Gioan là người bị quỷ ám.
Ngược lại, Chúa Giêsu đến, cùng đồng bàn, cùng ăn, cùng uống trong nhịp đời của họ, thì họ lại ta thán, chỉ trích Ngài là kẻ mê ăn mê uống, bạn bè với những người thu thuế và tội lỗi. Ngài ví thế hệ chai lì ấy như cái lũ trẻ con chơi trò múa hát giữa phố chợ. Nhóm này thổi sáo, nhưng nhóm kia không thèm nhảy múa; nhóm này than vãn, nhóm khác tỉnh queo, không than không khóc. Đề nghị thế nào, họ cũng chẳng làm theo, bởi cái “cứng lòng” đã chi phối hết tất cả. Họ đã không tin Ngài.
Chúa Giêsu đã phản ứng lại và chỉ rõ cho thấy sự giả tạo của những kẻ khôn ngoan thông thái thời ấy. Cái khôn ngoan mà họ tự hào, dương oai tự đắc, thật ra là sự dốt nát, vì nó không chỉ bảo cho họ con đường sống, con đường nhận ra Đấng Thiên Sai. Sự chai lì trong tâm hồn đã phá đổ hạnh phúc, mà lẽ ra, con người có quyền được thừa hưởng.
Chúa Giêsu đến, Ngài đem lời của Tin Mừng cứu độ và ngỏ với con người. Chỉ những ai khôn ngoan thật mới nhận ra Ngài, mới nghe được tiếng Ngài. Ngài đã đồng kiếp người, trong những cái nhỏ nhoi nhất để chia san, để cùng sống với những cung bậc của nhịp đời con người đang sống với. Giữa những sai lầm của con người, Thiên Chúa lên tiếng, chỉ dạy, kêu gọi con người sám hối, trở về, tin vào Ngài để đón nhận ơn cứu rỗi. Ngài hướng dẫn, chỉ ra con đường của sự thật, con đường đi đến hạnh phúc trường sinh. Kẻ khôn ngoan thực phải là người rất tinh tế để nhận ra Ngài, Thiên Chúa của lòng mình. Sự khôn ngoan ấy sẽ giúp con người có được lòng khiêm tốn, mở ra để đón nhận chân lý và trở về với Thiên Chúa.
Một cuộc trở về với niềm tin. Niềm tin vào Thiên Chúa. Niềm tin ấy sẽ đưa con người đến cánh cửa của Chân Lý, của hạnh phúc thật. Niềm tin ấy sẽ vực dậy con người từ những hố cách ngăn của tội lỗi, xoa dịu những vết đau hằn sâu trong tâm hồn. Niềm tin vào Thiên Chúa cho con người hy vọng sống tròn đầy, chờ đợi ngày hạnh phúc vĩnh cửu. Niềm tin ấy hướng dẫn con người đi trên nẻo đường ngay chính, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc ngay tại trần thế và ngưỡng vọng về đời sau.
Niềm tin vào Thiên Chúa, phải là điều căn bản của người Kitô hữu. Niềm tin ấy phải được thể hiện một cách sống động, hiện thực, cụ thể. Tin trong lòng, và tuyên xưng ngoài miệng chưa đủ, nhưng còn phải sống niềm tin ấy bằng cách thức riêng của mỗi cảnh đời chúng ta đang có.
Trong Giáo Hội ngày nay cũng không thiếu những trường hợp mắc phải căn bệnh của người Do Thái. Ðức Kitô được trình bày trọn vẹn trong Kinh Thánh, qua Phụng Vụ và qua Giáo Hội, thế mà người ta lại giới hạn Ðức Kitô trong cái nhìn của họ. Họ cũng giới thiệu Ðức Kitô cho người khác nhưng đây chỉ là một Ðức Kitô bị bóp méo cho hợp với chủ trương của họ, có lợi cho họ. Và nếu có một ai giới thiệu Ðức Kitô khác với chủ trương và đi ngược lại với quyền lợi thì họ sẵn sàng kết án hoặc bôi nhọ làm sao để đừng mất đi quyền lợi của mình.
