2022
Phêrô, con người trong sáng
22.2 Thứ Ba Toà Thánh Phêrô, Tông Đồ
Gc 4:1-10; Tv 55:7-8,9-10,10-11,23; Mc 9:30-37
Phêrô, con người trong sáng
Ngày lễ lập tông tòa thánh Phêrô là lời mời gọi toàn thể dân Chúa trên hoàn vũ hãy cầu nguyện thật nhiều, cầu nguyện liên lỉ cho vị Cha chung của Giáo Hội, trước một trọng trách nặng nề mà Chúa và Giáo Hội trao phó cho Ngài. Trước muôn vàn thách đố của một thế giới luôn luôn biến chuyển, Đức Giáo Hoàng luôn phải đối đầu với muôn vàn khó khăn của Hội Thánh, của thế giới. Chính vì vậy, Ngài cần có đầy đủ ơn Chúa và sự soi sáng, khôn ngoan của Chúa Thánh Thầnh để Ngài chu toàn trách nhiệm chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Chúa.
Ngai Tòa Thánh Phêrô trước tiên nhắc nhớ đến sứ vụ Đức Giêsu trao phó cho Simon-Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,32). Mặc cho thử thách mà đức tin các Tông Đồ phải chịu (Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo), đức tin của thánh Phêrô giữ vai trò nền tảng trong Hội thánh tiên khởi. Thánh Phaolô xác nhận Chúa Giêsu đã hiện ra với Céphas (Phêrô), sau đó cho nhóm Mười Hai (1 Cr 15,5); cũng thế, Phúc Âm thánh Luca xác nhận trong câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmaus: “Nhóm Mười Một và các bạn hữu nói với họ: Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon” (Lc 24,34)
Phụng Vụ nhấn mạnh việc “đức tin của thánh Tông Đồ Phêrô”
Hôm nay chúng ta tưởng nhớ việc Ðức Kitô chọn Phêrô là người thay thế Ngài trong việc cai quản Giáo Hội.
Phaolô là nhà luân lý như trong thư Ngài viết, vì Ngài là biệt phái trung thành. Còn Phêrô trong các bài diễn văn như Luca kể lại, Ngài chỉ nói về Đức Giê-su và về Đức Giê-su Phục Sinh.
Phaolô trong những thư Ngài viết, dù bị chi phối về những bài giảng mà Ngài nghe, Ngài vẫn có những trực giác do ân sủng Ngài lãnh nhận.
Nhưng Phêrô còn những hung hăng, mãnh liệt lại bước nhịp nhàng theo chân Đức Ki-tô, Phêrô một con người trong sáng về đức tin. Bài diễn văn của Ngài đầy vẻ an bình. Theo gương Thầy chí thánh, Ngài không pha loãng chân lý bằng những lời nồng nhiệt bốc khói. Nhưng cũng như Thầy, trái tim Ngài cởi mở đón tiếp tất cả. Đức Giê-su rao giảng Chúa Cha cho người Do Thái. Phêrô cũng rao giảng cho người Do Thái về Đức Giê-su Đấng thiên sai cứu thế, Đấng tế lễ và ngôn sứ, Đấng con Thiên Chúa. Và sứ điệp Ngài cũng nói cho chư dân đã được Ngài gặp gỡ và làm cho trở lại đạo trước Phaolô.
Ngài là lời, là mục tử, là đá góc tường, là vị kế nghiệp của Đức Ki-tô .
Còn nhớ đến biến cố trong ngày Ngũ Tuần đã giúp Phêrô cảm nhận được Ðức Kitô phục sinh một cách trọn vẹn. “… Tất cả đều tràn đầy Thánh Thần” (Cv 2:4a) và họ bắt đầu rao giảng bằng các thứ tiếng khác nhau tùy theo Thánh Thần ban cho.
Chỉ khi ấy Phêrô mới chu toàn nhiệm vụ mà Chúa đã trao cho ngài: “… Một khi anh trở lại, hãy củng cố các anh em” (Lc 22:32). Từ lúc đó, ngài trở nên phát ngôn viên cho nhóm Mười Hai về những gì họ được cảm nghiệm qua Thánh Thần — trước nhà cầm quyền muốn chặn đứng sự rao giảng, trước thượng hội đồng Giêrusalem, trước cộng đoàn về vấn đề của Ananias và Sapphira. Ngài là người đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại. Sức mạnh chữa lành của Ðức Kitô ở trong Phêrô được chứng tỏ: cho kẻ chết sống lại, chữa người ăn xin tàn tật. Dân chúng khiêng bệnh nhân ra đường phố để khi Phêrô đi ngang qua, bóng của ngài có thể chữa họ lành.
Ngay cả một vị thánh cũng gặp khó khăn của cuộc đời Kitô Hữu. Khi Phêrô không còn ăn uống với Dân Ngoại tòng giáo vì ngài tế nhị không muốn tổn thương đến người Kitô gốc Do Thái, Phaolô viết: “… Tôi chống đối ông ấy ra mặt vì rõ ràng là ông ấy sai… Các ông ấy không đi đúng với chân lý của phúc âm…” (Gl 2:11b, 14a).
Thánh Phêrô đã được Chúa trao cho chìa khóa Nước Trời, có nghĩa là thánh nhân sẽ được tham dự vào quyền bính của Chúa. Chính vì thế, thánh Phêrô cũng như các vị kế nhiệm sẽ đại diện Chúa ở trần gian với quyền giáo huấn, quyền thánh hóa và quyền quản trị để phục vụ Dân Chúa. Do vậy, khi người tín hữu không vâng nghe Đấng kế vị thánh Phêrô cũng chính là không vâng nghe Đức Giêsu.
Điều này cũng như quyền năng của nối kết hoặc cầm buộc và của tách rời hoặc tháo cởi cũng được trao cho cộng đoàn (Mt 18, 18) và cho các môn đệ khác (Ga 20, 23). Một trong những điểm mà sách Tin Mừng Mátthêu nhấn mạnh nhiều nhất là sự hòa giải và tha thứ hoặc khoan dung. Nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng hơn đối với các điều hợp viên của cộng đoàn. Bắt chước thánh Phêrô, họ phải cầm buộc hoặc tháo cởi, đó là, làm theo cách để có sự hòa giải, chấp nhận lẫn nhau, xây dựng tinh thần huynh đệ.
Chúng ta nhìn vào đức tin của thánh Phêrô, hầu rút ra bài học cho mình. Phêrô vừa biết Chúa Giêsu thì đã tin vào Ngài, trở nên một trong bốn môn đệ đầu tiên. Ông được nghe lời giảng dạy của Chúa và chứng kiến những phép lạ Chúa làm. Tưởng chừng như lòng tin của ông kiên vững lắm.
Mừng Lễ hôm nay, Hội Thánh mời gọi tất cả chúng ta hướng về Đức Giáo Hoàng, đấng kế vị Phêrô. Ngài là vị cha chung của Hội Thánh, có trách nhiệm chăm sóc và hướng dẫn Dân Chúa. Với tấm lòng con thảo, chúng ta hãy yêu mến, vâng lời và siêng năng cầu nguyện cho ngài.
2022
Tình thương chữa lành
21.2
Thứ Hai trong tuần thứ Bảy Mùa Quanh Năm
Gc 3:13-18; Tv 19:8,9,10,15; Mc 9:14-29
Tình thương chữa lành
Các môn đệ đã không hiểu lý do tại sao họ không trừ quỷ cho em bé này được. Chúa Giê-su trả lời ngay rằng họ thiếu đức tin. Chúa không nói họ không có đức tin nhưng vì đức tin của họ chưa đủ, còn non yếu. “Mọi sự đều có thể với người tin”.
Tin Mừng hôm nay kể lại một phép lạ chữa lành ngay sau biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao cho ba môn đệ thân tín của Người. Có lẽ chúng ta tạm chọn đề tài cho đoạn Tin Mừng này là “ TÌNH THƯƠNG CHỮA LÀNH”, bởi vì chính Đức Giêsu – hiện thân của Thiên Chúa Cha đã tỏ lộ tình thương, không những trong việc chữa lành thân xác đứa con, mà còn củng cố, thêm sức tâm linh cho người cha.
Hơn nữa, Người còn truyền dạy cho các môn đệ một bài học quan trọng trong đời sống tông đồ, đó là CẦU NGUYỆN. Thật vậy, chỉ có cầu nguyện mới giúp con người có sự trợ giúp của Thiên Chúa trong tương quan với Ngài. Chỉ có cầu nguyện mới khiến con ngừơi nhận ra những yếu đuối bất toàn của bản thân, để chỉ trông cậy nương tựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng: “Đức tin là ơn nhưng không mà Thiên Chúa ban cho con người. Chúng ta có thể đánh mất ơn vô giá này… Để sống, tăng triển và bền vững đến cùng trong đức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng bằng Lời Chúa; chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa tăng thêm đức tin (Lc 17,5; Mc 9,24; đức tin phải “hành động qua đức ái” (Gl 5,6), được cưu mang bởi niềm hy vọng và được ăn rễ sâu trong đức tin của Giáo Hội” (Số 160-162).
Dù đức tin là một ân huệ của Thiên Chúa, nhưng nó cần sự cộng tác của chúng ta để lớn lên và tăng trưởng. Giống như việc tập luyện thể thao, nâng được tạ, thì cần cơ bắp phát triển. Đức tin phải được thực hành, được thử thách và được nuôi dưỡng. Nếu hài lòng với đức tin nhỏ bé mình đang có, thì ‘cơ bắp’ thiêng liêng chỉ là còi cọc. Chúng ta cần phải vun trồng cho đức tin trưởng thành và bền vững. Nuôi dưỡng bằng các sách vở thiêng liêng và cầu nguyện hằng ngày. Thường xuyên lãnh các bí tích thì mới làm cho đức tin vững mạnh được.
Trong câu đầu tiên của đoạn Tin Mừng, thánh sử kể lại quang cảnh miêu tả hành trình xuống núi của Chúa Giêsu và ba môn đệ thân tín, có thêm đám đông dân chúng, các môn đệ và một số kinh sư đang chờ tại chân núi. Tất cả mọi người đang bàn tán xôn xao, đám đông nhốn nháo chạy qua chạy lại. Vừa thấy Đức Giêsu, đám đông kinh ngạc và chạy lại chào Người. Họ kinh ngạc có lẽ vì Chúa xuất hiện ngay vào lúc “nút thắt” lên cực điểm. Các luật sĩ đang lý luận. Các môn đệ thì lúng túng, bất lực. Còn đám đông đang bấn loạn không biết cậy dựa vào ai. Sự hiện diện của Chúa Giêsu khiến họ kinh ngạc nhưng rất đỗi vui mừng.
Như kẻ sắp chìm vớ được mảnh ván, họ chạy lại đón Người. Nhìn thấy cảnh ấy, Chúa Giêsu đoán rằng đã xảy ra chuyện gì, nên Người hỏi các môn đệ “Anh em tranh luận gì với họ thế?” (16). Đến đây, sự chờ đợi và bức xúc của dân chúng như oà vỡ qua lời của một người trong đám đông lên tiếng. Ông ta chính là cha của đứa bé, nhân vật chính trong trình thuật này. Ông kể lể mọi tình trạng khốn khổ mà con ông phải chịu đựng. Ông cũng đã xin các môn đệ chữa lành và ông kết luận : họ không làm nổi (18).
Vừa nghe xong những lời ấy, Chúa Giêsu tỏ vẻ buồn rầu và kêu lên : thế hệ cứng lòng tin (19). Vì họ không tin, nên phép lạ đã không xảy ra. Chúa Giêsu truyền đem đứa bé lại gần Người. Trước tôn nhan Chúa, quỷ tỏ rõ sức mạnh và khống chế đứa bé bằng cách : lay nó thật mạnh, quật ngã xuống, làm cho lăn lộn và sùi bọt mép… Chúa Giêsu hỏi người cha về thời gian ma quỷ đã cầm tù cháu bé. Một lần nữa, ông được dịp bộc bạch tâm lòng và kể lại những tình huống bi thảm hơn như : quỷ xô vào lửa, đẩy xuống nước… và ông nài xin lòng thương xót của Chúa. Nhưng trong lời van xin ấy, ông vẫn chưa đặt trọn tin tưởng vào Chúa Giêsu “ Nếu Thày có thể làm được gì…” (22).
Trước khi Chúa Giêsu chữa trị thân xác cho đứa con, Người cũng mở đôi mắt tâm hồn cho người cha “Sao lại nói : Nếu Thày có thể? Mọi sự đều có thể đối với kẻ tin” (23). Ngay lập tức, người cha đau khổ tuyên xưng đức tin “ Tôi tin” và xin Chúa Giêsu thương xót và nâng đỡ lòng tin non yếu của ông (24). Chỉ chờ có thế, Đức Giêsu đã thực hiện một phép lạ chữa lành. Phép lạ này xuất phát từ lòng thương xót của Người, không những đối với thân xác đứa con mà cả tâm hồn của người cha nữa.
Từ câu 25 đến câu 27, chúng ta thấy thánh sử mô tả như là nguyên nhân mà Chúa Giêsu thực hiện phép lạ “khi thấy đám đông tuôn đến…”. Chúa chữa trị, xua trừ ma quỷ khi có đám đông chứng kiến. Điều này có đối nghịch với sự ẩn giấu uy quyền Thiên Chúa nơi Người hay không? Có lẽ ở đây, Chúa muốn cho dân chúng biết thời đại Mêsia đã đến. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài và Ngài đến để chiên được sống và sống dồi dào. Hơn nữa, Chúa cũng muốn củng cố niềm tin cho các môn đệ, để các ông vững tâm cùng Chúa tiến lên Giêrusalem, đi vào cuộc Vượt Qua của Chúa.
Với hai câu cuối là một bài học thiết thực trong đời sống tông đồ, mà chính Chúa đã nêu gương trong đời sống thường ngày, đó là : cần cầu nguyện. Với một người Kitô hữu, lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng là sự tương giao với Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô trong các bài gỉang, ngài luôn nhắn gửi chúng ta cần cầu nguyện không ngừng… Dù người đó là giáo dân hay tu sĩ, linh mục, dù người đó già trẻ, lớn bé, giàu sang hèn kém, cũng phải cần đến ơn trợ lực của Thiên Chúa, vì “không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” .. Phải, chỉ trong cầu nguyện chúng ta mới có tương quan kết hợp gắn bó với Chúa, mới có được sức mạnh từ Thiên Chúa để chống trả với thế gian, ma quỷ và xác thịt. Sức mạnh duy nhất của người môn đệ có được khi họ luôn đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng tin và tình mến. Với những ai tin và yêu, người đó sẽ chiến thắng đau khổ, thử thách, ngay cả sự chết … khi họ biết dựa trên lòng thương xót và quyền năng cứu độ của Thiên Chúa.
Tin không dễ dàng chút nào. Điều đó cần luôn nhận ra các giới hạn, khả năng của mình về hiểu biết “tại sao” trong các sự kiện và “như thế nào” của nhiều thách đố. Chúa Giê-su không than phiền về những phấn đấu để tin nhưng vì chúng ta thiếu cố gắng khi đức tin bị yếu đuối, lung lay. Điều các môn đệ không làm được, người cha của đứa trẻ bệnh tật làm được nhờ lời cầu xin ngắn gọn nhưng mạnh mẽ: “Xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi !”
2022
VÁC THẬP GIÁ
19.2
Thứ Bảy trong tuần thứ Sáu Mùa Quanh Năm
Gc 3:1-10; Tv 12:2-3,4-5,7-8; Mc 9:2-13
VÁC THẬP GIÁ
Khi tiên báo về cuộc khổ hình và thập giá mà Người sắp phải chịu bởi các kì mục, thượng tế và kinh sư, Ðức Giêsu nhận thức được rằng các tông đồ phải cảm thấy buồn nản và còn lo sợ. Các ông không thể nào quan niệm được rằng Thày mình sẽ phải chịu đau khổ. Các ông muốn Ðức Giêsu đi theo đường lối của loài ngưòi, nghĩa là tránh khổ hình thập giá. Vì thế ông Phêrô đại diện cho nhóm Mười Hai kéo riêng Thầy ra mà can ngăn Người (Mc 8:32). Rồi khi biến cố thập giá xẩy ra vào ngày Thứ Sáu Chịu nạn, thì kinh nghiệm đau thương lại càng đè nặng tâm trí các tông đồ, nhất là cho Phêrô, Giacôbê và Gioan, là những người được chứng kiến cảnh sầu khổ của Thầy mình trong vườn cây dầu.
Ðể giúp các tông đồ đối phó với cảnh khổ nạn và thập giá, Ðức Giêsu đưa ba tông đồ thân tín lên đỉnh núi, biến hình cho họ thấy cảnh vinh quang của nước Chúa. Việc Ðức Giêsu biến hình có mục đích là củng cố đức tin và đức cậy của các tông đồ, trong viễn tượng của cuộc khổ hình và thánh giá. Giáo hội coi việc tổ phụ Ápraham sẵn sàng hiến tế con mình làm lễ vật hi sinh là hình bóng của lễ vật hi sinh của Ðức Giêsu làm của lễ đền tội cho nhân loại.
Ðể thử thách đức tin của Áp-ra-ham, Thiên Chúa muốn ông dâng con mình, là I-xa-ác làm lễ vật toàn thiêu, một người con duy nhất mà Chúa đã hứa cho ông bà, khi bà xã ông là Sara sinh con lúc bà đã cằn cỗi (St 18:12), còn ông được xấp xỉ một trăm tuổi xuân (St 21:5). Nhờ đức tin, Ápraham sẵn sàng chấp nhận hi sinh hiến tế con mình mặc dù đã nhận được lời hứa là nhờ I-xa-ác mà ông sẽ có được một dòng dõi (St 21:12). Kết quả là Chúa sai sứ thần bảo ông dừng tay lại và còn hứa cho dòng dõi ông trỏ nên đông đúc như sao trời và cát biển (St 22:17).
Từ trên núi xuống, Chúa ra lệnh cho bộ ba tông đồ không được thuật lại cho ai nghe những điều họ vừa xem thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại (Mc 9:9). Các tông đồ tuân giữ lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: Từ cõi chết sống lại nghĩa là gì? Từ đó các tông đồ quan sát và suy niệm những cảnh chống đối và lăng nhục xẩy ra như: Thày mình bị bách hại trong vườn cây dầu, bị dân chúng lăng nhục, nhạo cười, bị quân lính tra tấn và đánh đòn, cuối cùng chịu đội mão gai, vác thánh giá và chịu chết trên thập giá. Những cảnh bách hại và nhục mạ Thày mình phải chịu khiến các tông đồ nản lòng, khiếp sợ. Họ nản lòng vì cái chết của Thày mình đã làm tiêu tan những mối hi vọng của họ. Họ khiếp sợ vì bị người Do Thái truy nã, bách hại. Rồi khi được loan tin là Thày mình đã sống lại họ trở nên hoang mang, không biết đâu là thực hư.
Chỉ sau khi đối diện với Chúa phục sinh, họ mới hiểu được ý nghĩa của lời Chúa: Cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại. Từ đó họ ra đi để làm chứng cho việc Chúa sống lại. Ðể chia sẻ niềm vui phục sinh của Thày chí thánh, họ cũng đã phải trải qua những bách hại, chịu tù đầy và chịu khổ hình trên thập giá. Ðúng như lời Chúa phán: Ðày tớ không trọng hơn chủ. Nếu người ta đã bách hại Thày, họ cũng bách hại các con (Ga 15:20). Và như vậy ý niệm thần học tín lí: sống lại từ cõi chết cũng đã được áp dụng cho các tông đồ. Các vị tử đạo trong đó có 117 vị anh hùng tử đạo Việt nam, cũng đã phải hiểu được ý niệm từ cõi chết sống lại là thế nào trước khi dám để cho lý hình hành xử, chứ không phải khơi khơi mà dám xông ra pháp trường.
Ðối với người tín hữu, từ cõi chết sống lại nghĩa là gì trong đời sống mỗi người? Một biến cố rất quan trọng xẩy ra trong đời sống người, mang lại sự sống thiêng liêng cho tâm hồn là Bí tích Rửa tội. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ta cũng được sống lại từ cõi chết. Tội nguyên tổ bị hủy diệt, và ta được sống lại trong ơn nghĩa với Chúa.
Thế rồi từ đó trong cuộc sống hàng ngày, ta cũng trải qua những cuộc chết đi sống lại nhỏ bé, không phải như các tông đồ, cũng không phải như các vị tử đạo. Khi ta sẵn sàng chịu thua thiệt, mất mát ở đời này, như mất bạn bè, mất việc làm, mất dịa vị xã hội, chỉ vì tin yêu vào Chúa, và tuân giữ giới răn Chúa, tức là ta đã chết đi cho mình một phần, để được sống lại trong ơn nghĩa với Chúa. Khi ta sẵn sàng chết đi cho tội lỗi, chết đi cho tính ươn hèn, chết đi cho tính tham lam, ích kỷ, lười biếng, chết đi cho tính nói hành nói xấu, ta sẽ được vươn lên thượng giới.
Việc Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết, hay nói một cách khác, mầu nhiệm thập giá của Ngài mãi mãi vẫn là một điều khó chấp nhận, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồi đối với dân ngoại. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã chuẩn bị tâm hồn mọi người để có thể hiểu được phần nào mầu nhiệm ấy.
Cuộc chuẩn bị xa xôi nhất, đó là việc Thiên Chúa đòi tổ phụ Abraham sát tế người con duy nhất của mình là Isaac, để làm của lễ toàn thiêu dâng kính Ngài. Việc đòi hỏi này thật là mâu thuẫn với lời Chúa đã phán hứa với ông. Nhưng Abraham đã không thắc mắc, đã không phản đối, trái lại ông hoàn toàn tin tưởng, và thi hành đúng theo lệnh truyền của Chúa và kết quả: Ông được gọi là kẻ công chính, còn Isaac con ông thì được cứu sống, chứ chẳng bị sát tế.
Hình ảnh của Abraham là biểu tượng cho tình thương của Chúa đối với chúng ta. Thực vậy sự công bình và lòng thương yêu của Chúa đối với chúng ta đã đòi Chúa làm một việc tương tự như Abraham, đó là không dung tha con mình, nhưng phó thác con mình cho tất cả chúng ta. Ngày xưa, Isaac không bị giết, mà Abraham vẫn được kể là kẻ công chính. Còn bây giờ, Đức Kitô đã bị giết. Ngài đã chết thực sự, nhưng sau đó Ngài sống lại, ngự bên hữu Chúa Cha, hoàn tất công trình cứu độ nhân loại và đã trở thành Đấng công chính hoá loài người.
Tiếp đến là cuộc chuẩn bị gần, như chúng ta thấy qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chính vì muốn để cho các môn đệ thân yêu giữ vững niềm tin khi thấy mình bị đau khổ và chịu chết một cách nhục nhã trên thập giá, mà Chúa Giêsu đã tỏ lộ phần nào vinh quang của Ngài trên đỉnh Tabor. Nếu lưu ý một chút, chúng ta sẽ thấy ba môn đệ được Chúa đưa lên đỉnh Tabor hôm nay cũng chính là những môn đệ mà Ngài sẽ đưa vào vườn cây dầu trong cơn hấp hối. Qua đó chúng ta thấy, mọi biến cố, dù vui hay buồn, cũng đều là những dịp Chúa gửi đến để kêu mời chúng ta tiến sâu trong tình thân với Ngài.
Do đó, hãy biết đọc các dấu chỉ thời đại, hãy biết nhìn những sự kiện xảy ra dưới ánh sáng đức tin và trong yêu mến Chúa nồng nàn. Các môn đệ lúc đầu đã không thể hiểu ngay mọi ý nghĩa của việc Chúa biến hình. Trong đời sống thường ngày cũng vậy, đứng trước những khó khăn hay dễ dàng, gian khổ hay vui mừng, được an ủi hay bị bỏ rơi, chúng ta khó mà thấu hiểu được ý nghĩa của nó, khó mà khám phá ra được tình thương và sự công bình của Chúa.
Thế nhưng, chúng ta hãy kiên tâm bền chí, trong kinh nguyện và trong suy niệm Lời Chúa, trong đời sống và trong hành động, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa lớn hơn con tim của chúng ta. Hãy biết tìm ra thánh ý Chúa được gởi gắm qua những sự kiện hằng ngày, nhất là nơi những đau thương, gian khổ và thập giá vì đau thương là đường lên ánh sáng, gian khổ là đường về vinh quang và thập giá là đường dẫn tới phục sinh.
2022
ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
18.2 Thứ Sáu trong tuần thứ Sáu Mùa Quanh Năm
Gc 2:14-24,26; Tv 112:1-2,3-4,5-6; Mc 8:34; Mc 9:1
ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
Bất cứ ai muốn thành công về một lãnh vực nào đều phải trải qua một giai đoạn gọi là “thử thách”để tiến tới mục tiêu của mình. Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi mỗi người lên đường, bước theo Đức Ki-tô, vì Ngài là hạnh phúc đích thực dẫn đưa chúng ta tới Nước Thiên Chúa. Vậy, làm thế nào để có thể thành công trong việc đi theo Ngài? Tin mừng thánh Mac-cô thuật lại: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”(c.34).
Nói đến từ bỏ, dù chỉ là một thói quen không tốt nho nhỏ, cũng không mấy ai ưa thích. Vì nói đến“từ bỏ”là đụng chạm đến “hy sinh”, mà hy sinh thì phải chịu đau đớn, thiệt thòi, mất mát…. Cũng như nói đến “tình yêu”thì đụng đến “tự do”, mà muốn được tự do thì phải dấn thân, mạo hiểm… Chính sự mạo hiểm này nói lên sự bấp bênh trong chọn lựa của chúng ta, nhưng càng bấp bênh bao nhiều thì sự hy sinh và từ bỏ chính mình càng cao quý bấy nhiêu, nhất là khi chúng ta “từ bỏ chính mình” cho một lý tưởng, một tình yêu nào đó hoặc cho một Ai đó rất đặc biệt, rất quan trọng trong cuộc đời của chúng ta. Chúa đã từng nói:“Ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”là vậy (x.Mc 8,35).
Tuy nhiên, từ bỏ chính mình để theo Đức Giêsu không phải chỉ quyết tâm một lần là đủ, mà là một thái độ luôn sẵn sàng từ bỏ trong từng phút giây của cuộc sống.
Như thế, việc “từ bỏ chính mình”vì Chúa, thì chúng ta chẳng thua lỗ tí nào. Trái lại, chúng ta từ bỏ cái mau qua để có được sự sống vĩnh hằng; từ khước cái tương đối để được cái Tuyệt Đối là chính Đức Kitô; và từ bỏ cái thân xác tội lỗi để có được sự sống đời đời.
Đối với các tín hữu Do Thái ngày xưa, thập giá chính là án tử hình nặng nhất, nhục nhã và khủng khiếp nhất của luật hình La mã. Những tín hữu đã bị bắt bớ và lãnh án xử tử thập giá, thì quả là một chuyện khủng khiếp đối với họ. Vậy mà Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta vác cái ô nhục đó để đi theo Ngài!
Lời mời gọi của Chúa Giêsu xem ra là một nghịch lý cho cuộc đời, nhưng đối với Thiên Chúa, đó không phải là một ô nhục hay là sự điên rồ mà họ lầm tưởng; trái lại, đó là một dấu chỉ chiến thắng của tình yêu mà chính Đức Kitô đã đón nhận đau khổ trên thập giá bằng một giá rất đắt, một thái độ vâng phục và phó thác cho thánh ý Chúa Cha để trở nên máng chuyển thông ơn cứu độ cho loài người chúng ta.
Thiên Chúa cũng thử thách niềm tin của chúng ta như thế. Khi bị thử thách, tâm hồn chúng ta cũng đau khổ và bối rối. Nhưng nếu chúng ta tin cậy vào Thiên Chúa giống như Abraham, thì Thiên Chúa sẽ không để chúng ta thất vọng. Và cuối cùng, Thiên Chúa cũng sẽ chúc phúc và ban ân huệ cho ta nhiều hơn những gì chúng ta mơ ước.
Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một: Ngài là Đức Giêsu sáng láng trên núi Tabor, cũng là Đức Giêsu mướt máu trong vườn Cây Dầu, và cũng là Đức Kitô đau khổ trên thập giá ở đồi Golgotha. Hai đỉnh núi Tabor và Golgotha cách nhau không xa, nhưng lại là con đường vạn lý, con đường đau khổ, con đường vượt qua: Đường Tình yêu.
Vì vậy, khi nhìn lên cây thánh giá có Chúa Giêsu hiện diện, nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của sự đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm cứu độ và phục sinh vinh quang của Người. Ước gì tình yêu thập giá chiếu sáng những ai muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu vác lấy mà đi theo Người.
