2022
LY DỊ
25.2 Thứ sáu Gc 5:9-12; Tv 103:1-2,3-4,8-9,11-12; Mc 10:1-12
LY DỊ
Ly dị ! Ta đi tìm hiểu một chút.
Trước hết, ly di nghĩa là bỏ đàn bà đúng hơn là bỏ vợ và cưới vợ khác. Như vậy ly di là sự tan rã của một gia đình và nó làm đảo lộn nền tảng quan trọng của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập là bất khả phân lý. Vậy tại sao nhưng người Pharisêu lại đề cập đến vấn đề này? Một đàng, đối với người Do thái hôn nhân là một nhiệm vụ thiêng liêng.
Ở độc thân sau tuổi 20 là vi phạm mệnh lệnh tích cực, là hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất. Kẻ nào không có con là tiêu diệt hậu tự của mình và làm giảm đi hình ảnh của Chúa trên mặt đất. Đàng khác, vấn đề ly dị lại nằm trong luật Môsê. Như vậy, họ vừa dựa vào luật Môsê đồng thời vừa để kéo Chúa Giêsu vào cuộc tranh luận này để thử người. Đứng trước chủ đề tranh luận đầy nóng bỏng và khó khăn như thế Chúa Giêsu giải quyết thế nào?
Thứ đến, câu trả lời của Chúa Giêsu về vấn đề ly dị. Để trả lời cho chủ để này Chúa Giêsu dẫn họ trở về từ thuở ban đầu của công trình tạo dựng là: Thiên Chúa đã làm nên người nam người nữ vì thế người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly. Như thế, sự kết hợp của họ là trọn vẹn và không phá vỡ.
Nếu vậy thì ông Môsê sai lầm chăng? Chúa Giêsu cho họ biết rằng đúng là ông Môsê cho phép ly di, nhưng đó chỉ là một sự nhượng bộ so với lý tưởng đã bị đánh mất. Vì các ông lòng chai dạ đá, theo cha hoàng đắc Ánh là lòng trí chai đá trước sự thật. Tội cứng lòng không chỉ có dân Israel xưa mà ngày nay cũng không tránh khỏi. Như vậy, đứng trước cuộc tranh luận về sự ly dị mà người Phariêu nêu lên, một đàng Ngài không để mình bị rơi vào bẩy của các nhà thông luật Do thái, một đàng ngài cũng không nhượng bộ cho vấn đề ly dị. Ngài bảo vệ luật nguyên thủy bằng mọi giá: sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly.
Là một xác nhận mạnh mẽ ý nghĩa nguyên thủy mà Thiên Chúa đã ban cho mối dây liên kết hôn nhân. Con đường Ngài mở ra mang tính cách đòi hỏi hơn các quan điểm nhân loại rất nhiều. Tại sao Ngài lại bảo vệ luật bất khả phân ly của hôn nhân? Vì hôn nhân là mối giây tình yêu liên kết hai người phối ngẫu, và tình yêu này phản chiếu tình yêu thần diệu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Thánh Phaolô đã ân cần nhắc nhở: “Chồng hãy yêu thương vợ như Chúa Kitô yêu mến Giáo Hội và phó nộp mình đi”. Trong đời sống hôn nhân, hai người nương tựa vào nhau, bổ túc và tài bồi lẫn nhau. Thiên Chúa thấy người nam ở một mình không tốt, Ngài đã dựng nên cho nó một người nữ, rút từ cạnh sườn người nam, và người nam sẽ bỏ cha mẹ để nên một với vợ mình, đó là hình ảnh của một tình yêu kết hợp. Nhờ tình yêu kết hợp trong hôn nhân, người nam và người nữ sẵn sàng chấp nhận việc sinh dưỡng và giáo dục con cái thành những đứa con ngoan của Thiên Chúa, của Giáo Hội, của gia đình và xã hội.
Chính vì những giá trị cao đẹp của hôn nhân như thế, nên thái độ của Chúa Giêsu về vấn đề hôn nhân thật dứt khoát. Ngài xác định lại nền tảng thánh thiêng cũng như tính cách bất khả phân ly của giây hôn phối. Ngài mạnh mẽ lên án tội dâm bôn ngoại tình, cả việc rẫy vợ nữa, trừ phi là nố gian dâm, nhưng điều đó có lẽ không nhằm biện minh cho việc ly dị, mà chỉ là đuổi người vợ bất chính, hoặc là ly thân rồi sau đó không được tái hôn nữa. Như thế, chính nhờ Chúa Giêsu, hôn nhân đã được nâng lên hàng Bí Tích và mặc một sắc thái mới phản ánh vẻ đẹp ban đầu đã bị lu mờ vì tội lỗi nhân loại.
Nếu trong tình yêu hôn nhân chấp nhận sự ly dị, thì tình yêu đó đánh mất bản chất là sự tha thứ và hiến thân. Ly dị là lìa xa chính cội nguồn, lìa xa những phúc lành mà Thiên Chúa đã ấn định. Chính Chúa Giêsu đã dang rộng cánh tay tha thứ và đón nhận những kẻ lỗi nghịch vào Hội Thánh Người.
Đề cập đến vấn đề ly di, ngày hôm nay giáo hội còn phải đương đầu với những hôn nhân bị đứt đoạn và vấn đề tái hôn. Giáo hội vẫn luốn dè dặt trong vấn đề này.
Chúa Giêsu đã dạy bảo dân chúng về đời sống hôn nhân và gia đình, đó cũng là bài học giáo lý rất căn bản nói về hai điều răn thứ 6 và thứ 9: cấm ngoại tình và không được ly dị. Ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật; Thiên Chúa cũng tạo dựng loài người có nam, có nữ và Ngài đã kết hợp hai người nam và nữ thành đôi vợ chồng đầu tiên đó là Ađam cùng với vợ của ông là bà Evà để làm nên một gia đình. Thế rồi hôn nhân này tiếp nối hôn nhân khác làm thành gia đình nhân loại. Thiên Chúa đã tạo dựng con người trong sự bình đẳng để họ yêu thương và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
Khi đã kết hôn, đôi vợ chồng không những phải tìm mọi cách để giữ lòng chung thuỷ trong tình yêu, mà còn phải làm cho tình yêu tươi thắm, tốt đẹp luôn mãi trong đời sống gia đình, bời vì nếu sống trong tình yêu đích thực, thì không được quyền thay đổi, mà đòi phải thật lòng trung tín với nhau. Chính vì thế, mà câu trả lời của Chúa Giêsu với những người biệt phái trong bài Tin Mừng hôm nay là: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân ly“. Điều đó cho chúng ta thấy Thiên Chúa mong muốn những ai sống ơn gọi hôn nhân và gia đình, hãy yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời.
Chúa Giêsu đã dạy bảo dân chúng về đời sống hôn nhân và gia đình, đó cũng là bài học giáo lý rất căn bản nói về hai điều răn thứ 6 và thứ 9: cấm ngoại tình và không được ly dị. Ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật; Thiên Chúa cũng tạo dựng loài người có nam, có nữ và Ngài đã kết hợp hai người nam và nữ thành đôi vợ chồng đầu tiên đó là Ađam cùng với vợ của ông là bà Evà để làm nên một gia đình. Thế rồi hôn nhân này tiếp nối hôn nhân khác làm thành gia đình nhân loại. Thiên Chúa đã tạo dựng con người trong sự bình đẳng để họ yêu thương và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
2022
HY SINH
24.2 Thứ Năm trong tuần thứ Bảy Mùa Quanh Năm
Gc 5:1-6; Tv 49:14-15,15-16,17-18,19-20; Mc 9:41-50
HY SINH
Thế gian này chỉ là chỗ tạm dung, không phải là chỗ định cư đời đời. Mục đích Thiên Chúa cho con người sống trong thế gian khoảng một thời gian là để cho con người luyện tập đức tin và tình yêu vào Thiên Chúa, trước khi cho con người về hưởng hạnh phúc muôn đời với Người trên Thiên Đàng. Nhiều người đã không nắm vững mục đích này, nên họ lấy thế gian làm chỗ định cư, và họ sống như không có nguồn cội và đích điểm. Nhiều tín hữu tuy biết đích điểm, lại không biết cách làm sao để đạt đích.
Lời Chúa Giêsu dạy trong bài Tin Mừng hôm nay: “Nếu tay ngươi làm ngươi vấp phạm, hãy chặt đi, thà cụt một tay mà được vào cõi sống, còn hơn có đủ hai tay mà phải vào hỏa ngục đời đời”
Điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là tính chất quyết liệt của những lời đó, có nghĩa là phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Quả thật, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời kỳ nào đều tồn tại những điều xấu. Đó là những lề thói những đức tính không tốt, có hại cho bản thân, cho mọi người xung quanh và cao hơn nữa cho cả cộng đoàn. Nếu những điều xấu ấy cứ tồn tại, phát triển, lây lan khó mà thay đổi được, lúc đó có thể trở thành tội. Phải ngăn chặn ngay từ đầu, nếu không sẽ khó mà cứu vãn được mạng sống.
Khi chúng ta chịu phẫu thuật, cắt bỏ khối u, cắt bỏ phần thân thể nhiễm độc để bảo toàn mạng sống. Vậy khi Chúa bảo ta phải chặt tay, chặt chân, móc mắt không phải muốn hành hạ ta, mà trái lại chính Ngài yêu thương ta, Ngài muốn ta được hạnh phúc, nên Ngài dạy ta phải dứt khoát với tội lỗi. Nhiều khi vì nhẹ dạ, ham vui, đã đưa đẩy chúng ta đến chỗ sống trong tội lỗi, đam mê dục vọng, để rồi sống một đời khổ sở. Chúng ta hãy chọn chấp nhận đau đớn một lần để được cuộc sống an bình, hạnh phúc.
Của cải trần gian Chúa ban cho con người hưởng dùng. Có được của cải là có được sự chúc phúc của Thiên Chúa. Nhưng có được của cải bằng cách nào đó là do cách thực hiện của con người. Có được của cải là điều quý, có được do làm ăn chân chính, lương thiện thì càng quý hơn, bởi đó là ân lộc của Chúa.
Tuy nhiên có một điều ai cũng biết, xã hội thời nào cũng có những người làm ăn bất chính, làm giàu trên xương máu, trên mồ hôi nước mắt người khác và đó chính là điều Thánh Giacôbê đang cảnh giác chúng ta.
Sự công bằng là điều quan trọng, bởi Chúa nói: “anh em sẽ không thể ra khỏi nơi giam cầm cho đến khi trả xong đồng bạc cuối cùng”. Bởi những đồng tiền bất chính ấy đã kêu thấu tới tai Chúa, và những đồng tiền bất chính ấy là bằng chứng tố cáo tội lỗi chúng ta. Bởi Chúa cứ dựa vào những gì chúng ta làm mà luận phạt.
Nếu chúng ta chỉ biết lo hưởng thụ ở đời này mà quên đi còn có hạnh phúc đời sau thì đó là một sai lầm lớn của người Kitô hữu. CGS đã cảnh tỉnh chúng ta qua dụ ngôn người phú hộ và anh Lazaro nghèo khó.
Khi một ai đó chắp nhập cắt bỏ một phần cơ thể bị hư hoại, để mong giữ lại được cả mạng sống, chúng ta chẳng ngạc nhiên mấy. Tuy việc cắt bỏ luôn đi kèm với đau đớn và mất mát, nhưng người ta vẫn cảm thất vui vì mình còn sống.
Để có được Nước Trời, Đức Giêsu muốn chúng ta phải dứt khoát với tội lỗi. Sự dứt khoát đó được thể hiện qua việc dám chấp nhận mất tay, mất chân nếu chúng là những cớ làm chúng ta vấp phạm. Dẫu biết rằng, tay chân là những bộ phận cần thiết cho hoạt động của con người, nhưng giá trị Nước Trời còn lớn hơn nhiều.
Ai trong chúng ta cũng muốn được phần thưởng là sự sống vĩnh hằng, là Nước Thiên Chúa. Để được phần thưởng vô giá này, chúng ta phải chấp nhận cắt đứt những gì đang làm hủy hoại đời sống chúng ta.
Thế giới hôm nay tràn ngập những người chạy theo vật chất: tiền của, danh vọng là giá trị lớn nhất; mục đích cuộc đời là hưởng thụ, khoái lạc. Đối với họ, Thượng Đế quá mơ hồ; Nước Trời và sự thưởng phạt đời sau quá xa vời. Họ quên rằng một ngày nào đó, họ sẽ phải chết! Hoặc họ cố quên đi điều đó để tận hưởng cuộc đời phù du ngắn ngủi. Lời Chúa hôm nay vạch cho chúng ta một thang giá trị khác: Nước Trời quý giá đến độ đáng cho ta hy sinh tất cả, kể cả mạng sống để đạt được. Thánh Phao-lô cũng quả quyết: Một chút gian nan nhẹ tênh trong hiện tại sánh sao được với vinh quang bất diệt mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho những kẻ yêu mến Người. Trong lịch sử Giáo Hội, biết bao người đã dám hy sinh cả mạng sống để chiếm hữu được Nước Trời.
Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta, Ngài không chỉ hy sinh một phần nào thôi, mà là dâng hiến toàn thân Ngài. Mỗi ngày trong Thánh Lễ, chúng ta cử hành việc hy hiến của Chúa Giêsu, chúng ta hãy xin Ngài ban sức mạnh để chúng ta cũng biết trao ban chính mình để làm vinh danh Chúa và đem lại hạnh phúc cho đồng loại.
2022
HIỆU ỨNG GIÊSU
23.4 Thứ Tư
Thánh Polycarp, Gmtđ
Gc 4:13-17; Tv 49:14-15,15-16,17-18,19-20; Mc 9:38-40
HIỆU ỨNG GIÊSU
Là môn đê của Thánh Gioan Tông Đồ và là bạn của Thánh Ignatiô ở Antioch, Thánh Polycarp, Giám Mục của Smyrna (bây giờ là Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ), là một vị lãnh đạo đáng kính của Kitô Giáo trong tiền bán thế kỷ thứ hai.
Tuy nhiên các vị lãnh đạo Giáo Hội thuộc thế hệ thứ hai đã gặp những thử thách mà thế hệ trước không đề cập đến. Họ phải làm gì khi thế hệ chứng nhân thứ nhất ấy không còn nữa? Lời dạy dỗ xác thực của Chúa Giêsu phải truyền lại như thế nào? Phải trả lời thế nào với các câu hỏi chưa từng có?
Khi các tông đồ không còn ở trần gian nữa, các lạc thuyết bắt đầu xuất hiện ngụy trang chính giáo, sự bách hại lại mạnh mẽ và bắt đầu xuất hiện các tranh chấp về vấn đề phụng vụ.
Polycarp, một người thánh thiện và là giám mục của Smyrna, chỉ thấy có một câu trả lời – trung thành với đời sống Đức Giêsu và bắt chước đời sống ấy. Thánh Ignatiô nói với Thánh Polycarp “linh đạo của anh đặt nền móng nơi Thiên Chúa như trên một tảng đá không thể nào lay chuyển nổi.”
Khi đối diện với lạc giáo, Thánh Polycarp có “bộ mặt bộc trực” đến nỗi Thánh Ignatiô phải thán phục, vì ngài đã bắt chước cách Đức Giêsu trả lời người Pharisêu. Marcion, người lãnh đạo lạc thuyết nhị nguyên, khi đối chất với Đức Polycarp đã yêu cầu ngài thừa nhận họ, “Polycarp, hãy thừa nhận chúng tôi.” Đức Polycarp trả lời, “Tôi thừa nhận ngài, phải, tôi thừa nhận ngài là đứa con của Satan.”
Thánh Polycarp đối diện với sự bách hại cũng như Đức Kitô đã làm. Chính giáo đoàn của ngài phải thán phục ngài vì đã theo sát “gương phúc âm” – không tìm cách để tử đạo như một số người đã làm, nhưng trốn tránh sự bách hại cho đến khi thánh ý Chúa được thể hiện như Đức Giêsu Kitô đã làm. Họ coi đó là “một dấu chỉ tình yêu nói lên sự khao khát không muốn chỉ cứu chuộc có một mình, nhưng còn cứu chuộc tất cả anh chị em Kitô Hữu.”
Trong thời kỳ đẫm máu tử đạo Kitô Hữu trong đấu trường, dân chúng trở nên điên cuồng đòi phải tìm bắt Thánh Polycarp, vì ngài nổi tiếng thánh thiện. Ngài thật điềm tĩnh nhưng giáo dân thúc giục ngài đi trốn trong nông trại gần thành phố. Quân lính tìm ra ngài sau khi tra khảo hai đứa bé. Ngài thết đãi họ ăn và xin họ để ngài cầu nguyện trước khi điệu về đấu trường.
Thấy đức tin vững vàng không lay chuyển của Thánh Polycarp, quan thống đốc ra lệnh thiêu sống, và khi quân lính châm lửa, nhiều người chứng kể lại họ được nhìn thấy một phép lạ. Lửa cháy thành một vòng cung chung quanh thánh nhân, bao bọc ngài như các cánh buồm, và thay vì bị đốt cháy, ngài lại rực sáng như vàng đang chảy trong lò lửa. Khi quân lính thấy ngài không hề hấn gì, chúng đã lấy dao đâm ngài. Máu ngài chảy ra đã dập tắt ngọn lửa.
Quan thống đốc ra lệnh đốt xác thánh nhân mà không để giáo dân lấy xác, vì ông sợ họ sẽ thờ Thánh Polycarp mà không thờ tà thần của người Rôma. “Chứng từ” tử đạo của Thánh Polycarp là chứng từ được ghi nhận một cách xác thực về sự tử đạo của người tín hữu Kitô ngay từ thuở ban đầu. Ngài chết vào khoảng năm 156.
Trong nhiều lá thư của Thánh Polycarp, chỉ còn một lá ngài viết cho Giáo Hội Philippi, Macedonia là còn giữ được cho đến ngày nay.
Trong hành trình đào luyện các tông đồ, Đức Giêsu đã từng bước thổi vào nhóm mười hai một hiệu ứng tinh thần Giêsu, khi Ngài nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.”
Quả vậy, trẻ thơ đại diện cho thành phần thấp kém trong xã hội thời đó, bởi chúng không thể giúp được ai thăng tiến trong sự nghiệp hoặc tăng thêm uy tín, chúng là thành phần suốt ngày phải để mắt trông coi kẻo gây phiền phức. Thế nhưng khi làm với hiệu ứng Giêsu, thì hiệu ứng được nhân lên theo cấp số nhân vì “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.”
Trang Tin mừng lại tiếp tục triển khai ý tưởng hiệu ứng Giêsu, khi thánh sử Marcô đã khéo léo đặt câu truyện tông đồ Gioan thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.”
Chúa Giêsu đã không khen Gioan, trái lại, theo logic của hiệu ứng Ngài đã nói: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy.”
Ngài đang cổ võ cho hiệu ứng Giêsu được nhân ra. Nhân danh Đức Giêsu không để trục lợi, nhưng để nhân rộng trái tim và đôi tay Đức Giêsu hiển nhiên đó là điều Đức Giêsu mong muốn.
Trong chuyến tông du Sri Lanka và Philippines của đức thánh cha phanxicô, từ 15-19/01/2015. Đức Hồng Y Antonio Gokim Tagle – TGM Manila dành cho Đức Thánh Cha Phanxicô, bài diễn văn từ biệt đầy cảm hứng khi ngài nói: “Ngày mai ĐTC sẽ ra đi. Mọi người Phi Luật Tân cũng muốn đi theo ĐTC – không phải đến Rome – nhưng là đến những vùng ngoại vi, đến những khu ổ chuột, những nhà tù, bệnh viện, đến tới thế giới chính trị, tài chính, nghệ thuật, khoa học, văn hóa, giáo dục và truyền thông xã hội. Chúng con sẽ đi đến thế giới để mang tới ánh sáng của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu là trung tâm của chuyến thăm mục vụ của ĐTC và là nền tảng của Giáo Hội. Chúng Con sẽ đi tới những nơi mà ánh sáng của Chúa Giê-su đang cần thiết ở đó. Vâng Hiệu ứng Giêsu; Hiệu ứng Phanxicô, đang được nhân ra nơi mỗi người kitô hữu.
Hẳn ta còn nhớ thánh Giacôbê ngỏ lời với những người có lối sống tìm kiếm của cải vật chất hơn là Nước Trời, cách riêng, ngài sẽ nói cho các nhà doanh thương từ thời lưu đày ở Babylon, một số người Do Thái đã trở nên những nhà doanh thương quốc tế chuyên nghiệp: “Bây giờ, hãy nghe tôi, những kẻ nói: Hôm nay hoặc ngày mai, chúng ta sẽ đi đến thành nọ thành kia sẽ ở lại đó một năm và buôn bán kiếm lời”. Thánh Giacôbê không lên án nghề nghiệp của họ, nhưng ngài mang đến cho những Kitô hữu, một soi chiếu đức tin trong nghề nghiệp của họ. Qua sự kiểm điểm đời sống cho các thương gia, thánh nhân mời gọi mọi Kitô hữu phải suy nghĩ về cuộc sống nghề nghiệp của mình. Ngài kết luật: “Vậy kẻ nào biết làm điều tốt mà không chịu làm thì mắc tội”. Điều này có nghĩa là, nếu chúng ta không sống hiệu ứng Giêsu, chúng ta sẽ trả lời trước mặt Chúa.
Chiều hôm ấy trong bầu không khí ấm cúng của gia đình và bạn bè thân thích, viên sĩ quan trẻ tuổi tài ba người Pháp Charle de Foucauld đang thao thao kể lại nhũng điều mắt thấy tai nghe và những chiến công của mình trong cuộc viễn chinh tại Maroc, Bắc Phi: Nào là những trận đưng độ, nào là những cuộc thám hiểm.
Đang lúc Charle say sưa kể như thế, thì một đứa cháu gái nhỏ lân la đến bên. Cô bé đặt tay lên gối của ông cậu hào hoa phong nhã, rất thông minh, hỏi:
– Cậu ơi cậu đã làm được biết bao nhiêu là chuyện như thế cho đất nước, thế nhưng cậu đã làm được việc gì cho Chúa chưa?
Câu hỏi ngây thơ, nhưng thâm thúy của cô gái đã khiến cho viên sĩ quan trẽ tuổi kia giật mình suy nghĩ.
Câu hỏi của đứa cháu gái đã làm cho Charle suy nghĩ cả một buổi chiều và một đêm. Sáng hôm sau, Charle đến gặp một người bạn học cùng lớp là cha Huvelin, chàng xin xưng tội. Với ơn soi sáng, Charle đã quyết định thay đổi cuộc đời. Chàng nhất định bỏ binh nghiệp, dù chàng thấy rõ một tương lai rạng ngời ở trước mặt, để dấn bước theo Chúa Giêsu và noi gương Ngài sống cuộc đời khó nghèo.
Hiệu ứng Giêsu nơi công việc, nơi ngóc ngách của xã hội, đó là mong muốn của Chúa Giêsu.
2022
Phêrô, con người trong sáng
22.2 Thứ Ba Toà Thánh Phêrô, Tông Đồ
Gc 4:1-10; Tv 55:7-8,9-10,10-11,23; Mc 9:30-37
Phêrô, con người trong sáng
Ngày lễ lập tông tòa thánh Phêrô là lời mời gọi toàn thể dân Chúa trên hoàn vũ hãy cầu nguyện thật nhiều, cầu nguyện liên lỉ cho vị Cha chung của Giáo Hội, trước một trọng trách nặng nề mà Chúa và Giáo Hội trao phó cho Ngài. Trước muôn vàn thách đố của một thế giới luôn luôn biến chuyển, Đức Giáo Hoàng luôn phải đối đầu với muôn vàn khó khăn của Hội Thánh, của thế giới. Chính vì vậy, Ngài cần có đầy đủ ơn Chúa và sự soi sáng, khôn ngoan của Chúa Thánh Thầnh để Ngài chu toàn trách nhiệm chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Chúa.
Ngai Tòa Thánh Phêrô trước tiên nhắc nhớ đến sứ vụ Đức Giêsu trao phó cho Simon-Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,32). Mặc cho thử thách mà đức tin các Tông Đồ phải chịu (Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo), đức tin của thánh Phêrô giữ vai trò nền tảng trong Hội thánh tiên khởi. Thánh Phaolô xác nhận Chúa Giêsu đã hiện ra với Céphas (Phêrô), sau đó cho nhóm Mười Hai (1 Cr 15,5); cũng thế, Phúc Âm thánh Luca xác nhận trong câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmaus: “Nhóm Mười Một và các bạn hữu nói với họ: Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon” (Lc 24,34)
Phụng Vụ nhấn mạnh việc “đức tin của thánh Tông Đồ Phêrô”
Hôm nay chúng ta tưởng nhớ việc Ðức Kitô chọn Phêrô là người thay thế Ngài trong việc cai quản Giáo Hội.
Phaolô là nhà luân lý như trong thư Ngài viết, vì Ngài là biệt phái trung thành. Còn Phêrô trong các bài diễn văn như Luca kể lại, Ngài chỉ nói về Đức Giê-su và về Đức Giê-su Phục Sinh.
Phaolô trong những thư Ngài viết, dù bị chi phối về những bài giảng mà Ngài nghe, Ngài vẫn có những trực giác do ân sủng Ngài lãnh nhận.
Nhưng Phêrô còn những hung hăng, mãnh liệt lại bước nhịp nhàng theo chân Đức Ki-tô, Phêrô một con người trong sáng về đức tin. Bài diễn văn của Ngài đầy vẻ an bình. Theo gương Thầy chí thánh, Ngài không pha loãng chân lý bằng những lời nồng nhiệt bốc khói. Nhưng cũng như Thầy, trái tim Ngài cởi mở đón tiếp tất cả. Đức Giê-su rao giảng Chúa Cha cho người Do Thái. Phêrô cũng rao giảng cho người Do Thái về Đức Giê-su Đấng thiên sai cứu thế, Đấng tế lễ và ngôn sứ, Đấng con Thiên Chúa. Và sứ điệp Ngài cũng nói cho chư dân đã được Ngài gặp gỡ và làm cho trở lại đạo trước Phaolô.
Ngài là lời, là mục tử, là đá góc tường, là vị kế nghiệp của Đức Ki-tô .
Còn nhớ đến biến cố trong ngày Ngũ Tuần đã giúp Phêrô cảm nhận được Ðức Kitô phục sinh một cách trọn vẹn. “… Tất cả đều tràn đầy Thánh Thần” (Cv 2:4a) và họ bắt đầu rao giảng bằng các thứ tiếng khác nhau tùy theo Thánh Thần ban cho.
Chỉ khi ấy Phêrô mới chu toàn nhiệm vụ mà Chúa đã trao cho ngài: “… Một khi anh trở lại, hãy củng cố các anh em” (Lc 22:32). Từ lúc đó, ngài trở nên phát ngôn viên cho nhóm Mười Hai về những gì họ được cảm nghiệm qua Thánh Thần — trước nhà cầm quyền muốn chặn đứng sự rao giảng, trước thượng hội đồng Giêrusalem, trước cộng đoàn về vấn đề của Ananias và Sapphira. Ngài là người đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại. Sức mạnh chữa lành của Ðức Kitô ở trong Phêrô được chứng tỏ: cho kẻ chết sống lại, chữa người ăn xin tàn tật. Dân chúng khiêng bệnh nhân ra đường phố để khi Phêrô đi ngang qua, bóng của ngài có thể chữa họ lành.
Ngay cả một vị thánh cũng gặp khó khăn của cuộc đời Kitô Hữu. Khi Phêrô không còn ăn uống với Dân Ngoại tòng giáo vì ngài tế nhị không muốn tổn thương đến người Kitô gốc Do Thái, Phaolô viết: “… Tôi chống đối ông ấy ra mặt vì rõ ràng là ông ấy sai… Các ông ấy không đi đúng với chân lý của phúc âm…” (Gl 2:11b, 14a).
Thánh Phêrô đã được Chúa trao cho chìa khóa Nước Trời, có nghĩa là thánh nhân sẽ được tham dự vào quyền bính của Chúa. Chính vì thế, thánh Phêrô cũng như các vị kế nhiệm sẽ đại diện Chúa ở trần gian với quyền giáo huấn, quyền thánh hóa và quyền quản trị để phục vụ Dân Chúa. Do vậy, khi người tín hữu không vâng nghe Đấng kế vị thánh Phêrô cũng chính là không vâng nghe Đức Giêsu.
Điều này cũng như quyền năng của nối kết hoặc cầm buộc và của tách rời hoặc tháo cởi cũng được trao cho cộng đoàn (Mt 18, 18) và cho các môn đệ khác (Ga 20, 23). Một trong những điểm mà sách Tin Mừng Mátthêu nhấn mạnh nhiều nhất là sự hòa giải và tha thứ hoặc khoan dung. Nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng hơn đối với các điều hợp viên của cộng đoàn. Bắt chước thánh Phêrô, họ phải cầm buộc hoặc tháo cởi, đó là, làm theo cách để có sự hòa giải, chấp nhận lẫn nhau, xây dựng tinh thần huynh đệ.
Chúng ta nhìn vào đức tin của thánh Phêrô, hầu rút ra bài học cho mình. Phêrô vừa biết Chúa Giêsu thì đã tin vào Ngài, trở nên một trong bốn môn đệ đầu tiên. Ông được nghe lời giảng dạy của Chúa và chứng kiến những phép lạ Chúa làm. Tưởng chừng như lòng tin của ông kiên vững lắm.
Mừng Lễ hôm nay, Hội Thánh mời gọi tất cả chúng ta hướng về Đức Giáo Hoàng, đấng kế vị Phêrô. Ngài là vị cha chung của Hội Thánh, có trách nhiệm chăm sóc và hướng dẫn Dân Chúa. Với tấm lòng con thảo, chúng ta hãy yêu mến, vâng lời và siêng năng cầu nguyện cho ngài.
