2022
Niềm vui gặp Chúa Phục Sinh
18.4 Thứ Hai tuần BNPS
Cv 2:14,22-32; Tv 16:1-2,5,7-8,9-10,11; Mt 28:8-15
Niềm vui gặp Chúa Phục Sinh
Các bài Tin mừng trong tuần bát nhật mừng Chúa Giêsu Phục sinh đều ghi lại các cuộc hiện ra của Chúa Giêsu. Bài Tin mừng hôm nay ghi lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ, cách riêng với bà Maria Mađalêna, để củng cố niềm tin và sai các bà đi báo tin cho các Tông đồ. Ngoài ra, Tin mừng còn nói đến việc các nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái mua chuộc các lính canh mồ để phản bác việc Đức Kitô sống lại.
Chúa đã sống lại– đây là một sự kiện vui mừng trọng đại có một không hai trong lịch sử mà cả bốn sách Tin Mừng đều ghi lại với nhiều dẫn chứng khác nhau. Hôm nay, thứ hai trong tuần bát nhật Phục Sinh, Thánh Matthêu đã thuật lại cho chúng ta nghe chuyện xảy ra vào sáng sớm ngày Phục Sinh.
Nhà cầm quyền Do thái giáo đã mua chuộc lính canh mồ, khiến họ chối bỏ sự kiện Chúa đã sống lại mà chính họ đã chứng kiến. Dĩ nhiên – trong hôm nay – tin đồn lệch lạc này vẫn được loan truyền khắp thế giới con người… Sự kiện đưa chúng ta đến hai vấn đề: đó là hối lộ là chuyện muôn thuở và tham nhũng luôn nhằm bóp méo sự thật.
Các phụ nữ đến mồ, thấy mồ trống, gặp thiên thần. Thiên thần cho hay Chúa Giêsu đã sống lại và bảo các bà đi báo tin cho các môn đệ và bảo họ Chúa Giêsu chờ họ tại Galilê. Trong tâm trạng vừa sợ vừa vui mừng, các bà chạy đi báo tin cho các môn đệ.
Tâm trạng sợ hãi: không phải là sợ hãi, mà là nỗi sợ tôn giáo, tâm trạng của người ý thức Thiên Chúa đang có mặt hoạt động. Vậy các bà “sợ” nghĩa là các bà ý thức Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại.
“Đừng sợ”: từ nỗi “sợ hãi” trong lúc Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết, các bà đã chuyển sang “kính sợ” khi nhận thấy quyền năng Thiên Chúa. Lòng “kính sợ” đi kèm với nỗi “vui mừng hớn hở”. Khi ta thực sự tin vào quyền năng Chúa, ta sẽ không còn “sợ hãi” bất cứ điều gì nữa, thậm chí còn có thể “vui mừng hớn hở” trong bất cứ tình huống nào, kể cả cái chết.
Chúa Giêsu đã Phục sinh với các chứng từ rõ ràng không thể chối cãi được. Đối với Chúa Giêsu, phục sinh là chiến thắng hoàn toàn sự chết, thế gian và xác thịt, nghĩa là thân xác phục sinh không thể chết được nữa, thân xác phục sinh không thể bị giới hạn trong không gian hoặc thời gian. Chẳng hạn Chúa Giêsu khi phục sinh vẫn đi vào nhà các môn đệ khi cửa đóng kín, vẫn có thể hiện diện nhiều nơi như vừa đồng hành với môn đệ trên đường Emmau, nhưng khi các môn đệ đó quay lại thì lại được các môn đệ ở nhà kể lại vừa gặp Chúa.
Thánh Matthêu đã nêu ra hai thái độ khác nhau trước biến cố Phục sinh: một của các phụ nữ, một của đội lính canh. Đối diện với ngôi mộ trống, các phụ nữ tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng” (Mt 28, 8). Các bà tin vào lời của Thiên Thần Chúa loan báo và với những gì mình đã tận mắt chứng kiến, các bà xác tín rằng Chúa đã phục sinh.
Niềm vui gặp Chúa Phục Sinh tràn ngập tâm hồn các bà. Cùng được chứng kiến những sự việc như vậy nhưng đội lính canh mồ “khiếp sợ run rẩy chết ngất đi” (Mt 28, 4). Họ không muốn tin và cũng không dám tin vào những gì mình đã thấy. Họ sợ hãi, chính sự sợ hãi này khiến đầu óc họ không còn minh mẫn nữa. Họ ngoan ngoãn làm theo điều dối trá mà các thượng tế và kì mục bày cho, họ phao tin rằng: “Ban đêm lúc chúng tôi đang ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13).
Câu nói của họ thật mâu thuẫn: được cử đi canh mồ mà lại ngủ, ngủ mà lại biết môn đệ đã lấy trộm xác Chúa, mà nếu biết môn đệ lấy trộm xác sao không ngăn lại? Họ làm tất cả chỉ mong được vô sự, nhưng họ không biết rằng chỉ có sự thật mới giải thoát họ khỏi tất cả những nỗi sợ đó.
Chiêm ngắm ngôi mộ trống và suy gẫm về thái độ của các phụ nữ cũng như đội lính canh mồ, tôi tự hỏi, tôi có tin Chúa sống lại thật không? Nếu tin thì tôi đã vui mừng, hạnh phúc “chạy” đi báo cho người khác để họ cũng được vui mừng như tôi chưa? Khi phải đối diện với những khó khăn thử thách tôi có biết hướng về Chúa Phục Sinh để hy vọng và tín thác không? Hay tôi cũng như những người lính canh vì chút lợi lộc và an phận đời này mà sợ hãi, lẩn tránh trong những trò giả trá, bịp bợm?
Kitô hữu là người đối diện với Tin mừng Phục sinh và được trao nhiệm vụ đi loan báo cho người khác tin vui này… Tuy nhiên, như nhóm lính canh, có thể vì sợ hãi trước quyền lực trần thế, hay vì một chút lợi lộc, họ đành tâm phản bội Tin mừng, và do đó cho đến nay vẫn còn những hiểu biết lệch lạc về Đức Kitô và về Giáo hội.
Chúa Giêsu Phục sinh đã gọi các môn đệ là “anh em” của Ngài: sự Phục sinh của Chúa đã cứu chuộc tội lỗi của loài người, ban lại cho loài người quyền làm con Thiên Chúa như Chúa Giêsu. Tạ ơn Thiên Chúa và Chúa Giêsu.
2022
Tình trời thập tự
15.4 Thứ Sáu Tuần Thánh
Is 52:1353; Tv 31:2-6,12-13,15-16,17-25; Dt 4:14-16; Ga 18:1-19,42
Tình trời thập tự
Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi của mỗi người chúng ta.
Hình ảnh thập giá luôn cho ta một trải nghiệm đau đớn, một cảm giác ghê rợn và một cái nhìn về sự thất bại. Nhưng không! Thập giá Đức Kitô thì hoàn toàn khác. Đó là đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa biểu lộ cho con người.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã đưa ta trở lại ơn gọi làm con Chúa. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, tình người và tình Chúa được hòa quyện.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa với con người. Nơi đó, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi, sự tha thứ đã chiến thắng hận thù và phận hèn mọn của con người được nâng lên.
Và cũng chính nơi Thập giá ấy, Máu Thánh của Chúa Giêsu đã tuôn trào để đem lại cho chúng ta một cuộc sống mới và một trang sử mới của nhân loại được bắt đầu.
Từ trên Thập Giá, Chúa Giêsu trao phó Đức Mẹ cho ông Gioan chăm sóc, và xin Đức Mẹ nhận chàng trai Gioan làm con. Nghe những lời trăn trối như vậy thì hẳn ai cũng phải động lòng. Sau đó, Chúa Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Ngài kêu: “Tôi khát!”. Nghe vậy mà người ta lại nhẫn tâm lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất! – Tetelestai!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.
Mầu nhiệm đau khổ thập giá nơi Đức Giêsu, chẳng ai đọc thấy sự ốm đau bệnh tật trong đó, nhưng người ta dễ nhận ra sự bất trung, phản bội, ngay trong hàng ngũ các tông đồ. Trong số đó có cả đám đông dân chúng đã từng chịu ơn Đức Giêsu, họ cũng hò la đòi đóng đinh giết Chúa. Sức nặng thập giá làm con người khiếp sợ, muốn tìm lối thoát thân, dẫn đến việc từ chối con đường theo Chúa, nhưng tội lỗi mới là nguyên nhân khiến con người phải chết đời đời. Chúa Giêsu không thuyết phục các môn đệ hãy mạnh dạn cùng chết với Thầy, Ngài còn lệnh cho Phêrô: “hãy xỏ gươm vào bao, vì chén Cha trao ban lẽ nào Thầy không uống ?” Câu trả lời hay nhất cho Phêrô và cho những tâm hồn tội lỗi, chắc chắn Phêrô và chúng ta đã biết là tự tình yêu và lòng sám hối của ta.
Chúa Giêsu chiến thắng thập giá nhờ sức mạnh của tình yêu hiệp nhất với Chúa Cha, nhờ ý chí quyết tâm cứu nhân loại tội lỗi khỏi chết đời đời. Ngày hôm nay người đời vẫn cho rằng đau khổ thập giá là những đau khổ về vật chất tiền của, về áp lực việc bổn phận, có khi là những áp bức bóc lột giữa người địa vị với dân đen ít học. Đức Giêsu mang vác thập giá để cứu nhân loại tội lỗi, vì vậy mà sức mạnh thập giá vẫn đang cần thiết để biến đổi tâm hồn chúng ta nên thánh thiện, nên giống Chúa. Sức mạnh thập giá không phải là vật chất, quyền lực, mà là tình yêu kết hiệp với Đấng chịu đau khổ, Đấng đã chết đi cho tội lỗi của chúng ta.
Trên cây khổ giá là minh chứng tột cùng Chúa Giêsu yêu nhân loại, dù còn chút hơi sức, Chúa vẫn hứa thiên đàng cho người trộm có lòng ăn năn hối cải, Chúa cũng không kết án anh trộm bên tả, có chăng là chúng ta kết tội anh ta thôi. Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa, chúng ta vẫn gọi là trọng tội, nhưng cơ hội cho tất cả những tội nhân đều như nhau: sám hối, cậy nhờ sức mạnh nơi thập giá, chúng ta sẽ thấy thế nào là tình yêu. Chúa Giêsu ghét tội, nhưng Chúa không kỳ thị, không từ chối lòng sám hối của bất kỳ tội nhân nào, dù còn lăn tăn hay ngờ vực thì “mầu nhiệm thập giá” của Chúa Kitô mới là câu trả lời đúng nhất. Xin Đức Kitô chịu đóng đinh vì tội lỗi chúng con, xin ban ơn khôn ngoan đừng để chúng con bỏ lỡ cơ hội trong ngày thánh này.
Thứ Sáu Tuần Thánh một lần nữa mời gọi chúng ta ngước nhìn Thập giá Đức Kitô – Thập giá tình yêu, để nơi đó chúng ta có một niềm cậy trông, một viễn cảnh hy vọng và một bài học lớn lao về tình yêu.
Hãy chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô, tin tưởng nơi Thập giá, hy vọng vào Thập giá và sống tình yêu Thập giá mỗi giây phút trong đời!
2022
Hãy rửa chân cho nhau
14.4 Thứ Năm Tuần Thánh
Is 61:1-3,6,8-9; Tv 89:21-22,25,27; Kh 1:5-8; Lc 4:16-21; Xh 12:1-8,11-14; Tv 116:12-13,15-16,17-18; 1 Cr 11:23-26; Ga 13:1-15
Hãy rửa chân cho nhau
Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.
Chiều hôm kỷ niệm ngày lễ Vượt Qua và khi mặt trời vừa lặn, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ cử hành bữa tiệc theo đúng truyền thống. Và trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã bộc lộ niềm xúc động vì đây là lần cuối cùng Chúa mừng lễ Vượt Qua chung với các môn đệ. Người biết rằng sau bữa ăn này, Người sẽ phải vâng thánh ý Chúa Cha hoàn thành sứ mệnh đã được giao phó. Và cũng trong bữa ăn này, Chúa đã để lại một lời trăn trối chất chứa tình yêu thương, phát xuất từ trái tim: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.” Sau đó, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ đột ngột, Ngài chỗi dậy khỏi bàn, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, rồi rửa chân cho các môn đệ.
Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa ngồi vào bàn tiếp tục dạy dỗ các môn đệ về yêu thương phục vụ, và nói rõ cho các môn đệ biết mục đích việc Chúa rửa chân cho họ, “Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.” Trong giây phút nữa đây, chúng ta sẽ cử hành việc rửa chân này.
Ta thấy trình thuật kể lại ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người : “Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?” Đức Giê-su trả lời : “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.” Ông Phê-rô lại thưa : “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !” Đức Giê-su đáp : “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” Ông Si-môn Phê-rô liền thưa : “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.” Đức Giê-su bảo ông : “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa ; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !” Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói : “Không phải tất cả anh em đều sạch.”
Chúa Giêsu không chấp nhận phản ứng bộc phát của Phêrô, một phản ứng chứng tỏ ông không hiểu gì. Không được phán đoán lối hành động của Chúa từ bên ngoài, theo quan niệm loài người, Phêrô bị giam hãm trong quan niệm cũ về Đấng Messia nên không thể chấp nhận Đấng Messia tự hạ phục dịch như người nô lệ. Tuy nhiên trong ý tưởng của Chúa Giêsu, hành động này chứa đựng ý nghĩa cao xa mà Phêrô chưa lĩnh hội được: đó là việc phục dịch nô lệ ấy tiên trưng cái chết của Ngài. Chắc chắn Ngài đã loan báo cho họ biết Ngài sẽ phải chết. Và trong trường hợp đó, Ngài đã quở trách Phêrô vì đã phản đối (Mt 16,22; Mc 8,33). Phêrô đã không hiểu gì nên liền sau đó, nghĩa là sau khi rửa chân, Chúa Giêsu đã dạy cho ông một bài học. Đây là ý nghĩa đầu tiên của thành ngữ “nhưng sau này” (13,7). Tuy nhiên, cũng có thể có nghĩa là ngày hôm sau: hôm sau họ sẽ phải hiểu rõ ràng hơn, khi thấy Đấng Messia bị treo trên thập giá và đổ máu ra cho đến giọt cuối cùng.
Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói : “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.
Và ta thấy bài học ‘rửa chân’ thật mấu chốt và quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi (kể cả bởi các chủ tế cử hành) chỉ như một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của cuộc sống thường ngày.
Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã rửa chân được cho bao nhiêu người, nhưng Chúa sẽ hỏi đôi bàn tay chúng ta đã giúp đỡ sẻ chia cho được những ai! Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã hôn được bao nhiêu bàn chân, nhưng Chúa sẽ hỏi môi miệng chúng ta đã làm cho bao nhiêu người được an vui hạnh phúc. Chúa không muốn chúng ta trở thành những người thợ làm thuê (rửa chân – hôn chân thuê), những robot, người máy của thời hiện đại, nhưng muốn chúng ta thực sự trở thành những con trai con gái của một vị Thiên Chúa yêu thương, yêu thương đến cùng bằng nỗ lực thực hành giới luật yêu thương mà Chúa đã dạy.
Cụ thể đó là ta đã cúi xuống để có thể lắng nghe và cảm thông với những đau khổ và nhọc nhằn của anh chị em đồng loại hay chưa? Ta đã cúi xuống để phục vụ cha mẹ già trong gia đình, gia tộc mình, bằng sự yêu thương kính trọng hay chưa? Ta đã cúi xuống để yêu thương và phục vụ chồng của mình, vợ của mình, con cái của mình bằng sự hy sinh trao hiến chưa? Ta đã quan tâm đến hàng xóm láng giềng, là những người sống bên cạnh chúng ta nhiều hơn chưa?
Xin cho chúng ta thấm nhuần bài học phục vụ Chúa đã nêu gương, để trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng biết dẹp khỏi mình sự kiêu căng xét đoán, sự dửng dưng vô cảm, để biết cúi xuống phục vụ anh chị em. Xin cho chúng ta có một đôi mắt thật sáng để có thể nhìn thấy những nhu cầu và những đau khổ của anh em, để có thể có cái nhìn cảm thông. Xin cho chúng ta có một đôi tay giang rộng để có thể ôm ấp mọi người, để xoa dịu những đau khổ của kiếp người. Xin cho chúng ta có một đôi chân dẻo dai để có thể bước đến với anh em, xóa bỏ mọi ngăn cách nghi kỵ, hờn dỗi, để có thể đem tình yêu thương của Chúa đến cho họ.
2022
CHẲNG LẼ CON SAO!
13.4 Thứ Tư Tuần Thánh
Is 50:4-9; Tv 69:8-10,21-22,31,33-34; Mt 26:14-25
CHẲNG LẼ CON SAO!
Càng gần Tam Nhật Thánh, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn về sự phản bội và những đau khổ mà Đức Giêsu phải chịu. Tin mừng theo Thánh Matthêu, Chương 26, câu 14-25 đã cho chúng ta thấy bộ mặt thật của kẻ nộp Chúa Giêsu, đó chính là Giuđa Ítcariôt– một trong những môn đệ thân cận mà Chúa Giêsu rất mực yêu thương, dạy dỗ suốt ba năm qua.
Nếu chúng ta ở địa vị của Chúa Giêsu, chắc hẳn chúng ta đã nổi giận và tống cổ Giuđa ra khỏi nhà ngay lập tức. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã hành động hoàn toàn khác. Ngài đã cho kẻ phản bội một cơ hội cuối cùng. Ban đầu, Ngài vẫn giữ thể diện cho Giuđa nên Ngài đã không nói thẳng thừng, không vạch mặt nêu tên Giuđa cho mọi người biết, nhưng âm thầm tạo dịp để thức tỉnh lương tâm Giuđa khi nói: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26,21).
Nhưng khi nhận thấy Giuđa vẫn không có động thái tỏ vẻ ăn năn, Ngài đã đưa ra lời cảnh tỉnh mạnh mẽ hơn khi nói: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho người nào nộp Con Người, thà rằng người đó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24). Lời cảnh tỉnh nói lên sự khốn cùng của người phản bội Chúa vì ngoan cố không chịu quay trở về.
Vì thế, trước những lỗi lầm của anh em đối với chúng ta, chúng ta hãy thực sự bình tĩnh, hãy tìm dịp thuận tiện để gặp gỡ và đối thoại cách riêng tư khéo léo, tế nhị nhất có thể, tránh thái độ giận dữ và hành động thiếu ý thức. Về điều này, thánh Vinh Sơn dạy: “Khi đến lúc cảnh cáo, cần tiến hành: lần thứ nhất, với lòng nhân từ và sự dịu hiền, không vội vàng; lần thứ hai, thêm một chút nghiêm khắc và nghiêm trọng, song luôn luôn với sự dịu dàng, dùng lời đề nghị yêu thương và những lời khiển trách đầy hiền từ; thứ ba, với lòng nhiệt thành và sốt mến, tỏ rõ cho họ thấy những gì người ta sẽ phải làm (SV. XI,140)
Thánh vịnh 40 có câu: “Cả người thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con”. Quả thật, trong cuộc sống, đau khổ là điều không ai tránh được. Tuy nhiên, điều đau khổ nhất có lẽ là sự phản bội của chính người thân cận, người mà chúng ta yêu thương, nâng đỡ. Chúng ta phải làm gì khi phải đương đầu với sự phản bội?
Giuđa đã chủ động tìm gặp các thượng tế, bước chân ông dường như hối hả, gấp gáp. Trước khi nộp Chúa Giêsu, ông hỏi các thượng tế: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Sau khi thương lượng với những người lãnh đạo này, Giuđa đã đồng ý giao nộp Thầy mình cho họ với giá ba mươi đồng bạc – đó là số tiền mà vào thời Xuất Hành, người ta phải trả cho chủ của người nô lệ nếu như con bò húc làm thương một người nô lệ (Xh 21, 32).
Dù làm những việc kinh khủng như vậy, Giuđa vẫn “diễn”, vẫn trò chuyện với Thầy và anh em mình như không có chuyện gì xảy ra. Chính mình là người đã bán Thầy thế nhưng Giuđa vẫn thản nhiên hỏi rằng: “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao?” (Mt 26, 25). Từng lời nói, hành động của Giuđa đã khiến trái tim Thầy Giêsu tan nát.
Vậy động cơ nào thúc đẩy Giuđa bán rẻ Thầy mình? Phải chăng vì chút lợi lộc cá nhân hay vì tính tham tiền mà ông đã phản bội Thầy? Thật khó để biết được một cách chính xác những lí do đằng sau việc làm của Giuđa. Tuy nhiên, những hành động của ông đã được ghi lại trong Tin mừng nhắc nhở mỗi người chúng ta suy gẫm về chính mình và về tương quan của mình với Chúa. Đã bao giờ chúng ta phản bội Chúa chưa?
Chính trong cầu nguyện, sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta vượt qua những cơn khủng hoảng này. Cầu nguyện là cách thế khôn ngoan nhất chúng ta cần để đối diện với những sự phản bội, để ta biết được thánh ý Chúa muốn gửi đến cho chúng ta là gì nơi sự phản bội đó. Chúa Giêsu khi đối diện với sự phản bội của Giuđa cũng như của các môn đệ Ngài thì chính Ngài cũng đã đi cầu nguyện để chiến thắng nỗi sợ hãi của thân xác Ngài. Chính Ngài cũng đã mời gọi các môn đệ: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,40). Người cầu nguyện là người có thể làm được mọi thứ: “Hãy cho tôi một con người cầu nguyện, người đó có thể làm được mọi sự” (Thánh Vinh Sơn). Mùa Chay là cơ hội để nhiều người chạy đến cầu nguyện với Chúa. Hy vọng với lời cầu nguyện tha thiết của nhân loại, Chúa sẽ “dừng cơn giận Chúa!” mà cho đại dịch sớm qua đi.
Suy gẫm về Lời Chúa hôm nay và về câu chuyện Giuđa giao nộp Chúa cho các thượng tế, chúng ta nhận ra rằng, đã bao lần chúng ta cũng như Giuđa: phản bội và quên ơn Chúa. Đã bao lần chúng ta phạm tội trọng, liều mình xa Chúa. “Ba mươi đồng bạc” là cái giá rẻ mạt để chúng ta mua lấy vai diễn đời mình với những ý riêng, những sở thích, những khoái lạc không đẹp lòng Chúa. Xin Chúa tha thứ cho chúnh ta. Xin cho con biết kết nối và giữ liên lạc với Chúa trong từng giây phút của cuộc sống. Và chớ gì suốt cuộc đời này Chúa luôn là đối tượng duy nhất mà chúng ta tìm kiếm.
Ngày mai, chúng ta sẽ bước vào ba ngày cao điểm của năm phụng vụ hay còn gọi là Tam Nhật Thánh để tưởng niệm cuộc Khổ nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô. Xin cho chúng ta biết dọn tâm hồn thật xứng đáng để khi tham dự vào những nghi thức thánh này, Chúa sẽ chúc lành và ban những ơn ích cho phần rỗi của chúng ta và mọi người, cùng với niềm hy vọng và tin tưởng Chúa sẽ sớm dập tắt đại dịch kinh hoàng này. Đồng thời, xin Chúa giúp chúng ta nhận ra rằng, xưa Giuđa đã phản bội Chúa một lần đã đưa Chúa đến cái chết khổ hình trên thập giá, còn ngày nay mỗi lần chúng ta phạm tội lại chính là lúc chúng con đóng đinh Chúa một lần nữa.
