2022
Nên trinh trong như Mẹ
25.6 Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ
Ac 2:2,10-14,18-19; Tv 74:1-2,3-5,5-7,20-21; Mt 8:5-17
Nên trinh trong như Mẹ
Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ được dựa trên nền tảng Phúc Âm. Trong Tân Ước, sách Tin Mừng theo Thánh Luca có hai lần nhắc đến Trái Tim Mẹ Maria trong đoạn 2 câu19: “Maria ghi nhớ những điều này và suy niệm trong lòng” và “Còn Mẹ Ngài thì ghi nhớ những điều này trong lòng.” (Lc 2, 51). Trong Cựu Ước, trái tim dược xem như biểu tượng thẳm sâu trong tâm lòng con người, là trung tâm của mọi chọn lựa và cam kết. Đối với nhân loại, đó là biểu tượng của tình yêu. Trong sách Đệ Nhị Luật ta đã nghe rằng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết tâm lòng, hết sức lực và trí khôn ngươi.” (6,5). Khi các biệt phái chất vấn Đức Kitô về giới răn nào trọng nhất, Ngài đã nhắc lại đoạn Kinh Thánh này để trả lời cho họ (Mác-cô 12, 29-33).
Cũng chính Trái Tim Mẹ đã đáp trả bằng tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa. Đó là lời đáp cho sứ thần Truyền Tin. Do sự ưng thuận vì tình yêu, Mẹ Maria trước hết đã cưu mang Đức Giêsu trong trái tim mình và rồi cũng cưu mang trong cung lòng của Mẹ. Đức Kitô, chính Ngài: khi được người phụ nữ trong đám đông ca tụng phúc cho cung lòng người nữ đã sinh thành ra Chúa, thì Ngài đã trả lời: “Ai nghe và giữ Lời Thiên Chúa thì có phúc hơn.” (Lc 11,28). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong thông điệp đầu tiên, Đấng Cứu Chuộc Con Người, đã viết, “Mầu nhiệm của Cứu Độ đã được hình thành trong trái tim của Đức Trinh Nữ Thành Nazaret khi Mẹ thưa lời Xin Vâng.’ (RH #22).
Theo lịch sử, việc tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ được tìm thấy đầu tiên vào thế kỷ 12 với nhiều sử gia như Thánh Anselm (1109) và Thánh Bernard thành Clairvaux (1153) là thánh viết rất tài tình về việc tôn sùng thánh thiện này. Thánh Bernadine thành Siena (1380-1444) đã được gọi là Tiến Sĩ về lòng sùng kính Trái Tim Mẹ vì những trước tác về Trái Tim Mẹ. Ngài viết, “từ trái tim Mẹ, như lò lửa của Tình Yêu Rất Thánh, Đức Trinh Nữ Maria đã nói lên ngôn ngữ tuyệt vời nhất của một tình yêu mãnh liệt.” Thánh John Eudes (1601-1680) qua các bài viết của Ngài đã giúp khơi lại lòng sùng kính này. Đức Thánh Cha Lêô XIII và Piô X gọi ngài là “cha, thầy dạy và là tông đồ phụng vụ lòng sùng mến Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria.” Trước hai thập niên trước khi những phụng vụ vinh danh Trái Tim Rất Thánh Chúa Giêsu, Thánh John Eudes và những người theo ngài đã dành ngày 8 tháng 2 trong khoảng năm 1643 để kính nhớ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Về sau, Đức Piô VII cho mở rộng ngày mừng kính để các giáo xứ hoặc hội đoàn nào muốn tôn sùng thì cũng được phép.
Mẹ Maria đã được Thiên Chúa tuyển chọn để làm Mẹ của Chúa Giêsu vì thế trái tim của Mẹ đã hoàn toàn hiến tế, thuộc trọn về Chúa, Mẹ đã để cho Thiên Chúa hoàn toàn sử dụng Mẹ cho tình yêu của Người và để cứu rỗi nhân loại. Thánh Công Đồng Vaticanô II viết:” Đức Nữ Trinh Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem sự sống đến cho thế gian, lúc Thiên Thần Gabrien truyền tin cho Mẹ”( LG 53 ). Trong tông thư Đấng Cứu Độ con người, số 22, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhận định: “Chúng ta có thể nói mầu nhiệm cứu độ đã thành hình nhờ Trái Tim Đức Trinh Nữ thành Na-gia-rét khi Maria thưa lời xin vâng. Từ giây phút đó, Trái Tim Trinh Khiết Từ Mẫu ấy luôn luôn theo sát công cuộc của Con Mẹ và vươn đến với tất cả những ai được Chúa Kitô ôm ấp và tiếp tục ôm ấp trong tình yêu vô cùng của Người”.
Như Chúa Giêsu trên thập giá, Mẹ Maria đã hiến tế con tim tình yêu vẹn toàn của mình cho Thiên Chúa, trái tim của Mẹ đã rộng mở để đón nhận mọi người. Người lính đâm cạnh sườn của Chúa Giêsu khi Người bị treo trên thập giá, tức thì nước và máu chảy ra, từ nơi đó phát sinh các bí tích. Trái tim hiền mẫu của Mẹ Maria cũng luôn mở rộng để cùng với Chúa Giêsu qui tụ mọi người, để ơn cứu độ của Chúa đến với mọi người. Mẹ Maria với trái tim vẹn toàn, trinh trong đã cống hiến cho công tình cứu rỗi của Chúa và góp phần xây dựng Hội Thánh trần thế.
Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng của thánh Gioan: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ) đã minh chứng tình yêu của Chúa là tình yêu vĩnh cửu, vô vị lợi, xả kỷ. Mẹ Maria với trái tim vẹn toàn là dấu chỉ tuyệt vời và cao đẹp nhất dẫn nhân loại và từng người đến tình yêu của Thiên Chúa Cha. Trái tim của Mẹ Maria là trái tim tình yêu vì Mẹ đã sống trọn tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, Con của Mẹ.
Chính trái tim yêu mến Thiên Chúa cách trọn vẹn và mãnh liệt đã làm nên một Maria vâng phục thánh ý Thiên Chúa suốt cả đời. Cũng thế, nếu trái tim chúng ta luôn thao thức qui hướng về Thiên Chúa, rung nhịp với Tin Mừng tình yêu vĩnh cửu của Ngài thì mỗi người chúng ta cũng có thể vượt qua tất cả mọi trở ngại để vâng phục Thiên Chúa cách hoàn toàn và suốt cả đời như Đức Mẹ. Các Vịnh gia từng thốt lên: “Tim thét gào thì miệng phải rống lên” (Tv 38,9) (xem bài diễn giải rất hay của thánh Augustinô về câu Thánh vịnh này ở Bài đọc 2 Kinh Sách, thứ 6 tuần 3 mùa vọng).
Nếu chúng ta không thanh luyện trái tim mình nên giống trái tim Đức Mẹ, tức để cho tim mình rung nhịp theo những xúc cảm tầm thường, nhất thời, thì trái tim chúng ta không chóng thì chày cũng dễ bị lạc nhịp theo những xu hướng của thế tục, của sự ích kỷ vụ lợi cá nhân.
Ước mong Lời Chúa hôm nay soi dẫn, mỗi người chúng ta thanh luyện chính mình để trái tim chúng ta trở nên máng cỏ yêu thương nơi Hài Nhi Giêsu ngự trị và để chúng ta có thể mang Chúa đến cho tha nhân.
2022
Yêu như Chúa yêu
24.6 Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu
2 V 25:1-12; Tv 137:1-2,3,4-5,6; Mt 8:1-4
Yêu như Chúa yêu
Thiên Chúa là một người cha, nhưng lại có tấm lòng của một người mẹ; vì hết mọi quả tim của người mẹ đều bắt nguồn từ Chúa. Và lòng Ngài còn mênh mông hơn lòng một người mẹ. Trong sách tiên tri Isaia (49, 15): “mẹ nào lại quên con đẻ mình, cạn lòng thương đối với con dạ nó mang? Cho dù chúng quên được nữa, thì phần Ta, Ta sẽ không hề quên ngươi!” Thiên Chúa yêu thương chúng ta như thếá đó. Hơn nữa, Chúa còn mến thương ta với tâm tình người bạn, người anh, người chị, vì mọi tình cảm tốt đẹp của con tim đều kín múc từ Thánh Tâm Chúa.
Đức Kitô đã mang lấy thương tích vì cứu độ chúng ta. Ngài đã bị mất tất cả vì phần rỗi chúng ta. Nhưng liệu có mấy ai mạnh dạn tuyên xưng tình yêu của ngài giữa thế giới, giữa bạn bè hàng xóm láng giềng? Có mấy ai đã nhận ra rằng: Ngài đã mang lấy tất cả những đau đớn đó vì chúng ta? Có mấy ai đã đền đáp tình yêu của Ngài bằng đời sống sám hối canh tân đời sống của mình cho xứng với tình yêu của Chúa? Hay chúng ta cũng vô ơn tệ bạc như cô gái kia. Cô mặc cảm xấu hổ vì người mẹ dị hình ghê sợ. Cô đã quên rằng. Cô được như vậy là nhờ tình thương bao boc chở che của mẹ. Cô được như vậy là nhờ sự hy sinh tận tụy của người mẹ đến hao mòn vì con.
Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu là lễ kính toàn bộ kế hoạch cứu độ yêu thương của Chúa. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu diễn tả sâu xa nhất lời yêu thương của Ngài. Chết mới diễn tả tất cả, chết mới thốt nên lời. Lời của Chúa Giêsu trên thập tự: “Ta khát” là lời tình yêu.
Tình thương biểu lộ nơi lòng Đức Kitô Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ví Ngài như người Mục Tử Nhân Lành, đã bỏ 99 con chiên ở lại để đi tìm một con chiên lạc. Và khi đã tìm thấy thì quên hết những nỗi vất vả cực nhọc do con chiên lạc gây ra cho mình, không trách mắng cũng không đánh đập, không cho là con chiên lạc lầm lỗi, trái lại đã vui vẻ vác chiên lên vai đưa về tận nhà. Về tới nhà, người ấy còn mời mọi người cùng chia sẻ niềm vui với ông nữa.
Hình ảnh người Mục tử Nhân Lành đã diễn tả tình yêu thương sống động và cụ thể của Chúa Giêsu. Tình yêu thương ấy có khi khó hiểu và khó chấp nhận đối với chúng ta cũng như với nhóm Biệt Phái ngày xưa. Bởi vì chúng ta thường ích kỷ, hẹp hòi, bủn xỉn… chính những người Biệt Phái xưa cũng đã từng phiền trách khi thấy Chúa Giêsu đón tiếp và cũng ăn uống với những người tội lỗi vì yêu thương họ? Quả thật, Ngài đã khẳng định một cách không thể hiểu khác hơn được : “Chỉ có bệnh nhân mới cần thầy thuốc” mà ở đây Chúa là thầy Thuốc, là Lương Y Từ Mẫu…mà các bệnh nhân đang mong đợi. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã xác định mục tiêu Ngài theo đuổi trong cuộc sống : “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Ngài không đến để xét xử luận phạt, nhưng là để cứu độ, để “cho họ được sống và sống dồi dào.
Trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, thái độ của người anh cả cũng hẹp hòi, bủn xỉn trước tình thương của người cha nhân lành. Anh ta không chấp nhận cho cha yêu thương đứa em đã có một quá khứ xấu xa, tội lỗi… không chấp nhận cho nó làm lại cuộc đời. Thái độ đó không phù hợp với Tin Mừng, với Trái Tim Chúa Giêsu, người Mục Tử Nhân Lành. Từ chỗ không hiểu tình thương của Chúa đối với người khác, chúng ta cũng có thể không hiểu tình thương của Chúa đối với chính mình. Đó quả là một điều tai hại ! không hiểu thì không biết cám ơn và không biết đáp trả tình yêu của Chúa.
Mỗi khi tôn kính Trái tim Chúa Giêsu, là dịp để chúng ta tạ tội với Chúa, vì những lần chúng ta thờ ơ với tình yêu của Chúa, và còn tệ hơn nữa là những lần chúng ta quay lưng lại với tình yêu tận hiến của Chúa. Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi noi gương yêu thương của Ngài để sống với tha nhân. Sống bằng tinh yêu vô vị lợi để có thể không chỉ yêu thương những kẻ thân thiết mà còn cả những người xa lạ. Một tình yêu có thể tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình. Một tình yêu có thể cứu chuộc anh em cho đến hơi thở cuối cùng mà thánh Gioan đã nói: “Ngài đã yêu thương họ đến cùng”.
Mừng Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su hôm nay, chúng ta vừa cùng nhau suy niệm một vài nét về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Đây quả là một tình yêu tuyệt vời, chúng ta không thể lấy gì để đền đáp cho cân xứng. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ, chắc chắn Thiên Chúa cũng không cần chúng ta đền đáp, vì Ngài là Đấng toàn thiện, toàn mỹ. Nơi Ngài không còn thiếu điều gì.
Do đó, đáp lại tình yêu của Đức Giê-su, tâm tình đầu tiên mỗi người chúng ta cần có là đến và ở lại trong tình yêu của Ngài. Và đó chính là điều làm cho Ngài vui mừng nhất. Ngài vui mừng vì một con chiên lạc giờ đây đã trở về và ở lại trong sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta cũng có thể nhận ra điều này khi nhìn ngắm nét mặt rạng rỡ, hân hoan của người mẹ khi ôm ấp những đứa con trong vòng tay của mình. Trong vòng tay của mẹ, có thể đứa trẻ chẳng làm gì cho người mẹ, có khi em còn quấy rầy bà nữa, nhưng tự thâm tâm, người mẹ vẫn cảm thấy vui. Bà vui vì con bà đang ở với bà, đang tin tưởng và cậy trông nơi bà.
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể yêu thương tới con người không giới hạn, khônh từ nan. Còn loài người chúng ta dầu có thề thốt gì với nhau đi chăng nữa cũng rất mong manh, chứa đầy bất trắc. Hoặc do lòng người thay đổi, hoặc hoàn cảnh bên ngoài cản ngăn. Tình yêu của loài người dầu mãnh liệt khiến sông sâu cũng lội núi cao cũng trèo vẫn là tương đối, có giới hạn, nhiều kẽ hở, lắm rủi ro, có lúc yếu đuối. Biết bao tình yêu tưởng chừng thách thức thời gian, nhưng lại bị thời gian làm sói mòn, phai nhạt, rồi đi tới tan vỡ.
Quả thật Thiên Chúa đã yêu thương ta như vậy. Dầu chúng ta như thếá nào, chúng ta vẫn có một chỗ an nghỉ trong trái tim của Thiên Chúa, chúng vẫn được Thiên Chúa yêu thương tối đa. Và cái tối đa của Thiên Chúa thì thật vô cùng vô tận.
Cuối cùng, để đáp lại Tình Yêu của Thánh Tâm Chúa Giê-su dành cho chúng ta, mỗi người chúng ta cũng phải biết sống yêu thương nhau. Chúng ta hãy mở rộng lòng mình, để cho tình yêu của Đức Giê-su tuôn chảy qua chúng ta đến với anh chị em của mình. Nhờ đó, tất cả chúng ta sẽ hiệp nhất nên một đoàn chiên, có cùng một chủ chiên là Đức Giê-su.
2022
MÔN ĐỆ CHÂN CHÍNH
23.6 Thứ Năm trong tuần thứ Mười Hai Mùa Quanh Năm
2 V 24:8-17; Tv 79:1-2,3-5,8,9; Mt 7:21-29
MÔN ĐỆ CHÂN CHÍNH
Khi Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng Người đã kêu gọi con người cộng tác với Người để mở rộng Nước Chúa, Đức Giêsu đã cho ta thấy hai điểm tiêu cực để đề phòng đó là: Đừng sống giả hình và đừng khoe khoang (Mt 7,21-29).
“Không phải những ai thưa Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời cả đâu”. (Mt 7,21). Một lời nói rất khẳng định của Chúa Giêsu cho những người muốn đi theo Chúa làm môn đệ nói chung và cách riêng mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy sống đạo thực với cái tâm của mình. Chúa Giêsu muốn điều ta tuyên xưng ngoài miệng phải được phát xuất từ chính nội tâm sâu thẳm của ta. Chắc có lẽ mỗi người chúng ta cũng đã thường xuyên kêu lên “Lạy Chúa, lạy Chúa tôi” nhưng có phải là thực từ tâm không? hay chỉ là một thói quen tôi đã đọc đi đọc lại mà thôi, đang khi Chúa muốn chúng ta hãy nhìn nhận ra và nghe thấu những tiếng kêu van của những người anh chị em đang gặp cảnh màn trời chiếu đất, những người tàn tật, những người đau khổ, những người hành khất ven đường đang kêu van xin sự giúp đỡ của ta, mà ta làm ngơ không để ý và không nhìn nhận họ là hiện thân của Giêsu. “vì khi Ta đói các ngươi đã cho Ta ăn… Ta khát cho uống …
Và mỗi khi anh em làm như vậy là đã làm cho chính Chúa đó” (Mt 25, 31-46) Chúa Giêsu là hiện thân của Chúa Cha. Người chính là Đường là Sự Thật, nên con người dù có mặc lốt áo giáp gì để bảo vệ mình, và bảo vệ danh Kitô hữu của mình mà không sống đúng theo giới luật yêu thương của Chúa đã dạy thì cũng kể bằng không không vậy. “yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 5, 3). Giới luật của Chúa được tóm gọn qua hai giới răn: Mến Chúa và Yêu người (Mt 22, 43-40). Đây là giới răn quan trọng nhất. Ai chu toàn trọn vẹn được những giới luật này thì Thiên Chúa sẽ chúc phúc và được Chúa Giê su ví như là người khôn ngoan xây nhà trên đá (Mt 7,24).
Vậy đây là giới luật mà ai trong chúng ta cũng đã thuộc lòng, vì đã được nghe từ xa xưa, nhưng thử hỏi đã mấy ai sống và thực hành Lời Chúa dạy này theo đúng ý Chúa? Chính vì thế mà Chúa Giê su khi tuyển chọn những môn đệ, hay nói đúng hơn người khuyên dạy mỗi người Ki tô hữu hãy luôn sống chân chính, từ suy nghĩ, lời nói đến hành động đều nằm gọn trong những giới luật Chúa truyền ban, để mỗi khi chúng ta thân thưa lên cùng Chúa “Lạy Chúa, lạy Chúa” chúng ta không phải thẹn thùng xấu hổ với lương tâm vì lời kêu van này trở thành một lời cầu nguyện phát xuất từ chính thâm tâm của ta, khi ta sống trọn tình vẹn nghĩa vối tha nhân sẵn sàng chia sẻ, và nâng đỡ những ai cần ta giúp đỡ.
Đừng khoe khoang công đức của ta. Qua câu Lời Chúa của thánh Mt 7,22-23, Chúa Giêsu đã nặng lời quở trách những ai sống giả hình hay nói đúng hơn, sống phô trương công đức của mình (Tôi làm được điều này, việc nọ, tôi đóng góp công của vào nhà Chúa nhiều, tôi tham gia nhiều hội đoàn, đọc nhiều kinh trong ngày v.v.). những việc đó nếu chúng ta không làm vì vinh danh Chúa, không làm vì lòng mến Chúa, không làm vì mục đích thánh thiện, thì kể như không có giá trị gì! Vì chúng ta chỉ làm với dáng vẻ bề ngoài, khoe khoang công quả như những người rao hàng quảng cáo với những nhãn hiệu mẫu mã, đẹp, nhưng thực chất chỉ là đồ giả. Chúa Giêsu cảnh cáo và Người rất ghét những người sống giả dối được ví như mồ mả tô vôi đẹp bên ngoài nhưng bên trong toàn là những thứ ô uế (Mt 23, 27-28).
Chúa Giêsu là Sự Thật, Người muốn cho những người theo làm môn đệ Người phải nhận ra Chúa là một thầy dạy gương mẫu, để chúng ta bước theo Lời Người, vì Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi. Hơn nữa Chúa Giêsu khi Người rao giảng, Người rao giảng những gì Người đã sống và sống thực hành Lời Người giảng. Chung cuộc của ngày thẩm phán, Thiên Chúa sẽ nhìn tận căn cuộc đời của mỗi người, lúc đó cuộc đời ta như là một cuốn sách mở ra và phơi bày trước mặt Thiên Chúa về những thành công, những thất bại và những gì chúng ta đã thực hiện khi còn sống ở trần gian. Thiên Chúa không đòi hỏi ta đã làm những công việc gì hay tham gia những hội đoàn nào? Mà Người chỉ hỏi ta đã sống Đức Ái trọn vẹn chưa? Có làm chứng nhân cho Chúa không? có sống tình huynh đệ với anh em không hay là ta chỉ như thanh la inh ỏi hoặc như chũm chọe vang rền mà thôi. Mà không có một chút nội tâm của lòng mến nào.
Tin Mừng phải được thể hiện trước tiên qua cuộc sống của người rao giảng Tin Mừng, đó là đòi hỏi cơ bản nhất mà Chúa Giêsu không ngừng nhắc nhở cho các môn đệ. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nêu bật những đòi hỏi ấy qua dụ ngôn hai ngôi nhà: ngôi nhà xây trên đá thì vững chắc, dù mưa sa bão táp cũng không thể làm lay chuyển, đó là hình ảnh người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, họ không chỉ lắng nghe lời Ngài, mà còn đem áp dụng vào cuộc sống. Ngôi nhà xây trên cát, đó là hình ảnh của những người nghe lời Chúa, nhưng không đem ra thực hành.
Tin Mừng vốn không chỉ được lắng nghe cho vui tai, mà là để được thực thi; chân lý không chỉ được hiểu biết suông, mà để được thực thi; bác ái không chỉ trên môi miệng, nhưng phải được thực thi bằng những việc làm cụ thể. Tựu trung đây cũng là sự nối dài và đòi hỏi của mầu nhiệm Nhập Thể trong đời sống đức tin. Thiên Chúa Nhập Thể làm người không chỉ là một chân lý trừu tượng, Ngài đã trở thành con người bằng xương bằng thịt; Ngài không phải là khách bàng quan đứng ngắm nhìn lịch sử nhân loại, Ngài đã nhập cuộc làm một với nhân loại, Ngài không rao giảng Thập giá như một lý thuyết suông. Ngài đã thực sự vác lấy Thập giá và đón nhận mọi khổ đau của con người. Do đó, tuyên xưng Thiên Chúa Nhập Thể làm người không phải chỉ là tuyên xưng một chân lý, mà thiết yếu là đi vào con đường Nhập Thể của Ngài.
Không thể có Kitô giáo và niềm tin Kitô mà không có dấn thân; không thể là môn đệ Chúa Kitô mà không đi lại con đường của Ngài; không thể rao giảng Tin Mừng bằng những lời nói suông; không thể sống niềm tin Kitô mà không mỗi ngày cố gắng nên hoàn thiện như Cha trên trời. Chúng ta vốn thán phục những người làm nhiều, hơn là những kẻ nói nhiều. Nói mà không làm là kẻ dối trá, nói một đàng nhưng làm một nẻo là kẻ lừa gạt. Tất cả rồi cũng qua đi, chân lý chỉ thực sự chiếu tỏ bằng cuộc sống trung thực mà thôi.
Chúa mời gọi người môn đệ chân chính hãy tuân giữ và thực hành Lời Chúa một cách thiết thực, vì ai thi hành Lời Chúa dạy thì được Chúa ví như là người khôn ngoan xây nhà trên đá, xây dựng đời mình trên nề tảng đức tin vững chắc, dù cuộc sống có gặp phong ba bão táp thì người thực hiện Lời Chúa sẽ không sờn lòng nản chí, vẫn một lòng tin tưởng phó thác vào Chúa, và người thực hiện Lời Chúa sẽ được Chúa tuyển chọn vào đại gia đình của Chúa, được Chúa gọi là Cha là mẹ là anh chị em của Chúa (Mt 13, 46-50).
2022
TỐT XẤU
22.6 Thứ Tư trong tuần thứ Mười Hai Mùa Quanh Năm
2 V 22:8-13; Tv 119:33,34,35,36,37,40; Mt 7:15-20
TỐT XẤU
Tin Mừng hôm nay là một phần của bài giảng về đạo lý mà Thánh sử Mat-thêu đã thâu tóm, tổng hợp lại và đặt ngay sau bài giảng Trên Núi như là những hành vi đạo đức mà một người môn đệ của Chúa Giêsu phải có. “Cây nào trái ấy” là chủ đề của đoạn Tin Mừng này và cũng là lời Chúa Giêsu răn dạy các môn đệ phải cẩn trọng và chú ý.
Câu 15 mở đầu với lời cảnh báo “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả…”. Chúa Giêsu báo động là có các ngôn sứ giả. Chúng ta biết trong Cựu ước, các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai đến để nói Lời Chúa với dân, chẳng hạn như ngôn sứ Isaia, Jeremia…Còn đây là những người mà Chúa Giêsu nói rõ: “Họ đội lốt chiên… bên trong là sói dữ tham mồi” (c.15b). Bề ngoài trông có vẻ họ hiền lành, ngoan ngoãn, đạo đức, thánh thiện, nhưng đó chỉ là cái vỏ mà Chúa Giêsu có lần tố cáo “là những mả tô vôi”; còn lòng dạ họ như những con sói chực vồ, nuốt lấy con mồi.
Đó là những kẻ nhân danh điều tốt, sự lành mà giảng dạy điều xấu, sự ác. Những ngôn sứ giả ấy ở ngay trong lòng Giáo Hội. Trước những con người như thế, người môn đệ cần biết phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Người môn đệ ấy không để lòng mình xuôi theo những ngụy biện giả dối. Bằng cách nào? Chúa Giêsu nói tiếp: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai”. Vậy tiêu chuẩn để phân định là xem hành động của họ, nhìn vào cuộc sống của họ có phục vụ cho Đức Ki-tô không? Đời sống của họ có chọn con đường Thập Giá của Đức Ki-tô hay theo ý riêng, sở thích của họ.
Chúa Giêsu khẳng định rõ hơn: “Ở bụi gai, không có nho mà hái? Trên cây găng không có vả mà bẻ?” (c.16). Và Ngài kết luận: “Cây tốt sinh trái tốt và ngược lại cây xấu sinh trái xấu” (c.17). Đây là định luật tất nhiên. Bởi thế nhà nông luôn vun xới, chăm bón cho cây mình xanh tươi để đạt kết quả tốt nhất. Còn những cây mọc nơi hoang địa thiếu nước, vắng người chăm bón… thì làm sao có hoa thơm trái ngọt được. Và Chúa Giêsu nói thêm: “Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh trái tốt” (c.18).
Đối với cây cối tự nhiên là thế. Xấu, tốt của hạt giống, cây trồng không thể thay đổi được. Nhưng đối với con người tính xấu, tốt không do bản tính vì ông cha ta có câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Ngay từ ban đầu Thiên Chúa dựng nên mọi sự đều tốt lành, nhưng vì lạm dụng tự do, con người đã sa ngã và phạm tội chống lại ý Thiên Chúa. Vì thế, tốt xấu là tùy thuộc vào trách nhiệm của mỗi người và có thể đổi thay.
Câu 19 như một lời quyết định trong ngày chung thẩm, cũng là ngày mà mỗi người trình diện trước ngai tòa Thiên Chúa để trả lời về những hành vi của mình: “Cây nào không sinh quả tốt, sẽ bị chặt đi và quẳng vào lửa” (c.19). Lời này tiên báo về cuộc sống mai hậu và cũng là lời cảnh tỉnh mỗi người chúng ta ý thức và có trách nhiệm về sự tự do của mình. Như một cây không sinh trái tốt sẽ bị bứng rễ và quẳng vào lửa, chúng ta sẽ phải trả lời về những “nén bạc” Chúa trao mà ta đã không làm sinh lợi và còn đem chôn vùi dưới đất.
Ở đây, Thánh sử Mat-thêu không có ý nhấn mạnh về ngày phán xét chung cuộc, nhưng chỉ là một lời cảnh tỉnh những người môn đệ biết phân biệt và nhận ra những con sói trong bầy chiên: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai?” (c.20). Ý tưởng này được lập lại lần thứ 2 như một lời tóm kết về ý chính của đoạn Tin Mừng. Để ngay sau đó, Thánh sử trình bày về tính cách của người môn đệ chân chính như một cách đối lập làm nổi bật vấn đề.
Ngày nay trong Giáo Hội chúng ta không thiếu những “con sói đội lốt chiên”. Những con sói ấy len lỏi trong hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Trước tiên, chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo Hội và cho chính mỗi người chúng ta, biết nhận ra tính “sói tham mồi” trong con người mình, để khiêm tốn đi theo lối đường của Đức Ki-tô, theo sự hướng dẫn của Giáo Hội, để bớt đi những ngôn sứ giả, để danh Thiên Chúa được rạng rỡ vinh quang.
Một cuộc sống thánh thiện lúc nào cũng có âm hưởng trên người khác, một chứng tá đức tin luôn có sức đánh động người khác. Ðó có thể là ý tưởng nổi bật trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói đến trái tốt từ cây tốt. Qua kiểu nói này, hẳn Chúa Giêsu muốn nói đến những thể hiện đích thực của lòng tin: một đức tin chân thật luôn đi đôi với việc làm cụ thể. Chính Ngài đã nói: “Không phải những ai đã nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi”. Thánh Giacôbê đã lấy lại giáo huấn này khi ngài viết: “Ðức tin không có việc làm là đức tin chết tận gốc rễ”.
Chúa Giêsu tỏ lòng cảm thông và tha thứ cho những yếu hèn và vấp ngã của con người, nhưng Ngài không hề dung chấp cho thái độ giả hình của những người Biệt phái. Ngài gọi họ là những tiên tri giả, những người đội lốt chiên mà bên trong là lòng dạ của sói dữ. Họ trưng bày một bộ mặt đạo đức, nhưng cuộc sống của họ gồm toàn những hành động xấu xa.
Trong thực tế, nhiều người trong chúng ta lại có quá nhiều “hoa, lá, cành”, mà “quả” thì không có, hay có nhưng lại bị “sâu”. Tức là hăng say làm việc chỉ vì ham danh, huênh hoang, tự phụ, ích kỷ nên không thể sinh ra “quả” tốt được. Những người đó họ làm mọi việc vì thực dụng cá nhân, không vì yêu mến Chúa và tha nhân, nên họ chẳng khác gì chiếc phèng la kêu inh ỏi, nhưng bên trong thì rỗng tuếch.
Thánh Phaolô cũng khuyên dạy tín hữu thành Corintô như sau: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng, giả như tôi được ơn tiên tri như tôi có đem hết tài sản mà bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng có ơn ích gì cho tôi” (x. 1 Cr 13,1-3). Vì thế: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi”.
Muốn làm được điều đó, chúng ta phải trở nên những tiên tri thật của lòng mến, chứ đừng trở nên tiên tri giả của tham sân si. Hãy trở nên con chiên hiền lành của Chúa chứ đừng trở nên sói dữ. Không được mang danh và hình ảnh của chiên, nhưng thực ra chỉ là mặt chiên, mà là dạ sói!
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đề cao cảnh giác trước thói giả hình. Bao lâu giữa niềm tin và cuộc sống còn có khoảng cách, thì bấy lâu chúng ta vẫn còn là những kẻ giả hình; trên cây đức tin của chúng ta chỉ có những quả xấu; cuộc sống chỉ còn là những phản từ, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc: chúng ta làm ố danh sự đạo. Thánh Phaolô đã nhắn nhủ tín hữu Côrintô: Những người rước Mình Thánh Chúa mà vẫn tiếp tục sống trong chia rẽ và kỳ thị, là những người sống trong mâu thuẫn không thể chấp nhận được, và họ rước Mình Thánh Chúa một cách bất xứng.
Bí tích Thánh Thể không thể tách rời khỏi giới răn yêu thương: người ta không thể rước Mình Thánh Chúa mà đồng thời lại sống xa lạ với anh em đang bị đói khát, đau yếu, tù đày. Từ việc rước lễ phải nẩy sinh trong chúng ta sức mạnh của niềm tin yêu khiến chúng ta cởi mở với tha nhân, có lòng từ bi đối với những người sống trong túng thiếu và quẫn bách.
