2023
Dâng mình cho Chúa
2.2 Thứ Năm Đức Mẹ Dâng Chúa Vào Đền Thánh
Dt 12:18-19,21-24; Tv 48:2-3,3-4,9,10-11; Mc 6:7-13
Dâng mình cho Chúa
Bốn mươi ngày trước đây, chúng ta đã mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Theo luật Môsê, Sau khi sinh con trai đầu lòng được 40 ngày, người mẹ phải đến Đền Thờ Giêrusalem để làm lễ thanh tẩy cho mình và hiến dâng con trẻ cho Thiên Chúa, rồi chuộc lại bằng lễ vật một con chiên hay một cặp bồ câu: vì mọi con trai đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa. Ý nghĩa này nhắc cho dân Do Thái cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã tha không giết các con trai đầu lòng của họ, đang khi các con trai đầu lòng của dân Ai Cập đều bị giết chết, trong đêm Thiên Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập đưa về Đất Hứa (Xh 13,l-3a.11-16).
Đức Maria và thánh Giuse cũng tuân giữ diều luật này. Hai ông bà đem Hài nhi Giêsu lên đền Thờ hiến dâng cho Thiên Chúa và gặp ở đây hai vị tiên tri già lão: Simêon và Anna. Hai vị được Thánh Thần linh ứng dã nhận ra Chúa Cứu Thế. ông Simêon đã mãn nguyện vì được tận mắt chiêm ngưỡng Đấng muôn dân trông đợi. Ông đã lớn tiếng chúc tụng Thiên Chúa và nói tiên tri về Hài nhi Giêsu: Hài nhi này sẽ là ánh sáng của muôn dân nhưng lại là đối tượng cho người ta chống đối.
Sự kiện dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ cho thấy Người là con đầu lòng thuộc về Thiên Chúa. Ông Simêon và bà Anna tượng trưng cho tất cả sự trông đợi của It-ra-en, họ đã tới gặp Cứu Chúa của mình. Chúa Giêsu được nhìn nhặn là Đấng Mêsia người ta trông đợi từ lâu, là ánh sáng của muôn dân và là vinh quang của Ít-ra-en, nhưng Người cũng là dấu hiệu của sự chống đối. Thanh gươm của đau khổ được báo cho Mẹ Maria đã loan báo một sự hiến dâng toàn hảo và độc nhất của thập giá. Sự hiến dâng sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã chuẩn bị trước mặt tất cả mọi dân tộc
Lễ hôm nay còn được gọi là Lễ Nến, vì có cuộc rước nến vào Nhà thờ như cuộc đón rước Chúa Giêsu là ánh sáng của muôn dân. Thánh Xốp-rô-ni-ô, Giám Mục Giêrusalem dã nói: “Đây là ý nghĩa của mầu nhiệm: chúng ta tiến bước, đèn sáng trong tay, chúng ta hăm hở đi tới, mang theo đèn sáng để nói lên rằng ánh sáng đã chiếu soi chúng ta và ánh sáng đó sẽ làm cho chúng ta nên rạng ngời. Nào mau lên, tất cả chúng ta cùng nhau ra đón Chúa. Người là ánh sáng thật đã đến, ánh sáng chiếu soi mọi người sinh ra trên thế gian. Vậy, thưa anh em, mọi người chúng ta hãy đón nhận ánh sáng và hãy toả sáng” (x. Kinh Sách, các bài đọc ngày 2/2)..
Công đồng Vaticanô II đã lấy lại lời tiên tri của ông Simêon để mời gọi mọi người Ki tô hữu ý thức sứ mạng và ơn gọi của mình là phải làm cho mọi người được nhận biết Chúa Ki tô, phải đem ánh sáng Tin Mừng của Ngài chiếu soi hướng dẫn mọi người trên thế giới. Chính Chúa Giêsu đã tuyên bố. “Thầy là ánh sáng trần gian. Ai đi theo Thầy sẽ không bước đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống” (x.Ga 12, 34-50). Bao lâu con người chưa nhận biết Chúa Ki tô và ánh sáng Tin Mừng của Ngài, thì bấy lâu con người còn dò dẫm trong tăm tối và dễ bị lầm lạc.
Tuy nhiên, Chúa Ki tô đã trở nên đối tượng chống đối của con người. Có những người biết Chúa để sống theo Ngài. Có những người khác lại chống đối Ngài. Chúng ta lấy làm đau xót với thánh Giuse và Mẹ Maria khi nghe tiên tri Simêon tiên báo điều đó ngay trong ngày vui của Chúa Giêsu: “Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính Bà (Đức Ma ria) thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra”. Lời tiên tri đó đã ứng nghiệm ngay từ lúc Chúa Giêsu mới sinh ra cho đến khi bắt dấu cuộc đời rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Cuộc chống dối đó ngày càng lan rộng và quyết liệt cho đến khi giết được Ngài treo lên Thập giá. Nhưng Ngài dã Phục Sinh và đã trở thành ánh sáng của muôn dán, nguồn sống cho nhân loại.
Khi chúng ta mừng lễ kính Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu vào đền thánh, phúc âm thánh Luca giới thiệu cho chúng ta hình ảnh những con nguời tôi trung của Thiên Chúa: Giuse, Maria, Simeon và Anna. Là bậc cha mẹ gương mẫu, là đôi vợ chồng đạo đức, đầy lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa. Khi vừa đủ ngày, Giuse và Maria đem con lên đền thờ để hiến dâng cho Thiên Chúa. Hành động Hiến Dâng của các ngài biểu lộ một đức tin sâu đậm, và lòng xác tín yêu mến lề luật của Chúa. Các ngài dâng Con không phải chỉ bằng môi miệng hay lời kinh suông, nhưng còn kèm với của lễ tuy đơn sơ nhưng gói gọn cả tấm lòng đối với Thiên Chúa trong khả năng của các ngài. Hơn nữa, cho dù được tiên báo là con mình sẽ như một Luỡi Gươm Đâm Thấu Tâm Hồn, các Ngài vẫn can đảm lãnh nhận và chu toàn trách nhiệm dậy dỗ con. Con trẻ lớn lên thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. Được như thế là do bởi cha mẹ Ngài là những nguời công chính và đạo hạnh.
Hầu hết những nguời làm cha mẹ đều có tình thương yêu đối với con cái. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách tỏ tình thưong yêu và phương cách dậy dỗ giáo dục con cái cho đúng. Việt Nam chúng ta có câu, “Cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh.” Câu này chỉ trúng một phần nhỏ. Để chu toàn trọng trách làm cha mẹ, bậc cha mẹ còn có bổn phận tìm hiểu và học hỏi đào sâu về đức tin, về tâm lý và luân lý để huấn luyện dậy dỗ con mình lớn lên trong đường lối của Thiên Chúa.
Ngày nay chúng ta không thể hiểu tại sao Đức Mẹ phải dâng lễ tạ tội và phải được thanh tẩy sau khi sinh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Tại sao việc sinh nở lại bị coi là ô uế? Dù sao Mẹ Đấng Cứu Thế đã vâng theo Luật dạy. Hơn nữa, cùng với thánh Giuse, Mẹ đã dâng Con cho Chúa trong đền thờ. Điều này Luật không buộc, nhưng Mẹ đã làm vì lòng sốt sắng. Thật ra để chuộc lại con trai đầu lòng, chỉ cần trả cho tư tế gần 60 gam bạc (Ds 18, 15-16). Mẹ sung sướng đem Con lên đền thờ dâng cho Thiên Chúa vì hơn ai hết Mẹ biết rằng Hài Nhi Giêsu này là quà tặng Chúa ban cho mình.
Dâng Con là nhìn nhận Con mình mãi mãi thuộc trọn về Chúa, ở với Chúa và làm việc cho Chúa suốt đời, dù mình đã chuộc Con về bằng một số bạc được ấn định theo Luật dạy. Bài Tin Mừng hôm nay có 4 lần nói đến “Luật” (cc.23.24.27.39). Về việc giữ Luật, Đức Maria đã không đòi một ngoại lệ hay đặc ân nào. Hãy nhìn ngắm Thánh Gia lên đền thờ. Một đôi vợ chồng nghèo bồng một đứa con còn rất nhỏ. Ai có thể nhận ra đứa bé này là Đấng Kitô, là ơn cứu độ cho muôn dân? Đó là cụ Simêon, một người đạo hạnh, luôn mong chờ điều Chúa hứa. Hơn nữa cụ là người có Thánh Thần hằng ngự trên (c.25), người được Thánh Thần linh báo (c. 26), và thúc đẩy lên đền thờ (c. 27). Chính Thánh Thần làm cụ nhận ra điều mắt thường không thấy, Và cụ sung sướng, mãn nguyện bồng Hài Nhi trên tay. Cụ bà ngôn sứ Anna cũng nhận ra Đấng Cứu chuộc đến với mình. Cụ là người đạo đức, ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa. Cụ bà Anna đã công khai giới thiệu Hài Nhi cho những người chung quanh.
Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng từ trời cao, được đưa vào đền thờ như lời mời gọi mọi người cùng đến gặp gỡ nhau trong tình khoan dung tha thứ cho nhau và mang đến cho nhau niềm hy vọng.
Lễ dâng Chúa vào đền thờ ngày mùng hai tháng hai hằng năm như lời mời gọi mỗi người đón nhận Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng cho tâm hồn mình. Anh sáng Chúa Giêsu chiếu soi vào đền thờ tâm hồn con người và mang đến niềm vui cùng sự an ủi trong những giờ phút đen tối của cuộc đời
2023
Thành Kiến Làm Cản Trở Ðức Tin
1.2 Thứ Tư Thứ Tư trong tuần thứ Tư Mùa Quanh Năm
Dt 12:4-7,11-15; Tv 103:1-2,13-14,17-18; Mc 6:1-6
Thành Kiến Làm Cản Trở Ðức Tin
Đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Kitô bị những người đồng hương từ chối.
Sự từ chối này có những lý do riêng của nó. Đó là họ chỉ nhận thấy Đức Kitô là con bác thợ mộc Giuse, bà con lối xóm với họ. Hoặc có thể họ không muốn nhìn nhận Ngài như một tiên tri, luôn đòi hỏi mọi người phải sám hối theo ý Thiên Chúa.
Hẳn rằng ngày hôm nay những người tín hữu chúng ta không còn bị nhầm lẫn về Đức Kitô một Thiên Chúa làm người. Nhưng chúng ta vẫn có thể dửng dưng và từ chối sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống hôm nay.
Nếu những thân nhân của Đức Kitô ngày xưa đã vấp phải những yếu tố nhân loại của Ngài, để không nhận ra Ngài, thì đó cũng là những chướng ngại làm chúng ta không nhận ra Ngài ngày hôm nay, một Đức Kitô trong tha nhân.
Không ít người trong chúng ta đã từ chối những giá trị, những việc làm của anh em đồng loại, bởi vì họ là những con người không cùng một niềm tin, hoặc họ bị coi chỉ là những con người tầm thường, có chút lầm lỗi trong dĩ vãng.
Cách nhìn và đánh giá như thế sẽ là một cách sống xa lạ với Tin Mừng, sẽ là một cách sống xa lạ với với điều chính Đức Kitô đã rao giảng vì Ngài đã chỉ đám đông và trả lời: Những ai thi hành ý muốn Thiên Chúa, thì họ chính là anh em, chị em và là mẹ tôi vậy. Những người dám hy sinh cho đồng loại, những người dám sống vì kẻ nghèo, đang là hình ảnh của Thiên Chúa mà mỗi người chúng ta không thể không nhìn nhận.
Cũng có thể ngày hôm nay, mỗi người trong chúng ta đang từ chối Đức Kitô khi xa lánh những đòi hỏi của Tin Mừng, được coi là những phiền nhiễu của Thiên Chúa. Một Tin Mừng kêu gọi phải yêu thương đồng loại như chính mình, phải hy sinh mạng sống cho người mình yêu. Một Tin Mừng kêu gọi phải bán hết của cải, làm phúc bố thí rồi mới bước theo Ngài. Tóm lại, Đó là một Tin Mừng kêu gọi sống trong một con người mới.
Từ chối những đòi hỏi cốt yếu của Tin Mừng chỉ để sống với những hình thức những nghi lễ bên ngoài, chắc hẳn là sẽ êm ái hơn. Nhưng đó chỉ là sự êm ái của những kẻ không muốn bị liên luỵ bởi Tin Mừng, của những kẻ không nhìn nhận Đức Kitô. Ai trong chúng ta khẳng định được rằng là mình đã không từ chối Đức Kitô.
Thái độ của dân làng Nadarét cũng có thể là cơn cám dỗ của người Kitô hữu hôm nay. Chúng ta có thể tự hào và tự mãn với những bài giáo lý, những hiểu biết về đạo, để rồi quay lung trước lời mời gọi của Chúa trong những sự kiện, những biến cố đang xảy ra chung quanh chúng ta. Nói cách khác, việc sống đạo của chúng ta hôm nay không thể đóng khung trong một số kiến thức có sẵn về Thiên Chúa, về ơn cứu độ, cũng như trong một số nghi lễ đã được quy định sẵn, trái lại phải được thể hiện qua việc lắng nghe, tìm kiếm ý định của Chúa trong lịch sử, trong chính lòng cuộc đời cá nhân và trong sinh hoạt của cộng đồng xã hội. Vấn đề là chúng ta có thực sự thoát ra được những thành kiến, những quan niệm, những lối nhìn sẵn có để thực sự lắng nghe tiêng nói mới mẻ của Chúa qua các biến cố, qua các sự kiện của thực tế hôm nay.
Trong xã hội ngày nay hoặc ngay trong cộng đoàn giáo xứ, chúng ta thường “gán” cho người khác những gì mà chúng ta đã “nghĩ” về họ, nhất là những lỗi lầm quá khứ, những hành vi bất chính từ bao đời. Chúng ta “ dán nhãn” cho họ và nghĩ rằng “khó thay đổi hoặc khi chứng kiến sự thay đổi của họ, chúng ta lại cho rằng : đó là do một tác nhân nào đó… để trục lợi. Định kiến này xuất phát từ sự ghen tỵ, óc hẹp hòi dựa vào những yếu tố, nhân loại như : nghề nghiệp, gia cảnh… Những yếu tố này bày ra trước mắt chúng ta mỗi khi chúng ta nói đến hoặc đánh giá người đó vì thậm chí chúng ta còn xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của họ.
Chúa Giêsu đã nói gì về định kiến này ? Ngài nói : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc và trong gia đình mình mà thôi Vì ông bà ta có câu “quen quá hóa nhàm, hoặc gần chùa gọi bụt bằng anh”. Những người thân thuộc lại trở thành những kẻ thù nghịch, gièm pha, hạ giá, xúc phạm nhau.
Dù Chúa Giêsu đã cảnh báo dân làng về điều đó, nhưng họ vẫn không từ bỏ được thành kiến ấy. Thành kiến lúc này đã trở thành hàng rào chắn, trở thành bức tường ngăn cản và bóp nghẹt niềm tin của họ (c.6).
Dù biết những thành kiến của họ, nhưng Chúa Giêsu vẫn ngạc nhiên vì họ không tin. Sự cứng lòng, chai đá khiến họ thích ở lì trong cái cũ, trong tội lỗi hơn là vươn ra đón lấy ánh sáng cứu độ. Và ơn cứu độ không thể đến với họ, nếu họ không mở lòng đón nhận : “Chúa Giêsu không thể làm được phép lạ nào tại đó, chỉ đặt tay chữa lành một vài bệnh nhân” (c.5). Ở đây, chúng ta có thể xem như cuộc loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu bị thất bại, thất bại ngay tại quê hương của Ngài.
2023
Chỉ cần tin thôi !
31.1 Thứ Ba Thánh Gioan Bosco, Lm
Dt 12:1-4; Tv 22:26-27,28,30,31-32; Mc 5:21-43
Chỉ cần tin thôi !
Thánh Gioan Boscô là một vị thánh nổi tiếng trong Giáo Hội vì những đóng góp to lớn của Ngài cũng như của Hội dòng do Ngài thiết lập trên khắp thế giới. Tên đầy đủ của Ngài là Giovanni Melchiorre Bosco. Ngài chào đời ngày 16 tháng 8 năm 1815 tại làng Becchi, thuộc tỉnh Piémont miền Bắc nước Ý, trong một gia đình nông dân nghèo. Cha Ngài là Phanxicô Bosco. Khi ông qua đời, Boscô mới lên hai tuổi. Như vậy Boscô đã phải mồ côi cha từ lúc hai tuổi. Mẹ Ngài là bà Magarita, một người đàn bà rất đạo đức, yêu lao động và rất ham thích việc cầu nguyện. Tuy phải làm lụng vất vả mới kiếm đủ tiền để nuôi con, nhưng không bao giờ bà sao lãng việc giáo dục con cái. Chính bà đã truyền thụ cho Bosco nhiều đức tính cao quý cũng như một trí tuệ thông minh sắc sảo, và một lòng đạo đức có chiều sâu. Chính nhờ đó mà sau này Don Boscô sớm có được một đời sống tốt lành thánh thiện trong công việc tông đồ.
Boscô đã không được may mắn hưởng những ngày thơ ấu êm đềm như các trẻ nhỏ cùng trạc tuổi. Bosco rất ham học hỏi, nhưng vì không có đủ tiền đi học nên cậu phải đến nhờ cha sở dạy cho. Nhưng rủi thay chỉ ít lâu sau cha sở lại qua đời.
Từ đó, để có tiền đi học, Boscô đã phải làm nhiều việc khác nhau như: chăn bò, làm công việc đồng áng, bồi bàn cà phê, may quần áo, may giầy.v.v.. Mãi đến năm 11 tuổi, Don Boscô mới chính thức được bước chân đến trường. Và năm 16 tuổi Boscô đã vào được bậc trung học.
Từ nhỏ, Don Boscô đã có ý nguyện muốn dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì. Chính vì vậy, mà vào năm 1835, Ngài đã xin vào Đại chủng viện Torino. Ý nguyện của Ngài được chấp nhận và sáu năm sau Ngài được thụ phong linh mục. Và vào ngày 5 tháng 6 năm 1841 lúc đó ngài đã được 26 tuổi. Sau khi chịu chức, Ngài khởi đầu mục vụ tông đồ bằng cách đi thăm các trại giáo hóa dành cho các thanh thiếu niên phạm pháp tại Giáo phận Torino.
Cuối năm 1841, Ngài nhận nuôi dưỡng Bartôlômêô Garelli, một trẻ em vô gia cư. Dần dà, Ngài nhận nuôi thêm nhiều trẻ em vô gia cư hoặc mồ côi khác. Ban đầu, Ngài quy tụ các em để tổ chức vui chơi, tham dự Thánh Lễ và học giáo lý. Sau khi có nơi ăn chốn ở cố định ở Valdocco, Thành Torinô, Ngài đã cho xây nhà nội trú, mở các lớp dạy học và mở các xưởng dạy nghề cho các em. Số lượng trẻ em ngày càng đông, khiến công việc của Ngài ngày càng vất vả, nên có một lúc Ngài đã từng bị sưng phổi nặng nhưng rất may là cơn bệnh cũng đã qua.
Năm 1859, Gioan Bosco cùng với các đồng chí của mình chính thức thành lập Hội dòng của Thánh Phanxicô Đệ Salê (tiếng Latin: Societas Sancti Francisci Salesii), với hàm ý noi gương Đức ái Tông đồ, sự Hiền lành và lòng kiên nhẫn của thánh nhân. Ngày 25 tháng 3 năm 1855, Micae Rua trở thành tu sĩ đầu tiên với lời tuyên khấn dòng trọng thể. Năm 1860, Giuse Rossi trở thành sư huynh đầu tiên được đón nhận vào Dòng. Sau đó, ngày 14 tháng 6 năm 1862, 22 tu sĩ Salêdiêng khác đã thực hiện lời tuyên khấn.
Gioan Bosco cũng đã thành lập Dòng Con Đức Mẹ phù hộ (còn được gọi là Dòng Nữ Salêdiêng Don Bosco) vào ngày 5 tháng 8 năm 1872. Năm 1876, Ngài thành lập Hiệp hội Cộng tác viên Salêdiêng. Ba Nhóm này và nhiều Nhóm khác được thành lập sau này liên kết với nhau thành một Gia đình, một tổ chức xã hội Công giáo thống nhất. Vào năm 1872, Ngài tiếp tục lập thêm hai hội dòng khác: Hội Đức Mẹ hằng Cứu giúp để bảo trợ ơn gọi linh mục; Hội Dòng nữ Salésienne nhằm giáo dục các em cô nhi. Các tổ chức này đã có tầm ảnh hưởng khắp nơi ngay khi Ngài còn tại thế.
Với những nỗ lực không mệt mỏi của mình, Gioan Bosco kiệt sức, lâm bệnh và qua đời ngày 31 tháng 1 năm 1888 tại Torino, hưởng thọ 73 tuổi. Để tưởng thưởng cho những công lao to lớn quí báu của Ngài với giáo hội và xã hội, Giáo Hội đã phong Ngài lên bậc chân phước ngày 2/6/1929 và ngày 1/4/1934 Đức Giáo hoàng Piô XI đã phong ngài lên bậc hiển thánh với biệt hiệu: Cha và Thầy của thanh thiếu niên.
Ngài qua đi nhưng hình ảnh của người cha hiền còn sống mãi trong lòng nhân thế. Lòng nhiệt thành và từ tâm của Ngài đối với bầy trẻ côi cút phải là bài học sáng ngời soi dẫn tâm hồn con người trong muôn thế hệ.
Tin mừng hôm nay nói đến hai người nữ được Chúa Giê-su chữa lành và cứu sống: một là người phụ nữ bị băng huyết 12 năm, một là cô bé đã chết 12 tuổi. Người phụ nữ xuất huyết 12 năm được ơn chữa lành do lòng tin mãnh liệt của bà; cô bé đã chết 12 tuổi được Chúa cứu sống do sự vững tin của người cha. Có một mối liên kết giữa những người nữ được nói tới ở đây với Israel – con số 12 chẳng phải là biểu tượng cho 12 chi tộc Israel đó sao.
Mở đầu đoạn tin mừng là việc người cha đến xin Chúa Giêsu cứu chữa cho cô con gái 12 tuổi sắp chết của ông; đoạn giữa là sự kiện người bà bị xuất huyết đã 12 năm tìm cách đến gần sờ đụng vào Chúa Giêsu để được cứu chữa: Đối với người Do-thái, máu huyết là chất thiêng, biểu hiện cho sự sống – người đàn bà bị xuất huyết lâu dài tức là sự sống đang rời bỏ bà và bà lâm vào tình trạng rất nguy kịch (vì các thầy lang đã bó tay mà bà thì cũng đã tán gia bại sản bởi căn bệnh) – tuy nhiên nhờ lòng tin mãnh liệt vào Chúa Giê-su mà bà đã được chữa lành; đoạn cuối là việc Chúa Giê-su cứu sống cô bé 12 tuổi nhờ lòng tin của người cha. Mặt khác, để quyền năng Chúa được thể hiện và phép lạ xảy ra, chúng ta thấy tất cả những nhân vật chính trong trình thuật đều vượt qua những rào cản của luật lệ: Người đàn bà loạn huyết theo luật Do-thái không được đến gần tiếp xúc với ai vì có thể làm cho đối tượng mình tiếp xúc ra nhơ uế (Lv 15, 19 – 27), vậy mà bà lại dám cả gan chen chúc vào giữa đám đông theo Chúa Giêsu để động chạm vào áo của Người – bà đã vi phạm luật. Còn ông Gia-ia khi chứng kiến và biết Chúa Giêsu đã bị nhơ uế do người phụ nữ kia mà vẫn để cho Người đến nhà mình để cứu chữa cho con gái thì ông cũng là kẻ vi phạm luật lệ và nhà ông bị nhơ uế. Về phía Chúa Giêsu, Ngài dường như không quan tâm đến việc mình bị mắc uế hay không mắc uế, Ngài chỉ quan tâm đến con người và những nỗi thống khổ của họ. Cho nên, bất chấp những luật lệ khô cứng, phép lạ sống động đã xảy ra.
Như vậy, đoạn Tin mừng cho thấy Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống và mời gọi con người tin vào Ngài để có được sự sống đích thực và khỏi chết muôn đời. Qua đó, trình thuật cũng diễn tả cho thấy Israel đang trong tình trạng nguy khốn; sự sống niềm tin của họ đã bị xơ cứng và đang chết dần mòn bởi những vỏ bọc luật lệ vô hồn, lắm khi trở thành bất nhân. Họ cần tin vào Chúa Giêsu để được giải thoát khỏi ách nặng nề của lề luật và có được cách thế sống niềm tin tràn đầy niềm vui và tình yêu như Thiên Chúa mong muốn.
Giáo hội mời gọi con cái mình, những Ki-tô hữu xét lại niềm tin cũng như cách thế sống đức tin của mình một cách tích cực và cấp thiết hơn trong một thế giới mà các giá trị sự sống thánh thiêng dần bị đánh mất và các giá trị luân lý đang bị suy đồi, đồng thời chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa duy lợi nhuận vật chất đang được đề cao và tôn vinh lên thành ‘thượng đế’. Vì vậy, nếu khi phải lựa chọn, bạn đặt quan trọng một dịch vụ làm ăn hơn là Thánh lễ, một đám tiệc hơn là Thánh Thể, một cuộc vui chơi hơn là những việc tông đồ bác ái, công ích…là bạn đang sống theo chủ nghĩa duy vật chất – bạn đang đánh mất niềm tin của mình.
Khi đời sống bạn lâm vào tình trạng khổ đau thử thách (nghèo đói, tật bệnh, gia đình có nguy cơ tan vỡ…) hoặc có những vấn đề nan giải, bạn suy sụp tuyệt vọng, chạy tìm sự khôn ngoan thế tục hơn là các giá trị giá trị tin mừng, cậy dựa vào các thế lực tăm tối của sa tan (tiền bạc, bói toán, đồng bóng…) hơn là cậy trông vào Chúa thì đó là dấu hiệu niềm tin của bạn đã chết. Thiên Chúa là Đấng có thể cứu bạn, bạn hãy tha thiết chạy đến với Người để xin ơn đức tin, xin Người cứu chữa khỏi tình trạng khốn khổ của mình.
“Đừng sợ, chỉ cần tin thôi!” (c.36) lời của Chúa Giêsu nói với ông Giai-rô cũng là thông điệp Người nhắn gửi mỗi người chúng ta. Sống trong một thế giới đa tạp, niềm tin đang dãy chết, các giá trị giả – thật, thật – giả nhiễu nhương khó phân biệt, chúng ta cần cầu nguyện rất nhiều, cần cắm neo cuộc đời mình trong lòng bàn tay Chúa, trong tình thương xót của Chúa. Đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho những ai khao khát kêu xin Người. Do đó, bạn đừng ngần ngại xin ơn đức tin và hãy kiên trì, kiên vững trong lòng tin. Bởi vì trong cuộc sống chúng ta chỉ cần tin Chúa, can đảm bước đi theo lời chỉ bảo, hướng dẫn của Người, chúng ta sẽ không bao giờ sợ lầm đường lạc lối, và Chúa sẽ thực hiện những điều lạ lùng, diệu kỳ trên cuộc đời của chúng ta.
2023
Uy quyền trên quỷ dữ
30.1 Thứ Hai
Thứ Hai trong tuần thứ Tư Mùa Quanh Năm
Dt 11:32-40; Tv 31:20,21,22,23,24; Mc 5:1-20
Uy quyền trên quỷ dữ
Chúa Giê-su và các môn đệ sang tới bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất của dân Ghê-ra-sa. Người vừa ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người. Anh này thường sống trong đám mồ mả và không ai có thể trói anh ta lai được, dầu phải dùng đến cả xiềng xích. (Mc. 5, 1 -3)
Trình thuật về phép lạ Chúa chữa người bị quỷ ám và đàn heo biến mất đặt ra những vấn đề khó xử và có nhiều điều khác thường tưởng chừng như mê tín dị đoan.
Hình như đây là những sự kiện biệt lập được ghép lại với nhau. Chúa Giêsu lúc đó đang ở vùng Ghêrasa nằm phía đông Biển Hồ Ghen-nê-xa-rét là vùng đất dân ngoại, nơi nuôi heo là thú vật ô uế đối với người Do thái. Khi Chúa chữa cho một người bị quỷ ám ở đây thì có một sự cố xảy ra trong một trại nuôi heo lớn. Có lẽ là hai sự kiện này xảy ra vào cùng kỳ, nên được tác giả lợi dụng ghép lại với nhau để sự kiện này giải thích cho sự kiện kia và rút ra một bài học luân lý. Đó cũng là một lối kết cấu câu chuyện có tính cách bình dân vậy.
Sau khi dẹp yên bão tố ở biển hồ Tiberia, Chúa Giêsu cùng các môn đệ trực chỉ sang miền Gêsara, là một thành phố dân ngoại thuộc miền thập tỉnh Gêsara nằm về hướng tây nâm biển hồ có núi đồi mấp mô chạy dài tới biển Địa trung hải.
Chúa vừa bước chân lên đất liền, thì gặp ngay một người bị quỉ ám thân mình trần trụi (Lc 8, 27), sống chui rúc ở các mồ mả, tiến ra (c. 2). Hắn khỏe vô địch, xiềng xích sắt gông cùm hắn bẻ gẫy như củi khô (c. 3-4). Hắn lấy đá rạch nát mình mẩy và thu trếu nghe dễ sợ mà không ai trị nổi. Cũng vì vậy mà ít ai dám qua lại vùng này.
Thế mà hôm nay Chúa Giêsu đến đó. Ngay từ đàng xa đã thấy Chúa, người bị ám xông tới như gặp một con mồi. Nhưng đến nơi hắn lại quì sụp xuống van xin “Xin đừng làm khổ tôi” (c. 27) “và Chúa truyền cho thần ô uế ra khỏi người ấy” (Lc 8, 29). Ở lại trong một người vẫn còn sướng hơn về hỏa ngục. Nói khác đi, con được một thân chủ là hỏa ngục còn rộng hơn được một chút. Ma quỉ biết rằng Chúa đến tiêu diệt uy lực của chúng, uy quyền mà chúng có từ khi Adong, Evà pahm tội. Nay Chúa đến, chúng dần dần mất chủ quyền mà trở về nơi khóc lóc khổ sở…
Khi Chúa phán hỏi: “Tên ngươi là gì ?” (c. 9) thì người đó nói “Tên tôi là cơ binh” (c. 9). Cơ binh là một đạo quân La mã thời ấy có khoảng 6826 người lính. Điều này muốn nói lên rằng thần dữ ở trong người xấu số rất là đông đảo, và cũng nói lên rằng ngoài satan, còn vô số quỉ thần khác nữa. Cho nên, khi nhập vào nạn nhân là chúng làm chủ trí khôn tình cảm, lý chí, nạn nhân sẽ không làm chủ mình được nữa.
Tin Mừng cho thấy kẻ bị ám có sức mạnh phi thường dù gông cùm xích sắt cũng vô ích, đá sỏi rạch nát mình mà không đau đớn. Một người thường không thể làm như thế. Khi được lệnh xuất ra chúng còn xin được nhập vào bầy heo đang ăn ở sườn núi (c.11), rồi chạy xồng xộc xuống biển chết ngộp lối hai ngàn con (c.13). Đấy còn là sức mạnh của ma quỉ. Chúng ta còn thấy được sức mạnh đó không. Ma quỉ thường thổi phồng trong tội trọng của điều răn thứ V, VI, VII, VIII…
Chúa Giêsu đem ơn cứu độ đến cho mọi người, đây là ý tưởng mà thánh Marcô không ngừng nêu bật trong các trình thuật của Ngài. Không như các kinh sư đương thời ngồi chờ đợi người ta đến với mình, Chúa Giêsu đã ra đi gặp gỡ con người, nhất là những người khốn khổ và bị khinh miệt nhất. Ngài không đóng khung trong gia đình, nơi thị trấn hay dân tộc của Ngài, nhưng vượt qua mọi ranh giới và cấm kỵ để đến với mọi người.
Dường như tất cả những người mà Ngài tìm đến đều có thái độ dè dặt: chỉ có ma quỷ mới biết rõ Ngài là ai, nhưng chúng không thể hoán cải được nữa; các luật sĩ và biệt phái ngày càng tỏ ra chai lì; bà con thân thuộc của Ngài thì chỉ nhìn về Ngài bằng những tính toán vụ lợi; dân chúng thì không nhận ra ý nghĩa đích thực của sứ mệnh cứu thế của Ngài; còn dân ngoại thì xin Ngài rời xa họ để họ khỏi mang họa vào thân. Chính khi Chúa Giêsu chiến thắng ma quỷ, thì đó cũng là lúc Ngài bị tẩy chay, và trong tình thế như thế, cái chết trên thập giá đối với Chúa Giêsu là chuyện đương nhiên.
Trong đời sống thiêng liêng, đôi lúc chúng ta cũng phải chiến đấu giữa cái thiện và cái ác thường giằng xé trong nội tâm chúng ta. Muốn thắng được cái ác, chúng ta phải thiết tha cầu xin ơn Chúa giúp và năng sống đời cầu nguyện kết hợp với Chúa. Nếu chúng ta luôn giữ mối thân tình sâu xa với Chúa thì không quyền lực nào có thể làm chúng ta gục ngã. Trái lại, những ai sống khô khan nguội lạnh sẽ không có đủ sức mạnh để thắng vượt cám dỗ, sẽ bị dục tình đeo bám như sư tử gầm thét rình mồi cắn xé tâm hồn chúng ta.
Đứng trước cái thiện và cái ác, chúng ta phải dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng đã trao trọn tình yêu để thu phục cái ác đưa nhân loại về hiệp nhất sâu xa trong Thiên Chúa là nguồn sự thiện và sự sống. Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nên chỉ nơi Thiên Chúa con người mới tìm được ý nghĩa cuộc sống mình. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã từng xác quyết: “Con người mang trong mình một khát vọng sự vô tận, một nỗi nhớ nhung sự vĩnh cửu, một kiếm tìm vẻ đẹp, một ước mong tình yêu, một nhu cầu ánh sáng và sự thật đẩy nó tới với Đấng Tuyệt Đối: con người mang trong mình ước mong Thiên Chúa. Và trong một cách thức nào đó, con người biết nó có thể hướng tới Thiên Chúa và cầu khấn Ngài”.
Xin Chúa nâng đỡ yếu đuối để từng ngày qua đi, chúng ta vươn lên sự thánh thiện và viên mãn trong tình thương của Thiên Chúa.
