2023
ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
17.2 Thứ Sáu Thứ Sáu trong tuần thứ Sáu Mùa Quanh Năm
St 11:1-9; Tv 33:10-11,12-13,14-15; Mc 8:34; Mc 9:1
ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
Bất cứ ai muốn thành công về một lãnh vực nào đều phải trải qua một giai đoạn gọi là “thử thách”để tiến tới mục tiêu của mình. Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi mỗi người lên đường, bước theo Đức Ki-tô, vì Ngài là hạnh phúc đích thực dẫn đưa chúng ta tới Nước Thiên Chúa. Vậy, làm thế nào để có thể thành công trong việc đi theo Ngài? Tin mừng thánh Mac-cô thuật lại: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”(c.34).
Sau khi nghe Phêrô nói lên sự thật: “Thầy là Ðức Kitô”, thì Chúa Giêsu xác định rõ hơn thế nào là Kitô theo quan điểm của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không ngần ngại minh định tư cách Kitô của mình, đó là một Ðấng Kitô theo hình ảnh của Người Tôi Tớ Yavê như được nhắc đến trong sách Tiên tri Isaia. Ngài sẽ không là Ðấng Kitô theo ý riêng của mình, nhưng hoàn toàn theo ý Thiên Chúa Cha như đã được tiên báo nơi hình ảnh người tôi tớ Thiên Chúa và ngày càng được mạc khải rõ hơn nơi Người Con yêu dấu của Thiên Chúa; Thiên Chúa muốn Ngài hoàn thành kế hoạch bằng chính đau khổ và cái chết của Ngài. Mạc khải ấy lẽ ra phải được các môn đệ đón nhận với cảm thông và chia sẻ. Phêrô đã đại diện các Tông đồ để tuyên xưng: “Thầy là Ðức Kitô”, nhưng chỉ tiếc liền sau đó, ông đã không hoàn toàn cảm nghĩ theo cách thức Thiên Chúa, nhưng đã theo cách thức nhân loại. Phêrô phản đối thái độ vâng phục của Chúa Giêsu, và một cách vô tình, ông đã lôi kéo Ngài ra khỏi tư cách Kitô.
Chúa Giêsu chẳng những quở trách Phêrô, Ngài còn đưa ra một giáo huấn quan trọng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”. Từ nay cả Phêrô lẫn những ai muốn làm môn đệ Chúa đều phải sống thân phận tôi tớ như Chúa. Nhưng Ngài còn thêm: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất”. Làm tôi tớ Thiên Chúa, từ bỏ chính mình, vác thập giá, đồng nghĩa với chấp nhận hy sinh mạng sống mình vì Tin Mừng. Nếu có bao giờ con người cảm thấy ngại ngùng với những yêu sách đó, thì cần phải nhớ một lời cảnh giác của Chúa cũng như trong bối cảnh đó: “Ai hổ thẹn chối Ta và các lời Ta, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn chối nó, khi Ngài đến trong vinh quang Cha Ngài với các thánh thiên thần.”
Nói đến từ bỏ, dù chỉ là một thói quen không tốt nho nhỏ, cũng không mấy ai ưa thích. Vì nói đến“từ bỏ”là đụng chạm đến “hy sinh”, mà hy sinh thì phải chịu đau đớn, thiệt thòi, mất mát…. Cũng như nói đến “tình yêu”thì đụng đến “tự do”, mà muốn được tự do thì phải dấn thân, mạo hiểm… Chính sự mạo hiểm này nói lên sự bấp bênh trong chọn lựa của chúng ta, nhưng càng bấp bênh bao nhiều thì sự hy sinh và từ bỏ chính mình càng cao quý bấy nhiêu, nhất là khi chúng ta “từ bỏ chính mình” cho một lý tưởng, một tình yêu nào đó hoặc cho một Ai đó rất đặc biệt, rất quan trọng trong cuộc đời của chúng ta. Chúa đã từng nói:“Ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”là vậy (x.Mc 8,35). Tuy nhiên, từ bỏ chính mình để theo Đức Giêsu không phải chỉ quyết tâm một lần là đủ, mà là một thái độ luôn sẵn sàng từ bỏ trong từng phút giây của cuộc sống.
Như thế, việc “từ bỏ chính mình”vì Chúa, thì chúng ta chẳng thua lỗ tí nào. Trái lại, chúng ta từ bỏ cái mau qua để có được sự sống vĩnh hằng; từ khước cái tương đối để được cái Tuyệt Đối là chính Đức Kitô; và từ bỏ cái thân xác tội lỗi để có được sự sống đời đời.
Đối với các tín hữu Do Thái ngày xưa, thập giá chính là án tử hình nặng nhất, nhục nhã và khủng khiếp nhất của luật hình La mã. Những tín hữu đã bị bắt bớ và lãnh án xử tử thập giá, thì quả là một chuyện khủng khiếp đối với họ. Vậy mà Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta vác cái ô nhục đó để đi theo Ngài!
Lời mời gọi của Đức Giêsu xem ra là một nghịch lý cho cuộc đời, nhưng đối với Thiên Chúa, đó không phải là một ô nhục hay là sự điên rồ mà họ lầm tưởng; trái lại, đó là một dấu chỉ chiến thắng của tình yêu mà chính Đức Kitô đã đón nhận đau khổ trên thập giá bằng một giá rất đắt, một thái độ vâng phục và phó thác cho thánh ý Chúa Cha để trở nên máng chuyển thông ơn cứu độ cho loài người chúng ta. Vì vậy, khi nhìn lên cây thánh giá có Chúa Giêsu hiện diện, nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của sự đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm cứu độ và phục sinh vinh quang của Người. Ước gì tình yêu thập giá chiếu sáng những ai muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu vác lấy mà đi theo Người.
Phải vác thập giá, phải từ bỏ mình, nguy cơ to lớn như vậy không phải là sự thiệt thòi, mất mát đâu. Trái lại, đó chính là một mối lợi. Thật là điều nghịch lý: người môn đệ lấy Đức Kitô làm con bài chủ trong cuộc chơi của mình, người ấy là kẻ thắng cuộc. Mất, chính là được với điều kiện là sự mất mát này là vì Chúa Giêsu và vì Phúc âm. Một cuộc sống chịu thiệt thòi ví Chúa Giêsu và vì Phúc âm như thế được coi như một sự thất bại xét về mặt hoàn toàn trần thế giống như cuộc đời của Chúa Giêsu vậy; nhưng nó lại là một sự hoàn bị, đạt tới mức tròn đầy, bởi lẽ đó là một cuộc đời hoàn toàn quy hướng về Chúa. Trong chiều hướng ngược lại, con người chỉ tìm tán dương, tâng bốc, đề cao cái “tôi” của mình, chỉ muốn giữ mạng sống mình cho riêng mình thôi, người ấy có thể chắc chắn đánh mất cuộc sống ấy, không đạt được đích là sự thăng hoa đích thực. Và cho dù có giầu sang bạc ngàn bạc triệu, người ấy cũng sẽ không có thể dùng tiền mua được cho mình sự sống của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đặt nét chấm phá cho bức họa chân dung người môn đệ bằng một câu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chứng từ: không hổ thẹn vì Chúa Giêsu. Lòng tin của người môn đệ không phải là một chuyện riêng tư; đức tin ấy đòi hỏi được biểu lộ và khẳng định công khai cho dù gặp phải những khó khăn. Lòng tin không phải là chiếc áo, vui thì mặc vào, còn khi gặp phiền hà rắc rối thì rũ bỏ.
Chúng ta có là môn đệ của Chúa Kitô không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tự hỏi mình xem ta cảm nghĩ thế nào, có tâm tình gì khi người ta nói đến đạo Chúa, Giáo hội, Chúa Kitô… khi ta đang làm việc, ở trong gia đình, hay trong mối quan hệ xã hội bạn bè. Chúng ta có dám đứng về phía Chúa Giêsu Kitô, không ba hoa. khoa trương, nhưng kiên quyết và xác tín? Đối với người môn đệ, việc bày tỏ và khẳng định niềm tin của mình không phải là chuyện tùy tiện.
2023
THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ
16.2 Thứ Năm Thứ Năm trong tuần thứ Sáu Mùa Quanh Năm
St 9:1-13; Tv 102:16-18,19-21,29,22-23; Mc 8:27-33
THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ
Trong tương quan thầy trò gần gũi, điều quan trọng là phải hiểu nhau cho đúng cho đủ, để rồi mới có thể tin tưởng và yêu thương lẫn nhau. Trước câu hỏi đó, đại diện cho nhóm 12, Phêrô lên tiếng tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Đây mới thực sự là câu trả lời Chúa Giêsu muốn nghe, vì các ông biết đích xác Ngài là Đức Kitô có nghĩa là Đấng được xức dầu để làm vua. Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai, vì người Do Thái đang chờ đợi một Đấng Thiên Sai khác với những gì Ngài sắp mặc khải cho các Tông Đồ.
Câu trả lời của Phêrô về vị thế của Chúa Giêsu rất chuẩn mực, khác xa với những nhận định của người Do thái đương thời. Thế nhưng làm sao Phêrô lại có được một cảm nhận sâu xa về vị thế của Chúa Giêsu nếu không bởi ân ban từ trời.
Câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” không phải chỉ quan trọng cho Tiểu Vương Hêrôđê mà còn quan trọng hơn cho các Tông Đồ, những người đang theo Chúa Giêsu. Nếu các Tông Đồ không biết đúng Ngài là ai thì làm sao các ông có thể tiếp tục sứ vụ của Chúa. Nhất là khi các ông phải đối diện với những đau khổ và cái chết sắp tới của Ngài.
Mở đầu trình thuật, ta được đặt vào trong bầu khí cầu nguyện của Chúa Giêsu, Ngài cầu nguyện một mình. Đây là thời gian quý giá để Chúa gặp gỡ Chúa Cha; đồng thời cũng là khoảng thời gian riêng tư với các Tông Đồ. Trong lúc này, Chúa Giêsu lên tiếng hỏi các môn đệ: “Dân chúng nói Thầy là ai? ” Đây là câu hỏi liên quan đến dư luận đang bàn tán gì về căn tính của Chúa. Theo dư luận đồn thổi, thì họ coi Chúa Giêsu là tiên tri Êlia hoặc Gioan Tẩy Giả hay một tiên tri nào đó xuất hiện trở lại.
Sau khi lắng nghe những lời đồn thổi đó, Chúa Giêsu không bàn luận tới sự đồn thổi và nhận xét của dư luận. Ngài không quan tâm đến điều đó. Bỏ dư luận qua một bên, Ngài muốn biết các Tông Đồ nhận xét Ngài là ai. Vì thế, Chúa Giêsu lại hỏi các ông: Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Đây là một điều thật đặc biệt.
Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng thường dễ dàng nhận định về người khác theo nhãn quan tự nhiên, dựa vào những khả năng, uy tín, địa vị, bằng cấp. Nhưng có lẽ nhiều khi nhận định của con người lại rất khác xa với thực tại sâu thẳm của nhân vật ấy.
Phêrô đã mau mắn nhận định Chúa Giêsu là Đấng Kitô theo ơn soi sáng của trời cao là một bài học đáng giá cho mỗi người chúng ta. Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta hãy nhìn người khác bằng ánh mắt yêu thương, nhân từ, cảm thông, tin tưởng như chính Ngài nhìn họ. Chỉ khi nào chúng ta biết nhìn tha nhân bằng cái nhìn bao dung quảng đại ấy, chúng ta mới có thể nhận ra họ là ai, và nhất là nhận ra Thiên Chúa đang ẩn mình trong tất cả những người chúng ta gặp gỡ trên hành trình cuộc sống. Chúng ta hãy khẩn nài Thiên Chúa ban cho chúng ta một cái nhìn như thế khi đứng trước một người anh em đồng loại, dù họ có là ai đi nữa.
Đức Kitô mà Phêrô vừa tuyên xưng lại là Đức Kitô không như mọi người khát vọng, và ngay cả chính Phêrô cũng lầm lẫn về Ngài như thế. Thật vậy, sau lời tuyên xưng thật xác quyết: “Thầy là Đấng Kitô”, Phêrô đã phải vô cùng ngạc nhiên và bắt đầu trách Ngài. Lời trách cứ của Phêrô đã làm Chúa Giêsu phải nặng lời với ông : “Xa tan, lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (c.33).
Ở đây Chúa Giêsu đã phân định cho chúng ta thấy rõ ranh giới giữa tư tưởng cao siêu của Thiên Chúa và tư tưởng thấp hèn của con người đầy giới hạn. Chúng ta thường suy nghĩ, nhận định về con người hay sự kiện theo nhãn quan rất tự nhiên, nên sai lầm là chuyện thường tình của con người. Điều quan trọng là làm sao chúng ta đủ khiêm tốn để nhận ra những giới hạn của bản thân để cậy nhờ vào ơn Chúa soi sáng trong mọi tình huống của cuộc sống.
Người Do thái và cả thánh Phêrô chỉ biết nhìn về Đấng Kitô sẽ là Vua bách chiến bách thắng giải thoát dân khỏi ách nô lệ của ngoại bang, và lên ngôi thống trị đầy vinh quang danh dự. Họ luôn khát mong một Đấng Kitô như thế. Nhưng tất cả chỉ là nghĩ suy của con người, không phải của Thiên Chúa. Đấng Kitô của Thiên Chúa đích thực là Đấng phải kinh qua nhiều đau khổ, tủi nhục, bị giết chết, rồi sẽ sống lại.
Phêrô đã không thể chấp nhận sự thật ấy, nên đã bị Chúa khiển trách. Khi đứng trước cuộc khổ nạn của Chúa, ông vẫn còn nghi ngờ, ái ngại, rồi chối Chúa những ba lần. Nhưng sau ánh nhìn yêu thương tha thứ của Chúa, ông đã hối hận sâu sa suốt cuộc đời. Để rồi sau biến cố Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã biến đổi ông hoàn toàn để từ đó, ông hăng say loan báo về một Đấng Kitô đích thực của Thiên Chúa, và đã dùng chính cái chết của mình để chứng minh tình yêu và niềm tin vào Đấng Kitô. Bài học của Phêrô thật cụ thể và sống động cho mỗi chúng ta hôm nay trong môi trường đầy nhiễu nhương và phức tạp này.
Để có được cái nhìn chân thực nhất về Thiên Chúa và thánh ý Ngài, chúng ta cần có ơn Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn. Nhưng chỉ trong sự thinh lặng sâu xa của nội tâm, chúng ta mới có thể nhận ra tiếng nói của Ngài. Thế nên, chúng ta cần đẩy xa khỏi tấm lòng những ồn ào náo động của đam mê, thú vui, hưởng thụ với bao toan tính của trần thế, để dễ dàng nhận ra tiếng Ngài.
Đấng Kitô phải kinh qua đau khổ, sự chết mới bước vào vinh quang. Cuộc sống hôm nay của mỗi người chúng ta cũng đầy dẫy bao thương đau khổ sầu, với nhiều thử thách trăm bề. Tất cả đều là những cơ hội để chúng ta bước theo lối đường thương đau của chính Ngài, Đấng đã đi trước và luôn đồng hành với chúng ta. Ý thức giá trị cứu độ cao quý từ những đau khổ trong cuộc sống, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận tất cả với niềm tin yêu phó thác vào tình thương cứu độ của Đức Kitô. Chỉ trong niềm tin vào Thiên Chúa, vào thập giá Đức Kitô, những đau khổ đời này mới được đóng ấn một ý nghĩa và giá trị cao quý, là cửa ngõ đưa chúng ta vào vương quốc yêu thương Nước Trời, nơi Đức Kitô thật sự là Vua muôn vua, Chúa các chúa.
Xin cho những tâm hồn chưa nhận biết Chúa là Vua đích thực của cuộc đời, được lắng nghe, hiểu biết và cảm nhận sâu xa về tình thương cứu độ của Chúa, qua đời sống chứng tá đầy yêu thương và phục vụ, biết can đảm vui tươi đón nhận mọi đau khổ thử thách Chúa gởi đến trong cuộc đời chúng con.
2023
Ðôi mắt đức tin
15.2 Thứ Tư Thứ Tư trong tuần thứ Sáu Mùa Quanh Năm
St 8:6-13,20-22; Tv 116:12-13,14-15,18-19; Mc 8:22-26
Ðôi mắt đức tin
Mù thể xác có nhiều cấp độ nhưng nói chung là không thấy rõ hoặc không thấy sự vật ở chung quanh. Anh mù trong Tin mừng hôm nay ngồi ăn xin bên vệ đường có lẽ là người mù tịt không biết Chúa Giêsu đi qua, nhưng Ngài động lòng thương cứu chữa anh, đồng thời cũng qua phép lạ này Chúa Giêsu muốn giới thiệu cho các môn đệ: Ngài là ánh sáng trần gian. Ngài nhổ nước miếng trên đất, trộn thành bùn và xức vào mắt anh mù, rồi bảo anh ta: “Hãy đến hồ Siloê mà rửa”. Vậy anh ta đến rửa ở hồ và khi về thì nhìn thấy được.
Anh ta sung sướng vô cùng vì được nhìn thấy sự vật chung quanh. Trước đây người ta kể cho anh nghe đủ mọi thứ chuyện chung quanh nhưng anh ta không có một khái niệm nào về sự vật. Đối với anh lúc nào cũng là đêm tối dầy đặc. Bây giờ anh được trực tiếp ngắm xem cảnh vật, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng kỳ lạ… không cần phải cắt nghĩa cho anh nữa.
Tin Mừng theo thánh Marcô mà chúng ta lắng nghe hôm nay, thuật lại việc Chúa Giêsu cho một người mù được thấy. Ðặt câu truyện này vào bối cảnh cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với nhóm Biệt phái cũng như với các môn đệ, thánh Marcô muốn cho chúng ta thấy rằng đức tin tức ơn sáng mắt là một ơn nhưng không của Thiên Chúa. Những người Biệt phái đã tự giam hãm trong sự mù quáng tức trong ánh sáng riêng của họ để khước từ Chúa, đồng thời chối bỏ chính ánh sáng của Thiên Chúa; trong khi đó, các môn đệ lại lơ đễnh đến độ không thể thấy được ý nghĩa các phép lạ của Chúa Giêsu. Chữa lành cho người mù, Chúa Giêsu vừa tỏ quyền năng của Ngài, vừa cho thấy chỉ mình Ngài mới có thể ban cho con người ánh sáng mới, nhờ đó con người có thể thấy được Thiên Chúa.
Anh mù bẩm sinh được Chúa Giêsu chữa lành đã trải qua nhiều thử thách gây ra bởi những người Biệt Phái ganh ghét Chúa Giêsu, và quyết tâm trừ khử Ngài.
Anh đã phải chiến đấu cam go trước cám dỗ được yên thân, được cơ chế tôn giáo ủng hộ, được đám đông tuyên dương, để có thể nói thật điều mình nghĩ đúng, nói đúng điều mình nghĩ thật, khi công khai “kể đúng” những gì Chúa Giêsu đã “thật sự” làm cho anh, và nhắc lại “đúng” những lời của người chữa lành mắt đã “thực sự” nói với anh. Anh phải chiến đấu vất vả vì lực lượng hùng hậu, và ma mãnh của Bóng Tối đã không chấp nhận Ánh Sáng được trả lại cho anh, vì Bóng Tối muốn mãi mãi thống trị anh, và không muốn anh đón nhận Ánh Sáng như hồng ân.
Những năm tháng mù loà, anh không thể mường tượng thế nào là ánh sáng, vì bóng tối với thời gian đã làm anh quen và không còn thấy xa lạ, khó chịu, bực bội với bóng tối, như người sống nhiều năm trong hang động, hay lâu ngày bị giam cầm dưới hầm tối sẽ lảo đảo, té nhào phút đầu tiếp cận ánh sáng, nên khi có ánh sáng ùa vào cuộc đời, anh cũng phải dũng cảm chiến đấu để Vượt Qua bóng tối, đi vào Ánh Sáng, chứ không ngoan cố ở lì trong bóng tối và không chịu thoát ra.
Qua phép Rửa, chúng ta nhận được ánh sáng của Thiên Chúa, Ngài ban cho chúng ta chính đôi mắt của quả tim để có thể nhìn thấy Ngài trong mọi sự và trong từng phút giây cuộc sống. Ước gì chúng ta luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa, để chúng ta có thể vượt thắng mọi gian nan thử thách trong cuộc sống và luôn tin vững nơi tình yêu của Chúa.
Trình thuật việc Chúa Giêsu chữa mắt cho người mù từ bẩm sinh khá dài. Có rất nhiều chi tiết và mỗi chi tiết có một ý nghĩa riêng. Các thánh Giáo phụ đã cắt nghĩa nhiều về vấn đề này, nhất là việc “lấy bùn hòa nước bọt xức mắt người mù”. Nhưng tựu trung, tất cả mọi hành vi đó là dấu chỉ để mọi người tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin như thế mà người ta có sự sống.
Như vậy, cùng một lúc Chúa Giêsu làm hai phép lạ: chữa cặp mắt thể xác cho anh mù có cái nhìn của lòai người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Trong hai phép lạ chữa mắt thì việc chữa mắt đức tin quan trọng hơn vì nhờ cặp mắt này mà người mù đã nhận ra Chúa Giêsu là Thiên Chúa và đã tuyên xưng: “Lạy Thầy, con tin”, rồi anh sấp mình trước mặt Ngài
Như anh mù được sáng mắt, nhờ bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức, chúng ta được Thiên Chúa cho sáng mắt, được lớn lên và xứng đáng hơn mỗi ngày với ơn huệ làm con cái Ánh Sáng, khi thấy tất cả mọi người, mọi sự chung quanh mình, và nhìn mọi biến cố xẩy ra hằng ngày theo cái nhìn của Thiên Chúa, và dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta không ngủ mê trong bóng tối, nhưng trỗi dậy dưới ánh sáng rạng ngời của Chúa Giêsu (x. Ep 5,14), Ánh Sáng cứu độ của Thiên Chúa, Ánh Sáng cứu chuộc muôn dân.
2023
Tín thác vào tình yêu của Chúa
14.2 Thứ Ba Thánh Cyril, Đan Sĩ, và Mêthôđiô, Gm
St 6:5-8; Tv 29:1-2,3-4,3,9-10; Mc 8:14-21
Tín thác vào tình yêu của Chúa
Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu ngồi trên thuyền với các môn đệ để đi về hướng Betsaiđa; Ngài lợi dụng những giây phút rảnh rỗi để trắc nghiệm phản ứng của các ông về những phép lạ Ngài đã thực hiện, đặc biệt là phép lạ bánh và cá hóa ra nhiều.
Chúa Giêsu xuống thuyền đi với các môn đệ. Nhưng các ông quên mang bánh theo, trong thuyền chỉ có một cái bánh. Dọc đường, Chúa căn dặn các ông cẩn thận lo tránh “men những người biệt phái và Hêrôđê”, tức là lo tránh thói tự mãn, cứng đầu cứng cổ của họ. Nhưng các ông không hiểu ý Chúa muốn nói, mà cứ tưởng là Chúa quở vì không mang bánh theo ăn, nên Chúa trách các ông chậm hiểu kém tin. Chính mắt các ông đã thấy hai phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều cho mấy ngàn người ăn no nê mà còn dư thừa, chính tai các ông đã nghe bao nhiêu lời Chúa dạy mà cũng chưa hiểu chưa tin.
Chúa Giêsu ngồi trên thuyền với các môn đệ đi về hướng Betsaida; Người lợi dụng những phút rảnh rỗi để trắc nghiệm phản ứng của các ông về những phép lạ Người đã thực hiện, đặc biệt là phép lạ bánh và cá ra nhiều.
Khi cảnh giác các môn đệ phải tránh men của Biệt phái và men của Hêrôđê, Chúa Giêsu có ý ám chỉ đến sự mù quáng và những thành kiến của những nhóm người này. Chúa Giêsu đã dùng chữ “men” để nói đến tinh thần kiêu ngạo và thái độ mù quáng ấy. Thế nhưng, các môn đệ đã không hiểu được kiểu nói bóng bẩy ấy, đầu óc các ông còn đầy những bận tâm về vật chất.
Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy ra khỏi những bận tâm vật chất ấy để hiểu được ý nghĩa các phép lạ và sứ điệp của Ngài. Ðó cũng chính là nội dung của chương trình huấn luyện mà Ngài đeo đuổi trong ba năm rao giảng của Ngài. Mãi đến lúc Ngài bị bắt và chịu treo trên Thập giá, xem chừng các môn đệ vẫn chưa hiểu được chiều sâu sứ điệp của Ngài. Mơ tưởng của những người dân chài này là được trở thành công hầu khanh tướng trong vương quốc trần gian mà họ nghĩ là Chúa Giêsu đã đến để thiết lập.
“Người bảo các ông: “Anh em chưa hiểu ư ?”
Câu hỏi này là lời Chúa trách móc các môn đệ. Họ là những người đã chứng kiến những phép lạ Chúa làm, họ đã phân phát bánh hoá nhiều mà họ còn lo lắng để tiếp tế lương thực, trong lúc Chúa Giêsu còn ở bên cạnh họ! Thế nhưng họ đã không ý thức rằng: có Chúa Giêsu ở với họ, là họ có tất cả.
Điều này thật đúng tâm lý chúng ta. Chúng ta dễ dàng chấp nhận rằng: dĩ vãng, Thiên Chúa đã can thiệp cứu giúp chúng ta, ở với chúng ta. Nhưng hiện tại, khi chúng ta gặp khó khăn, gặp thử thách, phản ứng đầu tiên của chúng ta là lo lắng hốt hoảng, nghi ngờ, bối rối, chứ chúng ta có giữ bình tĩnh và tin chắc rằng Chúa vẫn tiếp tục ở với chúng ta không ?
Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Ngài hãy vượt lên những bận tâm vật chất để đi vào chiều sâu sứ điệp của Ngài. Ðiều đó cũng có nghĩa là tin vào quyền năng của Ngài, hoàn toàn phó thác cho Ngài. Giữa những khó khăn thử thách của cuộc sống, con người dễ dàng chạy đến với Chúa: đó là thái độ rất chính đáng, bởi vì qua cử chỉ ấy, con người tuyên xưng niềm tin vào tình yêu thương của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy có một thái độ vô vị lợi hơn, hoàn toàn tín thác vào tình yêu của Ngài. Một thái độ như thế sẽ cho chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài, và cho chúng ta thốt lên như các vị thánh: “Tất cả đều là hồng ân của Chúa” bởi vì tình yêu của Ngài vượt trên mọi tính toán và chờ đợi của chúng ta.
Với Tin Mừng hôm nay, có thể chúng ta sẽ phê phán bọn Pha-ri-sêu và Hê rô-dê là những người không có lý trí, không có óc nhận xét, không biết phân biệt đúng sai, phải trái! Những lời cảnh giác đó của Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay vẫn không thừa!. Thí dụ, là trong mỗi dịp tết về nhiều gia đình đã không hưởng được niềm vui của năm mới cách trọn vẹn! Biết bao người nhân dịp tết đến, vui Xuân bằng cách tìm đến trò chơi đem đỏ; để rồi mất tiền và bị công an bắt vì tội đánh bạc! Biết bao người vì men rượu vào người không còn làm chủ được mình dẫn đến đánh lộn đâm chém để rồi người thì thương vong, kẻ thì vào nhà tù. Tất cả đều là do họ mê man sự đời, không thực sự tin vào Chúa và triệt để thi hành những điều răn Ngài dạy!
Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta rút ra được một bài học để áp dụng vào cuộc sống của mình cho nên tốt đẹp: Đó là phải luôn nhạy bén để nhìn nhận thấy Chúa qua những dấu chỉ xảy ra quanh mình và phải hoàn toàn đặt sự tin tưởng và tin thác vào sự quan phòng trong yêu thương của Thiên Chúa đối với mỗi người và cuối cùng là phải luôn đem Lời Chúa dạy ra thực thi trong cuộc sống của mình.
