2023
Phục vụ chứ không phải quyền bính
8.3 Thứ Tư Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mùa Chay
Gr 18:18-20; Tv 31:5-6,14,15-16; Mt 20:17-28
Phục vụ chứ không phải quyền bính
Tham quyền cố vị là khát vọng của rất nhiều người. Kẻ chưa có quyền hành thì khát vọng một ngày nào đó sẽ lên nắm quyền. Kẻ nắm quyền trong tay thì cứ muốn ở lại mãi trong cương vị ấy.
Các môn đệ theo Chúa Giêsu cũng ngấm ngầm mang khát vọng ấy. Trên đường lên Giêrusalem cùng Chúa Giêsu, dường như không thể chờ đợi thêm được nữa. Ở trong Tin Mừng theo thánh Mát-cô miêu tả họ đã bộc lộ khát vọng ấy bằng việc đề nghị Chúa Giêsu một cách thẳng thừng: “Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy”. Ở đây họ cậy nhờ đến thế lực của người mẹ: Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dêbêđê đến gặp Chúa Giêsu, có các con bà đi theo; bà bái lạy và kêu xin Người một điều: “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy”.
Chúa Giêsu biết lòng dạ các môn đệ, Ngài bảo: “Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” Giacôbê và Gioan, hai môn đệ được coi là thân tín với Chúa Giêsu đã xin được ngồi hai chỗ cao nhất trong vinh quang Nước Chúa. Được xem là thân tín với Chúa Giêsu, thế mà hai ông vẫn không hiểu được con đường của Chúa đi và Vinh quang của Nước Ngài ở đâu. Huống gì trách làm sao được các môn đệ còn lại kia! Vì thế đã gây ra sự tranh chấp giữa các môn đệ về quyền bính, về vai trò của người lãnh đạo.
Vì quá tham quyền mà các môn đệ đã chậm tin trước lời giáo huấn của Chúa Giêsu về cuộc khổ nạn. Chúa đã nói đến lần thứ 3 nhưng các môn đệ vẫn không hiểu. Con đuờng Chúa đi là con đường khổ nạn và là cái chết đau thương trên thập giá. Uy quyền của Ngài là để phục vụ và phục vụ cho đến chết. Suốt đời của Ngài đã sống như một người phục vụ. Và giờ đây, cái chết của Ngài chính là một việc phục vụ cao nhất. Chúa Giêsu sẽ chết như người Tôi Trung trong ngôn sứ Isaia (Is 52,13-53,12). Thầy phải trả giá bằng mạng sống để cứu chuộc muôn người.
Gần tới lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu lên Giêrusalem để mừng lễ và đây là lần sau hết của đời Ngài. Trên đường đi, Chúa giáo huấn các ông, mặc dầu các ông không hiểu. Để giáo dục các ông, Ngài làm hai việc: một là loan báo cho các ông biết Ngài sẽ bị nộp vào tay kẻ thù để hiến thân chuộc tội cho loài người; hai là dạy họ bài học phục vụ: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm đầy tớ…” và “Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người”. Đức Giêsu cho chúng ta một mẫu gương là khiêm tốn phục vụ và hy sinh vì người khác.
“Nào chúng ta lên Giêrusalem…” Tâm lý của các môn đệ: mặc dầu đã đi theo Chúa gần ba năm, nhưng các môn đệ cũng chưa lĩnh hội giáo lý của Ngài được bao nhiêu. Ngay sau lần thứ ba Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ sự thương khó của Ngài: “Nào chúng ta lên Giêrusalem… Con người sẽ bị nộp cho các thượng tế. Họ sẽ lên án tử Người. Họ sẽ nhạo báng Người, sẽ khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết Người” (10,32-34), các ông cũng không quan tâm lời loan báo ấy, có lẽ chẳng hiểu gì; hơn nữa đầu óc các ông còn đang mơ tưởng đến vương quốc Chúa Giêsu sắp lập. Như vậy có nghĩa là vào lúc Chúa Giêsu “chọn chỗ chót” thì các ông lại cố “đua nhau” chiếm chỗ tốt hơn: họ vẫn còn mơ mộng về Đấng Cứu Thế vinh quang của dân tộc. Đấng Cứu Thế đối với họ đó là Đấng chiến thắng hiển hách, sẽ dùng quyền lực của mình điều khiển mọi sự.
“Con người đến không phải để được phục vụ…” Câu Phúc âm này nói lên tất cả cuộc sống của Chúa Giêsu: Ngài đã nhập thể làm người để phục vụ và phục vụ cho đến chết. Chẳng những Ngài đã hy sinh phục vụ, mà còn mời gọi những kẻ tin theo Ngài cũng noi gương sống phục vụ như Ngài.
Trong Tin mừng, đây là lần thứ ba Chúa Giêsu nói đến con đường thập giá mà Ngài sẽ trải qua. Nhưng cứ mỗi lần Ngài loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài, các tông đồ đều phản ứng ngược lại: trong lần loan báo đầu tiên, Phêrô đã ngăn cản Ngài; lần thứ hai các ông tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất; và lần này thì Giacôbê và Gioan xin được chức tước cao nhất làm cớ cho những người khác trong nhóm Mười Hai phân bì ghen tị.
Theo lẽ thường, con người thích được người khác phục vụ hơn là phục vụ người khác. Người ta thường quan niệm có tiền là có tất cả. Do đó, danh vọng, tiền tài là những điều mà con người dễ bị cám dỗ nhất.
Khi nghe Chúa Giêsu tiên báo về cuộc thương khó, các môn đệ đáng lý ra phải đồng cảm với Thầy của mình. Trước thái độ của các môn đệ, Chúa Giêsu nói: “Ai muốn làm lớn, phải là người phục vụ”.
Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã hạ mình xuống thế làm người, chịu đóng đinh, chịu chết để cứu rỗi con người. Noi gương Chúa, chúng ta cũng phải biết phục vụ anh em của mình.
Cám dỗ về uy quyền, danh vọng, sung túc… mà các môn đệ thời Chúa Giêsu mắc phải cũng chính là cám dỗ triền miên của mỗi chúng ta ngày nay!
Mùa Chay là mùa mời gọi chúng ta nhìn thẳng vào Thánh Giá Chúa để thấy được tình thương của Chúa Giêsu, thấy được sứ vụ của cuộc đời chúng ta, khám phá ra ý nghĩa của ơn cứu độ ngang qua đau khổ, nhất là khám phá ra sự vĩ đại, sức mạnh phi thường và ơn giải thoát ở sự phục vụ trong yêu thương.
2023
Thống nhất ngôn hành
7.3 Thứ Ba Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mùa Chay
Is 1:10,16-20; Tv 50:8-9,16-17,21,23; Mt 23:1-12
Thống nhất ngôn hành
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vạch mặt chỉ tên những người Pharisêu giả hình. Họ thuộc hạng phô trương, hình thức, khoe mẽ. Họ giữ luật từng chi tiết, nhưng đời sống của họ thì không hề có chút tình thương nào cả! Ngài nói: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào; họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi”.
Và Chúa Giêsu cảnh báo: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”.
Dạy người khác luôn tuân giữ điều này, thực hiện điều kia, lúc nào cũng dễ hơn chính mình tuân hành chúng. Người Việt chúng ta thường nói: “Chỉ tay năm ngón” để nói về những người chỉ biết ra lệnh cho kẻ khác, còn mình thì chẳng hề mó tay vào việc. Vào thời Chúa Giêsu, các kinh sư và những người Pharisiêu giả hình cũng sống theo cung cách này. Họ dạy người ta làm đủ điều, còn họ thì chẳng hề làm điều gì như lời họ dạy.
Ðoạn Tin Mừng trên đây gồm hai phần: phần đầu ghi lại những lời Chúa Giêsu nhận xét về các kinh sư và những người Pharisiêu; phần sau ghi lại những lời Chúa Giêsu dạy dỗ đám đông và các môn đệ.
Ở phần đầu, Chúa Giêsu chỉ trích thái độ nói một đàng làm một nẻo của các kinh sư và những người Pharisiêu. Họ là những người có vai vế trong đạo. Họ nghiên cứu lề luật, giảng dạy lề luật, bảo vệ lề luật. Nhìn từ bên ngoài thì họ là những nhân vật đáng kính, học cao, biết nhiều, dáng vẻ nghiêm trang, đạo mạo, y phục chỉnh tề, đi đâu họ cũng ngồi chỗ quan trọng, đến đâu họ cũng chiếm vị trí ưu tiên.
Ấy thế mà buồn thay, họ chỉ được cái vỏ xanh tốt bên ngoài, còn bên trong thì lại cằn cỗi khô héo. Chúa Giêsu không phủ nhận vai vế của các kinh sư và những người Pharisiêu trong dân. Chúa khuyên dân chúng hãy tuân giữ những gì họ giảng dạy. Nhưng bởi họ dạy mà không làm những gì mình dạy nên Chúa Giêsu cảnh giác dân chúng đừng làm theo những gì họ làm.
Sau khi nêu rõ những thói tật của các kinh sư và những người Pharisiêu, Chúa Giêsu chuyển sang phần giáo huấn cụ thể cho dân chúng và các môn đệ. Ở phần này khi nói: “Các con đừng gọi ai là cha cũng đừng để ai gọi mình là thầy hay là nhà lãnh đạo”, Chúa Giêsu đã dùng lối nói cường điệu để nhấn mạnh vai trò tuyệt đốì của Cha và của chính Ngài. Khi giảng dạy như thế, Ngài không có ý phủ nhận vai trò của cha mẹ hay của thầy dạy hoặc của người lãnh đạo trên trần gian, mà Ngài chỉ muốn người ta đừng tuyệt đối hóa những vai trò đó, đến độ đặt ngang hàng hoặc cao hơn Thiên Chúa. Chỉ có Chúa Cha mới là Ðấng sinh thành tối cao và chỉ có Chúa Kitô mới là Ðấng giáo hóa tối thượng, còn tất cả mọi người đều là anh chị em bình đẳng với nhau.
Ở đây, chúng ta gặp được một quan niệm rất quen thuộc của tư tưởng Á đông: tứ hải giai huynh đệ, người trong bốn bể đều là anh em, mà đã là anh em thì không còn lên mặt lên mày, không còn tranh chấp ghế cao ghế thấp làm gì nữa. Ðã là anh em thì yêu thương phục vụ là chuyện đương nhiên phải làm: “Trong các con, ai là người làm lớn hơn cả phải là người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.”
Thời các kinh sư và những người Pharisiêu đã qua từ lâu, nhưng não trạng ăn trên ngồi trước, chỉ tay năm ngón vẫn luôn tồn tại trong bản tính đã bị hư hoại của con người. Xét mình cho kỹ, chúng ta thấy đã không thiếu những lần chúng ta đối xử với những người khác theo cách thế đáng buồn trên đây. Nếu Chúa Giêsu xuất hiện, chắc hẳn Ngài cũng nặng lời quở trách chúng ta như Ngài đã từng quở trách các kinh sư và những người Pharisiêu ngày xưa.
Mùa chay là mùa của hoán cải, là mùa của trở về. Trở về đối với người Kitô hữu chính là trở về với chân lý về con người. Con người đã được tạo dựng để sống cho Thiên Chúa. Chỉ khi nào con người sống trọn cho Thiên Chúa, con người mới thực sự tìm được chính mình. Chỉ khi nào con người bị tiêu hao vì Thiên Chúa, con người mới đạt được tầm vóc viên mãn của mình. Đó là định luật Chúa Giêsu đã đề ra cho các môn đệ Ngài khi nói: “Ai mất sự sống mình thì sẽ tìm lại được”.
Chúng ta đang sống trong những tuần đầu của Mùa Chay, mỗi người Kitô hữu được mời gọi hãy hoán cải để nhận ra sự kiêu ngạo, khoe khoang, hình thức bấy lâu nay, từ đó, hãy lo sám hối và xin ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đồng thời biết khiêm tốn để Lời Chúa được thấm nhập vào trong tâm hồn của mình, ngõ hầu chúng ta sẽ trở thành người có Chúa và loan truyền Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống khiêm tốn, phục vụ.
2023
Hãy có lòng nhân
6.3 Thứ Hai Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 9:4-10; Tv 79:8,9,11,13; Lc 6:36-38
Hãy có lòng nhân
Xét đoán người khác cho đúng sự thật là một việc rất khó. Xét đoán hành vi bên ngoài đã khó rồi, xét đoán tâm trí bên trong lại càng khó khăn hơn nữa. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ đừng xét đoán người khác.
Chúng ta thường nghe nói: “dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người”. Thời xưa, câu nói ấy đã đúng, ngày nay nó lại càng đúng hơn nữa. Với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân loại ngày nay đã có thể đo được một cách dễ dàng núi cao, biển rộng, sông dài.
Còn hơn thế nữa, họ đã đo được những khoảng cách vời vợi trong vũ trụ mà đơn vị phải tính bằng triệu năm ánh sáng. Ngược lại, họ cũng đã đo được những khoảng cách cực nhỏ mà đơn vị càng ngày càng được thu hẹp.
Ðó là về đo lường. Còn về phân tích và thống kê, nhờ phát minh ra máy vi tính cực mạnh, có thể tính được nhiều phép tính trong vòng một giây, người ta đã phân tích và thống kê được nhiều thứ. Gần đây, người ta đã hầu như hoàn thành được bản đồ gien của con người. Thật là những thành quả đáng kinh ngạc.
Tuy nhiên, trước những thành quả thâm sâu của lòng người, những phát minh và ứng dụng đó tỏ ra bất lực. Có máy móc nào cho biết đích xác hàm ý của một nụ hôn không? Ông Giuđa ngày xưa đã chẳng nộp Chúa với một nụ hôn chỉ điểm đó sao? Tâm hồn chúng ta là một cõi thẳm sâu mầu nhiệm. Có thể nói đó là một chốn mênh mông vô tận mà ngay cả bản thân chúng ta cũng không thể nào khám phá ra hết.
Dù có thành tâm thiện chí đến đâu đi nữa, chúng ta cũng không tài nào nắm bắt được hết mọi ngõ ngách của lòng mình, chúng ta nghĩ rằng mình hiểu quá rõ chính mình, nhưng thực tế không phải như vậy, chỉ có Thiên Chúa là Ðấng toàn trí toàn năng mới hiểu rõ hết mọi ngọn nguồn của tâm hồn chúng ta, và mới có thể phán xét chúng ta một cách chính xác trăm phần trăm. Còn chúng ta, ngay cả việc xét đoán mình, chúng ta cũng hoàn toàn có nguy cơ rơi vào sai lầm.
Xét đoán mình đã khó đến thế, nói chi đến việc xét đoán kẻ khác. Nhờ ý thức được giới hạn của mình, chúng ta sẽ không chủ quan khi nhận xét những người chung quanh. Chúng ta không xét đoán được chính xác thì làm sao chúng ta có thể lên án họ một cách hồ đồ được chứ. Và nếu chúng ta không lên án họ thì chúng ta sẽ làm gì đây? Xin thưa: chúng ta sẽ thông cảm bao dung với họ, sẽ nhìn họ với đôi mắt yêu thương và con tim nhân ái. Và dù họ có thực sự là con người băng hoại đi nữa, chúng ta cũng sẽ thực lòng tha thứ cho họ và cầu nguyện giúp họ cải tà qui chính. Chúng ta không xét đoán chính mình, chúng ta cũng không xét đoán anh chị em chung quanh, nhưng chúng ta hãy phó thác tất cả cho lòng nhân từ của Thiên Chúa.
Thánh Lu-ca đã nhấn mạnh nội dung của từ thương xót. Thương xót thì không xét đoán, không lên án. Không ai được tự đặt mình là quan xét anh em mình. Không ai được đánh giá và kết tội nặng nhẹ của người thân cận mình, cũng như bảo họ là kẻ xấu. Hoàn toàn phải loại bỏ những lối nhìn đánh giá người khác theo luân lý và tuyệt đối không được tuyên bố đương sự có tội. Phải hoàn toàn nên giống như Thiên Chúa. Ngài gớm ghét tội lỗi nhưng luôn luôn cứu chữa kẻ tội lỗi. Lòng thương xót chính là tha thứ và giúp đỡ. Tha thứ xóa bỏ mọi rào cản giữa người với người, và giúp đỡ là xây dựng tình liên đới với nhau. Như thế người Ki-tô hữu mới được mời gọi xây dựng nước trời, xây dựng gia đình Thiên Chúa là Cha mọi người.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sống những tâm tình nhân từ Chúa, đó là: đừng xét đoán hay kết án. Hãy tha thứ, cho đi, không phân biệt màu da, sắc áo….
Chúa nói rõ rồi: “Oán phạt thuộc về Ta, ta sẽ báo trả” (Rm 12,19). Cho nên một người mà lúc nào cũng chỉ nhìn thấy tội lỗi của người khác là sai, còn mình mới là đúng, thì đó là người mà Chúa lên án. Khi chúng ta có một thành kiến với ai, thì chúng ta dễ mắc phải lỗi này: dù người đó tốt đến đâu đi nữa, thì bất cứ điều gì người đó nói và người đó làm, đối với ta đều sai hết.
Còn câu Chúa nói: “Đừng lên án các ngươi sẽ không bị lên án” (c.37). Câu này không có nghĩa là nếu chúng ta không bao giờ lên án ai thì Chúa không lên án ta, dù chúng ta tội lỗi tràn bờ. Thưa không phải như thế. Tội ai là một người đó chịu. Có tội phải ăn năn trước đã… Câu này chỉ muốn nói với chúng ta rằng nếu chúng ta không muốn người khác khắt khe với chúng ta thỉ trước hết chúng ta đừng đối xử với họ như vậy. Chúa còn phán thêm “ngươi lấy đấu nào…” (Mc 4,24).
Trong Thánh Lễ hôm nay chúng ta hãy cầu xin cho mỗi người chúng ta trở thành những tấm gương phản ánh trung thực hình ảnh của Chúa Kitô. Như thế, người khác chỉ cần nhìn vào đời sống của chúng ta,là họ có thể nhận ra được chân dung nhân hiền, đầy yêu thương của Chúa. Đó là cách giới thiệu húa cho người khác hay nhất, hữu hiệu nhất.
Mong sao, chúng ta có Chúa trong tâm hồn và sống giới luật yêu thương. Khi không kết án, xét đoán, nhưng tha thứ và cho đi, chắc chắn chúng ta sẽ được cứu độ và mọi người sẽ nhận ra chúng ta là con cái Chúa và họ sẽ tin Chúa ngang qua đời sống đạo của chúng ta.
2023
Yêu kẻ thù
4.3 Thứ Bảy
Thứ Bảy trong tuần thứ Nhất Mùa Chay
St 26:16-19; Tv 119:1-2,4-5,7-8; Mt 5:43-48
Yêu kẻ thù
Có nhiều nghịch lý trong Tin Mừng! Một trong những nghịch lý ấy là lời dạy của Đức Giêsu hôm nay. Ngài dạy: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”, có thế, anh em mới trở thành con của Cha trên trời.
Tại sao Chúa Giêsu lại dạy như thế? Thưa! Vì chính Ngài đã sống như vậy. Hơn nữa, đây là đặc tính của Thiên Chúa Cha, vì “Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”.
Khi Chúa Giêsu mời gọi yêu kẻ thù và nên hoàn thiện như Cha trên trời, có nghĩa là Ngài muốn chúng ta phải hành động như Ngài và nên giống Thiên Chúa.
Kinh Thánh đã từng dậy là hãy yêu thương kẻ lân cận như yêu mình… (Lv 19,18). Nhưng không có chỗ nào dạy rằng: Hãy ghét kẻ thù cả. Tuy nhiên, dựa vào cách dạy của các thầy thông giáo mà sinh ra luật ghen ghét… Chúng ta biết người Do thái rất coi thường người ngoại bang. Người ngoại bang đối với họ là tất cả những ai không phải là người Do thái, không cùng con cháu Abraham, không chịu cắt bì.
Hơn thế nữa, người Do thái còn có luật ghét bỏ người ngoài quốc tịch với mình. Điều này đã tái diễn nhiều lần và nhiều năm trong lịch sử đến nỗi như có bức tuòng ngăn cách chia ly người Do thái và không Do thái. Những người Do thái ấy tưởng rằng khi mình ghét người khác như vậy là cách làm vinh danh Chúa.
Dĩ nhiên trong Cựu ước, Chúa đã từng dạy phải sống cách nào để phận biệt với dân tộc khác nhờ ngẫu tượng (Amalec. Xac 17,14. Đnl 25,19. Amon, Moab. Đnl 23,6). Chúa dạy những chân lý đó trên lãnh vực pháp lý để bảo tồn đức tin. Nhưng các bậc luật sĩ lãi quá khích đem áp dụng trật đi. Do đó mà Chúa nhấn mạnh lại tinh túy của lề luật yêu thương hôm nay. “Hãy cầu nguyện và yêu thương, làm ơn cho những người bắt bớ vu khống anh em để anh em thực sự là anh em một cha trên trời” (c.44).
Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.
“Hãy yêu mến anh em mình”, mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những “anh em” được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: “Hãy ghét kẻ thù địch” thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.
Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”. Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.
Nhưng tại sao phải yêu thương như vậy? Bởi vì chính chúng ta là con cái của Thiên Chúa và do đó phải noi gương trọn lành của Ngài, Ðấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người lành.
Chúa Giê-su trong Tin mừng, đã rao giảng một luân lý cởi mở. Còn đối với dân Do thái chỉ biết nên trọn lành ở sự giữ luật khắt khe, nên họ chống đối một kiểu nên trọn lành mới là kiểu của Cha trên trời. Đó là ân sủng, là tình yêu hậu đãi. Đức Ki-tô dùng hình ảnh mặt trời, mưa tưới. Thiên Chúa đã cho mặt trời mọc lên soi sáng cho muôn dân không phân biệt ai, đã làm cho mưa xuống làm phì nhiêu cho mọi loài trên trái đất. Thiên Chúa không thiên vị ai. Ngài săn sóc tất cả mọi người do lòng nhân hậu của Ngài ban cho người công chính cũng như kẻ bất lương.
Theo gương Ngài mỗi người Ki-tô hữu không được phân biệt đối xử, cũng không được đặt rào cản lối với đức yêu người. Họ phải yêu cả kẻ thù mình, không được sống theo tình cảm tự nhiên, dù kẻ thù đó là người mắc nợ với mình. Luân lý cởi mở chính là tình yêu cho không điều kiện, hoàn toàn do ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta phải noi gương Ngài vì Ngài đã ban Con Một Ngài đến thương yêu chúng ta dù chúng ta là kẻ tội lỗi. Ki-tô hữu phải nhớ Đức Giê-su Ki-tô, nhớ hồng ân ban đầu của Thiên Chúa đã đoái thương mình để mình cố gắng nhờ ơn Chúa mà diễn lả lòng thương yêu đó trong đời sống mình.
Xin Chúa đổ tràn trên chúng ta tình thương của Chúa, để chúng ta được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với chúng ta.
