2024
Ý Nghĩa Của Kinh Lạy Cha
9.10 Thứ Tư Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm
Gl 2:1-2,7-14; Tv 117:1,2; Lc 11:1-4
Ý Nghĩa Của Kinh Lạy Cha
Cầu nguyện được ví như hơi thở, là hoạt động căn bản của đời sống thiêng liêng. Cầu nguyện đối với người Kitô hữu còn là tâm tình con thảo với Cha trên trời, là thể hiện niềm tin và phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa.
Khi chúng ta cầu nguyện “xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy” có nghĩa là với lòng phó thác tin tưởng của phận làm con, chúng ta xin Chúa ban lương thực hằng ngày để mọi người được sống. Bởi vì, Thiên Chúa – Đấng ban sự sống cho chúng ta – không lẽ lại không ban những gì cần thiết cho sự sống. Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tín thác con thảo, cùng cộng tác với sự quan phòng của Cha chúng ta. Ngài không muốn chúng ta lười biếng, nhưng muốn giải phóng chúng ta khỏi mọi lo âu và bận tâm. Đó là sự phó thác hiếu thảo của con cái Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô Loyola đã nói: “Anh em hãy cầu nguyện như thể tất cả tùy thuộc vào Thiên Chúa, và hãy làm việc như thể tất cả tùy thuộc vào anh em”. Cả khi chúng ta đã hoàn tất công việc của mình, lương thực vẫn là một hồng ân của Cha chúng ta.
Chúng ta không đi sâu vào chi tiết chú giải kinh Lạy Cha, cũng không muốn tìm hiểu tại sao lời kinh Lạy Cha được Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ lại được ghi lại một cách khác nhau nơi Phúc Âm Mátthêu chương 6 và Phúc Âm Luca chương 11 và được Giáo Hội trình bày cho chúng ta trong lời suy niệm hôm nay. Chúng ta hãy nhớ đến ý nghĩa kinh Lạy Cha như là một bản tóm kết trọn vẹn cả Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, bản tóm gọn khoa thần học, một bản giáo lý về đời sống Kitô.
Chúng ta cần khám phá kinh Lạy Cha, đây là trường dạy ta cầu nguyện và hãy cầu nguyện kinh Lạy Cha với tâm trí chìm sâu trong chiêm niệm, để mỗi ngày chúng ta được hiểu thêm về mầu nhiệm Thiên Chúa trong cuộc đối thoại Cha con, trong thái độ tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và với con tim rộng mở để tha thứ cho anh chị em và đón nhận mọi người như anh chị em mình trong cùng một đại gia đình của Thiên Chúa. Ðối với người Do Thái thời Chúa Giêsu, việc đối thoại với Thiên Chúa và gọi Ngài là Cha trong ý nghĩa Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ Người hiểu, thì đó là một việc làm táo bạo và xúc phạm đến uy linh Thiên Chúa. Nếu không có lời Chúa Giêsu dạy để cầu nguyện như vậy, có lẽ con người phàm trần chúng ta không dám cất tiếng gọi Thiên Chúa là Cha như vậy.
Cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha theo ý Chúa Giêsu muốn qua lời kinh Lạy Cha là một việc làm hết sức mới mẻ và đồng thời cũng hết sức đòi hỏi. Thói quen chúng ta đọc kinh Lạy Cha quá thường, làm cho chúng ta mất đi ý thức về sự mới mẻ và về đòi hỏi quan trọng đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em. Ðối với Thiên Chúa, mọi đồ đệ cần phải tôn vinh Ngài và vâng phục thánh ý Ngài. Ðối với anh chị em, người đồ đệ Chúa không thể nào tránh né bổn phận tha thứ như Chúa đã tha thứ. Chúng ta hãy ý thức lại để cho sự mới mẻ này đòi hỏi kinh Lạy Cha thấm nhập sâu vào con người chúng ta và hướng dẫn mọi hoạt động lớn nhỏ hàng ngày của người Kitô chúng ta.
Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện: Lạy Cha chúng con… Xin Cha cho chúng con… Chứ không dạy ta đọc: Lạy Cha của con… Xin Cha cho con… Nghĩa là tất cả mọi người có cùng một Cha. Mọi người đều thuộc về một gia đình Thiên Chúa. Là anh em nên phải có tình yêu thương đoàn kết, liên đới với nhau. Liên đới trong đời sống, liên đới trong cả lời cầu nguyện.
Chúa Giêsu cũng biết những thính giả của Ngài đầy ngờ vực khi nghe những lời dạy ấy nên Ngài mới thuyết phục thêm: “Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”.
Và kèm theo đó, ta thấy Chúa Giêsu cũng dạy cho chúng ta cách thức đáp trả tình yêu của Thiên Chúa, đó là hãy chu toàn thánh ý của Thiên Chúa. Lời kinh Lạy Cha Ngài để lại cho Giáo Hội chính là chương trình sống của Ngài, chính là tiếng xin vâng của Ngài đối với Chúa Cha. Từ sáng đến chiều, xuyên qua những giao tiếp và giảng dạy, Ngài luôn để lộ một cử chỉ duy nhất, đó là thuộc trọn về Chúa Cha, tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Chúa Cha. Để lại cho chúng ta kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu không chỉ truyền lại một công thức, mà là cả cuộc sống xin vâng của Ngài.
Cầu nguyện, trước hết là ý thức về tầm chính xác của mình trước mặt Thiên Chúa. Thế mà đối với Thiên Chúa toàn thể vũ trụ nhỏ hơn một giọt nước trong lòng đại dương. Kẻ thờ phụng dành tất cả tâm hồn mình cho Thiên Chúa. Điều gì biện minh cho thái độ ấy? Thật ra con người ý thức rất rõ mình có khả năng suy nghĩ, hành động, có cả quyền năng nữa. Lẽ nào chỉ vì Thiên Chúa quyền năng vô cùng mà chúng ta phải nhượng bộ tất cả cho Thiên Chúa ư? Thờ phụng, trước hết không phải là sự quy phục của lương tri trước Đấng có quyền năng hơn con người. Thờ phụng là thái độ lương tri tự do muốn nhìn nhận sự thật.
Vậy mà sự thật chính là Thiên Chúa hằng hữu, quyền năng vô biên, Đấng vô cùng tận. Thờ phụng là nhìn nhận sự thật ấy. Điều biện minh cho thờ phụng chỉ xuất phát từ sự thật mà thôi. Vì lẽ có nhìn nhận sự thật, con người mới có được phẩm giá; trong sự thờ phụng, tức là trong sự nhìn nhận sự thật, con người tìm ra tầm mức phẩm giá của mình.
Cầu nguyện của người Kitô hữu là tự đặt mình vào trong mối tương quan này, coi Thiên Chúa như là Cha hoặc Mẹ, thưa chuyện với Ngài, kể chúng ta là con cái. Khi con trẻ thưa chuyện với cha mẹ, việc quan trọng không phải là đúng cách hay sai cách, chúng chỉ đơn thuần tập trung vào một điều là dùng tất cả lời nói, cử chỉ để diễn tả lòng mình. Cũng vậy, trước mặt Chúa, người Cha nhân từ khi chúng ta cầu nguyện mà công thức, thủ tục đều là chuyện thứ yếu, nếu chúng ta không muốn nói là thường. Con cái tin tưởng rằng, cha mẹ luôn luôn làm những gì là tốt nhất cho mình.
Và rồi cầu nguyện không có nghĩa là đọc lại một câu kinh, mà chính đi vào tâm tình và cuộc sống của Chúa Giêsu. Một người tín hữu luôn chu toàn thánh ý Thiên Chúa và luôn sống với hai chữ xin vâng hằng sẽ không ngừng kêu lên: Ta đã cầu xin được khoẻ mạnh để làm những điều vĩ đại, thế nhưng Chúa lại ban cho ta những bệnh tật để tôi làm những việc tốt hơn. Ta đã xin giàu sang để được hạnh phúc, thế nhưng Chúa đã ban cho ta sự nghèo khó để tôi được khôn ngoan hơn. Ta đã không nhận được điều tôi kêu cầu, nhưng ta nhận được niềm hy vọng. Những lời cầu xin mà ta chưa từng thốt lên, tất cả đều được nhận lời. Bởi vì tất cả đều là hồng ân của Chúa.
Phải kiên nhẫn trong khi cầu nguyện là để tăng thêm ước muốn của ta, và cũng là để tăng thêm giá trị ơn Người sẽ ban. Nếu ta không nhận được điều mình xin, thì không phải là Chúa không sẵn sàng ban ơn, nhưng có thể điều cầu xin ấy không mang lại ích lợi cho linh hồn chúng ta, hoặc Người muốn dành cho chúng ta một ơn lớn lao hơn. Cho dù sự đáp trả của Chúa không như lòng chúng ta mong ước hay không đúng lúc chúng ta mong đợi, thì đó cũng là bởi sự khôn ngoan và lòng yêu thương của một người Cha đầy tình nhân ái.
Bài học trong dụ ngôn về cầu nguyện không phải dạy ta cứ mãi mãi nài xin, không phải chúng ta cứ phải đập vào cửa Thiên Chúa cho đến khi ép buộc Ngài cực chẳng đã phải ban cho ta điều chúng ta muốn, cho đến khi ta cưỡng ép được Thiên Chúa không sẵn lòng chịu trả lời cho ta, một dụ ngôn nói nôm na là một điều gì đó đặt bên cạnh. Nó cho ta thấy sự tương đồng hay tương phản giữa hai sự việc.
Ta thấy Chúa Giêsu ngụ ý như sau: “Nếu một người chủ nhà khó tính và thiếu thiện chí mà cuối cùng có thể bị cưỡng ép bởi quyết tâm của một người bạn trì chí, để phải cho người đó mọi điều mong muốn, huống chi Thiên Chúa là Cha Từ Ái sẽ tiếp trợ mọi nhu cầu cho con cái Ngài hơn biết dường nào! Chúa Giêsu phán: “Nếu các ngươi vốn xấu mà còn biết rằng mình có bổn phận cung cấp nhu cầu cho con cái, huống chi Cha trên trời…”
Chúa Giêsu dạy chúng ta, con cái của Thiên Chúa cần phải biết kiên trì trong cầu nguyện. Coi cầu nguyện như là việc giữa cha và con, điều này cũng nhắc cho chúng ta biết cầu nguyện là một hành vi phát xuất từ một mối tương quan. Chúng ta có thể coi việc cầu nguyện tốt hơn, nhưng chúng ta cũng có thể trở thành những con người tốt hơn của cầu nguyện, khi mối tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa trở nên thân mật gần gũi hơn như là một mối liên hệ giữa cha và con.
Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy sống trong tình con thảo với Cha trên trời. Một người con thảo hiếu luôn sống với Cha trong tình phó thác và với anh em trong tình bác ái. Chính Chúa Giêsu đã sống điều đó. Ngài đã phó thác cuộc đời trong tay Cha đến nỗi chỉ mong ước một điều là tim kiếm ý Cha và làm vinh danh Cha.
2024
CHỌN PHẦN TỐT NHẤT
8.10 Thứ Ba Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm
Gl 1:13-24; Tv 139:1-3,13-14,14-15; Lc 10:38-42
CHỌN PHẦN TỐT NHẤT
Tin mừng theo thánh Luca 10,38-42 kể cho chúng ta một câu chuyện rất đơn giản nhưng cũng đầy cảm động.
Theo Tin mừng Gioan thì cô Mácta và Maria là hai người chị của anh Ladarô. Gia đình này gồm những người bạn khá thân tình của Chúa Giêsu, cư ngụ ở Bêtania gần Giêrusalem. Dù vậy, sự kiện Chúa Giêsu đến nhà hai người phụ nữ là Mácta và Maria rồi giảng dạy ở nhà họ thực ra vẫn là một sự kiện có phần bất thường.
Tuy nhiên chính sự việc có vẻ bất thường này lại rất đáng để chúng ta chú ý vì nó cho thấy Chúa Giêsu không hề phân biệt đối xử nhưng Ngài nhìn đến với từng con người, dù là đàn ông hay đàn bà; họ đều là đối tượng được Thiên Chúa ưu ái, yêu mến cho nên Ngài sẵn sàng đến nhà của hai người phụ nữ và giảng dạy ở đó.
Và khi Chúa Giêsu cùng với các môn đệ đến gia đình này thì trong việc tiếp đón, hai chị em Mácta và Maria đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau: cô Mácta thì giữ vai trò của người chủ trong gia đình, lo lắng chuẩn bị bữa ăn cho khách, còn cô Maria thì giữ vai trò tiếp chuyện với khách. Sự phân vai trong nhiệm vụ này cũng là bình thường vì nhà có hai chị em.
Tuy nhiên cách miêu tả của thánh Luca trong bài Tin mừng lại vượt ra khỏi cái khung cảnh cụ thể trong thực tế và nhắm đến những mục tiêu thần học, tức là vượt xa hơn việc miêu tả một sự kiện lịch sử. Do đó, chúng ta cần giải thích sự khác biệt trong vai trò cũng như trong cách hành xử của Mácta và Maria theo cái nhìn và với mục tiêu thần học hơn là theo quan điểm lịch sử.
Ở câu 39, tác giả Luca khắc họa hình ảnh của cô Maria như là một người môn đệ ngồi bên chân Chúa và lắng nghe lời Ngài. Kiểu nói ‘ngồi dưới chân’ là kiểu nói được thánh Luca dùng trong diễn từ của thánh Phaolô ở Cv 22,3 (=ngồi dưới chân Gamalien) để chỉ tư cách của người môn đệ; người môn đệ là người ngồi dưới chân của thầy mình. Rồi động từ ‘lắng nghe’ lại được tác giả chia ở thời vị hoàn có ý diễn tả sắc thái liên tục và kéo dài của thái độ lắng nghe. Như vậy bằng cách nói cô Maria ngồi dưới chân Chúa và lắng nghe lời Ngài, tác giả muốn khắc họa cô Maria như là điển hình của người môn đệ.
Cô Mácta lại được Luca mô tả với những đường nét khác: tất bật phục vụ khách. Sự tất bật phục vụ của cô Mácta cũng được tác giả nhấn mạnh với mục tiêu khắc họa một cách rõ nét hơn, sự khác biệt và thậm chí là sự đối nghịch của cô Mácta so với tư thế môn đệ chăm chú lắng nghe của cô Maria.
Vì thế, có thể nói trong câu chuyện của Luca, cô Mácta là hình ảnh điển hình của những thành viên trong cộng đoàn Hội thánh luôn nhiệt thành hoạt động và coi những hoạt động đó có vai trò quan trọng hơn hẳn so với thái độ của những người môn đệ luôn giữ tâm hồn ở trong tư thế lắng nghe Lời.
Đó chính là ý nghĩa và chủ đích thần học của tác giả Luca trong cách ông khắc họa những đường nét của nhân vật Maria và của Mácta trong câu chuyện. Chúng ta cần phải hiểu theo ý nghĩa này hơn là chỉ giải thích theo nghĩa lịch sử.
Rồi tác giả kể tiếp có lẽ với một chút bực mình: cô Mácta không nói gì với em mình cả. Đây là vấn đề. Cô tiến lại bên Chúa Giêsu và nói với Ngài, chứ không nói với em mình: “Thưa Thầy, em con để con phục vụ một mình mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”.
Tại sao Mácta lại muốn Maria giúp một tay, có phải để cô cũng được nghe lời dạy của Chúa Giêsu hay là bởi vì khách đông quá cô không thể phục vụ một mình? Chúng ta không biết lý do và có lẽ cũng không cần chú ý đến lý do tại sao cô Mácta lại muốn em mình giúp một tay vì đó không phải là điểm nhấn của câu chuyện.
Trước lời yêu cầu của cô Mácta, Chúa Giêsu phản ứng như thế nào? Tác giả Tin mừng ghi lời Chúa đáp: “Mácta, Mácta ơi, chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”.
Trước hết, trong câu trả lời này của Chúa Giêsu, chúng ta chú ý cách Chúa Giêsu gọi tên Mácta 2 lần: “Mácta, Mácta”. Trong Kinh thánh, cách gọi tên 2 lần này luôn luôn là dấu hiệu báo trước một sự việc quan trọng, thậm chí là nghiêm trọng. Ví dụ như ở St 22,11 Thiên Chúa gọi Ápraham: “Ápraham, Ápraham!” Thiên Chúa gọi ông 2 lần như vậy là để ngăn ông sát tế Isaác con trai của ông. Lúc ấy, Ápraham đã đặt cậu con trai của mình trên bó củi, ông rút dao tính giết Isaác sát tế cho Thiên Chúa thì ngay lúc đó thần sứ của Thiên Chúa gọi: “Ápraham! Ápraham!”. Đó là một chuyện hết sức quan trọng. Ở một chỗ khác, chúng ta cũng thấy xuất hiện cách gọi tên 2 lần này, đó là khi Thiên Chúa gọi: “Samuel! Samuel!” và Chúa gọi đến ba lần. Đó là trong Cựu ước. Sau này, Chúa Giêsu phục sinh cũng gọi thánh Phaolô trên đường Đamát: “Saun! Saun!”. Trong Kinh thánh dù là Cựu ước hay Tân ước, chúng ta thấy cách gọi 2 lần đó là một dấu hiệu cho thấy có chuyện quan trọng.
Trong đoạn Tin mừng Luca chúng ta đang phân tích đây cũng vậy. Khi Chúa Giêsu gọi cô Mácta 2 lần liên tiếp: “Mácta! Mácta!” tức là đang có một chuyện rất nghiêm trọng xảy ra. Và quả thực, phản ứng và lời nói của cô Mácta ở đây cho thấy cô đang ở trong một tình trạng rất đáng ngại. Tại sao đáng ngại? Đáng ngại không phải là vì cô ta đang tất bật lo lắng việc này việc kia mà vấn đề là qua lời cô nói với Chúa Giêsu, Mácta cho thấy cô đã không hiện diện và đã không làm việc trong tư thế của một người môn đệ, mà trái lại, xem ra cô đang làm ngược lại.
Cô Maria ngồi bên chân Chúa mà lắng nghe Ngài, đó là cô đang hiện diện trong tư thế của một môn đệ lắng nghe lời Chúa Giêsu. Khác với Maria, cô Mácta đang đi thì dừng lại (nghĩa là đang trong tư thế đứng), cô đứng bảo Chúa Giêsu cần phải làm gì: “Em con để con làm việc một mình mà Thầy không thấy sao?” rồi sau đó cô nói Chúa Giêsu cần phải nói gì: “Xin thầy bảo em con giúp con một tay”.
Cô Mácta trong thực tế đang đóng vai một vị tôn sư dạy cho Chúa Giêsu biết Ngài phải làm gì và phải nói gì. Cô đang đứng vào vị trí bậc thầy và đẩy Chúa Giêsu xuống vị trí của người môn đệ cần được cô dạy cho biết phải nói gì và phải làm gì. Khi trật tự bị đảo lộn đến mức độ nguy hiểm như vậy thì chúng ta hiểu được phản ứng của Chúa Giêsu thể hiện qua cách gọi: Mácta! Mácta!
Sự nghiêm trọng không nằm ở chỗ cô ta tất bật không ‘chịu’ nghe lời của Chúa mà nằm ở chỗ là cô ta xếp Chúa ở vị trí một học trò trong khi Mácta trở thành một cô giáo, một bậc tôn sư dạy cho Chúa biết phải làm và nói gì. Đó là một tình cảnh rất nghiêm trọng, khác hẳn với thái độ của Maria ngồi dưới chân Chúa và lắng nghe lời Ngài trong thái độ của một người môn đệ.
Rồi Chúa nói tiếp: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi”. Ở đây, Chúa Giêsu đặt đối lập giữa một bên là lo lắng nhiều chuyện với bên kia là chỉ có một chuyện cần thiết; đặt đối lập giữa hai chuyện này để làm nổi bật vẻ đẹp của thái độ lắng nghe lời Ngài giảng dạy.
Mối bận tâm về Nước Thiên Chúa phải chiếm vị trí ưu tiên tuyệt đối so với mọi sự khác, cho dù những sự ấy không hề bị phủ nhận cũng không hề bị đánh giá thấp. Nhưng mối bận tâm về Nước Thiên Chúa vẫn phải là mối bận tâm chiếm vị trí ưu tiên tuyệt đối. Đó chính là ý nghĩa của lời Chúa Giêsu nói với cô Mácta: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi”. Chỉ có chuyện về Nước Thiên Chúa mới là chuyện cần thiết nhất.
Rồi Chúa khẳng định Maria đã chọn phần tốt nhất. Phần tốt nhất ở đây không phải là chẳng làm gì cả mà phần tốt nhất mà Maria đã chọn là hiện diện trong tư thế của một môn đệ. Lắng nghe lời của Chúa Giêsu, hiện diện trong tư thế của một môn đệ của Chúa Giêsu, đó mới là phần tốt nhất chứ không phải là ở nhưng không, không làm gì cả. Maria đã chọn phần tốt nhất tức là chọn hiện hữu, và tất nhiên ở trong cả hoạt động nữa, trong tư thế của một môn để lắng nghe lời của Chúa Giêsu, đó chính là phần tốt nhất.
2024
HIỆU LỰC LỜI KINH MÂN CÔI
7.10 Thứ Hai Đức Mẹ Mân Côi
Gl 1:6-12; Tv 111:1-2,7-8,9,10; Lc 10:25-37
HIỆU LỰC LỜI KINH MÂN CÔI
Mỗi khi tháng Mười về, những người con thảo của Đức Mẹ lại rộn ràng với những điệu vãn lời kinh để cùng tôn vinh Mẹ và cùng Mẹ suy ngắm cuộc đời Chúa Cứu thế. Mỗi lời kinh “Ave Maria” được sánh ví như một đóa hồng dâng kính Đức Mẹ. Lời kinh Mân Côi muốn diễn tả với chúng ta biết bao điều tốt đẹp.
Cách đây 1000 năm, đạo quân Thổ Nhĩ Kỳ đe dọa trầm trọng thế giới công giáo. Tình hình càng thêm bi thảm hơn nữa vào thế kỷ XVI. Họ tiến vào châu Âu và quyết tâm dứt điểm bằng một cuộc hải chiến tại vịnh Lépante. Trong khi đạo quân Công giáo với một lực lượng yếu kém hơn nhiều xông ra chiến trận, thì tại Rôma, Đức Giáo Hoàng đã tổ chức những hiệp hội Mân Côi, liên tục lần chuỗi, dâng lên Mẹ những lời kinh thắm thiết để xin Mẹ nâng đỡ phù trợ. Và sau cùng đạo quân công giáo đã chiến thắng. Để tạ ơn Đức Mẹ và để ghi nhớ cuộc chiến thắng này, Đức Thánh Cha Piô V đã thiết lập lễ Mẹ Mân Côi mà chúng ta mừng kính ngày hôm nay.
Còn với chúng ta thì sao? Đôi khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, ngán ngẩm khi phải lần chuỗi. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta chưa lần chuỗi cho đúng cách. Tại một giáo xứ nọ, thầy giúp xứ hướng dẫn một số em vào nhà thờ để lần hạt chung với nhau. Tại mỗi ngắn, thầy bèn trao cho các em xem một bức hình liên hệ. Chẳng hạn năm sự Mừng thứ nhất thì ngắm, Đức Chúa Giêsu sống lại. Các em sẽ nhìn thấy bức hình lộng lẫy: Chúa Giêsu phục sinh, khải hoàn ra khỏi mồ, còn những tên lính canh thì hoảng sợ vứt bỏ khí giới trước luồng ánh sáng chói loà.
Dĩ nhiên chúng ta không thể làm như vậy mỗi khi lần hạt, nhưng chúng ta có thể nghĩ tưởng trong đầu óc, nhờ đó mà chúng ta như được tham dự vào chính những biến cố mà mỗi ngắm, mỗi mầu nhiệm của kinh Mân Côi gợi lên. Trong tháng 10 cũng như trong suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy dâng lên cho Mẹ những lời kinh Mân Côi sốt sắng, là như những bông hồng tươi xinh, để xin Mẹ nâng đỡ và phù trợ cho chúng ta luôn mãi.
Với lời thưa “Xin Vâng” của Đức Mẹ, điều vô cùng kỳ diệu xẩy ra: Thiên Chúa đến ở với loài người. Thiên Chúa vô hạn đến ở trong thân xác hữu hạn. Thiên Chúa vô thủy vô chung đi vào lịch sử để trở nên có sinh có tử. Đây là đại hạnh của con người. Nhân loại khổ đau có Thiên Chúa đến cùng chia sẻ nâng đỡ, chữa lành. Nhân loại đi trong đêm tối có Thiên Chúa đến dẫn đường chỉ lối. Nhân loại bơ vơ có Thiên Chúa đồng hành. Còn hơn thế nữa, Thiên Chúa không chỉ đến để đồng hành, để an ủi nhưng Thiên Chúa còn đến biến đổi thân phận con người. Thư Galata cho biết Thiên Chúa sinh làm con loài người để ta được nâng lên làm con Thiên Chúa. Thiên Chúa chịu nghèo để ta được giầu có vì được thừa kế gia tài, được hưởng vinh phúc của Thiên Chúa.
Những điều kỳ diệu ấy chỉ được thực hiện nhờ thái độ của Đức Mẹ. Khi thưa với thiên thần: “Này tôi là tôi tớ của Chúa”, Đức Mẹ đã cộng tác trọn vẹn với Thiên Chúa để chương trình của Thiên Chúa được thực hiện. Vào thời Đức Mẹ nô lệ có nghĩa là không có quyền gì hết. Nô lệ hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của chủ. Chủ có thể bán đi. Chủ có quyền hành hạ, giết chết nô lệ mà không có tội trước pháp luật. Nô lệ không có quyền sống cho mình, mà sống vì chủ, cho chủ. Khi xưng mình là “tôi tớ”, Đức Mẹ từ bỏ tự do, từ bỏ quyền sống của mình để hoàn toàn cho Thiên Chúa sử dụng. Từ đó Chúa ở trong Đức Mẹ. Đức Mẹ đi đâu cũng có Chúa ở cùng. Vì thế sự hiện diện của Đức Mẹ là hiện diện của Chúa. Đức Mẹ đi đến đâu là sinh ơn phúc đến đấy. Đến thăm bà Isave đem ơn cứu độ cho thánh Gioan Baotixita khiến thánh nhân nhảy mừng từ trong lòng mẹ. Đến tiệc cưới Cana làm cho đám cưới ngập tràn niềm vui vì được thưởng thức thứ rượu ngon chưa bao giờ có.
Từ khi về trời Đức Mẹ vẫn tiếp tục viếng thăm con cái trần gian. Lavang, Lộ đức, Fatima… không sao kể xiết những ơn lành Chúa xuống qua tay Đức Mẹ. Tuy Lavang, Lộ đức đều là chứng tích việc Chúa và Đức Mẹ đồng hành với con người trong những nỗi khổ đau. Nhưng Fatima mới tỏ tường là nơi Chúa và Đức Mẹ can thiệp vào lịch sử nhân loại. Thực vậy vào tháng 5 năm 1917, tại Fatima, Đức Mẹ tiên báo nước Nga sẽ gieo rắc lạc thuyết vô thần khắp thế giới. Đúng tháng 10 năm đó cách mạng vô sản nổ ra tại Nga và thế giới bị chia đôi. Một nửa theo lý thuyết cộng sản vô thần gay khổ đau cho biết bao người. Tuy nhiên Đức Mẹ cũng chỉ cho ta con đường thoát khỏi sự dữ này bằng cách cầu nguyện cho nước Nga và tuân giữ 3 mệnh lệnh là : ăn năn sám hối, lần hạt Mân Côi và tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ. Có thực hành lời Đức Mẹ dậy, nhân loại mới thoát khỏi cơn thịnh nộ của Chúa, thế giới mới được hòa bình. Sứ điệp Fatima quả đã đi vào lịch sử thế giới, hướng dẫn lịch sử thế giới và chữa trị những vết thương của thế giới.
Nếu chương trình của Chúa cần có Đức Mẹ “xin vâng”, thì trong chương trình của Đức Mẹ cũng cần một người con quảng đại dâng hiến toàn thân cho Đức Mẹ sử dụng. Người đó chính là Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II có lòng yêu mến Đức Mẹ nồng nàn. Ngài đã viết Tông huấn “Kinh Mân Côi” để tôn vinh Đức Mẹ. Ngài là vị Giáo hoàng lần hạt chung với dân chúng. Ngài đã lập thêm Năm Sự Sáng cho tràng chuỗi Mân Côi. Nhưng nhất là Ngài dâng hiến toàn thân cho việc phụng sự Đức Mẹ. Khẩu hiệu của ngài là “Totus Tuus”, trích từ câu nói của thánh Louis Grignon de Monfort:Totus Tuus ego sum et omnia mea Tua sunt (Con là tất cả của Mẹ và mọi sự của con đều là của Mẹ).
Ngài đã dâng nước Nga cho Đức Mẹ. Và đáp lại Đức Mẹ đã thực hiện những lời hứa và những bí mật Fatima trong cuộc đời của ngài. Việc nước Nga được ơn trở lại dưới triều Giáo hoàng của ngài là bằng chứng rõ rệt nhất về lời hứa Fatima: “Trái Tim Mẹ Sẽ Thắng”. Theo sau nước Nga là các nước Đông Âu khác. Bản đồ thế giới được vẽ lại. Tình hình thế giới đổi mới khác hẳn. Quả thật Chúa và Đức Mẹ đã can thiệp vào lịch sử thế giới.
Tuy nhiên Đức Thánh Cha phải chịu đau khổ. Và thị kiến chị Lucia thấy người áo trắng bị ám sát đã ứng nghiệm trong đời ngài. Ngài bị bắn đúng ngày 13-5-1981. Tay thiện xạ Ali Agca đứng sát ngài và nhắm bắn trúng chỗ hiểm. Nhưng ngài thoát chết trong gang tấc. Ngài biết Đức Mẹ đã cứu ngài. Nên ngài đến hành hương Fatima tạ ơn Đức Mẹ và đặt đầu viên đạn lên triều thiên Đức Mẹ để tôn vinh quyền phép của Đức Mẹ. Vết thương hành hạ suốt đời đã biến cuộc đời ngài thành cuộc đền tạ Trái Tim Mẹ không ngưng nghỉ.
Đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày Đức mẹ hiện ra tại Fatima, nhưng sứ điệp Fatima vẫn còn mang tính thời sự và cấp thiết. Vì hiện nay biết bao lạc thuyết vẫn lan tràn gieo đau thương chết chóc cho con người. Đức Mẹ vẫn luôn đồng hành với ta như Người đã cùng cầu nguyện với các tông đồ trong nhà Tiệc ly. Đức Hồng Y Fulton Sheen diễn giải lời thiên thần Gabriel: “Này cô Maria, cô có đồng ý đem xương thịt cho Con Thiên Chúa không? Liệu Thiên Chúa có trở nên loài người qua thân xác của cô không?”. Hôm nay Đức Mẹ cũng hỏi ta: “Con có đồng ý cho ta thân xác của con để ta hiện diện với các con, đồng hành với các con không”. Nếu ta đồng ý Đức Mẹ sẽ nhờ thân xác ta mà hiện diện trong thế giới, sẽ uốn nắn thế giới và lịch sử sẽ thay đổi. Ta hãy noi gương ĐTC Gioan Phaolô thưa với Mẹ: Lạy Mẹ, tất cả của con là của Mẹ, xin Mẹ hãy dùng con theo ý Mẹ để Thiên Chúa được vinh danh và nhân loại được hạnh phúc.
Tháng Mân Côi, Giáo hội mời gọi chúng ta hướng về Mẹ Maria là mẹ của Chúa Giêsu cũng là mẹ của chúng ta. Xưa bên cây thập giá Chúa đã trao phó thánh Gioan cho Mẹ. Qua Gioan, Mẹ Maria đã nhận làm mẹ của cả nhân loại. Từ nay Mẹ là mẹ của từng người chúng ta. Từ nay Mẹ sẽ bao bọc chúng ta như mẹ đã từng bao bọc hài nhi Giêsu. Từ nay Mẹ Maria sẽ chăm sóc chúng ta như xưa đã chăm sóc cho Chúa Giêsu con Mẹ. Từ nay Mẹ Maria sẽ đứng bên cuộc đời chúng ta như Mẹ đã đứng kề bên thánh giá Chúa. Từ nay cái đau của chúng ta cũng là nỗi đau của Mẹ. Vì tình mẹ mãi mãi là thế. Hết mình vì con. Chấp nhận khổ vì con. Một tình yêu quên cả chính mình để hết lòng chăm sóc đoàn con như tình mẹ trần thế mà ca dao đã từng nói: “Đêm mùa thu mẹ ru con ngủ – Năm canh dài thức trọn năm canh”.
Thế nhưng, Mẹ Maria đã được gì khi làm mẹ chúng ta? Mẹ có vui khi làm mẹ nhân loại hay không? Nếu vui tại sao mỗi khi Mẹ hiện ra ở nơi này, nơi kia Mẹ đều khóc, đều trầm ngâm, đều lo lắng cho sự an nguy của con cái? Mẹ đều khóc cho nhận thế tội tình. Mẹ đều khóc vì những đứa con sa đàng tội lỗi nhưng không chịu quay trở về. Phải chăng mẹ cũng đang đau khổ khi nhìn thấy những người con vì danh vọng ở đời, vì vinh hoa phú quý mà đánh mất tình mẹ? Phải chăng kịch bản “lá sầu riêng” đang diễn tả nỗi lòng của Mẹ thiên quốc? Nếu đúng vậy, Mẹ cũng đang bảo chúng ta: “Con ơi! Chẳng lẽ chỉ vì một chút bổng lộc trần gian mau qua mà con đã vội quên tình mẹ? Và không lẽ chỉ vì những vinh hoa trần thế mau qua mà con đã từ chối mẹ sao? Hãy nhận mẹ làm mẹ để mẹ tiếp tục yêu con, để mẹ tiếp tục hy sinh cho con, và để mẹ tiếp tục che chở bảo vệ con”.
Xin cho mỗi người chúng ta biết nhận ra tình thương của mẹ để sám hối ăn năn về những lỗi lầm của mình. Xin giúp chúng ta đừng vì vinh hoa phú quý mà lạc xa tình mẹ. Ước gì chúng ta luôn trân trọng tình mẹ, luôn gắn bó với mẹ, luôn cậy dựa vào mẹ để nhờ Mẹ và qua Mẹ chúng ta lãnh nhận được muôn vàn ơn lành hồn xác của Chúa.
2024
Niềm Vui Ðích Thực
5.10 Thứ bảy Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mươi-Sáu Mùa Quanh Năm
G 42:1-3,5-6,12-16; Tv 119:66,71,75,91,125,130; Lc 10:17-24
Niềm Vui Ðích Thực
Tin Mừng hôm nay thuật lại sự vui mừng hớn hở của Bảy mươi hai môn đệ sau khi trở về từ một chuyến truyền giáo thành công rực rỡ. Chia sẻ niềm vui với các ông nhưng Chúa Giêsu nhắc nhở các học trò của mình rằng: Đừng vui mừng vì sự thành công của mình, cũng như đừng vui mừng vì ma quỷ khuất phục các ông nhưng hãy vui mừng vì nước Thiên Chúa đang dược mở rộng và mình được ghi tên làm công dân Nước Trời.
Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai họ ra đi rao giảng Tin Mừng; họ gặp nhiều chống đối, nhưng cũng gặt hái được nhiều thành công. Tin Mừng hôm nay thuật lại rằng sau một thời gian ra đi rao giảng, các ông hớn hở trở về nói lên niềm vui của mình, vì đã nhờ quyền năng của Chúa mà xua trừ được ma quỉ, nhưng Chúa Giêsu muốn cho các ông thấy rằng Ngài đến là để giải phóng con người nô lệ và đưa họ tới tự do đích thực.
Chúa Giêsu đã chọn ra nhóm Mười Hai và sai đi rao giảng về Nước Thiên Chúa và chữa lành các bệnh tật. Các ông là những tông đồ thân tín, sống gần gũi bên Thầy Giêsu.
Sau đó, nhìn thấy lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì vẫn còn quá ít, nên Đức Giêsu lại sai thêm nhóm Bảy Mươi Hai môn đệ lên đường để tiếp nối công việc gieo gặt lúa cho Cánh Đồng Nước Trời.
Sau khi lên đường đi khắp mọi nơi theo lệnh truyền của thầy Giê-su, nhóm Bảy Mươi Hai đã gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp. Họ vui vẻ, hớn hở, trở về và khoe những thành tích mà mình đã đạt được với Chúa Giêsu: Nghe chúng con nói đến danh của Thầy, ma quỷ quá khiếp sợ và phải khuất phục chịu thua chúng con luôn.
Chúa Giêsu liền bảo các ông: Mặc dù Thầy đã ban cho các con quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được các con. Nhưng Thầy cũng thấy Xa-tan nham hiểm, độc ác… Chúng nhanh như một tia chớp từ trời sa xuống, vì thế các con chớ vội mừng vì quỷ thần phải khuất phục các con. Nhưng hãy mừng vì tên của các con đã được ghi trên Nước Trời.
Thật vậy, đời sống thiêng liêng của các Ki-tô hữu là một cuộc chiến đấu trường kỳ chống lại nhiều hình thái cám dỗ của ma quỷ. Trong mọi cuộc chiến, chắc chắn sẽ có lúc chiến thắng vang dội nhưng cũng có lúc thua trận tơi tả. Do đó, Chúa Giê-su bảo các môn đệ hãy luô luôn tỉnh thức và cảnh giác với những mưu chước cám dỗ của ma quỷ. Chớ có vui mừng trên chiến thắng. Nhưng hãy thật sự vui mừng vì được mình Cứu Rỗi nhờ Lòng Thương Xót Chúa, hãy thật sự vui mừng vì được ghi tên trong Nước Trời, được chiêm ngưỡng Nhan Thánh Chúa đời đời. Đó mới là điều thật sự đáng mừng, đáng mừng hơn là đã chiến thắng quỷ thần một vài lần.
Giải phóng con người khỏi ách nô lệ và đưa con người vào tự do đích thực, đó là sứ mệnh mà Giáo Hội tiếp tục thực thi trong thế giới này. Chúng ta có thể nhận ra sứ mệnh ấy qua diễn văn Ðức Gioan Phaolô II đọc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc vào ngày 5/10/1995. Ðức Thánh Cha ghi nhận rằng con người càng ngày càng tìm kiếm tự do và đây chính là điểm nổi bật của thời đại chúng ta. Sự tìm kiếm tự do ấy đặt nền tảng trên các quyền phổ quát của con người. Chính vì phản ứng lại những hành vi man rợ đối với phẩm giá con người, mà chỉ ba năm sau khi thành lập, Liên Hiệp Quốc đã công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Ðây là một gia sản chung của nhân loại, nó bắt nguồn từ chính bản tính của con người, trong đó có phản ánh những đòi hỏi khách quan và không thể hủy bỏ được của một luật luân lý phổ quát.
Sống theo những khát vọng cao thượng nhất của mình, con người có thể làm được những điều xem ra vượt quá khả năng của nó. Ðó là sứ điệp chúng ta có thể đọc thấy trong Tin Mừng hôm nay: các môn đệ ra đi với hai bàn tay trắng, họ không có một khí giới nào khác ngoài sự siêu thoát và niềm tin vào quyền năng của Chúa Giêsu. Vậy mà khi nói về những thành quả của họ, chính Chúa Giêsu đã thốt lên: “Ta đã thấy Satan như tia chớp từ trời rơi xuống”. Ðó chính là sức mạnh của những người mà Chúa Giêsu gọi là những kẻ bé mọn.
Ngày nay, người Kitô hữu cũng có thể thực hiện được những điều cả thể ấy nếu họ cũng biết trang bị cho mình một niềm tin vào quyền năng của Chúa, nhất là nếu họ biết sống theo những khát vọng cao thượng nhất của con người. Những khát vọng đó là gì, nếu không phải là tự do, công bằng, bác ái, liên đới. Nếu họ thực sự sống theo những khát vọng thâm sâu ấy và sống tín thác nơi Thiên Chúa ngay cả khi gặp thất bại khổ đau, lúc đó họ mới có thể hưởng được niềm vui đích thực mà các môn đệ Chúa Giêsu đã bày tỏ khi gặp lại Ngài.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn nếm được niềm vui đích thực ấy trong cuộc sống hằng ngày.
