2023
Sự Thật Cứu Rỗi
2.5. Thánh Anathasiô, Gmtsht
Cv 11:19-26; Tv 87:1-3,4-5,6-7; Ga 10:22-30
Sự Thật Cứu Rỗi
Sinh trong một gia đình Kitô Giáo ở Alexandria vào cuối thế kỷ thứ ba, và ngay từ thời niên thiếu, ngài có lòng đạo dức, học thức, và nắm bắt sâu xa lời sách Kinh Thánh. Ngài rời nhà cha mẹ, và được Đức Giám mục Alexandria nuôi dạy giống như Samuen ở trong đền thờ của Chúa, xứng với con người được Thiên Chúa chọn để làm nhà quán quân bảo vệ Hội Thánh của ngài chống lại bè rối Ariô chối bỏ thần tính của Đức Kitô.
Ngay khi còn là một thầy phó tế trẻ, ngài đã được Đức Giám mục Alexandria, Giám mục của ngài, chọn tháp tùng đi dự công đồng Nicêa, vào năm 325 CN. Các nghị phụ chú ý đến ngài bởi tầm học thức và tài khéo léo qua đó ngài bảo vệ đức tin. Năm tháng sau, Đức cha Alexander khi sắp qua đời, đã dặn dò lại Hội Thánh Alandria chọn ngài làm người kế vị ngôi vị Thượng phụ Giáo chủ Alxandria. Ở lại trong nhiệm vụ này 46 năm, vị Thượng phụ Giáo chủ mới đứng mũi chịu sào mọi cuộc tấn công của những người theo Ariô, và thường là trong cảnh cô thân và không được bảo vệ.
Lúc đầu, cuộc chiến dường như dễ dàng chiến thắng và lạc thuyết Arian sẽ bị kết án. Nhưng thực tế thì trái ngược. Khi con người bất khuất Athanasiô từ chối cho Ariô trở lại trong sự hiệp thông Công giáo, thì hoàng đế Constantinô đã triệu tập Công Ðồng Tyre và vì một vài lý do không rõ ràng, ông đã trục xuất Ðức Athanasiô đến miền Bắc nước Pháp (Gaul). Sau đó hoàng đế ra lệnh cho vị Thượng phụ Giáo chủ Công giáo tại Constantinôpôli tiếp nhận lại ông tổ ly giáo này. Cái chết của con người lâm lạc đạo thật ý vị. Ông ta đã thề là ông luôn luôn tin như Hội Thánh tin, cho dù ông đã dạy rằng có một thời buổi khi Ngôi Lời đã không hiện hữu.
Chính từ sự kiện này mà vị Thượng phụ Giáo chủ Công giáo tại Constantinôpôli, cùng với thánh Giacôbê thành Nisibê khi ấy có mặt tại Constantinôpôli, và thánh Athanasiô tại Pháp cùng các người Công giáo khắp mọi nơi, đã nại tới chay tịnh và cầu nguyện, để Thiên Chúa tách xa khỏi Hội Thánh sự phạm thượng ghê gớm này. Vào ngày tên lạc đạo này vào lại trong nhà thờ lớn của Đức Khôn Ngoan, nhóm của hắn tinh thần phơi phới trong chiến thắng. Nhưng trước khi tới nhà thờ, thì cái chết đã giáng xuống trên tên lạc đạo một cách nhanh chóng và khủng khiếp, và cái tội phạm thánh ghê gớm này đã được đánh bạt đi.
Thánh Athanasiô đứng vững không lay chuyển chống lại cả bốn hoàng đế Rôma, là những người phát vãng ngài năm lần, và ngài là mục tiêu cho những sỉ nhục, vu khống và xuyên tạc mà những người theo Ariô đã có thể nghĩ ra. Ngài sống liên tục trong nguy hiểm phải chết. Dù ngài cứng rắn, mạnh mẽ như kim cương trong việc bảo vể đức tin, nhưng lại hiền lành và khiêm nhường, dễ thương và lưu loát trong ăn nói, và không ai vượt qua được trong lòng nhiệt thành vì các linh hồn. Từ các nơi lưu đày, ngài đã viết những công trình lớn để dạy dỗ và củng cố đàn chiên; đấy là những tác phẩm phong phú trong tư tưởng và uyên bác, rõ ràng, sắc sảo và vững bền trong cách diễn tả.
Trong hai bộ sách “Chống lại những người ngoại đạo” và
”Việc Nhập thể của Ngôi Lời”, ngài trình bày về ơn Cứu chuộc, nêu rõ niềm tin Con Thiên Chúa, Ngôi Lời hằng hữu, qua Ngài Thiên Chúa đã tạo thành vũ trụ, đã đi vào thế giới dưới hình thể con người để dẫn đưa con người trở lại với sự hài hòa nguyên thủy họ đã được hưởng, nhưng đã sa ngã và đánh mất. Công trình này hiển nhiên thách thức học thuyết của Ariô nêu ra rằng Chúa Con là một hữu thể kém Chúa Cha. Trong các văn bản của ngài về đời sống khổ hạnh, cuốn Ðời Sống Thánh Antôn được nhiều người biết đến và góp phần lớn trong việc thiết lập đời sống đan viện trên khắp thế giới Kitô giáo Tây phương.
Những người ngưỡng mộ ngài kể lại câu chuyện về câu trả lời cho nhóm tìm bắt ngài khi họ đuổi theo ngài dọc theo con suối, khi ngài đang tẩu thoát bằng thuyền. Khi biết họ sắp lại gần, ngài đã ra lệnh cho người chủ thuyền quay ngược thuyền lại để đi. Khi thuyền của những kẻ đi lùng kiếm ngài tới gần, họ hỏi sang thuyền ngài “có thấy Giám mục Alexandria đi qua không”. Ngài trả lời, “cứ tiếp tục tìm đi; ông ấy không ở xa đây đâu”. Khi hoàng đế Valens trả ngài về lại Alexandria vì sợ dân chúng nổi loạn, cuộc đời đầy bão tố của thánh nhân khép lại trong an bình ngày 2-5-373.
Không phải chỉ trong thời đại văn minh này người ta mới lịch sự đón tiếp đại sứ của một chính phủ hay nguyên thủ của một quốc gia đúng theo địa vị đại diện của họ. Nhưng ngay từ thời xưa, hậu đãi hay ngược đãi sứ giả của một vua là đã phụ đãi hay ngược đãi chính nhà vua và chính quốc gia mà người ấy đại diện. Không phải vì tiếng tăm, học vấn hay tài trí của sứ giả làm cho họ được kính trọng mà chính vì thay mặt nhà vua và một quốc gia mà họ có quyền được hậu đãi như thế. Ðây cũng là điều mà Chúa Giêsu nói với những người Do Thái thời xưa như được kể lại trong đoạn Tin Mừng vừa trích dẫn trên đây.
Câu hỏi mà họ đặt ra trong lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy tại đền thờ làm ta nhớ đến câu hỏi của thượng tế Caipha trong phiên họp thượng hội đồng: “Nếu ông là Ðấng Kitô thì xin hãy nói thẳng ra đi. Ông có phải là Ðấng Mêsia không?”. Trong câu chất vấn này, Chúa Giêsu đã không phủ nhận. Chỉ có điều Chúa Giêsu trả lời một cách hơi gián tiếp như sau: “Tôi đã trả lời câu hỏi này mà các ông không tin”. Nhưng dù vậy, Chúa Giêsu không bỏ rơi họ để giúp họ tìm thấy sự thật, tìm ra câu trả lời. Chúa Giêsu đã khéo léo làm cho họ chú ý đến quan hệ mật thiết giữa Ngài với Thiên Chúa Cha, mật thiết đến độ Ngài gọi Thiên Chúa là Cha Ngài và làm chứng cho mối quan hệ mật thiết đó bằng việc làm nhân danh Cha Ngài, và việc cao trọng nhất là ban cho kẻ tin Ngài được sự sống đời đời: “Ta sẽ cho họ sống đời đời. Họ sẽ không chết bao giờ và không ai có thể cướp họ khỏi tay Ta”.
Nếu đã nhìn nhận mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa, thì hẳn những người Do Thái sẽ biết trả lời cho câu hỏi “Ông là ai?” như thế nào rồi. “Ta và Cha Ta, chúng ta là một”. Ðây là mạc khải quan trọng nhất nhắc ta nhớ lại những suy tư mở đầu Phúc Âm thánh Gioan: “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời sống với Thiên Chúa ngay từ đầu. Vạn vật do bởi Ngài mà có và nếu không có Ngài thì sẽ không có gì cả”. Tác giả Phúc Âm thánh Gioan đã có những suy tư cao siêu như vậy khi nhìn về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô trong viễn tượng Chúa Phục Sinh.
Ước chi mỗi người đồ đệ của Chúa trong ngày hôm nay cũng tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi nhân loại.
2023
Lắng nghe mục tử
1.5 Thứ Hai trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh
Cv 11:1-18; Tv 42:2-3; Ga 10:1-10; Ga 10:11-18
Lắng nghe mục tử
Chúa Giêsu tự xưng Ngài là cửa chuồng chiên. Vậy những ai qua cửa ấy mà vào là mục tử đích thực. Người mục tử chăn chiên chỉ vì yêu, anh ta dành trọn tấm lòng cho đoàn chiên và thí mạng sống mình vì đoàn chiên. Người mục tử thì dịu dàng, chân thành, gần gũi và yêu thương. Anh ta hướng dẫn, sửa dạy, bảo vệ và chăm sóc đoàn chiên cách chu đáo và ân cần.
Quả tim của người mục tử tốt là quả tim triển nở trong tình yêu và họa lại trái tim nhân lành của Thiên Chúa. Một người mục tử nhân lành đúng nghĩa phải lấy Chúa Giêsu làm tấm gương mẫu mực của mình, và chỉ khi đi theo tư tưởng, đường hướng của Ngài, khi đó, người mục tử mới trở nên một mục tử đúng nghĩa.
Phần chúng ta, là những Kitô hữu nhờ phép rửa và được bửu huyết Đức Kitô đổ ra trên thập tự giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, cho ta trở nên con cái Thiên Chúa. Chúa Giêsu là cửa mà cũng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống (Ga 14,6). Vì vậy, đã là con cái Chúa, chúng ta phải bước theo Ngài, bước đến cánh cửa mà vào
Đoạn tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết những đặc tính cần phải có của người mục tử nhân lành:
Dám hy sinh mạng sống mình:Đoàn chiên không phải là của người chăn thuê, nên anh ta không thiết tha gì để bảo vệ đàn chiên. Mục tiêu của người chăn thuê thường là vì lợi ích của bản thân. Vì thế khi có sói dữ tấn công, anh ta sẽ dễ dàng bỏ mặt chiên cho sói dữ ăn thịt, còn anh ta thì sẽ tìm cách thoát thân. Còn mục tử chân chính thì sẵn sàng đứng ra chống lại sói dữ để bảo vệ đàn chiên mình, dù phải đối mặt với hiểm nguy, cho dù phải hy sinh mạng sống.
Biết chiên của mình:Cái biết của người mục tử không chỉ là cái biết chung chung về số lượng, hời hợt về tên gọi. Nhưng mục tử đích thực phải biết chất lượng: tình trạng, nhu cầu, ước muốn sâu xa của chiên mình. Cái biết đến độ đồng thân, đồng phận, đồng cảm và đồng tử với chiên mình.
Quan tâm và đưa những chiên xa lạc về đàn:Vì chiên cần có chủ chiên nên chủ chiên phải quy tụ chiên vào cùng một đàn để chăm sóc, bảo vệ và nuôi dưỡng cho chúng được sống và sống dồi dào. Do đó chủ chiên không chỉ quan tâm đến chiên trong đàn mà còn tìm cách để đem các chiên ngoài đàn về, để chúng được hiệp nhất trong cùng một đàn dưới sự hướng dẫn của cùng một chủ chiên.
Mục tử là khái niệm rất quen thuộc của người Dothái; đàn chiên chính là gia sản của họ, nên ai cũng biết. Mục tử và đàn chiên cả hai đều sống du mục, nay đây mai đó, luôn tìm đến chỗ có đồng cỏ tươi, dòng suối mát để hạ trại.
Hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là Mục Tử Nhân Lành, được Chúa Cha ban tặng cho nhân loại. Mục Tử Nhân Lành này sẵn lòng hy sinh tất cả vì đàn chiên. Ngài tự ví mình là “Cửa Chuồng Chiên”, tức là người canh phòng, bảo vệ chiên khỏi sói dữ tấn công. Vì thế, ai qua “Cửa” mà vào thì sẽ được sống.
Người Mục Tử Nhân Lành này sẵn sàng dùng mọi cách để giữ gìn chiên, ngay cả cái chết. Ngài yêu thương chiên bằng tình yêu mục tử, nên Ngài “biết” từng con chiên và từng con chiên “biết” Ngài. Vì thế, sự sống của chiên là của Ngài và sự sống của Ngài luôn dành cho chiên.
Ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về Chúa và Chúa thuộc về ta. Chúa “biết” chúng ta và Ngài “biết” cách thấu đáo. Còn chúng ta, chúng ta có “biết” Ngài không, hay có “biết” nhưng “biết” cách vu vơ, lúc biết lúc không?
Hình ảnh người chăn chiên đi trước và đàn chiên theo sau thật đẹp. Điều đó nói lên sự hiệp nhất giữa chủ chăn và đàn chiên, chiên nghe theo chủ chăn và do đó, chỉ có một chủ chiên và một đàn chiên.
Hiệp nhất vốn là dấu chỉ của tình yêu. Chúa Giêsu mượn hình ảnh người mục tử không ngừng đi tìm kiếm những con chiên lạc, để nói lên mối quan tâm của Ngài đối với Giáo hội. Đó chính là chúc thư Ngài để lại trong những giây phút cuối đời.”Xin cho chúng nên một”, “một đàn chiên và một chủ chiên”: đó là hình ảnh của sự hiệp nhất mà Đức Giêsu luôn quan tâm đến. Hình ảnh người mục tử đi tìm kiếm những con chiên lạc cũng nói lên tất cả mối tương quan của Thiên Chúa đối với con người: không phải con người đi tìm kiếm Thiên Chúa cho bằng chính Thiên Chúa đi tìm kiếm con người. Mọi cố gắng của con người xét cho cùng cũng đều là những lôi kéo của Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy nghiêm túc đặt lại câu hỏi ấy cho chính mình, ngõ hầu mỗi người làm mới lại mối tương quan với Thiên Chúa để được đi trong đường lối của Ngài. Đồng thời luôn sẵn sàng làm chứng về những gì mình “biết” về Thiên Chúa cho con người và cuộc sống hôm nay, ngang qua hành vi được biểu lộ nơi lòng mến và niềm tin.
2023
Bỏ đi hay ở lại
29.4 Thánh Catêrina đệ Siena, Đtts
Cv 9:31-42; Tv 116:12-13,14-15,16-17; Ga 6:60-69
Bỏ đi hay ở lại
Chị Ca-ta-ri-na là con áp út trong một gia đình đạo đức có 25 người con. Chị chào đời tại phố Phôn-tê-bơ-ran-đa, miền Xi-ê-na nước Ý năm 1347. Thân phụ là ông Gơ-ra-cô-mô Bê-nin-ca-sa làm nghề thợ nhuộm ; thân mẫu là bà La-pa.
Hồi còn là ấu niên (1354), được ơn Chúa dự liệu, chị đã khấn giữ đức trinh khiết và lướt thắng nhiều khó khăn do những người thân gây ra. Chị đã khởi sự sống cầu nguyện, hãm mình nhiệm nhặt cùng với các Chị Em Hãm Mình Ða Minh (1363), say mê chiêm niệm chân lý đệ nhất là Thiên Chúa mà chị cho là ngọt ngào nhất. Chị cố gắng “nhận biết Thiên Chúa ở trong con người của mình và mình ở trong Thiên Chúa.” Sống tại gia đình rất nhiệm nhặt cho đến năm 1370 là năm chị nhận được mệnh lệnh của Chúa Giê-su để bước vào hành trình dấn thân làm việc tông đồ.
Từ đó, chị được Chúa Thánh Thần ban nhiều ân huệ lạ lùng và chị ngoan ngoãn tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Linh. Lạ lùng thay ! chị có khả năng kết hiệp việc chiêm niệm những mầu nhiệm cao siêu trong thâm tâm với những hoạt động tông đồ bên ngoài. Chị đã dùng những lời nói sắc bén và những bức thư hối thúc đức giáo hoàng trở về Rô-ma (1376). Thêm vào đó, chị còn tạo điều kiện cho nhiều người nam nữ thuộc mọi tầng lớp xã hội đi theo con đường thánh đức và bình an. Lòng bừng cháy lửa mến Chúa, chị nỗ lực để trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá, nên đã xứng đáng được Chúa dùng những tia sáng in các thương tích của Người nơi thân xác chị vào ngày 1-4-1375.
Trong sắc phong thánh của chị có viết : “Giáo thuyết của người không phải là do học hỏi, người được coi là mẫu sư hơn là môn sinh”. Chị đã để lại cho hậu thế nhiều tài liệu thiêng liêng và thần học quý giá, nhất là cuốn “Ðối thoại” (1378), nên ngay từ thời đó, chị đã được đoàn môn sinh gọi là “Mẹ”. Danh hiệu ấy vẫn còn được lưu truyền trong đại Gia đình Ða Minh cho đến ngày nay.
Chị qua đời tại Rô-ma ngày 29-4- 1380 và được an táng tại vương cung thánh đường Ðức Ma-ri-a thành Mi-nê-va. Ðức giáo hoàng Pi-ô II đã ghi tên chị vào sổ các hiển thánh ngày 29-6-1461 ; và ngày 4-10-1970, đức giáo hoàng Phao-lô VI tôn phong chị lên bậc tiến sĩ Hội Thánh.
Bốn bài giảng liên tiếp về Bánh hằng sống của Đức Giêsu đã tạo ra nhiều phản ứng nơi những cử tọa Do thái. Khi Ngài tiết lộ cho họ biết Ngài có Bánh hằng sống, ăn vào sẽ không đói khát nữa, họ liền xin Ngài cho họ thứ bánh đó. Tiến thêm một bước, Ngài cho họ biết Bánh đó chính là Ngài từ trời xuống, họ có phản ứng chống lại ngay, vì họ cho rằng Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse ở Nazareth, làm sao lại có chuyện đó được? Nhưng khi Đức Giêsu cho họ biết Bánh hằng sống đó chính là thịt máu Ngài, phải ăn thì mới có sự sống trong mình, thì họ có phản ứng kịch liệt, vì họ cho đây là một việc tởm gớm không thể chấp nhận được. Thậm chí, cả một số môn đệ cũng có phản ứng tương tự: “Lời này chói tai quá, ai mà nghe được”. Kết quả là một số môn đệ bỏ đi, không theo Ngài nữa.
Tuy nhiên, bài Tin mừng hôm nay chuyển tải cho chúng ta, là giữa sự thất vọng bỏ đi của nhiều người, thì vẫn còn đó Nhóm Mười Hai với lời tuyên xưng của tông đồ trưởng Phêrô: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”. Có lẽ ở đây chúng ta chưa dám chắc Phêrô và các Tông đồ đã hiểu được mầu nhiệm Thánh Thể là lấy thịt Chúa cho nhân loại ăn, nhưng ít nhất Phêrô tin vào uy tín của Thầy không thể nói điều sai lạc.
Lời tuyên xưng còn khẳng định rõ hơn về đức tin là một ân ban mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Lời tuyên xưng của Phêrô và sự trung thành của các Tông đồ là điểm sáng về niềm tin và lòng trung tín cho chúng ta, nhất là ngày hôm nay không thiếu những người đã lìa bỏ Giáo hội. Nếu không có ơn đức tin thì sẽ không thấy sự khác biệt giữa bánh chưa truyền phép và bánh đã được truyền phép không thể cảm nhận được sự hiện diện thực sự của Đức Giêsu trong phép Thánh Thể.
Mẩu đối thoại của Chúa Giêsu với nhiều môn đệ đã khởi đầu bằng lời phản đối của họ và bằng cách họ đánh giá các lời của Người theo cảm xúc. Bây giờ Đức Giêsu ngỏ lời với nhóm thứ ba bên trong đám đông, Nhóm Mười Hai, một nhóm rất gần gũi với Người, nhưng cũng bị cám dỗ, bị lay động, bị thách thức bởi những lời đòi hỏi của Người. Mẩu đối thoại của Người với Nhóm Mười Hai bắt đầu bằng một câu hỏi Người đặt ra: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67).
Câu hỏi này không hề có đặc tính gây hấn, như thể Chúa Giêsu muốn nói: “Anh em cứ việc bỏ đi!”, trái lại câu hỏi này hàm chứa một lời mời ở lại. Chúa Giêsu đặt câu hỏi và để cho các môn đệ tự do quyết định. Nhưng Người không rút lại bất cứ điều gì Người đã nói. Simôn Phêrô đã nhân danh nhóm (“chúng con”) nói lên một câu trả lời có suy ngẫm và nêu ra ba lý do khiến các ông ở lại với Chúa Giêsu chứ không đi theo đa số: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).
Lý do thứ nhất là một suy tư sáng suốt: “Chúng con không thể bỏ đi kiểu mù quáng. Khi bỏ đi, chúng con cần phải biết chúng con muốn bỏ ai, và gặp được điều gì tốt hơn và thuyết phục hơn nơi người nào. Chỉ đơn giản bỏ đi thì không có ý nghĩa”. Suy tư này giúp tránh những quyết định vội vã, theo tình cảm. Bởi vì không tìm được một vị thầy nào dứt khoát khá hơn, thì khôn ngoan là ở lại với Đức Giêsu.
Lý do thứ hai nhắc đến đặc tính của các lời Đức Giêsu. Chính Người đã nói: “Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống” (6,63). Bây giờ Phêrô chấp nhận điều ấy: “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (c. 68). Ông đã hiểu rằng ân ban cao trọng nhất của Chúa Giêsu là sự sống đời đời và nhận biết rằng Chúa Giêsu nói về điều đó trong tư cách đáng tin nhất; Chúa Giêsu không chỉ nói về điều đó, Người còn mang sứ điệp chắc chắn về sự sống đời đời và mở đường vào sự sống đó.
Lý do thứ ba liên hệ đến việc nhận biết bản thân Chúa Giêsu. Phêrô nói về con đường giúp nhận biết như thế và nói về nội dung của nhận thức này. Nhóm Mười Hai đã ký thác và tín nhiệm hoàn toàn vào Chúa Giêsu. Trên nền tảng của thái độ này, các ông đã hiểu và nhận biết rằng Chúa Giêsu là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (c. 69). “Thánh” chính là điều thuộc về Thiên Chúa. Nếu Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, điều này có nghĩa là Người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và được kết nối với Thiên Chúa trọn vẹn. Chính vì Chúa Giêsu có một tương quan đặc biệt với Thiên Chúa, Người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, mà Người có những lời ban sự sống vĩnh cửu, và do đó, thật là điên rồ nếu xa lánh Người.
Khi suy niệm bản văn Ga 6, 60-69, người tín hữu hôm nay không được phép bằng lòng với việc trách móc nhóm môn đệ đã bỏ đi hoặc khen ngợi Nhóm Mười Hai vẫn còn ở lại. Làm như thế là quên mất rằng chính mình cũng là một môn đệ, là một trong Nhóm Mười Hai. Do đó, họ phải tự hỏi: Quan niệm của tôi về Chúa Giêsu lâu nay như thế nào? Tôi đang đặt những niềm chờ mong gì nơi Người? Tại sao tôi còn ở lại với Người? Những câu hỏi này bắt tôi phải ra khỏi tình trạng nửa vời để dứt khoát chọn Chúa Giêsu.
2023
Hãy đến với Thánh Thể
28.4 Thứ Sáu trong tuần thứ Ba Mùa Phục Sinh
Cv 9:1-20; Tv 117:1; 2 Ga 6:52-59
Hãy đến với Thánh Thể
Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ những lời rất thân tình, tha thiết: Ngài sẽ ra đi về cùng Cha rồi Ngài sẽ trở lại đón các ông, để Ngài ở đâu, môn đệ cũng ở đó với Ngài. Ngài cho các ông biết sứ mạng của Ngài là đến trần gian để dẫn đưa nhân loại về cùng Chúa Cha, đến sự sống đời đời. Chính Ngài là con đường duy nhất. Ai muốn đến cùng Cha, muốn có sự sống đích thực thì phải qua con đường đó. Nếu từ chối Ngài, không bao giờ chúng ta có thể đạt tới hạnh phúc viên mãn.
Chúa Giêsu khẳng định với người Do Thái : “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”.
Lời quả quyết đó không khỏi thắc mắc cho họ, như họ nêu lên ngay từ câu đầu bài Tin Mừng : “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?”
Tuy nhiên, Chúa Giêsu muốn làm chứng rằng : Ngài chính là nguồn mạch sự sống của con người; Ngài chính là Đấng mang đến cho nhân loại sự sống thần linh; Ngài chính là của ăn nuôi sống linh hồn con người. Nhưng chỉ những ai có đức tin mới có thể đón nhận được sự sống thật nơi Bí tích Thánh Thể, như Chúa Giêsu quả quyết : “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta.”
Vì thế, một nguyên lý quan trọng nhất của tế lễ Thánh Thể không phải chúng ta làm cho Thiên Chúa xuống trong những dấu chỉ, nhưng chính Thiên Chúa đến với chúng ta, cho chúng ta được ở trong Ngài, cho chúng ta được liên kết với Ngài, được giao ước với Ngài và được sống với Ngài.
Chúng ta xác tín rằng : Chỉ Thiên Chúa mới có thể trao ban cho con người như lương thực để con người được sống. Khi tiếp nhận Chúa Giêsu trong Thánh Thể, người tín hữu tuyên xưng rằng con người không thể sống mà không có Thiên Chúa. Chỉ có sức sống thần linh mới làm cho con người được sống và sống dồi dào.
Chúng ta luôn nhớ rằng : Bí tích Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh. Chúng ta hãy đón nhận lấy Chúa Giêsu như hai môn đệ làng Emmaus, họ đã được Chúa Giêsu chia sẻ trong tiệc bẻ bánh, và từ những người buồn sầu và thất bại họ đã trở thành những người tươi vui.
Chúa Giêsu Thánh Thể luôn luôn làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui. Chúng ta hãy nhớ kỹ điều đó! Khi buồn sầu, khi nản lòng, hãy đi tham dự thánh lễ Chúa Nhật và rước lễ, tham dự vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu!
Tin Mừng hôm nay trình thuật lời tuyên bố của Chúa Giêsu về một vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp tới Ngài và tới tất cả những ai tin Ngài, đó là “Bánh Hằng Sống”. Ngài không nói quanh co bóng gió, nhưng rõ ràng minh bạch: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”. Khi tuyên bố như thế, ngay sau đó, Ngài liền khẳng định: “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 51).
Như một sự tiệm tiến, Chúa Giêsu không chỉ ao ước, cũng như không chỉ có ý định trở thành lương thực cho con người, nhưng Ngài còn thực sự muốn và thực hiện điều đó. Vì thế, Ngài nói: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”; “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (x. Ga 6, 54-56).
Khi tuyên bố như thế, Chúa Giêsu cho thấy, lương thực Ngài ban tặng chính là lương thực Thần Linh, hoàn toàn khác biệt với những thứ lương thực trong đời thường, bởi vì Bánh mà Đức Giêsu trao ban chính là Ngài.
Khi trao ban cho con người chính bản thân mình, Chúa Giêsu mong muốn được trở thành nguồn nuôi sống và nhất là thông truyền sự sống Thần Linh của Ngài cho nhân loại. Sự liên kết này được thể hiện qua việc ăn Thịt và uống Máu Chúa trong niềm tin. Chính vì thế, thánh Phaolô đã nhắc nhở tín hữu Côrintô: “Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình”.
Nói như thế, thánh Phaolô muốn nhấn mạnh đến việc chuẩn bị và ý thức cách xứng đáng để tương xứng với hồng ân cao trọng mà vì yêu, nên Chúa Giêsu sẵn sàng trao hiến cho con người.
Thánh lễ quả là một dịp rất quý giá để chúng ta ăn uống Chúa, nhờ đó được ở trong Ngài và chia sẻ sự sống thần linh của Ngài. Thế nhưng các lễ nghi Thánh lễ vẫn cứ lập lại hầu như ngày này cũng như ngày khác. Điều đó khiến chúng ta quá quen đến nỗi không còn chú ý. Việc rước lễ cũng thế, có nhiều ngày nó chỉ là hành động theo thói quen không chút ý thức.
Thỉnh thoảng tôi cần phải làm sống lại ý thức khi tham dự Thánh lễ và Rước lễ.
Hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta mới cảm nghiệm được thế nào là tình yêu của Chúa Giêsu muốn ở cùng chúng ta, muốn trao ban sự sống của Ngài cho chúng ta. Sự sống của Chúa, tình yêu của Chúa luôn ngự trị trong Bí tích Thánh Thể.
