2023
Kẻ chết sống lại
7.6
Thứ Tư trong tuần thứ Chín Mùa Quanh Năm
Tb 3:1-11,16; Tv 25:2-4,4-5,6-7,8-9; Mc 12:18-27
Kẻ chết sống lại
Tin Mừng hôm nay mô tả cuộc đụng độ đầu tiên giữa Chúa Giêsu và nhóm người Sađốc. Những người Sađốc thuộc về hàng tư tế quý tộc. Về mặt chính kiến, họ theo bọn xâm lược. Về mặt tôn giáo, họ rất bảo thủ. Ðối với họ, lề luật phải tuân theo chỉ có trong năm cuốn sách đầu tiên của Bộ Kinh Thánh. Họ phi bác mọi giáo thuyết xuất hiện sau này do các tiên tri và các bậc trí giả giảng dạy, chẳng hạn việc kẻ chết sống lại. Do đó chẳng có gì ngạc nhiên khi họ tấn công Chúa Giêsu về vấn đề này.
Thật thế, dựa vào niềm tin mà họ cho là đúng đắn, những người Sađốc bắt đầu hỏi Chúa Giêsu bằng bộ luật Môsê, theo đó khi người chồng chết, nếu người vợ anh ta chưa có con, thì người anh (hoặc em) chồng phải cưới bà này để nối dõi tông đường.
Họ đặt ra trường hợp một người đàn bà có bảy đời chồng, vào lúc sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong bảy người anh em vì tất cả đã lấy bà làm vợ? Những người Sađốc hỏi thế, không phải vì thành tâm tìm kiếm để sống theo sự thật, mà chỉ để đùa giỡn với sự thật mà thôi.
Chúa Giêsu biết rõ họ ngoan cố và cố ý thử thách Ngài, nhưng Ngài vẫn điềm tĩnh và chỉ cho họ thấy sự dốt nát lầm lẫn của họ: Thứ nhất, họ thiếu hiểu biết Kinh Thánh và quyền năng của Thiên Chúa; thứ hai, hoàn cảnh con người sau khi sống lại hoàn toàn thay đổi, không giống như lúc còn sống ở trần gian này. Chúa Giêsu nói rõ có sự sống lại, nhưng sở dĩ họ không tin là vì họ thiếu hiểu biết Kinh Thánh. Thật thế, trong sách Môsê, đoạn nói về bụi gai, Thiên Chúa phán: “Ta là Chúa của Abraham, Chúa của Isaac, Chúa của Yacob”, Ngài không là Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống.
Hơn thế nữa, nếu Thiên Chúa đã phán một lời liền có mọi sự, chẳng lẽ Ngài không thể làm cho kẻ chết sống lại sao? Sự sống và sự chết đều do Thiên Chúa, vì thế sự sống lại cũng thuộc về Thiên Chúa. Lại nữa, khi sống lại từ cõi chết, thân xác con người được biến đổi hoàn toàn, nó sẽ giống như các thiên thần, giống như Chúa Kitô Phục Sinh, nên không còn phải chết và cũng chẳng phải dựng vợ gả chồng nữa.
Nỗi bận tâm của những người thuộc phe Xađốc ở thời nào cũng có, dẫu rằng ngày nay người ta diễn tả không y như trước. “Chúng ta sẽ sống với những người thân của chúng ta sao? Tuổi đời đời là bao nhiêu? Có sẽ thoát khỏi những dị hình dị tật, những khuyết điểm của ta không?” Bảng liệt kê sẽ có thể dài dài đến vô tận. Đã thấy có những người lên mặt mô phạm dám đưa ra những câu trả lời cho tất cả những âu lo này, đang khi tự khởi đầu người ta đã đặt vấn đề không đúng; chúng ta sẽ không phải là những xác chết được sống lại để sẽ tiếp tục sống trên trái đất được sửa sang lại, nhưng là những con người mới trong một thế giới mới.
Phải nhận rằng chính Chúa Giêsu không cho ta biết mấy về tình trạng những người đã được phục sinh. Kiểu nói “giống như các thiên thần trên trời” chỉ có ý nói đến một cách thức hiện hữu khác biệt mà thôi. Nếu Thiên Chúa đã cho là tốt việc giữ yên lặng gần như hoàn toàn về tình trạng của đời sống hưởng phúc mai sau, thì thiết tưởng con người vì không đủ tư cách nên cũng đừng nói gì về đời sống xã hội ở đời sau. Những người đã được tuyển chọn hưởng phúc kia có thăm viếng ta hay không, điều đó chẳng ai biết được hay sẽ biết.
Những đối thủ mà hôm nay Chúa Giêsu phải gặp là những người Sa-đốc thuộc giới tư tế. Vì họ không tin có việc kẻ chết sống lại nên họ đặt ra một câu chuyện (một phụ nữ lấy 7 anh em trai theo tục lệ “thế huynh”) để cho thấy sống lại là một sự lố bịch. Trả lời họ, Chúa Giêsu không những chứng minh có việc sống lại, mà còn cho biết cuộc sống sau khi sống lại sẽ như thế nào. Trước hết, cuộc sống đời sau không giống cuộc sống hiện tại, cho nên không cần lưu truyền nòi giống và bởi thế không cần có vợ có chồng. Tiếp theo, cuộc sống ấy “giống như các thiên thần” : nghĩa là không quan tâm đến gì khác ngoài việc yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta thấy những người phái Sa-đốc tuy là tư tế nhưng không quan tâm tới những việc đạo đức cho bằng tới những đặc quyền đặc lợi của họ.
Để bảo vệ những quyền lợi ấy, họ sẵn sàng ủng hộ bất cứ chế độ nào đang cầm quyền, cho dù đó là chính quyền đế quốc Rôma đang xâm lược đất nước họ. Chính vì thế, họ không tin sự sống lại và không tin đời sau là phải, bởi vì ai càng coi trọng đời này và những giá trị đời này thì càng coi nhẹ đời sau và các giá trị đời sau. Càng thiên về xác thịt thì càng yếu về tinh thần. Đức tin dạy chúng ta rằng cuộc sống đời này chỉ là chuẩn bị cho cuộc sống đời sau, vốn là cuộc sống thật. Mà sống thật là sống “như các thiên thần” nghĩa là không quan tâm gì khác ngoài yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa. Thiên Chúa không để cho con người sống mãi trong cuộc sống tại thế này, bởi vì còn có một cuộc sống đáng quý hơn, đó là cuộc sống vĩnh cửu. Có những giá trị cao cả gấp bội phần so với sự sống, sức khoẻ và mọi thứ của cải trên thế gian.
Chúa Giêsu cũng đã dùng Kinh Thánh để minh chứng cho giáo lý của Người: “Các ông đã không đọc trong sách Môsê sao: Ta là Chúa của Abraham. Chúa của Isaac và Chúa của Giacóp. Người không phải là Chúa của kẻ chết. Nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to” (Mc 12,26-27). Họ đề cập đến Kinh Thánh, Chúa Giêsu lật ngược lý chứng của họ, bằng cách trích dẫn một đoạn trong Ngũ Kinh (Xh 3,6), là sách Thánh duy nhất được Nhóm Xa-đốc thừa nhận. Một lần nữa, chúng ta khám phá ra một Chúa Giêsu hiểu biết Kinh Thánh rất tinh tường và Người có thể trích dẫn theo trí nhớ từng câu một để chống lại mọi cuộc tranh luận.
Từ khi Chúa Giêsu mạc khải về sự thật này, biết bao người đã tin vào Thiên Chúa và đã sống trọn vẹn với niềm tin đó; biết bao người đã can đảm sống sự thật được mạc khải, dù phải hy sinh mạng sống, dù phải từ bỏ mọi danh lợi trần gian. Ðó là gương của những vị anh hùng tử đạo qua bao thế hệ nơi các dân tộc.
2023
Đối thoại chứ không đối đầu
3.6
Thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo
Hc 51:12-20; Tv 19:8,9,10,11; Mc 11:27-33
Đối thoại chứ không đối đầu
Đối thoại là một trong những phương thế giải quyết mâu thuẫn, đem lại sự hiểu biết và trân quý nhau hơn. Tuy thế, đối thoại chỉ mang lại hiệu quả khi đôi bên đến với nhau với lòng chân thành, cởi mở và tinh thần tôn trọng sự thật. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và giới lãnh đạo Do thái trong bài Tin Mừng hôm nay xảy ra sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ (Mc 11,15-19), một sự kiện náo động đụng chạm trực tiếp đến quyền hành của những người đứng đầu Ír-ra-en.
Vì thế, cuộc gặp gỡ này đã không diễn ra trong bầu khí của một cuộc đối thoại đúng nghĩa, bởi lẽ các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đã đến với thái độ ganh ghét, thù nghịch. Kết quả là sự thật về Chúa Giê-su đã không được vén mở cho họ, hay nói đúng hơn, chính họ đã khép kín mình và không muốn đón nhận sự thật. Bi kịch của giới lãnh đạo Do thái nằm ở chỗ họ đã không có đủ lòng chân thành và khiêm tốn. Nỗi sợ mất uy tín, địa vị đã khiến họ không dám nhìn nhận sự thật, đẩy họ đến một câu trả lời vô trách nhiệm: “chúng tôi không biết.” Cuộc đối thoại giữa họ và Chúa Giêsu đã đi vào chỗ bế tắc.
Chúng ta thường quan niệm rằng “kẻ không biết không có tội”, vì họ không ý thức được điều họ làm là sai. Tuy nhiên, nếu người đó biết rõ nhưng vì lợi ích cá nhân của mình mà giả vờ như không biết, kẻ đó càng đáng tội nhiều hơn. Các trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão trong bài Tin Mừng hôm nay chính là những người như vậy. Họ muốn chất vấn về quyền hạn của Chúa Giêsu là từ đâu mà có, nhưng lại chẳng muốn chấp nhận sự thật rằng Người là Con Thiên Chúa. Để rồi, họ tự dối mình và dối người khi thốt lên “Chúng tôi không biết”.
Có phải thực sự họ không biết hay không? Không hề. Họ không chỉ nhận biết được quyền năng của Chúa Giêsu mà còn nhận ra sự hiện diện của quyền năng ấy sẽ gây bất lợi cho mình. Chính vì thế, họ thà tự nhận mình là những kẻ không biết gì còn hơn là chấp nhận sự thật về quyền thế của Người. Lời nói đó tưởng chừng như vô thưởng vô phạt nhưng thực sự đã tố cáo lòng tin chai đá của những người có uy tín, những người đại diện cho tầng lớp trên trong xã hội Do Thái và sự nhỏ nhen, vị kỉ của họ.
Tuy nhiên, đừng vội xét đoán vì biết đâu được, chính chúng ta cũng là những người như họ. Đôi lúc chúng ta đặt cái tôi của mình quá cao, xem trọng lợi ích của mình một cách quá đáng để rồi im lặng trước bất công của xã hội, hay chọn cách như các luật sĩ, trưởng tế và kỳ lão trong đoạn Kinh Thánh trên – vờ như không biết những điều đó.
Quả thật, khi mỗi người đều tự đề cao cái tôi của mình một cách thái quá, những giá trị chung của xã hội sẽ chẳng còn gì quan trọng.
Nhìn vào thực tế đất nước chúng ta, biết bao kẻ gian tà đã bị đồng tiền mê hoặc, cướp mất ruộng đất, nhà cửa hay vơ vét một cách vô tội vạ mà không cần quan tâm đến những người bị họ cướp. Họ không cần biết đến điều đó, chỉ cần vinh thân phì gia, họ sẵn sàng bất chấp tất cả. Hay những người hữu trách của đất nước cũng thế, họ “không thấy, không nghe, không nói” hay “không biết” những kẻ ngoại bang đang từng ngày đe dọa chủ quyền của đất nước. Không chỉ tầng lớp trên mà ngay cả những người bình thường cũng vậy, họ bàng quan, thờ ơ trước vất công của xã hội, nhân quyền chỉ còn là trò đùa của kẻ cầm quyền nhưng họ lại “không biết” vì họ không ý thức được nó ảnh hưởng rất lớn đến mình. Người ta chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài… Tất cả cũng là do con người cố tình “không biết”.
Là người Công giáo, chúng ta may mắn hơn vì được biết nhiều hơn người khác, đồng thời cũng được “ưu ái” hơn vì biết và dám nói. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chúng ta hoàn hảo. Đôi lúc chúng ta vẫn yếu đuối, vẫn chối bỏ Chúa vì tội lỗi hay vì lợi ích cá nhân mình. Chính vì thế, chúng ta cần ý thức được sự thật quan trọng đến mức nào, để ta biết tôn trọng, đề cao nó và chia sẻ cho mọi người cùng nhận ra sự thật đó. Đồng thời, chúng ta phải biết lên án những điều trái với chân lí, trái với sự thật vì Thiên Chúa là Đấng Chân Thật.
Quả vậy, trong đời sống con người thường hay tìm cho mình sự tư lợi, tìm cho mình một địa vị trong xã hội. Khi mục đích đời họ là đi tìm những thứ phù phiếm của tiền tài danh vọng, họ rất ghét những ai có và sẽ có tầm ảnh hưởng hơn họ. Bởi lẽ, họ không muốn mình là hạng hai và thứ yếu so với kẻ khác và cũng vì đó mà họ khó đón nhận sự hiện diện của những điều thánh thiêng, và càng khó hơn khi đón nhận những “ngôn sứ” của Thiên Chúa.
Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đã rơi vào vòng “kim cô” của thế tục ấy, nên họ càng ghét Chúa Giêsu hơn, bởi Ngài có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong dân chúng. Chính thái độ và cung cách ấy mà họ đâm ra sợ hãi, họ mới trả lời với Chúa Giêsu rằng: “Chúng tôi không biết”. Họ trả lời không biết không phải vì họ không biết mà là họ không dám biết và không muốn biết, bởi cái biết ấy sẽ ảnh hưởng trên thế lực, địa vị và quyền lợi của họ.
Do vậy, Chúa Giêsu cũng không nói cho họ biết Ngài lấy quyền gì để làm điều ấy, vì lẽ, chính Ngài đã nói rõ ràng với họ rồi “Đừng biến nhà Cha ta thành nơi sào huyệt của trộm cướp”, nhưng họ đã không dám đón nhận sự thật ấy.
2023
Xin Chúa chữa cho ta được sáng
1.6 Thánh Justin, Tđ
Hc 42:15-25; Tv 33:2-3,4-5,6-7,8-9; Mc 10:46-52
Xin Chúa chữa cho ta được sáng
Thánh kinh là một câu chuyện trở về nhà Chúa, Ðấng hằng nóng lòng và kiên nhẫn đợi chờ loài người. Thường người ta không đánh giá được, cũng không quý trọng được sự vật mà người ta có, cho tới khi người ta mất đi. Người ta không đánh giá được quê hương, nhà cửa, ruộng vườn cho tới khi người ta phải rời bỏ như trong hoàn cảnh di cư, tị nạn.
Sách ngôn sứ Giêrêmia kể lại vị ngôn sứ hướng về ngày mà dân Ítraen sẽ từ cuộc lưu đầy trở về quê hương. Trong ngày giải thoát đó, Giêrêmia loan báo là người mù, người què và người than khóc sẽ tìm thấy niềm an ủi trong tình thương của Thiên Chúa. Bài trích thư gửi tín hữu Do thái là câu chuyện những người tội lỗi được máu con Thiên Chúa đổ ra để được phục hồi trong ơn bình an. Còn bài Phúc âm ghi lại việc Chúa chữa người mù Batimê.
Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu chữa người mù từ mới sinh tại cổng thành Giêricô. Lời kêu van của người mù: “Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi”, cho thấy dân chúng tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng khôi phục và giải phóng dân tộc. Nhưng khi Chúa Giêsu chữa lành cho người mù được sáng mắt, Ngài muốn hướng người ta về sứ mạng đích thực của Ngài là cứu độ muôn dân. Ngài đến để giải thoát nhân loại khỏi đau khổ và tối tăm của sự dữ. Như thế, tin vào Chúa Giêsu, con người mới được ánh sáng, được giải phóng và được tự do làm con Thiên Chúa.
Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, mọi vật. Có những người mù từ thuở mới sinh, hay bị mù do tai nạn, bệnh tật. Họ giống như ngọn đèn bị tắt, suốt đời phải chịu lần mò trong bóng tối, không còn được hưởng ánh sáng mặt trời và những vẻ đẹp của thế tới sự sáng, họ phải buồn phiền khổ cực biết bao. Vì thế, anh mù thành Giêricô hôm nay đang phải ở trong tình trạng đó, anh đau khổ nên anh đã phải tha thiết xin Chúa giúp đỡ: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi”.
Hôm nay, nghe biết Chúa Giêsu đi qua, anh mù kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được xem thấy. Khi nghe tiếng Chúa Giêsu gọi, anh vội vàng vứt áo choàng, nhảy chồm về phía Chúa. Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ anh tin tưởng sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, chính vì niềm tin này Chúa Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.
Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là “mù” mà không chấp nhận mình “mù”, vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhìn ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đàng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi Lời Chúa nữa (Hosanna).
Ngày nay trên thế giới số người mù về thể xác có lẽ suy giảm đi đôi chút, nhưng ai dám nói số người mù về tinh thần đã giảm đi? Số người “thấy mà xem chẳng thấy” (kinh cám ơn rước lễ xưa) thì rất nhiều. Người ta biết mọi cái trên thế giới, kể cả cung trăng, một số hành tinh và một vài vì sao, nhưng có cái gần nhất người ta lại không thấy, đó là cái “tôi” của mình, là con người của mình, là bản thân mình.
Nói chi đến thực tại siêu nhiên, người ta mù tịt trước những vấn đề thiêng liêng. Anh mù Bartimê đã nhìn ra Chúa Giêsu là ai, là Đấng Cứu Thế trong khi đám đông chưa nhìn ra con người thật của Ngài. Họ có con mắt sáng, nhưng lòng họ vẫn còn u tối. Họ cần được Chúa soi sáng cho họ để họ nhìn ra chân lý.
Còn chúng ta, những người sáng mắt thì sao? Không những chúng ta phải cảm tạ Chúa, phải quí trọng giữ gìn, bảo vệ tâm hồn nữa. Nếu chúng ta đã lỡ để cho tâm hồn không còn trong sáng vì nhìn xem những hình ảnh xấu… thì chúng ta hãy bắt chước anh Bartimê cương quyết, can đảm và dứt khoát ném áo choàng, đến với Chúa Giêsu trong phép Giải tội để xin Ngài chữa lành, lấy lại ánh sáng tươi đẹp cho đôi mắt.
Hôm nay ta cầu xin Chúa cho những người mù, xin Chúa làm giầu trí tưởng tượng và những giác quan khác của họ để họ có thể cảm nghiệm được những vẻ đẹp của công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Ta cũng xin Chúa tiếp tục soi sáng cho giới bác sĩ và khoa học gia để họ có thể sáng chế ra những máy móc giúp cho người mù tự sinh tồn trong đời sống hằng ngày như hệ thống in và viết chữ Braille nổi cho họ đọc, như gậy điện tử giúp họ đi lại, máy quang tuyến giúp họ thấy được phần nào ánh sáng.
Ta cũng cầu xin Chúa mở mắt thiêng liêng để ta có thể nhìn thấy ánh sáng chân lí. Nếu ta bị mù về phương diện nào đó trong đời sống, ta cầu xin Chúa chữa trị để ta có thể nhìn thấy những điều sai quấy của chính mình.
2023
Lên đường thăm viếng
31.5 Đức Mẹ thăm viếng Bà Thánh Isave
Hc 36:1,5-6,10-17; Tv 79:8,9,11,13; Mc 10:32-45
Lên đường thăm viếng
Hôm nay là ngày Lễ Kính Đức Trinh Nữ Maria đi viếng bà thánh Isave, và bài Tin Mừng thuật lại chuyến viếng thăm của Đức Maria đến nhà chị họ Người là bà Isave. Khi thánh Luca nói về Đức Maria, ông nghĩ đến các cộng đoàn vào thời của ấy đã phải sống phân tán ở các đô thị của đế chế La Mã và viết cho họ, Đức Maria là một mẫu mực cho họ phải nên liên kết với Lời Chúa như thế nào.
Một lần, khi nghe Đức Giêsu đang giảng dạy về Thiên Chúa, một người phụ nữ giữa đám đông đã thốt lên: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!” để ca ngợi thân mẫu Chúa Giêsu. Ngay lập tức, Đức Giêsu đã đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa!” (Lc 11,27-28). Đức Maria là mẫu mực cho cộng đoàn tín hữu học cách sống và tuân giữ Lời Chúa. Trong câu chuyện kể về Đức Maria đi viếng bà Isave, ông dạy cho các cộng đoàn cách nên ứng xử để biến đổi việc viếng thăm Thiên Chúa thành việc phục vụ tha nhân.
Câu chuyện Đức Maria đi viếng bà Isave cũng cho thấy một khía cạnh đặc trưng khác của thánh Luca. Tất cả những lời nói và thái độ, đặc biệt là bài ca “Ngợi Khen” của Đức Maria, tạo thành một bài ca tụng tán dương tuyệt vời. Nó giống như là lời mô tả của một bài Phụng Vụ trọng thể. Do đó, thánh Luca gợi lên một môi trường phụng vụ và tán dương, trong đó Chúa Giêsu được hình thành và trong đó các cộng đoàn phải sống đức tin của mình.
Đức Maria đi thăm bà chị họ Isave. Thánh Luca nhấn mạnh đến sự hối hả của Mẹ Maria để đáp lại sự đòi hỏi của Lời Thiên Chúa. Sứ Thần đã cho Mẹ biết về việc mang thai của bà Isave, và Đức Maria ngay lập tức trỗi dậy đi để kiểm lại điều Sứ Thần đã báo cho biết, Mẹ rời nhà để đến giúp cho một người đang cần được giúp đỡ. Từ làng Nagiarét đi lên miền núi xứ Giuđêa dài khoảng 100 cây số! Không có xe buýt cũng chẳng có xe lửa!
Lời chào của bà Isave. Bà Isave đại diện cho Cựu Ước sắp kết thúc. Đức Maria, đại diện Tân Ước mới bắt đầu. Cựu Ước hoan nghênh, chào đón Tân Ước với lòng biết ơn và niềm tin, nhận ra trong đó là món quà nhưng không của Thiên Chúa đến để thực hiện và hoàn tất những gì người ta đã mong đợi. Trong cuộc gặp gỡ giữa hai người phụ nữ, được biểu lộ qua món quà của Chúa Thánh Thần khiến cho hài nhi nhảy mừng trong lòng của bà Isave. Tin Mừng của Thiên Chúa mặc khải sự hiện diện của Người tại một trong những điều phổ biến nhất của đời sống con người: hai bà nội trợ, trao đổi việc thăm viếng để giúp đỡ lẫn nhau. Một chuyến thăm viếng, niềm vui mừng, chuyện thai nghén, chuyện con cái, giúp đỡ lẫn nhau, chuyện nhà cửa, chuyện gia đình: thánh Luca muốn cho các cộng đoàn (và tất cả chúng ta) hiểu được và khám phá ra sự hiện diện của Nước Trời. Những lời của bà Isave, cho đến bây giờ, là một phần của bài Thánh Thi nổi tiếng nhất và được đọc lại nhiều nhất trên thế giới, đó là kinh Kính Mừng.
Lời chúc tụng của bà Isave nói với Đức Maria: “Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện”. Đây là lời khuyên của Luca dành cho các cộng đoàn: hãy tin vào Lời Thiên Chúa, bởi vì Lời ấy có dũng lực để thực hiện những gì Lời nói ra. Đó là Lời sáng tạo. Nó tạo ra một sự sống mới trong cung lòng của một trinh nữ, trong cung lòng của những người nghèo khó và bị bỏ rơi, những người chấp nhận Lời với đức tin.
Bài Thánh Thi của Đức Maria. Có lẽ bài ca vịnh này đã được biết đến và được hát trong các cộng đoàn. Nó dạy người ta phải cầu nguyện và hát như thế nào. Luca 1, 46-56: Đức Maria bắt đầu công bố sự thay đổi đã xảy ra trong đời sống của Bà dưới ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa, đầy lòng thương xót. Đây là lý do tại sao Bà lại hát lên một cách vui mừng: “Thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi”. Luca 1,51-53: Đức Mẹ hát khen lòng trung tín của Thiên Chúa đối với dân Người và công bố sự thay đổi là cánh tay của Đấng Giavê đang mang đến cho người nghèo đói.
Khái niệm “cánh tay của Thiên Chúa” nhắc nhớ lại việc giải thoát của thời kỳ Lưu Đày. Chính dũng lực cứu độ này của Thiên Chúa đã ban sự sống cho sự thay đổi: Chúa đã dẹp tan những ai thần trí kiêu căng (1,51); Chúa đã lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ (1,52), Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không (1,53). Luca 1,54-55: Cuối cùng, Mẹ nhắc nhớ rằng tất cả là biểu hiện lòng thương xót của Thiên Chúa đối với dân của Người và sự biểu lộ lòng trung tín của Chúa về những lời hứa với tổ phụ Abraham. Tin Mừng không phải là một sự đáp trả của việc tuân giữ Lề Luật Chúa, mà là biểu hiện của sự tốt lành và trung tín của Thiên Chúa về những gì đã được hứa. Đó là những gì thánh Phaolô đã dạy trong thư gửi các tín hữu Galát và các tín hữu Rôma.
Sách thứ hai của tiên tri Samuel kể về câu chuyện Hòm Bia Giao Ước. Vua Đavít muốn đưa Hòm Bia Thiên Chúa về nhà mình, nhưng vua sợ và nói rằng: “Hòm Bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?” (2Sm 6,9). Sau đó, vua Đavít đã ra lệnh đưa Hòm Bia Thiên Chúa sang nhà ông Ôvết-Êđôm, và Chúa đã chúc phúc cho ông Ôvết-Êđôm và cả nhà ông (2Sm 6,11). Đức Maria, đang mang thai Chúa Giêsu, giống như mang Hòm Bia Thiên Chúa, trong Cựu Ước, đến thăm nhà người khác để đem lại ơn ích cho họ. Đức Maria đến nhà bà Isave và ở lại đó ba tháng. Và trong khi Đức Mẹ ở trong nhà bà Isave, cả gia đình bà được Thiên Chúa chúc phúc. Cộng đoàn phải nên giống như Hòm Bia Giao Ước Mới. Khi đến viếng nhà của ai, họ nên đem đến những lợi ích và ân sủng của Thiên Chúa cho mọi người.
Ngày lễ Đức Mẹ Thăm Viếng hôm nay cho chúng ta nhìn thấy một khía cạnh trong đời sống nội tâm của Đức Maria, đó là tinh thần khiêm nhượng phục vụ và tình yêu vô vị kỷ dành cho những ai cần đến sự trợ giúp của Mẹ. Biến cố trong mầu nhiệm thứ hai Mùa Vui của chuỗi Mân Côi mời gọi chúng ta hãy hiến thân mau mắn, vui tươi, và chân thành cho người chung quanh.
Nhiều khi sự phục vụ tốt nhất chúng ta có thể thực hiện là chia sẻ với họ niềm hạnh phúc trào dâng trong tâm hồn chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ có thể thực hiện được điều này khi chúng ta sống thân mật với Chúa, qua việc trung thành giữ trọn những giờ cầu nguyện trong ngày sống. Việc kết hợp với Thiên Chúa và thực hành các nhân đức siêu nhiên luôn luôn kéo theo niềm hứng thú thực hành các nhân đức nhân bản: Đức Maria đem niềm vui đến cho gia đình bà chị họ, bởi vì Mẹ ‘mang’ Chúa Kitô. Chúng ta ‘mang’ Chúa Kitô trong lòng, và với Người là niềm vui chứa chan, đến bất cứ nơi nào chúng ta đến, dù khi làm việc, hoặc khi viếng thăm bè bạn hoặc những ai đang yếu đau hay không? Sự hiện diện của chúng ta có làm cho người khác vui tươi hay không?
