2023
Tại sao Giám Mục thay đổi mũ trong suốt thánh lễ?
Trong Phụng vụ, Đức Giám mục đội mũ lễ (mitre) trên đầu và cầm gậy trong tay. Để hiểu được sự thay đổi này, hãy trở lại với ý nghĩa của các biểu tượng này vốn biểu hiện tư cách thành viên của Tông đồ đoàn.
Trong thánh lễ do mình chủ tế, Đức Giám mục liên tục đội và cởi mũ lễ trên đầu, rước vào với gậy, trao lại và lấy lại gậy trước khi rời đi, kết thúc thánh lễ. Rõ ràng, những chuyển động này không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên hay ngẫu hứng.
Những ai dự lễ tấn phong giám mục sẽ không quên được khoảnh khắc hai phó tế mang Sách Tin Mừng trên đầu của tân Giám mục đang quỳ gối trước vị Giám mục chủ phong. Trở thành người kế vị các Tông đồ, Đức Giám mục được mời gọi rao giảng Lời Chúa, giảng dạy. Để biểu thị chức năng này trong Phụng vụ, các Giám mục đội mũ lễ có hình dạng gợi nhớ đến cuốn sách Thánh Kinh được mở ra, và hai mặt là Cựu Ước và Tân Ước.
Mũ lễ, trung gian giữa Thiên Chúa và con người
Từ lúc đó, Giám mục đội mũ lễ khi ngài hành động với tư cách là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Khi mang mũ sọ màu tím, thì theo hướng ngược lại, ngài nối kết con người với Thiên Chúa. Trong thánh lễ, ngài đội mũ lễ khi đoàn rước vào và ra, chúc lành cho cộng đoàn, cũng như khi giảng lễ, giải thích Tin Mừng cứu độ sau khi lắng nghe các bài đọc. Trong khi cử hành các bí tích khác, lôgíc cũng giống như vậy. Chẳng hạn, trong lễ truyền chức : ngài khẩn cầu các thánh mà không đội mũ lễ, nhưng đội nó khi ngài đặt tay cho tiến chức, bởi vì qua cử chỉ này, chính ân sủng mà ngài truyền.
Đức Giám mục cũng có thể được nhận ra trong Phụng vụ nhờ gậy trên tay của ngài. Nguồn gốc của nó có tính mục tử, theo nghĩa đầu tiên của thuật ngữ. Gậy chăn cừu được người chăn cừu dùng để đưa chiên về lại chuồng. Theo hình ảnh Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành, Giám mục có trách nhiệm đối với các linh hồn trên lãnh thổ mà ngài được ủy thác.
Gậy mục tử là dấu hiệu của quyền tài phán này vốn trước hết là một thừa tác vụ : gìn giữ đức tin của các Tông đồ và dẫn dắt dân Thiên Chúa. Trong thánh lễ, gậy được mạng khi rước vào và rước ra, rồi vị chủ chăn đi ngang qua nhà thờ trong đoàn rước như vị chủ chăn giữa đoàn chiên của mình. Ngài dựa vào nó khi công bố Tin Mừng và để ban phép lành cho cộng đoàn lúc kết thúc Phụng vụ. Trái lại, nếu cử hành lễ trong một giáo phận mà ngài không có quyền tài phán, thì Giám mục mang gậy với gậy quyền quay lại phía sau.
2023
Thánh lễ và bốn bài học quan trọng nhất thời thơ ấu
Michael P. Foley
Bốn mục đích chính của Thánh lễ cũng là bốn điều quan trọng nhất để dạy cho con cái chúng ta và cho cả chính chúng ta.
Một trong những câu hỏi của Sách Giáo lý Baltimore cũ là, “Thánh lễ được dâng lên vì những mục đích gì?” Câu trả lời được đưa ra gồm bốn ý:
– Thứ nhất, để tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Chúa của chúng ta.
– Thứ hai, để tạ ơn Thiên Chúa vì muôn hồng ân của Người.
– Thứ ba, để cầu xin Thiên Chúa ban xuống ơn lành cho mọi người.
– Thứ tư, để đền tạ cho sự công bình của Thiên Chúa vì những tội lỗi đã phạm đến Người[1].
Tôn thờ, tạ ơn, cầu xin và đền tạ – việc đề cập đến bốn mục đích này đã xuất hiện trong nhiều sách lễ cổ xưa và vẫn là một nét đặc trưng quen thuộc của bất kỳ bài giáo lý truyền thống nào về Thánh lễ. Tuy nhiên, điều thường bị bỏ qua là mối quan hệ của các mục đích này với cuộc sống cụ thể của chính chúng ta với tư cách là con người. Chính xác thì bốn điều này liên quan đến lợi ích về mặt tâm lý, cảm xúc và tinh thần của chúng ta như thế nào?
Một cách để tiếp cận câu hỏi này là xem xét bốn điều quan trọng nhất mà chúng ta đã học cách để nói lên khi còn nhỏ: “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi”. Bốn câu nói đơn sơ này không chỉ có khả năng hướng dẫn cả người trẻ lẫn người già trên con đường hướng tới hạnh phúc của con người; chúng cũng cung cấp một phép loại suy hữu ích cho những gì xảy ra trong mọi Hy tế của Thánh lễ.
Những bài học cho cuộc sống
Ngôn ngữ ở phía đông vườn địa đàng ban đầu vốn là phương tiện được định ra dành để gọi tên chính xác cho các tạo vật (như chúng ta thấy với Ađam và các con thú), nhưng nó đã trở thành một tấn bi kịch khi thường xuyên trở thành phương tiện để thao túng hoặc che khuất thực tại. Việc nói “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi” đều có thể trở thành những hành động vô cùng thiếu thành thật và thậm chí là lợi dụng, nhưng tôi cho rằng thực tế hiển nhiên là khi mọi bậc cha mẹ tử tế đều truyền đạt những điều này đối với con mình, thì đó không phải là trang bị cho chúng những công cụ để thao túng.
Mặc dù chúng ta nói về tầm quan trọng của việc dạy con cái mình “nói” làm ơn và cảm ơn, nhưng mục tiêu cuối cùng của chúng ta thực sự là để con cái mình tự nói lên những lời đó và nắm bắt được ý nghĩa của chúng. Khi một người mẹ bắt con trai mình xin lỗi cô em gái vì đã giật tóc cô bé ấy, người mẹ đó thường không bằng lòng với một câu “xin lỗi” lạnh lùng và một cái lườm đầy thách thức mà không hề tỏ ra hối hận. Rõ ràng mục tiêu của người mẹ đó là làm cho cậu bé hiểu rằng cậu đã làm sai để cậu có thể cảm thấy thực sự hối hận về hành động của mình và tìm cách sửa chữa sự bất công, chứ không chỉ đơn giản là thốt ra một chuỗi âm thanh nào đó. Và điều này cũng đúng với ba điều khác mà người mẹ đó đã hướng dẫn con mình “nói”.
Do đó, tiềm ẩn trong mục tiêu nuôi dạy những đứa trẻ biết nói “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi” là một điều gì đó hơn là một thói quen lịch sự tầm thường, hơn là một sự tuân thủ hoặc đồng thuận vô nghĩa theo quy ước xã hội. Bằng cách nào đó, mục đích là để định hình một tâm hồn trẻ thơ thành kiểu người biết yêu thương, biết ơn, tôn trọng và khi cần thiết, quyết tâm sửa đổi một cách đầy hối lỗi. Điều này có lẽ là vì những đức tính như vậy không chỉ tự chúng là sự lựa chọn thích đáng, mà chúng còn dẫn đến việc gặt hái được những nhân đức khác.
Ví dụ, một người biết tầm quan trọng của sự hối lỗi, thì cũng biết tầm quan trọng của việc trao ban sự tha thứ (điều vốn không phải là chuyện đơn giản); và một người thực sự biết ơn sẽ dễ có khuynh hướng bao dung với người khác hơn. Chắc chắn, một trong những lý do tại sao cả người có đức tin và không có đức tin đều nhận thấy rằng, trong dụ ngôn về người đầy tớ mắc nợ không biết thương xót, anh ta thật đáng trách là vì đã vi phạm trắng trợn cả hai nguyên tắc thông thường này[2].
Vì vậy, đằng sau những cách diễn đạt đơn giản như thế là một nền nhân học luân lý đúng đắn, một bản phác thảo bao quát về việc thế nào là sống đẹp. Nói một cách lý tưởng, một người có khả năng nói “Tôi yêu bạn” có nghĩa là người đó có khả năng cam kết, tận tụy và hy sinh bản thân. Một người có khả năng nói “cảm ơn” có nghĩa là người đó nhận ra, như chúng ta sẽ thấy, món quà vô giá về sự hiện hữu của anh ta và món nợ của anh ta đối với một thế giới rộng lớn hơn mà anh ta không tạo ra.
Một người có khả năng nói “làm ơn” có nghĩa là người đó nhìn nhận sự lệ thuộc của anh ta vào một thực tại bên ngoài anh ta và từ chối nguyên tắc cho rằng mình luôn là kẻ mạnh hơn, là vượt thắng chủ nghĩa vị kỷ thấp hèn vốn đang bỏ mặc anh ta, một chủ nghĩa mà theo cách diễn giải của Sr. Walter Scott là một tến khốn nạn hèn hạ chỉ biết quy tất cả về chính mình. Và cuối cùng, một người có khả năng nói “Tôi xin lỗi” (hoặc trong những tầm mức nhỏ hơn là “Xin bỏ qua cho tôi”) có nghĩa là tạo ra bước đột phá khó khăn nhưng quan trọng để đạt đến sự hiểu biết về bản thân một cách vừa không tâng bốc vừa không khoa trương, là lấy hết can đảm để thừa nhận lỗi lầm của mình và quyết tâm khắc phục chúng.
Ngược lại, một người không được giáo dục về bốn câu nói cơ bản này và những khuynh hướng đằng sau chúng sẽ bị coi là một sự bất công nghiêm trọng, vì anh ta sẽ ngã lòng trong việc vượt thắng sự ích kỷ của mình, hoặc dẫn đến hậu quả tương tự như thế vì anh ta đã không nhận thức được sự thật về thân phận con người.
Bốn mục đích của Thánh lễ
Điều thú vị là bốn hướng đi dẫn đến sự phát triển đích thực của con người như trên có một điểm tương đồng đáng chú ý với thần học truyền thống về Thánh lễ. Cụ thể, nói “Tôi yêu bạn” ở nhà cũng tương tự như hành động thờ phượng diễn ra trong Thánh lễ, nói “Cám ơn” cũng giống như việc tạ ơn, nói “làm ơn” cũng tương tự như việc cầu xin và nói “Tôi xin lỗi” cũng giống như việc đền tạ.
Khi Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như một của lễ sống động, thì của lễ đó bao gồm một hành động thờ phượng vô tận đối với Chúa Cha, một hành động thờ phượng vô tận của việc tạ ơn Người, của việc cầu xin hoặc khẩn cầu thay cho chúng ta, và của việc đền tạ (hay còn được gọi là việc làm nguôi lòng hay chuộc tội) cho tội lỗi nhân loại. Về phần mình, bốn thành phần của hành vi thờ phượng trọn hảo này lại được Chúa Kitô tái hiện diện qua trung gian là linh mục của Người trong mỗi Thánh lễ. Và chúng ta, những tín hữu, tham dự Thánh lễ để được dự phần và được nuôi dưỡng nhờ những mục đích này. Chắc chắn là những hành động sùng kính của chúng ta không giống với những hành động của Chúa chúng ta. Ví dụ, sự chuộc tội của Chúa Kitô không bao gồm việc “Tôi xin lỗi” theo cách mà chúng ta phải làm, vì Người không có gì để phải tỏ lòng hối tiếc. Nhưng nỗ lực ít ỏi của chúng ta để bù đắp cho những lỗi tội của mình nơi một hành động chuộc tội đã trở nên có hiệu quả nhờ lòng bao dung vô bờ của Đấng đã chịu đóng đinh và phục sinh vì chúng ta, và từ đó sự gắn kết giữa Chúa Giêsu và chúng ta trở nên vô cùng sâu đậm.
Bốn sự khuấy động
Vì vậy, một lý do tại sao phép loại suy này lại có ý nghĩa là vì nó chỉ ra rằng Hy tế Thập giá – và mở rộng ra là Hy tế trên Bàn thờ – góp phần mạnh mẽ vào sự hoàn thiện siêu nhiên đối với tiềm năng tự nhiên hướng về điều thiện nơi chúng ta, cũng như phục hồi bản chất của chúng sau khi nó rời bỏ tình trạng hoàn hảo ban đầu.
Để minh chứng thêm cho điều này, chúng ta chỉ cần xem xét phạm vi cảm xúc cơ bản của con người dưới ánh sáng từ bốn “sự khuấy động” (perturbationes) của linh hồn: niềm vui, ước muốn, sợ hãi và đau buồn. Cách phân loại hữu ích này đã được Cicero sử dụng[3], chính ông đã mượn nó từ các nhà Khắc kỷ, và sau đó được các nhà tư tưởng Kitô giáo như Thánh Augustinô tiếp thu[4]. Bốn cảm xúc mà Cicero nói đến có mối quan hệ đáng chú ý với bốn câu nói mà chúng ta đã thảo luận cùng với bốn mục đích của Thánh lễ – chúng vốn không được sắp xếp ngay ngắn với nhau theo cùng một cách thức, nhưng các hành động thờ lạy, tạ ơn, cầu xin và đền tạ sẽ hoàn thiện những bản năng cơ bản nhất của chúng ta về niềm vui, ước muốn, sợ hãi và đau buồn.
Ước muốn
Ví dụ, ở cấp độ tự nhiên, khát vọng cá nhân thô sơ được nhân bản hóa và thăng hoa bằng hành động nói lời “Làm ơn” cách đơn giản và chân thành. Thay vì giành lấy những gì chúng ta muốn, chúng ta nhận ra được ranh giới của quyền sở hữu và khiêm tốn yêu cầu vẽ lại ranh giới đó; và khi làm như vậy, chúng ta từ bỏ tính bạo tàn của thói áp bức để đổi lấy sự nhã nhặn của phép lịch sự. Vì vậy, cầu xin ở mức tốt nhất là sự thăng hoa của ước muốn, không phải theo nghĩa kìm nén ham muốn tình dục của S. Freud mà theo nghĩa nguyên thủy là làm cho ước muốn trở nên cao thượng hoặc đáng quý.
Chính cảm giác thăng hoa này được thể hiện ở mức độ cao nhất trong Thánh lễ, nơi ước muốn cá nhân được hoàn thiện một cách siêu nhiên qua lời cầu xin đầy lòng vị tha đến mức tột cùng mà chúng ta thực hiện không chỉ cho chính mình mà còn cho tất cả mọi người, như Sách Giáo lý Baltimore nhắc nhở chúng ta. Điều này khác xa rất nhiều so với chủ nghĩa duy vật bịa đặt theo kiểu “Lời cầu nguyện của Jabez”, một tác phẩm của Bruce Wilkinson, trong đó các Kitô hữu được khuyến khích cầu nguyện cho những thứ rẻ tiền của cuộc sống này như thể họ chẳng có khao khát vĩnh cửu nào cả. Ngược lại, Thánh lễ hướng đến việc vừa mở rộng vừa sắp xếp lại các ước muốn của chúng ta để một mặt, những điều tốt đẹp hơn được ưu tiên hơn những điều thấp kém, và sau đó vượt trên cả những điều tốt đẹp đó về phương diện khác.
Điều này đặc biệt rõ ràng trong các Lời Tổng nguyện của Sách lễ Triđentinô dành cho các Chúa nhật sau Lễ Hiện xuống, một mùa trong năm phụng vụ tương ứng với kỷ nguyên của Giáo Hội. Các Lời Tổng nguyện này gợi lại một điểm cốt yếu mang tính định kỳ về việc tái định hình và nâng cao ước muốn của các tín hữu. Chẳng hạn, ngoài việc xin bạn cho những điều ta ước nguyện, các lời Tổng nguyện này còn cầu xin biến đổi điều chúng ta ước muốn: “làm cho chúng con yêu mến điều Chúa truyền dạy” (Chúa nhật XIII), “gắn chặt vào trái tim chúng con lòng yêu mến Danh Chúa” (Chúa nhật VI), “xin chúng con biết cầu xin những điều đẹp lòng Ngài” (Chúa nhật IX),… Và một khi ước muốn của chúng ta đã được biến đổi hoặc chuyển sang những điều tốt đẹp hơn muôn phần như thế, Giáo Hội tiếp tục quả quyết rằng Thiên Chúa là Đấng cao vượt trên hết mọi sự sẽ ban cho chúng ta, như đã được nhắc đến trong Lời Tổng nguyện của Chúa nhật XI, những điều mà “lời chúng con cầu xin chẳng dám kêu lên”. Toàn bộ nền thần học về ước muốn, lời cầu xin và tính siêu việt như thế có lẽ không còn được diễn đạt một cách đẹp đẽ và cô đọng hơn ở nơi đâu khác ngoài Lời Tổng nguyện của Chúa nhật V sau Lễ Hiện Xuống:
Lạy Chúa, Đấng đã chuẩn bị cho kẻ yêu mến Chúa những điều tốt đẹp vượt quá trí hiểu: xin đổ vào lòng chúng con tình yêu của Chúa, để chúng con biết yêu mến Chúa trong mọi sự và trên hết mọi sự, từ đó có thể đạt được những lời hứa của Chúa là những gì vượt trên hết điều chúng con có thể ước mong.
Điều này còn cần đến một nổ lực hơn nữa để mở ra các giả định đầy sắc thái của Lời Tổng nguyện liên quan đến mục đích sau cùng này nơi lòng trí con người và mối liên hệ của nó với trật tự được tạo ra cũng như với Đấng đã tạo ra trật tự đó; bấy nhiêu cũng đủ để nói rằng lời “làm ơn” trong khao khát của con người ở đây đang được chuyển sang một cấp độ hoàn toàn mới.
Sợ hãi và đau buồn
Mặt khác, nỗi sợ hãi và đau buồn đều được đề cập đến trong hành động xin lỗi và sửa đổi, cho dù chỉ khi những hành động đó là chân chính. Một lời xin lỗi không hoàn hảo chỉ bắt nguồn từ động cơ sợ hãi: Tôi xin lỗi bạn không phải vì tôi thực sự xin lỗi mà vì tôi sợ những gì bạn sẽ làm với tôi nếu tôi không xin lỗi. Ngược lại, lời xin lỗi hoàn hảo đi kèm với cảm xúc đau buồn: Tôi thấy rằng tôi đã làm tổn thương bạn theo một cách nào đó và phần tôi, tôi thực sự đau buồn vì sự việc này.
Nhưng một lời xin lỗi hoàn hảo cũng bao hàm nỗi sợ hãi, không phải sợ bị trả thù như trường hợp trước mà là sợ bị người thân xa lánh. Thánh Tôma phân biệt hai loại sợ hãi: một sự sợ hãi kiểu nô lệ, giống như một nô lệ sợ bị chủ trừng phạt; và một sự sợ hãi đáng quý hay khiêm cung[5], như nỗi sợ của một người chồng sợ làm điều gì đó với vợ mình vì sợ rằng cô ấy sẽ không tôn trọng anh ta, chứ không phải vì sợ rằng cô ấy sẽ đánh anh ta vì những gì anh ta đã làm. Trong khi nỗi sợ hãi kiểu nô lệ có vị trí của nó trong cuộc sống này (thậm chí nó đủ để thực hiện một hành động ăn năn sám hối, mặc dù đây là một hành động không hoàn hảo), nhưng rõ ràng nó thấp kém hơn nỗi sợ hãi với lòng khiêm cung vốn được thúc đẩy bởi một tình yêu to lớn hơn là sự tự vệ đơn thuần.
Và với sự thờ phượng Thiên Chúa cũng vậy, điều này giả định trước một sự đau buồn vì những bất công mà chúng ta đã phạm phải và một nỗi sợ hãi rằng chúng ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng mà chúng ta yêu mến và là Đấng đã làm rất nhiều điều cho chúng ta. Đúng vậy, nỗi sợ hãi đó có khi cũng bao hàm nỗi sợ hãi đơn thuần là phải sa hỏa ngục, linh cảm cho biết nếu tôi ngủ nướng vào ngày Chúa nhật thay vì tham dự Thánh lễ thì tôi đang phạm tội trọng; và nỗi sợ hãi đó, mặc dù có thể là cơ bản, cũng có thể thành công trong việc đưa tôi đến Thánh lễ và thậm chí mở ra cho tôi những ân sủng mà tôi có thể lãnh nhận được ở đó. Nhưng như Thánh Augustinô đã từng nhận xét một cách dí dỏm, “những người sợ phạm tội chỉ vì hỏa ngục, thì không phải là sợ phạm tội, mà là sợ bị thiêu đốt.” Giống như một người trưởng thành về mặt cảm xúc được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi cao quý hơn là nỗi sợ hãi kiểu nô lệ, thì một người trưởng thành về mặt thiêng liêng cũng sợ sức tàn phá nội tại của tội lỗi và ảnh hưởng của nó đối với tình bạn thân thiết giữa anh ta với Đấng Tạo Hóa, hơn là sự phán xét bên ngoài đang chờ đợi anh ta vào cuối cuộc đời mình.
Niềm vui
Cuối cùng, sự khuấy động của niềm vui đi kèm với những hành động chân thành như nói “Tôi yêu bạn” và “Cảm ơn”. Thật vậy, tình yêu không phải lúc nào cũng đi kèm với niềm hân hoan phấn khởi, vì những cam kết của tình yêu thường mang theo nỗi buồn và khó khăn. Tuy nhiên, theo một cách kỳ lạ, ngay cả nỗi đau của tình yêu cũng tốt hơn là sự vắng mặt của tình yêu (giả sử rằng chúng ta đang nói về tình yêu có trật tự và không phù phiếm), và chỉ nhờ tình yêu mà niềm vui đích thực mới được trải nghiệm.
Điều này cũng đúng đối với lòng biết ơn, mặc dù điều này không dễ để chúng ta nhận ra như trước đây. Đối với những nhà tư tưởng như Immanuel Kant, việc phải nói lời cảm ơn là một dịp đáng buồn hơn là đáng vui, vì theo tính toán của ông, lòng biết ơn nghĩa là mắc nợ, và mắc nợ là mối đe dọa đối với quyền tự chủ cá nhân, đối với nền triết học Kant và nền dân chủ tự do hiện đại.
Tuy nhiên, như Cha Paul McNellis S.J. đã chỉ ra rằng, một lối tư duy theo chủ nghĩa pháp chế như vậy đã bỏ qua tác động giải phóng mà các mối quan hệ rộng rãi của con người tạo nên đối với cá nhân[6]. Đối với người xưa, phản ứng thích hợp đối với sự phụ thuộc lẫn nhau của con người là kiền thành (pietas), đó là lòng tận tụy cao quý đối với gia đình, đất nước của một người và cuối cùng là đối với Thiên Chúa của người đó. Đây là một “món nợ” mà người ta rất vui mừng khi có được, vì nó dựa trên sự dư dật của cải mà người ta đã nhận được một cách không cân xứng. Hơn nữa, hành động ghi nhớ những lợi ích như thế chính là nguồn gốc của lòng biết ơn cách vui vẻ. Theo lời của Seneca:
Người vô ơn nhất là người đã quên đi điều thiện ích… không có khả năng trở nên một người biết ơn nếu người đó mất hết trí nhớ[7].
Do đó, lòng biết ơn không chỉ là một thành phần quan trọng trong phẩm chất đạo đức của một người, nó còn là biểu hiệu của khả năng lưu giữ thực tế nơi một người, nghĩa là khả năng ghi nhớ chính xác những lợi ích thực sự mà người đó đã nhận được từ người khác và đáp lại một cách phù hợp.
Và không cần phải nói, tất cả những điều này đều có ý nghĩa sâu sắc đối với việc tạ ơn Thiên Chúa trong Thánh lễ, một hành động tưởng niệm (anamnesis) và ghi nhớ sơ đẳng nhất dành cho Người; và do đó tái hiện lại điều tốt đẹp nhất từng được ban tặng trong lịch sử loài người. Không có gì ngạc nhiên khi Thánh Tôma Aquinô lại xem lòng biết ơn là một nhân đức bắt nguồn từ tình yêu, một nhân đức hoàn toàn hợp lý mà không có giới hạn[8]. Và thật thích hợp và tốt đẹp biết bao khi những lời cuối của Thánh lễ, trong cả nghi thức cũ và mới, đều đơn giản là “Tạ ơn Chúa”.
Kết luận
Sự so sánh của chúng ta giữa mục đích của Thánh lễ và bốn điều tuyệt vời mà chúng ta học được khi còn nhỏ cũng mang lại một sự hiểu biết sâu sắc sau cùng về tầm quan trọng của Hy tế Thánh Thể. Việc nghĩ rằng “tham dự” Thánh lễ là một gánh nặng pháp lý do Giáo Hội áp đặt lên chúng ta là lối suy nghĩ cũng nghèo nàn như việc nghĩ rằng cung cách cư xử chỉ là sự mở rộng quyền lực và sự thất thường của bậc cha mẹ. Dù không mang đầy đủ ý nghĩa, nhưng cách cư xử này lại là công cụ định hướng cho chúng ta theo trật tự đã được định sẵn, và khi được sử dụng đúng cách, chúng sẽ giúp phát huy hết tiềm năng của chúng ta trong tư cách là con người. Cũng vậy, sự tôn thờ, tạ ơn, cầu xin và đền tạ mà chúng ta thực hiện trong Thánh lễ hướng chúng ta đến Đấng tạo dựng nên con người chúng ta, tất cả không chỉ thúc đẩy tiềm năng bẩm sinh của chúng ta mà còn khơi dậy khả năng kết hiệp với chính Thiên Chúa của chúng ta.
Để có thể nói những câu “Tôi xin lỗi,” “Tôi yêu bạn,” “Làm ơn,” và “Cảm ơn” với Thiên Chúa là Cha qua trung gian của Người Con và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần thì không chỉ là đặc ân duy nhất dành cho một tạo vật thấp hèn; đó còn là một hành động biến đổi đều đặn. Và với điều đó, chúng ta chỉ có thể nói, Deo gratias (Tạ ơn Chúa).
Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
(theo: CatholicEducation Resource Center)
[1] The New Saint Joseph Baltimore Catechism no. 2, explained by Rev. Bennet Kelly, C.P. (NY: Catholic Book Publishing Co., 1969) no. 361, p. 173.
[2] Mt. 18:23–34.
[3] De finibus 3.10.35; Disputationes Tusculanae 4.6.11.
[4] Confessions 10.13.22.
[5] Cf. Summa Theologiae II-II.19.4f, also I-II.67.4.ad 2; II-II.7.1.
[6] “Rights, Duties, and the Problem of Humility,” in Gladly to Learn and Gladly to Teach: Essays on Religion and Political Philosophy in Honor of Ernest L. Fortin, A.A., eds. Michael P. Foley and Douglas Kries (Lanham, MD: Lexington Books, 2002), pp. 125–143. The following paragraphs on gratitude are deeply indebted to Fr. McNellis’ article.
[7] De beneficiis 3.1, trans. John W. Basore, Loeb Classical Library (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1935), pp. 128–9.
[8] Summa Theologiae II-II.106.6.ad 2.
2023
Lúa tốt và cỏ dại
Lúa tốt và cỏ dại
Bàn tay năm ngón, có ngón dài, có ngón ngắn. Thân xác con người dẫu có hoàn hảo đến mấy cũng luôn có những khiếm khuyết. Tương tự, trong Giáo Hội cũng như nơi xã hội bên ngoài, lúc nào cũng có người tốt và kẻ xấu sống đan xen, giống như một thửa ruộng có cả lúa tốt lẫn cỏ dại. Người đi gieo giống đâu có gieo cỏ, nhưng cỏ vẫn mọc và lớn lên. Chúa Giêsu đến trần gian và chiêu tập các môn sinh, nhưng trong 12 anh học trò thân thiết vẫn có một Giu-đa. Ngay trong lòng Giáo Hội cũng vậy, chúng ta thấy nhiều gương mẫu thánh thiện, nhưng cũng không thiếu những gương mù. Bởi vì chính ma quỷ gieo mầm sự ác vào trong cuộc sống con người. Vậy, chúng ta phải có thái độ thế nào trước thực trạng này. Lời Chúa hôm nay sẽ khai mở cho chúng ta câu trả lời.
Sự khôn ngoan của nước Trời
Kinh nghiệm nhà nông dạy rằng, công cấy công bỏ, công làm cỏ công ăn. Người nông dân phải chăm chỉ nhổ cỏ dại để có thể thu hoạch lợi tức. Trong đời sống xã hội cũng thế, muốn cộng đồng được an lành và phát đạt, chúng ta phải loại trừ tội ác và thanh trừng kẻ xấu. Đây là những suy tính rất thông thường, nhưng trong trật tự nước Trời, Chúa dạy chúng ta không được hành xử như thế. Hãy để cả lúa và cỏ lùng cùng mọc lên. Đến mùa gặt, ông chủ sẽ nhổ cỏ dại đem đi đốt, còn lúa tốt thì thu vào kho. Làm nghề nông chẳng ai thực hành như thế bao giờ. Tuy nhiên, Chúa lại muốn chúng ta ứng dụng theo sự chỉ dẫn khôn ngoan của Ngài. Sự khôn ngoan của nước Trời khác xa với sự toan tính khôn khéo theo kiểu cách thế gian.
Để minh họa thêm cho sứ điệp trên, Giáo hội giới thiệu thêm cho chúng ta một đoạn trong sách Khôn ngoan được đọc lên trong bài đọc 1 của phụng vụ hôm nay. Tác giả nêu bật phẩm tính khoan hậu và lòng từ bi của Thiên Chúa. Ngài luôn khơi dậy nơi con người niềm hy vọng vì được tha thứ. Tác giả viết : “Chúa xử khoan hồng, vì Ngài làm chủ được sức mạnh. Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con. Làm như vậy, Chúa dạy chúng ta rằng, người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài cho con cái niềm hy vọng, vì người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Dụ ngôn ‘lúa tốt và cỏ lùng’ trong bài Tin mừng cũng mang chở sứ điệp tương tự như vậy. Thiên Chúa là đấng khoan dung luôn kiên nhẫn đợi chờ tội nhân quay đầu trở về.
Đừng vội kết án
Trong đời sống cộng đoàn, chúng ta dễ có khuynh hướng thích kết án người khác, nhất là khi thấy những tội công khai sờ sờ trước mắt. Đây là một lề thói tự nhiên nơi bất cứ một tổ chức xã hội nào. Nhưng, Chúa Giêsu thì khác. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và cả đám đông trên tay mỗi người nắm chặt một hòn đá để toan tính ‘xử đẹp’ chị ta. Chúa Giêsu vẫn lặng lẽ cúi xuống viết trên đất. Ngài nhắc nhở thân phận tội lỗi nơi mọi người và đừng vội kết án tha nhân. “Ai trong các ông sạch tội, cứ việc ném đá chị ấy đi”. Người còn nhẹ nhàng nói với chị “Tôi không kết án chị đâu. Hãy về và đừng phạm tội nữa” (Ga 8,6 ). Lòng khoan dung của Thiên Chúa là đặc nét nổi bật nói lên lòng thương xót vô điều kiện nơi Ngài. Chúa ghét cay ghét đắng thói vạch lá tìm sâu, bới tìm những cỏ lùng để bứng tận gốc và hay kết tội người khác. Thói xấu này phát xuất từ sự cao ngạo, coi mình là chuẩn mẫu để đánh giá anh chị em mình. Thánh Gia-cô-bê cũng dạy chúng ta: “Anh em đừng nói xấu nhau. Ai nói xấu và xét đoán anh em mình là nói xấu và xét đoán lề luật. Chỉ có một Đấng ra lề luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn bạn là ai mà dám xét đoán người thân cận” (Gc 4,11-12).
Có một giai thoại trong cuộc đời của thánh Đa-minh. Khi Ngài lâm trọng bệnh, các anh em trong cộng đoàn đến thăm. Ngài nói với mọi người : “Tôi không hiểu sao Thiên Chúa lại không cho lửa xuống thiêu rụi thành này vì ở đấy có một người tội lỗi xấu xa quá sức tưởng tượng”. Các anh em tu sĩ hỏi Ngài : “Thưa Cha, xin Cha cho chúng con biết người đó là ai, để chúng con cầu nguyện cho anh ta và đến khuyên bảo, giúp anh ta ăn năn sám hối”. Cha Đaminh thở dài và nói: “Người đó chính là tôi đây. Bởi vì tôi đã nhận biết bao ơn lành của Chúa mà tôi vẫn còn đầy những tội lỗi xấu xa. Tôi là tội nhân đáng ghét nhất”.
Sự khiêm tốn luôn đi đôi với lòng nhân hậu và sự khoan dung. Đức Giêsu đã khiêm tốn hạ mình cho đến chết và chết trên Thập gía. Đây là cách diễn bày lòng thương xót trọn vẹn nhất. Trong 3 năm rao giảng, Chúa Giêsu không bao giờ kết án một ai. Ngài cận kề và đồng bàn với cả những tay thu thuế, bọn đĩ điếm hay phường trộm cướp. Ngài còn trực tiếp phong thánh cho một tên cướp chuyên nghiệp khi anh ta cùng bị đóng đinh trên thập giá, nhưng đã tín thác vào lòng thương xót của Ngài. Chúa không kết án những người có tội, song Ngài kịch liệt chỉ trích những biệt phái giả hình, những con người tự mãn về mình nhưng lại cứ hay kết án người khác.
Kiên nhẫn và nhân hậu trong sứ vụ giáo dục
Giáo dục là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy đòi hỏi sự kiên trì và tấm lòng bao dung. Suốt 40 năm trường ròng rã trong sa mạc, dân Do Thái đã được Chúa dạy dỗ và uốn nắn qua những thử thách, đồng thời Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn lấy tình cha mà sửa dạy họ. Người được giáo dục phải mở rộng cõi lòng để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Trong thư gửi tín hữu Rôma được trình bày trong bài đọc 2 hôm nay, Thánh Phao-lô đã nhắc lại điều kiện quan trọng này. Về phía nhà giáo dục, chúng ta cần phải noi gương Chúa Giêsu và thực thi những quy tắc mà bài Tin Mừng hôm nay nêu ra. Nhà giáo dục cần kiên nhẫn, chớ vội vã nhổ cỏ lùng để cho lúa tốt được phát triển. Thánh Phanxicô Salê, vị tiến sĩ Đức Ái đã đặt đức ái như quy chuẩn đầu tiên cho việc giáo dục. Có một lần, nơi giáo xứ Ngài phụ trách có một thanh niên tổ chức đánh bài ăn tiền ở nhà. Sợ hàng xóm dòm ngó, chủ nhà dọn chiếu bạc lên trên gác. Mải mê trong cuộc đỏ đen để sát phạt nhau, chủ nhà trượt chân ngã xuống đất và bị què. Với tấm lòng mục tử, Thánh Phanxicô Salê đã đến nhà để thăm hỏi. Sợ chàng thanh niên xấu hổ, Ngài không hề chửi mắng hay la rầy. Trước khi ra về, thánh nhân chỉ nhẹ nhàng nói : “Con hãy cẩn trọng, lần sau có đánh bài, con hãy ngồi dưới đất mà đánh, kẻo lại trượt chân và bị què tiếp”. Về đến nhà, người đệ tử đi theo Cha thánh mới hỏi Ngài: “Sao Cha lại khuyên người ta như thế, cứ tiếp tục đánh bài mà ngồi ở dưới đất”. Vị thánh mới từ tốn giải thích: ‘Sửa chữa một lỗi phạm không phải là chuyện đơn giản, nhưng phải kiên nhẫn từ từ. Nếu ngồi dưới đất đánh bài, hàng xóm nhìn thấy sẽ dị nghị khiến anh xấu hổ. Dần dần, anh ta sẽ bỏ được thói quen xấu”. Giáo dục cần phải có tấm lòng nhân ái và sự kiên trì. Cha Thánh Gioan Boscô cũng nhắc lại nguyên tắc này khi nói với các con cái Ngài: “Chúng con hãy nhớ rằng, một giọt mật ngọt bắt được nhiều ruồi hơn là một thùng dấm chua”.
Kết luận
Trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô, thánh Phaolô đã dạy chúng ta: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy, giận hờn hay la lối thóa mạ và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,29-32). Đây là những nguyên tắc rất căn bản khi chúng ta nhìn ra biết bao ‘cỏ lùng’, trong các giáo xứ, các giáo họ và ngay cả trong các cộng đoàn tu sĩ. Vậy, chúng ta đã hành xử như thế nào?
GB Trần văn Hào SDB
2023
Lúa mì và cỏ lùng
Lúa mì và cỏ lùng
(Mt 13, 24-43)
Dụ ngôn hôm nay tiếp nối dụ ngôn tuần trước, giúp chúng ta có một góc nhìn khác về “mảnh ruộng” cuộc sống với những thực tế đôi khi rất khác biệt và gây bất nhẫn. Không chỉ là còn câu chuyện liên quan đến đất mà ngay cả hạt giống cũng có vấn đề. Bên cạnh những hạt giống tốt, còn có những hạt giống xấu, ăn hại đất và làm hại lúa…
Trong tất cả, Thiên Chúa vẫn luôn tuyệt vời, vì Ngài không mệt mỏi yêu thương và cứu độ. Sự kiên nhẫn và khoan dung của Ngài lớn lao hơn tội lỗi của con người. Tình thương ấy chiếu sáng và bóng tối của lòng người và lòng đời, khơi lên cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao.
Vàng thau lẫn lộn…
Hình ảnh cánh đồng có lúa mì và cỏ lùng cùng mọc lên là hỉnh ảnh rất cụ thể về tình trạng vàng thau lẫn lộn của ruộng lúa. Có một sự giao tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, hữu ích và tai hại.
Ruộng lúa ấy là thế giới rộng lớn của nhân loại và cũng là thế giới thu nhỏ của tâm hồn mỗi người. Luôn có lúa và cỏ lùng, có mầm mống sự thiện và mầm mống sự ác, có ánh sáng và bóng tối…
Thế giới này không trung tính, nó thường nghiêng chiều về sự ác, đôi khi sự ác còn được đa số hoặc luật pháp công nhận (ví dụ phá thai, ly dị…). Có quá nhiều bóng tối đang phủ vây lòng người, nhất là bóng đêm vô cảm và bạo lực… Nói thế không có nghĩa là không còn ánh sáng, nhưng gương sáng xem ra ít ỏi và lu mờ trước bóng tối dày đặc…
Kẻ thù đã gieo…
Ma quỷ luôn làm việc và làm việc cách “tinh ma quỷ quyệt”. Nó nhằm lúc chúng ta “ngủ”: mất cảnh giác, không ý thức, không tỉnh thức, không canh gác. Cách gieo cỏ cũng rất ma mị, vì gieo “ngay vào giữa lúa”, rồi gieo xong thì “chúng đi mất”, chỉ đến khi “lúa lớn lên và trổ bông thì mới lộ ra”…
Cỏ lùng có thể được gieo vào giữa lòng ta, giữa cộng đoàn ta một cách rất tinh vi: ta không hay biết, vì lẫn lộn vào vỏ bọc đạo đức, chìm khuất và cơ cấu… Có khi là những danh hiệu rất mĩ miều, những chiêu bài rất kêu và những phong trào rất rầm rộ. Có khi là cả một trào lưu xã hội, một lối sống thịnh hành, một tâm lý đám đông… Mãi cho đến một ngày, ta thấy mình khác, con cháu mình khác, cộng đoàn chúng ta khác…
Đợi đến mùa gặt…
Chúng ta thường muốn xử lý vấn đề nhanh gọn, kiểu “luôn và ngay”. Kiểu suy nghĩ nhanh, gọn và tốc độ này, đôi khi đồng nghĩa với nông, non và ngắn. Cái nhìn bị gắn chặt vào cỏ lùng, đầy ắp tiêu cực và sân hận, chỉ muốn loại trừ, nhổ bỏ, hủy diệt. Vì quá nôn nóng loại bỏ cái xấu, cái ác, tâm hồn mình lại trở nên xấu xí và ác ôn.
Nhưng ông chủ thì hành xử khác, ông muốn “đợi đến mùa gặt”. Đây là cách hành xử của khoan dung, độ lượng và lạc quan hy vọng. Ông chủ nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu. Ông cho mọi sự có thời gian, có cơ hội, có hy vọng, có tương lai… Đây không phải là ông thỏa hiệp hay nhượng bộ cái ác, nhưng ông muốn xử lý ngay cả cái ác một cách khoan dung và hiền lành nhất: “Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung” (x. Bài đọc 1: Kn 12, 13.16-19).
Hạt cải… nắm men
Quả thực niềm hy vọng của ông chủ xem ra không tưởng: cỏ lùng sao có thể cho lúa, cây gai sao có thể cho trái nho. Hình ảnh hạt cải và nắm men khơi mở cho chúng ta những hy vọng lớn về công trình của Chúa. Thiên Chúa có thể làm được mọi sự, Ngài có thể biến những cái “không thể” thành “có thể”, thậm chí Thiên Chúa có thể biến đổi sự dữ ra sự lành.
Đôi khi chúng ta thất vọng và quá bức xúc về thế giới hay chính mình, vì thấy có quá nhiều cỏ lùng. Phải chăng chúng ta cần khiêm tốn hơn, sống chậm hơn, tĩnh tại và an nhiên hơn, để bình tâm giải quyết các vấn đề xã hội và giải tỏa các rối rắm tâm hồn trong bình an và sức mạnh của Chúa?
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người ca tụng lòng khoan dung nhẫn nại của Thiên Chúa và thúc đẩy chúng ta hành xử trong cuộc sống giống như Ngài: “Khi hành động như thế, Người dạy dỗ dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối” (Kn 12, 18-19).
Nguyện xin Chúa Thánh Thần “nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta” và “cầu xin” cho chúng ta (x. Bài đọc 2: Rm 8, 26-27), để chúng ta khôn ngoan trước mưu kế ma quỷ và trổ sinh các hoa trái của Ngài: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (x. Gl 5, 22-23).
Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng
