2023
Ranh giới mong manh giữa lúa và cỏ lùng
Ranh giới mong manh giữa lúa và cỏ lùng
Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13, 24-43
Suy niệm về dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng của bài Tin Mừng hôm nay là dịp giúp mỗi người chúng ta nhìn lại tâm hồn của mình, để nhận ra mình đang trồng “cỏ lùng” hay “lúa” đây? Từ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh đời sống của mình hầu mảnh ruộng tâm hồn mình thu được hoa trái tốt lành.
Trước hết, mỗi chúng ta phải khám phá lại con người và cuộc sống của mình, khám phá lại bằng cái nhìn nội tâm tức là nhìn lại chính mình. Nhiều khi cuộc sống quá bận rộn, mỗi người chúng ta không còn những khoảnh khắc thinh lặng để bình tĩnh nhìn lại chính tâm hồn của mình và vì thế, mình không thấy được con người thật của mình. Khi đưa ra dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng, Chúa Giêsu muốn chúng ta nhìn lại cuộc sống và khám phá ra con người thật của mình. Muốn khám phá ra con người thật của mình, chúng ta cần phải đặt mình đối diện với Lời Chúa, để từ đó chúng ta tìm ra nguyên nhân tại sao mảnh đất tâm hồn mình không phải là “lúa” mà lại đầy “cỏ lùng” gai góc? Đã bao lần chúng ta mải mê đi tìm dục tình, tiền bạc và vinh quang của cải trần thế, những tham, sân, si, những thù hận, chia rẽ, những thú vui chóng qua, những hạnh phúc giả tạo…. gieo vào mảnh đất tâm hồn, làm cho tâm hồn phát triển đầy cỏ lùng. Khi mảnh đất tâm hồn đầy những cỏ lùng gai góc, khi đó chúng ta trở thành những con người tội lỗi, tâm hồn sẽ không bình an.
Thực tế cuộc sống, đã rất nhiều lần chúng ta để mảnh đất tâm hồn mọc đầy cỏ lùng. Đôi khi do kẻ thù gieo rắc, cũng có lúc do người thân của chúng ta, thậm chí nhiều khi lại do chính chúng ta. Sự mong manh giữa “lúa” đại diện cho hạt giống Lời Chúa và “cỏ lùng” đại diện cho tội lỗi, những ham muốn bất chính, thói hư, tật xấu…. dẫn đến chúng ta phải đưa ra những chọn lựa cho mảnh đất tâm hồn của mình. Nơi con người, ai cũng có các động lực vị kỷ, thiển cận, ngại khó, thích nhàn, thúc đẩy một chọn lựa sai lạc mà kết quả là nỗi niềm bất hạnh. Bài Tin Mừng hôm nay đã nói rất rõ cho những ai cố tình gieo “cỏ lùng” thì sẽ gặt kết quả “cỏ lùng”: “Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quang chúng vào lò lửa; ở đó người ta sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (Mt13, 41-42). Nhưng với phận người yếu đuối, dễ hướng chiều điều xấu, làm sao để gieo “lúa” – hạt giống Lời Chúa phát triển nơi tâm hồn mình đây?
Bài đọc thứ nhất trích Sách Khôn ngoan đã chỉ cho chúng ta phải chọn Chúa và phải có lòng nhân ái (x.Kn 12,19). Bởi vì, “ngoài Ngài ra, chẳng còn thần nào khác và vì Chúa làm bá chủ vạn vật, nên Chúa nương tay với muôn loài”. Mỗi một ngày sống trên trần gian, chúng ta sẽ phải không ngừng chọn lựa. Một chọn lựa ngay chính sẽ giúp cho việc chọn lựa ngay chính kế tiếp của chúng ta dễ dàng hơn. Trái lại, một sự nhu nhược đầu hàng cũng dễ kéo theo những đầu hàng nhu nhược tiếp theo. Khi đó, chúng ta dễ sa ngã bởi bản tính yếu đuối của con người. Trong thực tế, muôn đời “cỏ lùng” không bao giờ chuyển hoá thành “lúa” được và ngược lại. Nhưng với con người khoảng cách giữa thiện “lúa” và ác “cỏ lùng” rất mong manh. Cỏ lùng và lúa luôn lẫn lộn trong tâm hồn mỗi người. Nếu không cố gắng, cỏ lùng sẽ chiếm hạt giống Lời Chúa và làm cho nó chết ngạt và không thể sinh hoa trái. Thông thường “lúa” thì phải chăm sóc rất kỹ, còn “cỏ lùng” lại mọc rất nhanh, mảnh đất tâm hồn dễ hướng chiều về nó. Đó chính là những cám dỗ ngọt ngào của thế gian, sự ham muốn của xác thịt và sự rình rập gieo rắc sự chết của ma quỷ.
Đứng trước những lời mời gọi ngọt ngào của thế gian và bao hấp lực quay cuồng của xác thịt, sự từ khước hay vượt thoát nào cũng hàm ngậm một cân lượng khổ đau, nếu không nói là “chết” trong lòng ít nhiều. Bất cứ sự thắng vượt gian dối, điêu ngoa, dục tình, tức giận, ích kỷ, kiêu căng, hay ươn lười nào cũng đòi hỏi một cuộc chiến gay go, lắm khi phải rướm máu và mất mát. Thế nhưng, cần phải chiến đấu để có thể chiến thắng! Cho dù “cỏ lùng” có mọc rậm rạp đến đâu chúng ta vẫn xác tín, cậy trông vào Thiên Chúa, nhất là cầu xin Chúa Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho chúng ta như Thánh Phaolô đã dạy: “Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,27). Sự chọn lựa “lúa” tức gieo hạt giống Lời Chúa chỉ có thể đạt tới nhờ liên kết chân thành với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện.
Vì vậy, chẳng dễ gì để có thể diệt hết “cỏ lùng” trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Đã có lúc chúng ta thất bại. Nếu có thất bại thì chúng ta hãy biết rằng Chúa luôn cảm thông, sẵn sàng tha thứ, và hằng chờ đợi chúng ta đến lấy hạt giống Lời Chúa để gieo vào mảnh đất tâm hồn hầu làm át đi cỏ lùng. Có thất bại, nhưng không có nghĩa là thất bại mãi mãi. Chúng ta cũng có thể chiến thắng nếu chúng ta biết sống một cuộc đời cầu nguyện hy sinh hãm mình, luôn biết sống theo ý Chúa và biết dựa vào Chúa trong mọi sự. Có Chúa chúng ta sẽ làm được tất cả, vì Người đã dạy rằng: “Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Lạy Chúa xin cứu giúp con, xin biến đổi chúng con và diệt cỏ lùng nơi mảnh đất tâm hồn chúng con, hầu sau này chúng con được hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa. Amen.
Lm. Jos. Duy Trần
2023
7 điều ít biết về bức tượng Pietà – Ðức Mẹ Sầu Bi
7 điều ít biết về bức tượng Pietà – Ðức Mẹ Sầu Bi
Trong các tác phẩm điêu khắc của Michelangelo, có lẽ Pietà – Ðức Mẹ Sầu Bi là tuyệt tác được người Công giáo yêu thích nhất.
Hình ảnh Chúa Giêsu trong vòng tay của Ðức Mẹ Maria sau khi Người chịu khổ hình trên thập giá đã được điêu khắc gia – danh họa Michelangelo thể hiện một cách hoàn hảo. Tuy rất nổi tiếng, nhưng có một số điều về bức tượng mà không nhiều người biết:
1. Ðức Hồng y người Pháp Jean de Billheres (1434-1499) tìm kiếm một tác phẩm nghệ thuật bằng đá cẩm thạch tại Rome để trang hoàng cho ngôi mộ của mình. Ngài đã tìm đến Michelangelo, lúc đó 24 tuổi, để đặt làm tượng. Ðức Hồng y Jean de Billheres đã đưa ra một chủ đề rất phổ biến ở miền bắc châu Âu, đó là hình ảnh Ðức Mẹ Maria rơi nước mắt vào thời khắc Ðức Giêsu được đưa xuống khỏi thánh giá. Có lẽ đây là tác phẩm điêu khắc đầu tiên của Michelangelo mà xúc cảm của con người đóng vai trò trung tâm, khác với các tác phẩm khác của ông. Kết quả, bức tượng đã trở thành một trong những tuyệt tác đẹp nhất bằng cẩm thạch ở Rome.
2. Pietà không chỉ là bức tượng nổi tiếng nhất của Michelangelo, mà còn là tượng duy nhất có chữ ký của ông. Tên tác giả được khắc lên áo Ðức Mẹ. Theo nhà sử học nghệ thuật Giorgio Vasari, Michelangelo khắc tên mình sau khi nghe một du khách nói rằng tác phẩm này là của một nhà điêu khắc khác.
3. Tượng Ðức Mẹ Sầu Bi có kích thước 1,7m x 1,9m, được chạm khắc từ khối cẩm thạch trắng và xanh lấy từ các hang động nổi tiếng ở Carrara, Tuscany (bắc Ý).
4. Ban đầu tác phẩm Pietà được đặt ở nhà nguyện Santa Petronilla, nơi Ðức Hồng y Jean de Billheres chọn làm nơi an nghỉ của mình. 200 năm sau, vào năm 1699, tác phẩm Pietà được dời đến Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô ở Vatican cho đến nay.
5. Năm 1964, Ðức Hồng y người Mỹ, Francis Joseph Spellman đã xin phép Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII được trưng bày Pietà tại cuộc triển lãm Hoàn vũ New York từ năm 1964 đến năm 1965 và đã được chấp thuận. Hàng ngàn người Mỹ và các khách tham quan triển lãm đã được tận mắt nhìn thấy tác phẩm nổi tiếng này. Bức tượng được bảo vệ sau một hàng rào nặng hơn 2 tấn.
6. Khi tượng Ðức Mẹ Sầu Bi được ra mắt công chúng vào năm 1499, các nhà phê bình nói rằng mặc dù khuôn mặt của Ðức Mẹ rất đẹp nhưng khá trẻ so với một người phụ nữ là mẹ của một người 33 tuổi. Nhà điêu khắc Michelangelo đã phản biện rằng một người phụ nữ thanh khiết sẽ giữ mãi nét thanh xuân và sẽ trẻ trung hơn những người khác.
7. Chúa nhật, lễ Hiện xuống năm 1972, Laszlo Toth, một người đàn ông Hungary có vấn đề về tâm thần đã nhảy qua hàng rào của Vương Cung Thánh Ðường thánh Phêrô để phá hoại Pietà, gây một số hư hại. Bức tượng sau đó được phục chế hoàn toàn.
2023
Lòng nhân ái bao dung
Lòng nhân ái bao dung
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A
Bài đọc 1: Kn 12,13.16-19; Bài đọc 2: Rm 8,26-27; Tin Mừng: Mt 13,24-43.
Một lần nữa, hình ảnh thửa ruộng lại được Chúa Giêsu sử dụng để chuyển tải giáo huấn của Người. Thửa ruộng vừa có lúa vừa có cỏ lùng, phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta. Quả thực, trên đời này luôn hiện hữu những người tốt và những người chưa tốt. Hơn nữa, trong chính mỗi con người cũng có những hành vi tốt và hành vi xấu. Vì thế, Lời Chúa hôm nay vừa diễn tả lòng nhân ái của Thiên Chúa, vừa kêu gọi lòng bao dung của con người. Bởi lẽ, nhờ lòng nhân ái của Chúa mà chúng ta không bị trừng phạt khi lỗi lầm; nhờ lòng bao dung của con người mà bớt đi thành kiến xung đột với cuộc sống xung quanh.
Thiên Chúa là Đấng nhân ái. Tác giả sách Khôn ngoan đã khẳng định như thế. Ngài cũng là Đấng Độc tôn, tức là không có thần linh nào ngang hàng hay sánh bằng (Bài đọc I). Lòng nhân ái của Thiên Chúa được minh chứng suốt bề dày của lịch sử Cựu Ước, cũng là lịch sử nhân loại. Đã nhiều lần người Do Thái phạm tội, nhưng Thiên Chúa thương và tha thứ. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân ái, Ngài cũng muốn chúng ta có lòng bao dung đối với nhau. Tác giả sách Khôn ngoan đã chuyển tải lời Chúa phán: “Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề, là người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Mỗi người sống trên trần gian là một “tiểu vũ trụ”, có nghĩa là một thế giới riêng, có nhiều điều dị biệt với người khác. “Tiểu vũ trụ” này có nhiều điều cần khám phá và phải tôn trọng. Một tác giả nào đó đã viết: “Đối với vũ trụ bao la, bạn chỉ là một người nhỏ bé. Nhưng đối với một người khác, bạn lại là cả vũ trụ”.
Vì khác biệt về sở thích, tính tình hay quan điểm, nên mỗi người cần phải kiên nhẫn, như người chủ ruộng trong Tin Mừng. Chúa Giêsu cho thấy rõ sự khác biệt giữa cách hành xử của Thiên Chúa và cách hành xử của con người: con người muốn gạt bỏ và tru diệt hết những ai mình không hợp không thích; Thiên Chúa lại nhân ái chờ đợi và mong họ sám hối nên hoàn thiện. Trong thế giới của chúng ta, nếu ông chủ vườn không thể làm cho một cây cỏ lùng đổi thay biến thành cây lúa, thì đối với Thiên Chúa, Ngài lại luôn ban cho các tội nhân một cơ hội để họ sám hối trở về. Đó là câu trả lời cho những thắc mắc thường thấy: tại sao trên thế giới này vẫn tồn tại những người thất đức, đôi khi họ lại còn may mắn hơn người sống tốt lành? Thiên Chúa cũng là nguyên lý của mọi sự tốt lành. Ngài chỉ gieo lúa vào cuộc đời. Sự xuất hiện của cỏ lùng là do âm mưu của ma quỷ và của chính con người.
Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người tự vấn lương tâm: tôi là cây lúa hay cây cỏ lùng trong “vườn đời” này? Đừng chủ quan nhận mình là hoàn thiện, nhưng hãy can đảm nhận ra tình trạng thực của mình. Có những lúc chúng ta giống như cỏ lùng, làm mất đi sự hài hòa trong mối tương quan với những người trong một gia đình hoặc trong một cộng đoàn. Có những khi chúng ta đang vô tình gieo vào lòng những người đơn sơ hay trẻ nhỏ những gương xấu, giống như kẻ gieo cỏ lùng lẫn vào ruộng lúa ban đêm.
Thiên Chúa là Đấng nhân ái và thương xót, nhưng Ngài cũng là vị thẩm phán công minh. Có những người cố tình khước từ lòng thương xót của Chúa, mặc dù họ được nghe nói về Ngài. Họ phải lãnh trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Cho đến mùa gặt, tức là vào lúc sau hết của cuộc đời, có những cây cỏ lùng vẫn cố tình là cỏ lùng mà không chịu biến đổi, lúc đó sẽ bị đốt trong lửa. Cùng mọc lên trên một thửa ruộng, nhưng đáp số cuối cùng của cây lúa và cây cỏ lại khác nhau: lúa nuôi sống người được thu vào lẫm; cỏ vô dụng bị bó lại đốt đi. Đó là hình ảnh diễn tả người công chính và các tội nhân mà chúng ta thường gọi là thiên đàng hay hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi vắng bóng Thiên Chúa, không có tình thương. Nơi ấy, chỉ có hận thù khôn nguôi và đau khổ vĩnh viễn.
Trong vườn đời có nhiều lúa và cỏ cùng hiện hữu, người tin Chúa cũng được mời gọi đóng góp phần mình làm cho những người còn lạc xa đường chân lý được tỉnh ngộ và trở về. Hãy giúp họ nhận ra lòng nhân ái của Chúa, qua sự bao dung của mỗi chúng ta. Ngài là Cha yêu thương, luôn chờ đợi các tội nhân trở về, để tha thứ và ban cho họ nghị lực mới. Như thế, thay vì buồn sầu bi quan vì cộng đoàn tín hữu là thiểu số trong một xã hội mênh mông, thì hãy ngẩng cao đầu vì có Chúa ở với chúng ta. Chúng ta cũng vui mừng tự hào, vì Chúa trao cho sứ mạng trở thành muối và ánh sáng cho đời. Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn và bao dung. Hãy kiên nhẫn và bao dung như Ngài trong cách đối xử với anh chị em mình.
Xin ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ để chúng ta được ơn trung thành với Chúa và nhất là biết sống theo thánh ý của Ngài. Vâng, đời sống gia đình, những sinh hoạt trong giáo xứ, những mối tương quan nghề nghiệp bạn bè trong cuộc sống đời thường đang là những môi trường để chúng ta thực thi sứ mạng làm men làm muối cho đời. Kể cả lời cầu nguyện của chúng ta cũng rất cần có Chúa Thánh Thần soi sáng, vì Ngài hiểu nỗi lòng và những ước nguyện chính đáng của từng người trong chúng ta (Bài đọc II).
TGM Giuse Vũ Văn Thiên – TGP Hà Nội
2023
Vài nét về kinh Cầu Các Thánh
Vài nét về kinh Cầu Các Thánh
Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.
Gọi là “Kinh Cầu Các Thánh” bởi vì kinh nguyện này gồm những lời khẩn cầu một số các thánh cũng như Đức Mẹ Maria – Nữ vương các thánh. Thật ra, chúng ta không cầu xin các thánh. Chúng ta chỉ xin các thánh chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa. Điều này diễn tả lòng tin cậy của Giáo hội vào sự chuyển cầu của các thánh. Đây là sự hiệp thông vốn kết hợp Giáo hội của Giêrusalem trên trời với Giáo hội lữ hành dưới thế.1
I. LỊCH SỬ
Chúng ta không rõ Kinh Cầu Các Thánh được ai soạn ra và soạn ra khi nào. Chỉ biết rằng, bên Đông phương, Kinh Cầu Các Thánh đã được hát lên ngay từ thế kỷ III (năm 270). Bên Tây phương, năm 590, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (540-604) yêu cầu hát kinh này trong cuộc rước công khai để xin Thiên Chúa chấm dứt cơn dịch tàn phá Rôma. Ngài cũng quy định hát Kinh Cầu Các Thánh vào ngày 25 tháng Tư trong nghi thức Cầu mùa. Quãng đầu thế kỷ VII, bản văn Kinh Cầu Các Thánh rất ngắn: chỉ vỏn vẹn kêu cầu Đức Kitô, Đức Trinh nữ Maria, 4 Thánh tông đồ (Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê) và 2 Thánh tử đạo (Stêphanô và Lôrensô).
Thời gian trước Công đồng Vatican II, theo sách Nghi thức Rôma và Sách lễ Rôma, Kinh Cầu Các Thánh được sử dụng khi đi rước và trong một số nghi lễ.2
Hiện nay, như được quy định trong Lịch Phụng vụ Rôma (21-03-1969), Bộ Phụng tự duy trì hai phiên bản Kinh Cầu Các Thánh để sử dụng cho những trường hợp khác nhau:
1) Phiên bản dài: sử dụng trong trường hợp cầu khẩn trọng thể và đi rước như hát trong dịp Cầu mùa; cuộc rước kiệu trong mùa Chay; hay khi di chuyển thi thể người quá cố từ nhà tư đến thánh đường.
2) Phiên bản ngắn: sử dụng trong các trường hợp làm phép trọng thể và thánh hiến diễn ra trong thánh lễ: nghi thức làm phép nước Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh; nghi thức phong chức giám mục, linh mục và phó tế;3 nghi thức chúc phong viện phụ hay viện mẫu;4 nghi thức khấn dòng, thánh hiến trinh nữ;5
Ngoài ra, chúng ta còn có phiên bản cực ngắn, nghĩa là bản văn được bỏ đi nhiều phần cho thật đơn giản nhằm mục đích sử dụng khi: cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho trẻ em;6 phó linh hồn cho người mới qua đời;7
Kinh Cầu Các Thánh còn được hát đang khi đoàn rước các ĐHY tiến vào nhà nguyện Sistine tham dự mật nghị Hồng y bầu Đức Giáo Hoàng; trong nghi lễ phong thánh; khi nhập lễ mừng kính Các Thánh Nam Nữ (01 tháng 11). Vào ngày 20 tháng Hai năm 1988, Bộ Phụng tự Thánh đề nghị sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi bắt đầu thánh lễ Chúa nhật thứ I mùa Chay nhằm tạo thêm một dấu khác biệt cho mùa này.8
II. CẤU TRÚC
Cấu trúc của Kinh Cầu Các Thánh như sau (theo bản Kinh Cầu Các Thánh mới):
1) Khẩn cầu Thiên Chúa Ba Ngôi (cộng đoàn đáp: Xin Chúa thương xót chúng con)
2) Khẩn cầu các Thánh (cộng đoàn đáp: Xin cầu cho chúng con)
3) Kêu cầu Đức Kitô. Phần này chia thành hai nhóm: i] Nhóm I: cầu xin được giải thoát khỏi những điều tiêu cực như: sự dữ; tội lỗi; án chết đời đời (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con”), ii] Nhóm II: nài xin được giải thoát nhờ những biến cố trong cuộc đời cứu độ của Chúa Giêsu: giáng sinh, chịu chết và sống lại; đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con” hoặc là “Xin Chúa giải thoát chúng con”)
4) Những lời chuyển cầu cho những nhu cầu khác nhau (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa nghe lời chúng con” hoặc “Xin Chúa nghe cho chúng con”)
5) Những lời nguyện kết thúc.
III. THÊM BỚT – THAY ĐỔI TRONG KINH CẦU CÁC THÁNH?
1. Lý do và nguyên tắc
Không những chúng ta được phép thêm bớt số các thánh mà còn là việc hết sức nên làm bởi những lý do sau: i] Thứ nhất, các tài liệu phụng vụ của Giáo hội đều nhắc nhở và đề nghị thêm bớt danh sách các thánh vào chỗ thích hợp cũng như cho phép thêm một vài lời thỉnh nguyện nữa thích hợp hơn với từng hoàn cảnh;9 ii] Thứ hai, Sổ bộ các thánh hiện nay (năm 2005) gồm đến 7000 vị thánh và chân phước.10
Với số lượng đông đảo các thánh và chân phước ở khắp hoàn vũ như vậy, cho nên trong những hoàn cảnh riêng biệt khi cử hành, chúng ta nên uyển chuyển thêm bớt danh sách các thánh cho phù hợp với thực tế.
Điều quan trọng khi thêm bớt con số các thánh, chúng ta phải tuân thủ một số nguyên tắc:
1) Thứ nhất, chỉ thêm các thánh và chân phước được liệt kê trong Sổ bộ các thánh của Giáo hội;11
2) Thứ hai, tên của vị thánh được thêm vào phải nằm đúng hàng ngũ của ngài. Hàng ngũ các thánh được chia làm 7 nhóm và được xếp theo thứ tự sau: i] Đức Mẹ và thánh thiên thần; ii] Các thánh tổ phụ cùng các thánh tiên tri; iii] Các thánh tông đồ cùng các thánh môn đệ Đức Giêsu; iv] Các thánh tử đạo; v] Các thánh giám mục cùng các thánh tiến sĩ; vi] Các thánh linh mục và tu sĩ; vii] Các thánh giáo dân. Như vậy, chiếu theo nguyên tắc này, đúng ra các Thánh Tử đạo Việt Nam phải được xếp vào hàng ngũ các thánh tử đạo hơn là ở cuối sổ.12
3) Thứ ba, ngay trong một hàng ngũ, cần tuân thủ tập tục này: i] thánh nam được xếp trước thánh nữ; ii] thánh nào được Chúa gọi về trước thì xếp trước. Ví dụ, Thánh Faustina (qua đời năm 1938) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (ly trần năm 1617); Thánh Bernadette Soubirous (qua đời năm 1879) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (qua đời năm 1617) nhưng trước Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu (ly trần năm 1897). Tuy nhiên, đôi khi tập tục này cũng có thay đổi. Chẳng hạn, trong hàng ngũ các thánh linh mục và tu sĩ, mặc dầu Thánh Ignatiô ( – 1556) chết sau Thánh Phanxicô Xaviê (-1552) tới 4 năm, nhưng vẫn được xếp trước vì tôn trọng ngài là vị sáng lập Dòng Tên trong khi vị thánh quan thầy truyền giáo chỉ là thành viên của hội dòng này.
4) Thứ bốn, tên của vị thánh được thêm vào không quá xa lạ đối với cộng đoàn cử hành.
2. Áp dụng cụ thể 13
a) Con số các thánh
– Trong thánh lễ an táng Đức Giáo Hoàng, thêm vào Kinh Cầu Các Thánh các thánh giáo hoàng và các thánh của giáo phận Roma.
– Trong nghi thức tấn phong giám mục, nêu danh tánh tất cả các thánh tông đồ theo thứ tự: Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê, Tôma, Giacôbê, Philipphê, Bartôlômêô, Simon, Tađêô, Matthia.
Trong lễ phong chức linh mục, không thêm vị nào khác;
Trong lễ phong chức phó tế, thêm hai Thánh Vincentê [-304] (sau Thánh Lorensô [-258]) và Thánh Ephrem [-373] (trước Thánh Basiliô [-379]).
Trong lễ thánh hiến trinh nữ, thêm các Thánh trinh nữ Macrina (-340), Scholastica (-543), Clara (-1253), Rosa Lima (-1617), Louise Marillac (-1660), Margaret Maria Alacoque (-1690), Têrêsa Hài đồng Giêsu (-1897), Maria Goretti (-1902), Genoveva (-1956).
Trong lễ khấn trọn đời của các tu sĩ: Bỏ tên các Thánh Inhaxiô Antiôkia, Grêgôriô, Atanasiô, Martinô, Phanxicô Xaviê, Gioan Maria Vianney. Ngoài việc có thể thêm tên các thánh riêng của dòng thì đối với dòng nam, thêm các Thánh Bênađô (-1153), Ignaxiô Loyola (-1556), Vinh Sơn Phaolô (-1660), Gioan Boscô (-1888) và đối với dòng nữ, thêm các Thánh nữ Macrina (-340), Clara (-1253), Catarina Siena (-1380), Rosa Lima (-1617), Gioanna Francisca de Chantal (-1641), Louise Marillac (-1660).
Trong nghi lễ chúc phong viện phụ: bỏ tên Thánh Catarina Siena nhưng thêm các Thánh: Columbanô (-615), Bêđa (-735), Rômualđô (-1027), Brunô (-1101), Bênađô (-1153), hai Thánh nữ Scolastica (-543) và Clara (-1253).
b) Các lời khẩn nguyện cho các nhu cầu trong các dịp truyền chức, khấn dòng được thích nghi theo hoàn cảnh:
Trong lễ truyền chức, thêm ba lời khấn nguyện, mỗi lần tăng thêm một động từ: i] Xin Chúa đoái thương chúc lành cho vị thụ phong này; ii] Xin Chúa đoái thương chúc lành và thánh hóa vị thụ phong này; iii] Xin Chúa đoái thương chúc lành, thánh hóa và thánh hiến vị thụ phong này.
c) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh trong nghi thức an táng một tín hữu đã qua đời, chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho tín hữu này”.
d) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi đi viếng đất thánh vào ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (2/11), chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho các tín hữu này”.
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, Dòng Thánh Thể
_________________________________________________
1 Xc. Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Văn hóa, Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.
2 Cầu mùa; thời kỳ khó khăn; các dịp thống hối; các cuộc rước di tích các thánh; trừ quỷ long trọng; tôn thờ Thánh Thể 40 giờ; cung hiến thánh đường và bàn thờ; tấn phong giám mục; chúc phong viện phụ và viện mẫu; thánh hiến trinh nữ ; thánh lễ thứ Bảy Tuần Thánh và thánh lễ Vọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống…
3 Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580.
4 Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16.
5 Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67; Lễ nghi Giám mục, số 730. 746. 758. 779.
6 Nghi thức Rửa tội cho Trẻ em, số 48. 85.
7 Nghi thức Xức dầu và Chăm sóc Mục vụ cho Bệnh nhận, số 145.
8 Circular Letter Concerning the Preparation and Celebration of the Easter Feasts, số 23.
9 Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235; Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580; Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16; Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67.
10 Adoremus Bulletin (Online Edition) February 2005, Vol. X, No. 10.
11 Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.
12 Xc. Phan Tấn Thành, Nghi thức Phong chức Linh mục và Phó tế: Diễn giải (Học viện Đaminh, 2014), tr. 112.
13 Sđd, tr. 113-114.
