Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
20Tháng Năm
2020

Hôn nhân- Gia đình: Thách đố và thăng tiến

20/05/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

DẪN NHẬP:

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, một kỷ nguyên đánh dấu bước ngoặt về kinh tế, khoa học và nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin, một yếu tố quan trọng đã làm cho cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Nhưng tiếc thay, sự phát triển của khoa học hiện đại làm đời sống đạo đức con người cũng thay đổi, sự hưởng thụ ích kỷ, cạnh tranh, gian dối, bất nghĩa, vô tâm, vô cảm… Hậu quả là các tệ nạn đã tấn công và tàn phá các mối tương quan trong gia đình, xã hội. Đó là một thứ bóng tối khủng khiếp nhất mà các gia đình đang phải đối diện.[1]

Trước đây, khi đời sống con người còn vất vả, mỗi gia đình đều ra sức làm việc, nhưng cuộc sống vẫn không khá hơn; bữa cơm trong gia đình “cơm độn”, dưa mắm qua loa, cơm không đủ no, mặc không đủ ấm, ăn bữa nay, lo bữa mai… Và một khi nhu cầu sinh hoạt, giải trí, học tập còn đơn sơ, nghèo nàn thì đời sống tâm linh lại ít được chú trọng ngay nơi mái ấm gia đình và lan ra ngoài xã hội. Những giá trị đạo lý làm người cơ bản và những nguyên tắc ứng xử nhân bản dần dần bị xói mòn:

– Trong gia đình phai nhạt đạo hiếu: con cái không còn coi trọng bổn phận làm con đối với các bậc sinh thành, phai lạt tình cha nghĩa mẹ, xem thường tình máu mủ anh em…

– Vợ chồng không còn xem trọng nghĩa “tào khang”, tình chung thuỷ, tính keo sơn của tình nghĩa phu thê.

– Trong môi trường giáo dục, nơi học đường: học trò không còn nghiêm cẩn với nguyên tắc tôn sư trọng đạo, thường xuyên xảy ra bạo lực học đường, thầy cô gây gương mù gương xấu…

– Ngoài xã hội chợ đời thì mạng sống và nhân phẩm con người bị xúc phạm và đe doạ thường xuyên, khắp chốn; khó mà tìm được những mối tương quan giữa con người với nhau thân thiết như được ví trong câu “bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “tối lửa, tắt đèn có nhau”.

Những nét đẹp tình cảm, tinh thần và tâm linh, những giá trị đạo đức và luân lý ấy hình như bây giờ chỉ còn là những ký ức đã lui vào dĩ vãng.

Trong thông điệp “TIN MỪNG SỰ SỐNG”, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã minh giải về tính “tiêu cực đặc trưng và suy đồi nghiêm trọng của xã hội hôm nay bằng cụm từ “nền văn minh sự chết” như sau. Xin trích: “Thực ra, nếu nhiều khía cạnh quan trọng của vấn đề xã hội hiện nay có thể giải thích bằng một cách nào đó bầu khí luân lý bất ổn mù mờ và đôi khi giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân nơi một số người, thì cũng không kém phần chân thực rằng chúng ta đang đối đầu với một thực tại rộng lớn hơn mà người ta có thể coi như là một cơ cấu thực thụ của tội lỗi, đặc trưng bởi ưu thế của một nền văn hoá trái nghịch với tình liên đới, nền văn hoá này tự biểu lộ trong nhiều trường hợp như một “nền văn hoá thực thụ của sự chết”. Nền văn hoá sự chết này được tích cực khích lệ bởi những trào lưu văn hoá, kinh tế và chính trị mang phần nào quan niệm thực dụng của xã hội.”[2]

“Thời đại của nền văn minh sự chết”. Thật vậy, xã hội hôm nay, các giá trị công bằng, chân lý, đạo đức nhân bản bị coi thường trước những tham vọng của con người, giá trị của hôn nhân gia đình bị đảo lộn. Có thể liệt kê một chuỗi những vết thương đau xót: Nạn ly hôn ngày càng tăng cao, thêm rất nhiều trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi bơ vơ, một số khác rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý, dẫn đến nổi loạn hung hăng và bất trị. Nạn yêu cuồng sống vội ngay trong độ tuổi học sinh dẫn đến bạo hành trong học đường, đôi khi gây ra xô xát, án mạng vì tranh giành bạn tình; cũng đẩy tới những trường hợp làm cha, làm mẹ bất đắc dĩ, xói mòn nền tảng hôn nhân gia đình. Nạn nạo phá thai lan tràn khắp nơi vì sai lầm trong yêu đương, vì coi trọng danh dự, tiền bạc, quyền lợi hơn là sự sống con người, chống lại quyền tối thượng của Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo và trao ban sự sống của Ngài. Tình trạng tự do sống chung, sống thử trước hôn nhân, nạn bạo hành trong gia đình, ngoại tình… đang làm mai mọt những giá trị và truyền thống của hôn nhân gia đình. Đây quả là một vấn đề nhức nhối cần đặt ra. Vậy đâu là nguyên nhân của những vấn nạn này ?

  1. ĐỐI DIỆN THÁCH ĐỐ (Đi tìm những nguyên nhân gây đổ vỡ):
  2. THAY ĐỔI VỀ MÔI TRƯỜNG SỐNG:

Các thế hệ tiền nhân, là ông bà, cha mẹ chúng ta, bao đời đã quen với nếp sống văn hóa làng xã, yên bình trong “luỹ tre làng” và được điều hướng qua những nẻo đường luân lý từ Khổng Mạnh, tới Phật Giáo và rồi Kitô Giáo….

Với nền văn hóa tương đối “tịnh” này, mọi người thấy mình được bao bọc trong “không gian thuần phong mỹ tục” từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Nhưng ngày nay, bối cảnh xã hội đã khác rất nhiều; vẫn trên mảnh đất ấy, làng quê ấy, đô thị ấy… chúng ta đang sống với một bối cảnh và môi trường xã hội mà làn sóng văn minh kỹ thuật hiện đại chi phối gần như toàn bộ; đi theo nền văn minh tiến bộ đó, rất nhiều thứ tệ nạn phát sinh và xâm nhập khiến môi trường sống bị “ô nhiễm” nặng nề: mua bán mại dâm, ma túy, trò chơi điện tử – “game”, bạo lực, buôn lậu, ngoại tình, nạo phá thai, cá độ, cờ bạc, rượu chè, đua xe…

  1. THAY ĐỔI VỀ CÔNG ĂN VIỆC LÀM:

Ngày xưa, đa số mọi thành viên trong gia đình đều làm chung một nghề, ví dụ như làm nông nghiệp, làm gia công, làm các việc tại gia đình. Việc làm chung này tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trong gia đình chia sẻ công việc cho nhau, đặc biệt hơn là họ có thể dễ dàng sắp xếp thời gian chung cho các sinh hoạt trong gia đình; ví dụ như ăn cơm chung, đọc kinh, cầu nguyện chung, đi lễ chung, vui chơi chung… Ngày nay thì khác, mỗi người trong gia đình làm một nghề khác nhau. Giờ làm việc nhiều khi ngược nhau: chồng làm ca đêm, vợ làm ca ngày… Vì thế hầu như họ không có những sinh hoạt chung trong gia đình. Gia đình giờ đây chỉ còn là quán trọ. Nơi ấy được họ sử dụng để nạp năng lượng và nghỉ ngơi, dưỡng sức để tiếp tục việc làm ăn.

  1. KHÔNG CÓ THỜI GIAN DÀNH CHO NHAU:

Chính những khác biệt về nghề nghiệp đã khiến các thành viên trong gia đình không có thời gian dành cho nhau. Vì thế họ ít cảm nhận được tình thân thương, ấm áp nơi gia đình. Bên cạnh đó còn có một lý do khác nữa là họ bị nô lệ hóa cho những phương tiện hiện đại của truyền thông: như các chương trình giải trí hấp dẫn trên truyền hình, những trò tiêu khiển trên internet, hoặc tán gẫu với bạn bè qua điện thoại di động, hoặc các trang mạng xã hội… Họ có thế bỏ ra hàng giờ để thưởng thức và sử dụng những phương tiện đó, nhưng nhiều khi không có giờ để tâm sự, trò chuyện hay bàn bạc những vấn đề khúc mắc trong gia đình với các thành viên khác.

  1. CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN:

Hoàn cảnh xã hội đã làm cho mỗi người trong cùng một gia đình nhưng sống trong một thế giới riêng, với những sinh hoạt riêng, thú vui riêng, lo âu riêng của mình. Do đó, người ta ít cảm thông, ít quan tâm đến nhau, và chỉ còn nghĩ đến mình, lo cho nhu cầu và trách nhiệm riêng của mình. Những sinh hoạt chung trong gia đình ngày càng trở nên hiếm hoi, cụ thể nhất là các bữa ăn chung trong gia đình. Điều này rất bất lợi cho sự hiệp nhất và tình gia đình giữa các thành viên.

  1. CHỦ NGHĨA HƯỞNG THỤ:

Việc hiện đại hóa và công nghiệp hóa khiến đời sống trở nên tiện nghi, phong phú về vật chất. Nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh kinh tế luôn luôn tìm cách tạo nên những nhu cầu không dừng lại ở “mức cơ bản” mà vươn lên, vươn xa mang tính đua đòi, “thời thượng”;  khuyến khích người ta tìm những tiện nghi, hưởng thụ tất cả những gì vật chất và kỹ thuật đem lại. Để thỏa mãn những nhu cầu mang tính “bản năng và quy kỷ” này, người ta phải chạy theo đồng tiền, tìm kiếm và coi trọng nó. Khi đã coi trọng đồng tiền thì người ta sẽ coi nhẹ tình nghĩa, là cái cốt tủy tạo nên tương quan không mấy tốt đẹp trong gia đình.

  1. CHỦ NGHĨA KHOÁI LẠC:

Trong số những nhu cầu mang tính “kích thích và đáp ứng” do nền kinh tế hưởng thụ tạo ra, những nhu cầu thuộc bản năng khoái lạc con người cũng được khai thác triệt để: các quán ăn nhậu và những tụ điểm giải trí mọc lên khắp nơi, trong đó có cũng có những hình thức giải trí thiếu trong sạch, lành mạnh nhưng lại rất dễ lôi cuốn. Vì thế, rất nhiều người bị cám dỗ tìm kiếm và hưởng thụ những lạc thú xác thịt. Điều này đã gây nên bao tang thương đổ vỡ cho các gia đình.

  1. NHỮNG KHÁC BIỆT CỦA CÁC KIỂU MẪU GIA ĐÌNH:

Ngày hôm nay tình trạng văn hóa và tín ngưỡng khác nhau trong các gia đình do hệ lụy của “hôn nhân hỗn hợp” diễn ra phổ biến. Không nghi ngờ gì ngày hôm nay người ta thường nói đến một “kiểu mẫu gia đình mới”. Từ ngữ “gia đình kiểu mới” được nhiều lần nói đến và người ta có khuynh hướng nói đến một khái niệm mới về hôn nhân. Càng ngày người ta càng rời xa khái niệm hôn nhân là một cuộc sống chung giữa hai người khác phái.

Hôn nhân được định nghĩa trong một khái niệm về một “kiểu mẫu gia đình mới”, đó là tình trạng con cái có cha mẹ ly hôn phải sống với ông bà không còn phải là chuyện hiếm hoi, có những gia đình chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ ở với con cái, có những gia đình mà cha mẹ chỉ đến thăm con một năm được một hoặc hai lần, có những gia đình cha mẹ không muốn sinh con hoặc trì hoãn sinh con, những cuộc sống chung không cần hôn thú, gia đình đồng giới tính. Những dạng thức gia đình này được gọi là “kiểu mẫu mới”. “Gia đình kiểu mẫu mới” này phá vỡ khái niệm đúng đắn của hôn nhân gia đình.

  1. CHẾ ĐỘ GIA TRƯỞNG TRONG CÁC GIA ĐÌNH:

Do ảnh hưởng của văn hóa Á Đông, nên người nam luôn giữ vai trò quyết định trong các gia đình Việt Nam. Chế độ gia trưởng này đã bén rễ sâu trong mọi cấu trúc xã hội, điều đó đã tạo nên sự bất bình đẳng cơ bản về giới tính và đã tạo ra quyền tối thượng cho nam giới. Chính vì thế không ít người chồng không thủy chung với người vợ, sự vô trách nhiệm của người cha đối với con cái, thường dễ được bỏ qua và dễ được tha thứ hơn là sự phản bội và vô trách nhiệm của người vợ. Vì trọng nam khinh nữ, chỉ chọn con trai, nên trong lúc mang thai nhiều ông bố, bà mẹ đã đi xác định giới tính của người con sắp được sinh ra; nhiều người đã nhẫn tâm loại bỏ thai nhi nữ. Từ quan niệm đó đã có hàng ngàn thai nhi nữ bị sát hại, điều này đã làm băng hoại đời sống hôn nhân gia đình và dẫn đến tình trạng mất cân bằng về giới tính.

  1. LỐI SỐNG CỦA GIỚI TRẺ TRONG GIA ĐÌNH:

Có thể nói thế hệ thanh thiếu niên hôm nay là một thế hệ chú trọng về vật chất nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Trong ba thập niên qua, những sự tiến bộ phi thường về kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực, và việc áp dụng kỹ thuật tân tiến vào mọi lãnh vực đã làm cho đời sống của thanh thiếu niên càng bị lệ thuộc vào vật chất nhiều hơn. Chẳng những thế, sự phát triển về công nghệ thật sự đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách suy nghĩ về cuộc sống của giới trẻ, những quan niệm “tự do ngoài khuôn phép”, ngoài những chuẩn mực đạo đức tốt lành, phẩm chất đạo đức của lương tâm…, khiến họ không còn biết phân định đâu là những việc phải làm và đâu là những gì phải tránh. Sự thể hiện tự do của họ đang trở thành một “ung nhọt” ngày càng làm nhức nhối xã hội, mà hậu quả thật là lớn, trở thành một gánh quá nặng cho xã hội đang thời kỳ phát triển như hiện nay. Đó là những trung tâm cai nghiện ma tuý ngày càng nhiều, những bệnh viện dành điều trị cho những bệnh nhân HIV, những trung tâm mồ côi, hoặc những nhà tình thương tập thể làm nơi tá túc cho những chị em đã lỡ lầm… Vì vậy, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để bớt đi những điều không hay ấy? Câu hỏi này đang là một thách đố cho những người có trách nhiệm và cho chính đời sống hôn nhân gia đình.

  1. BẠO LỰC TRONG GIA ĐÌNH:

Chuyện bạo hành trong hôn nhân là một chuyện dài không có hồi kết thúc. Nó xảy ra mọi nơi trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam, đặc biệt ở những nơi mà dân trí thấp kém, trình độ văn hóa chưa được khai phóng, duy trì những hủ tục và tập quán man khai… Những nơi đó việc vợ bị chồng đánh đập, chà đạp nhân phẩm, hoặc việc vợ tru trếu, chửi bới, cào cấu chồng là chuyện thường ngày xảy ra. Hành động này đã làm tan nát biết bao gia đình, biết bao cặp vợ chồng đã phải ly dị và bao trẻ thơ đang phải sống thiếu tình cảm của cha mẹ.

  1. TỰ DO SỐNG CHUNG:

Với chủ trương thực dụng, hôn nhân ngày nay đang đối diện với nguy hiểm đầu tiên đó chính là tình trạng mỏng manh, không bền vững, vì bản chất của hôn nhân đã bị hiểu sai lạc. Càng ngày các bạn trẻ càng có khuynh hướng sống chung, sống thử trước khi kết hôn. Việc sống chung đã trở thành một sinh hoạt bình thường trong xã hội, và không bị coi như là một hành vi vô luân lý. Hậu quả là con số trẻ em được sinh ra ngoài hôn nhân càng ngày càng đông, số ca phá thai càng ngày càng tăng cao. Những hậu quả của việc tự do sống chung, sống thử thường không lường hết được. Đó là việc gia đình sau này lục đục, bất hòa… và gây hoang mang tinh thần cho những người thân trong gia đình. Bên cạnh nỗi đau về tinh thần, còn có nỗi đau về thể xác, hậu quả của nó, người trong cuộc khó tiên liệu hiện tại, vì câu trả lời chỉ có trong tương lai. Có lẽ chỉ với những người đang và sẽ làm mẹ mới hiểu nỗi đau không thể sinh con mà hậu quả của những lần phá thai để lại.

  1. TÌNH TRẠNG LY HÔN:

Mâu thuẫn về lối sống, chủ nghĩa tự do cá nhân… là những nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng ly hôn. Ly hôn hay ly dị gây ra rất nhiều đau khổ, lo âu và hoảng loạn. Sau một thời gian nào đó, cả nỗi đau khổ lẫn sự khoan khoái nhường chỗ cho sự cô độc. Những người ly hôn thường bị gia đình, bạn bè đặt họ dưới cái nhìn bất bình thường, nghi kỵ. Do đó, từ việc giao tiếp đến việc làm ăn, họ có thể gặp trở ngại do đánh giá không tốt của mọi người. Từ đó cuộc sống tương lai của họ cũng gặp khó khăn cả về tâm lý, tình cảm. Nhiều khi nỗi chán trường lẫn mặc cảm tự ti khiến họ không còn tha thiết, hào hứng với cuộc sống. Từ sự chán chường, bất mãn và hận đời, họ sẽ sống buông thả, tiêu phí thời gian cho những thú vui để lãng quên thực tại phũ phàng mà họ đang phải đối diện: rượu chè bê tha, nghiện ngập ma túy, tệ nạn xã hội…. Và từ tâm lý bất lợi, bất ổn ấy mà họ có thể sao nhãng, xem thường mọi bổn phận đối với con cái và trách nhiệm họ đang gánh vác. Từ đó kéo theo những tác hại luân lý cho đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.

Trước các vấn nạn trên, xin nêu vài giải pháp phần nào giúp cho các các gia đình trẻ có được một tình yêu hôn nhân “đẹp đẽ – mạnh mẽ” để có thể đương đầu với những thách đố của thời đại.

  1. CON ĐƯỜNG THĂNG TIẾN (Đi tìm những biện pháp khắc phục):
  2. THÔNG CẢM NHAU:

Dù là vợ hay chồng mỗi người đều có một con tim và một khối óc; và vì thế, tuy là vợ chồng nhưng mỗi người đều có những suy nghĩ và cảm nghiệm khác nhau. Đa số những cuộc cãi vã, hoặc xích mích, bất bình giữa vợ chồng đều đến từ những nguyên nhân trên. Do đó, vợ chồng phải có giờ ngồi với nhau với thái độ lắng nghe và chia sẻ. Ngồi với nhau như lúc mới quen biết. Nói với nhau như thuở mới gặp nhau. Chỉ khi nào ta mở rộng lòng mình lắng nghe với thái độ kính trọng và yêu thương, lúc ấy ta mới khám phá ra tình yêu mà chồng hay vợ mình dành cho mình; mới hiểu rằng, phê phán, trách móc, hoặc nghi ngờ là những hành động tội lỗi, hết sức xấu xa và nguy hiểm.
Tâm lý hôn nhân gia đình cho việc vợ chồng lắng nghe và nói với nhau cách thành thật, tôn trọng là một phương pháp trị liệu tốt nhất, hữu hiệu nhất trong việc hàn gắn và hóa giải những xung khắc trong gia đình.

  1. DÀNH THỜI GIỜ CHO NHAU:

Trong đời sống gia đình, công việc dù bận rộn mấy vợ chồng cũng nên dành thời gian cho nhau, đây cũng là cách vun trồng tình yêu nơi gia đình mình, nhất là “sẵn sàng dành thời giờ cho nhau” để trò chuyện với nhau, lắng nghe nhau, nhìn vào mắt nhau, trân trọng nhau, thân mật với nhau, để ý đến nhau, sống bên nhau một cách ý thức và thắt chặt mối tương quan gia đình. Đừng để đến sinh nhật, ngày kỷ niệm thành hôn, hoặc một biến cố lớn mới tặng vợ mình hay chồng mình một bó hoa, một cánh thiệp, hoặc một nụ hôn vội vàng, nhạt nhẽo. Hãy làm những việc ấy mỗi ngày trong khi bạn có thể làm được.

  1. CẦU NGUYỆN:

Cầu nguyện là phương pháp tối hảo để hóa giải những bất bình, tranh cãi và hiểu lầm giữa vợ chồng. Đây chính là điều cần thiết và hết sức quan trọng, khởi đi từ giáo huấn mạc khải, từ  Kinh Thánh; đặc biệt, được thể hiện trong “dấu chỉ” tiệc cưới tại Cana: qua sự bầu cử của Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã làm phép lạ nước lã hóa thành rượu ngon, làm cho niềm vui đôi tân hôn được trọn vẹn. Điều này chứng tỏ sự quan trọng của cầu nguyện, và sự hiện diện của Thánh Gia trong hạnh phúc hôn nhân.

Cầu nguyện giúp cho vợ chồng thêm dầu vào chiếc đèn tình yêu, và rượu yêu thương vào bầu rượu hạnh phúc của gia đình mình.

KẾT LUẬN:

Gia đình là món quà tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta nơi đó mỗi thành viên trong gia đình được gắn kết với nhau bằng một tình cảm thiêng liêng không thể tách rời, tình cảm ấy được ví như những tia sáng diệu kì dẫn dắt chúng ta. Tia sáng ấy sẽ sưởi ấm cho tâm hồn mỗi người.

Vì thế, để có một gia đình hạnh phúc, một nơi để chúng ta được dừng chân nghỉ ngơi, như mọi người thường nói, nhất thiết, phải xây dựng gia đình thành một bến đỗ bình yên và an toàn; là nơi mà những “thủy thủ”, sau những cuộc hải hành vượt qua giông bão có thể tìm về để “neo đậu bình yên”. Gia đình còn là nơi luôn được che chở nâng đỡ yêu thương, nơi tạo ra những tiếng cười mà mỗi thành viên trong đó đều có vai trò và trách nhiệm giữ gìn, nâng niu, trân trọng; đừng để đánh mất rồi mới đi tìm lại; lúc đó đã muộn lắm rồi.

Sau cùng, chỉ cần việc đơn giản này thôi, đó là hàng ngày quan tâm nhau bằng những việc nhỏ nhất; hay nói theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong tông huấn Gaudete et Exsultate (Hãy Vui mừng Hoan hỉ) đó là “lưu ý đến những chi tiết nhỏ”:

“Chúng ta đừng quên rằng Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ chú ý đến những chi tiết:
Chi tiết nhỏ về chuyện hết rượu tại một tiệc cưới;
Chi tiết nhỏ về chuyện một con chiên lạc mất;
Chi tiết nhỏ về việc người goá phụ dâng cúng hai đồng xu nhỏ;
Chi tiết nhỏ về việc mang dầu dự trữ cho đèn, phòng trường họp chàng rể đến chậm;
Chi tiết nhỏ về việc hỏi xem các môn đệ có bao nhiêu ổ bánh;
Chi tiết nhỏ về việc nhóm bếp lửa và nướng cá khi Người chờ đợi các môn đệ lúc tinh sương.
Một cộng đoàn biết trân trọng những chi tiết nhỏ của tình yêu, nơi đó các thành viên chăm sóc lẫn nhau và tạo ra một môi trường mở và đầy tinh thần Phúc âm, là nơi Chúa Phục Sinh hiện diện, thánh hóa cộng đoàn theo kế hoạch của Chúa Cha. Có đôi khi, nhờ món quà tình yêu của Chúa giữa những chi tiết nho nhỏ này, chúng ta được Thiên Chúa ban cho những kinh nghiệm an ủi.”[3]

Vâng, chính “những chi tiết nhỏ” đó sẽ làm cho mái ấm gia đình càng đẹp hơn, ý nghĩa hơn và gắn kết mọi người gần nhau hơn. “Dù là vua chúa hay dân cày, kẻ nào tìm thấy được sự an bình trong gia đình là người sung sướng nhất”.  Goethe thật đúng khi nói về gia đình như thế.

Nguồn: gpquinhon.org

[1] HĐGMVN, Môi trường giáo dục Kitô giáo, thư chung 2008, số 9.

[2] ĐGH GIOAN-PHAOLÔ II, Thông điệp TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG (EVANGELIUM VITAE) ban hành ngày 25.3.1995,

[3] ĐGH PHANXICÔ, Tông huấn “hãy Vui mừng Hoan hỉ” (Gaudete et Exsultate). Bản dịch: Giám mục Gioan Đỗ Văn Ngân, nxb. Tôn Giáo 2018. Số 144-145, tr. 96-97.

Nt. Isave Dương Thị Bích Nga
Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

Read More
19Tháng Năm
2020

7 điều con gái cần nhất từ người cha.

19/05/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 

7 điều con gái cần nhất từ người cha.7 điều con gái cần nhất từ người cha.

Mối quan hệ cha – con đóng vai trò quan trọng trong hành trình trưởng thành của con gái. Khi lớn lên, rất nhiều người đàn ông sẽ xuất hiện trong cuộc sống của một cô gái, nhưng có một người đàn ông sẽ luôn ở đó, chính là cha. Con gái cần cha quan tâm đến cuộc sống của mình.

Con gái cần cha tích cực quan tâm đến cuộc sống của mình như sở thích, những hoạt động thường ngày. Điều này sẽ tạo ra một kết nối lành mạnh, giúp con gái phát triển niềm tin và hình ảnh bản thân. Cha hãy khuyến khích, có mặt trong cuộc sống của con gái, tôn trọng cảm xúc, lắng nghe ý kiến của con gái mình.

Con gái cần cha chứng minh một cuộc hôn nhân lành mạnh.

Mối quan hệ đầu tiên mà con gái trải qua là mối quan hệ giữa cha mẹ. Nếu thấy cha tôn trọng mẹ, yêu thương mẹ, con gái sẽ muốn đó là tấm gương phản chiếu trong cuộc sống của chính mình.

cha va con gai Giadinhvietnam (1)

Con gái cần sự ủng hộ của cha.

Mặc dù cha có thể không phải lúc nào cũng đồng ý với con gái mình nhưng con luôn cần một sự ủng hộ. Khi một người cha hoàn toàn và hết lòng ủng hộ con gái, con sẽ phát triển lòng tự trọng mạnh mẽ. Điều này không có nghĩa là bạn luôn phải đồng ý với con, nhưng hãy cho con thấy rằng bạn luôn tin tưởng vào khả năng của con.

Con gái cần tình yêu vô điều kiện của cha.

Thế nào là tình yêu vô điều kiện: Là dù thế nào đi chăng nữa, cha vẫn sẽ ở đó yêu thương, bao dung, tha thứ cho con gái.

Cha mẹ luôn có một tình yêu thương đủ lớn dành cho con, một vòng tay đủ rộng để khi con mệt mỏi vẫn có thể trở về.

cha va con gai Giadinhvietnam (2)  

Con gái cần một người cha có tinh thần mạnh mẽ.

Một người cha nên là một trụ cột trong gia đình, chịu trách nhiệm giáo dục con cái. Cha sẽ là tấm gương cho con về tinh thần mạnh mẽ qua những bài học làm người, biết vươn lên sau những thất bại, không ngại khó khăn, thử thách trong cuộc sống.

Con gái cần một hình mẫu tích cực.

Nhiều cô gái trẻ ngày nay thiếu một hình mẫu nam tích cực trong cuộc sống của mình. Cha là người đàn ông đầu tiên xuất hiện trong cuộc đời con. Mọi cô con gái đều tin rằng cha mình là tiêu chuẩn vàng của một người đàn ông. Cách cha cư xử, đưa ra quyết định và đối xử với người khác sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của con gái về thế giới. Một người cha là hình mẫu nam chính trong cuộc đời của con gái, và quyết định những gì con sẽ tìm kiếm ở người chồng tương lai. TN 

Read More
18Tháng Năm
2020

350 năm Dòng Mến Thánh Giá: Lịch sử thời kỳ tử đạo (thế kỷ XVIII – XIX)

18/05/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

350 NĂM DÒNG MẾN THÁNH GIÁ

Bài 3: LỊCH SỬ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỜI KỲ TỬ ĐẠO (THẾ KỶ XVIII – XIX)

Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá

  1. Tình hình chung

Nếu người ta ví thế kỷ XVIII và XIX như một bức phông nền, thì hiện trên phông nền ấy là bức tranh Giáo Hội Việt Nam với màu sắc u buồn và đen tối bởi những cuộc bách hại đạo, bởi các cuộc chiến tranh và thiên tai, và còn bởi sự tranh chấp nội bộ giữa các thừa sai. Tuy nhiên, trong bức phông nền ảm đạm ấy, lại bừng lên ánh sáng bởi những tâm hồn quả cảm, chấp nhận tù tội, đòn roi, gông cùm, ngay cả cái chết để minh chứng niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Cứu Thế.

1.1. Bị bách hại

Từ thời Chúa Trịnh đến Chúa Nguyễn, sang Nhà Tây Sơn, đặc biệt là dưới các triều đại của Vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, những sắc chỉ cấm đạo được liên tục ban hành, gây nên những đợt bách hại kéo dài và đưa đến những hậu quả bi thương cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam[1].

Cũng vậy, từ những ngày đầu của Giáo Hội địa phương, nữ tu Mến Thánh Giá được diễm phúc chịu bách hại hoặc hiến dâng mạng sống để làm chứng cho đức tin trên mảnh đất quê hương của mình.

1.2. Chiến tranh và thiên tai

Việc cai trị ở Đàng Ngoài, trên danh nghĩa thuộc Vua Lê nhưng thực quyền lại là Chúa Trịnh. Những cuộc xung đột giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, rồi cuộc nổi dậy của anh em Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII, thảm cảnh nội chiến xảy ra liên miên và lan rộng khắp nơi. Cuối cùng, vào cuối thế kỷ XIX, nước Việt lại phải đối diện với cuộc chiến chống ngoại xâm, khiến dân nước chìm vào trong chiến tranh khói lửa. Cũng trong thời kỳ này, nhiều trận lũ lụt, rồi hạn hán kéo dài, khiến đời sống của người dân rất khốn cùng.

Cuộc chiến càng lan rộng, thiên tai càng nhiều thì cuộc sống của nữ tu Mến Thánh Giá càng bấp bênh và khó khăn.

1.3. Tranh chấp giữa các thừa sai

Tại Đàng Ngoài, lúc bấy giờ, có các thừa sai thuộc nhiều quốc tịch và dòng tu khác nhau như Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris, Dòng Đa Minh, Dòng Tên, Dòng Augustinô và Dòng Phanxicô. Chính vì sự đa dạng này đã nảy sinh những cuộc tranh chấp, chủ yếu từ vấn đề quyền hành và quản trị địa hạt[2]. Đầu tiên là sự tranh chấp giữa các thừa sai của Thánh Bộ và các thừa sai của chế độ Bảo Trợ; tiếp đến là giữa các thừa sai cùng Dòng Đa Minh nhưng khác quốc tịch và Tỉnh Dòng; cuối cùng là các thừa sai khác Dòng, khác quốc tịch.

Tương tự như vậy, tại Đàng Trong, những bất hòa giữa các thừa sai trong việc cai quản, về sự khác biệt quốc tịch, phân biệt giữa linh mục triều và dòng, dẫn đến việc tố cáo lên Tòa Thánh và những cuộc kinh lý sau đó[3]. Những bất hòa giữa các thừa sai vẫn còn âm ỉ cho đến một ngày Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát trục xuất tất cả thừa sai nước ngoài, trừ một linh mục Dòng Tên là ngự y của triều đình[4].

Ngoài những tranh chấp như đã kể, các thừa sai thời đó còn tranh chấp cả về thẩm quyền trên Dòng Mến Thánh Giá, khiến các nữ tu trở thành nạn nhân của việc tranh chấp ấy.

  1. Dòng Mến Thánh Giá thế kỷ XVIII

Trải qua thế kỷ XVIII đầy khó khăn, Dòng Mến Thánh Giá đã gánh chịu nhiều nỗi gian truân, có lúc tưởng như không còn đất sống. Hầu như cộng đoàn nào cũng gánh chịu tai hoạ, có khi bị xoá sổ. Nhưng như một mầm sống mạnh mẽ, nếu phần ngọn bị bão tố vùi dập, thì ngay khi có thể, chồi non lại mọc lên. Các nữ tu Mến Thánh Giá, từ thế hệ này đến thế hệ khác, kiên trì với đặc sủng Mến Thánh Giá, không phải chỉ trên danh xưng nhưng bằng chính cuộc sống của mình.

2.1. Tại Đàng Ngoài

Năm 1679, Tòa Thánh chia Địa Phận Đàng Ngoài thành Tây Đàng Ngoài và Đông Đàng Ngoài. Dòng Mến Thánh Giá cũng được phân chia như vậy.

Tại Tây Đàng Ngoài – Sự hợp tan của nữ tu Mến Thánh Giá

Dòng Mến Thánh Giá ở Tây Đàng Ngoài đã phát triển đáng kể. Tuy nhiên, cuộc sống của nữ tu Mến Thánh Giá gặp nhiều khó khăn, khi bình an, các chị quy tụ lại trong các Nhà Mến Thánh Giá; khi bị bách hại, các chị phân tán đi nhiều nơi, chờ ngày đoàn tụ.

Những năm đầu thế kỷ, các chị đã được Đấng Bản Quyền quan tâm cách đặc biệt, vì thế, các Nhà Mến Thánh Giá tiếp tục gia tăng. Ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1714, Đức Cha Bélot quy tụ 50 nữ tu Mến Thánh Giá về Trang Nứa để cầu nguyện cho Đức Cha Jacques de Bourges vừa mới qua đời[5].

Trong bản báo cáo ngày 08/06/1751, Đức Cha Louis Néez cho biết, Dòng có khoảng “400 thiếu nữ nghèo, chia thành 25 Nhà”[6], trong đó 18 Nhà thuộc tỉnh Nghệ An, số còn lại thuộc các tỉnh Thanh Hóa Nội, Thanh Hóa Ngoại và Nam Định[7].

Thế nhưng, sau đó không lâu, Đức Cha Reydellet mô tả rằng, sắc chỉ cấm đạo 1765 đã khiến “chúng ta không còn cộng đoàn, không còn chủng viện, không còn nhà ở, không còn nhà thờ, tất cả đều bị triệt hạ. Các nữ tu Mến Thánh Giá bị giải tán, những người trẻ tuổi về nhà cha mẹ, những người lớn tuổi trốn ẩn nơi nhà các tín hữu”[8].

Chị em Mến Thánh Giá Tây Đàng Ngoài đã chịu những khó khăn cùng với Giáo Hội trong vùng lúc bấy giờ. Với thời gian, những khó khăn ấy giảm dần. Vào thập niên cuối của thế kỷ XVIII, trong báo cáo ngày 14/03/1795 gửi Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Đức Cha Longer Gia cho biết Dòng Mến Thánh Giá hiện đã có 30 Nhà, mỗi Nhà có 15 đến 40 chị[9]; và vào năm 1797, hai Nhà nữa cũng đã được xây dựng, mỗi Nhà có hơn 20 chị[10].

Mặc dù chị em Mến Thánh Giá đã góp phần không nhỏ trong việc sống “tốt đạo đẹp đời”, thế nhưng, cuộc bách hại trong thời kỳ 1795-1798 tại Nghệ An và Thanh Hóa lại khiến “các nữ tu Mến Thánh Giá có những Thánh Giá mà các chị không vác nổi”. Dẫu vậy, Dòng vẫn có nhiều thanh thiếu nữ nhiệt thành xin gia nhập, thừa sai La Mothe Hậu đã nêu con số gần 1.000 nữ tu trong bức thư đề ngày 31/03/1795[11].

Tại Đông Đàng Ngoài – Việc nữ tu Dòng Mến Thánh Giá chuyển sang Dòng Ba Đa Minh tại viện

Từ khi Địa Phận Đông Đàng Ngoài được giao cho các thừa sai Dòng Đa Minh cai quản, đời tu của các chị Mến Thánh Giá không còn được bình an bởi chính quyền bính trong Giáo Hội địa phương gây nên.

Chủ trương của các thừa sai Dòng Đa Minh là muốn chuyển các nữ tu Mến Thánh Giá ở Đông Đàng Ngoài thành các nữ tu Dòng Ba Đa Minh với những cách thức như: chiêu dụ bỏ kiêng thịt, dùng áp lực bắt buộc phải chuyển dòng, hoặc ra thời hạn nếu chị em nào không tuân theo ý các ngài sẽ bị đuổi ra khỏi nhà. Trong tình hình như thế, nhiều rắc rối đã xảy ra cho các chị Mến Thánh Giá. Việc này cũng làm cho các Đấng Bản Quyền phải bận tâm[12].

Do những vấn đề trên, Đức Cha Hilario Costa Hy, thuộc Dòng Augustinô, triệu tập Công Nghị Đàng Ngoài lần thứ hai tại Lục Thủy Hạ, nhằm ổn định tình thế. Công Nghị này đã đưa ra 21 quyết định, trong đó, có các điều liên quan đến Dòng Mến Thánh Giá, cụ thể như: “Cấm các nữ tu Mến Thánh Giá chuyển sang Dòng Ba Đa Minh; […] Các Giám Mục có quyền lập Tu Viện Mến Thánh Giá bất cứ ở đâu trong Địa Phận; và các ngài có quyền giải quyết các vụ tranh chấp giữa hai Dòng nữ [Dòng Mến Thánh Giá và Dòng Ba Đa Minh], mà mọi người phải tuân theo cho đến khi Tòa Thánh quyết định cách khác”[13]. Tuy nhiên, Công Nghị này không được Tòa Thánh công nhận.

Chị em Mến Thánh Giá lại phải đối diện với những khó khăn như trước. Các chị bị vu khống, bị đe doạ, và điều tệ hại nhất là các chị còn bị hành hạ về mặt thiêng liêng như không được xưng tội, rước lễ, vì các chị không chịu tố cáo cha Adriano[14]là kẻ rối đạo và đã bị mắc vạ. Không nản chí, ngày 16/08/1759, các chị đại diện cho sáu Nhà Mến Thánh Giá tiếp tục làm đơn khiếu nại lên Tòa Thánh[15].

Sau khi phái vị Kinh Lược đến Đàng Trong để điều tra và nhận được báo cáo về tình trạng của các nữ tu tại đó, năm 1764, Thánh Bộ gửi cho các nữ tu Mến Thánh Giá một chỉ dụ cam kết bảo vệ và ưu đãi các chị. Tuy thế, các chị Mến Thánh Giá vẫn còn bị ép chuyển sang Dòng Ba Đa Minh[16]. Vì vậy, ngày 05/03/1787, Thánh Bộ đưa ra quyết định dứt khoát:

– Các chị Mến Thánh Giá Trung Lao đã gia nhập Dòng Ba Đa Minh, nay ai muốn thì có thể tự do trở lại Dòng Mến Thánh Giá;

– Từ đây, việc chuyển từ Dòng Mến Thánh Giá sang Dòng Ba Đa Minh là điều bất hợp pháp, “nếu đi ngược lại quyết định trên đều bất thành sự và sẽ có hình phạt riêng do Thánh Bộ áp đặt”[17].

Tuy Thánh Bộ đã đưa ra quyết định như thế, nhưng vào cuối thế kỷ XVIII, Đông Đàng Ngoài chỉ còn ba Tu Viện Mến Thánh Giá: Kiên Lao, Trung Linh và Bùi Chu[18].

2.2. Tại Đàng Trong

Vào năm 1711, Đàng Trong có 20 cộng đoàn nữ tu Mến Thánh Giá. Vài năm sau đó, đạo bị bách hại dữ dội, nên tất cả các cộng đoàn trên bị giải tán và tàn lụi[19] đến độ người ta không tìm được bản luật nào của Đức Cha Pierre Lambert de la Motte[20]. Sau thời gian ngưng trệ, các Đấng Bản Quyền đã tìm cách phục hồi, và nhờ đó mà Dòng Mến Thánh Giá ở Đàng Trong được khôi phục và phát triển một cách kỳ diệu. Những Tu Viện Mến Thánh Giá tiêu biểu thời bấy giờ là Thợ Đúc, Hà Dừa, Nha Ru và Chợ Mới.

Tuy vậy, nhiều cuộc cấm đạo lại liên tiếp xảy ra, đó là lý do khi Đức Cha Guillaume Piguel trả lời những câu hỏi của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin về Địa Phận Đàng Trong vào ngày 19/07/1765 cho biết: “hoàn toàn không có một dòng nữ nào cả”[21]. Tưởng như sẽ không còn tồn tại, vậy mà Dòng Mến Thánh Giá ở Đàng Trong lại được hồi sinh dù các khó khăn vẫn còn đó. Nhờ lòng nhiệt thành giúp đỡ của Đức Cha Labartette, Dòng Mến Thánh Giá đã phát triển trở lại khá nhanh. Như một điệp khúc, Dòng được phục hồi chưa bao lâu sau một cuộc bách hại thì cuộc bách hại khác lại đến.

2.3. Số nữ tu Mến Thánh Giá vào cuối thế kỷ XVIII

Về con số nữ tu Mến Thánh Giá, chúng ta không có những bản thống kê chính xác, chỉ dựa vào bản báo cáo của các thừa sai. Con số này thường bị dao động bởi các cuộc bắt đạo.

Vào cuối thế kỷ XVIII, ở Địa Phận Tây Đàng Ngoài còn tới 30 cộng đoàn với hàng trăm nữ tu. Số ơn gọi xin vào Dòng nhiều đến độ Giám Mục Đại Diện Tông Tòa phải ra lệnh tuyển chọn kỹ lưỡng.

Còn ở Địa Phận Đông Đàng Ngoài, nơi Dòng Mến Thánh Giá không được các thừa sai Đa Minh ưu ái, khoảng năm 1777, còn năm cộng đoàn với 84 nữ tu; và cuối thế kỷ XVIII, còn ba cộng đoàn Kiên Lao, Trung Linh và Bùi Chu[22].

Tính chung cả Đàng Ngoài, con số nữ tu Mến Thánh Giá đã có lúc lên tới khoảng 1.000 người[23]. Còn ở Đàng Trong, có tám cộng đoàn với khoảng 200 nữ tu[24].

  1. Dòng Mến Thánh Giá thế kỷ XIX

3.1. Tình hình chung

Bước sang thế kỷ XIX, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam được tạm ổn trong ba thập niên đầu dưới thời Vua Gia Long; sau đó là thời kỳ bị bách hại tàn khốc kéo dài hơn 50 năm dưới các triều Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, tiếp đến là phong trào Văn Thân và Cần Vương với chủ trương Bình Tây Sát Tả đã gây ra những tổn thất rất to lớn về nhân mạng và tài sản cho Giáo Hội[25]; vào thập niên cuối, Giáo Hội được bình yên và mở ra các triển vọng tươi sáng cho tương lai.

Trước năm 1844, cả Việt Nam chỉ có ba Địa Phận Đại Diện Tông Tòa: Tây Đàng Ngoài, Đông Đàng Ngoài và Đàng Trong. Trong thời kỳ gian khó nhất và bị bách hại ác liệt nhất, Giáo Hội Việt Nam vẫn có những tiến triển đáng kể, cụ thể là sự gia tăng con số các Địa Phận.

Ở Đàng Ngoài có các Địa Phận: Tây Đàng Ngoài (1679), Đông Đàng Ngoài (1679), Nam Đàng Ngoài (1846), Trung (1848), Bắc Đàng Ngoài (1883), và Thượng Bắc Kỳ (Đoài) (1895).

Ở Đàng Trong có các Địa Phận: Đông Đàng Trong (1844), Tây Đàng Trong (1844) và Bắc Đàng Trong (1850).

Cho đến thời kỳ này, Dòng Mến Thánh Giá đã hiện diện hầu như trên tất cả các Địa Phận tại Việt Nam.

3.2. Thống kê chung về Dòng Mến Thánh Giá

Vì các Địa Phận độc lập với nhau nên chúng ta không có được con số thống kê chung cho Giáo Hội Việt Nam. Riêng Dòng Mến Thánh Giá, chúng ta biết được con số nữ tu như sau:

– Năm 1838: Đông Đàng Ngoài có 21 Nhà Dòng với khoảng 400 nữ tu, nhưng phần lớn là nữ tu của Dòng Ba Đa Minh tại viện; Tây Đàng Ngoài có 40 Nhà Dòng; Ở Đàng Trong, 20 Nhà đã biến mất một phần dưới sự tàn phá của những kẻ bách hại[26].

– Năm 1850: dựa theo Niên Giám của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, linh mục Đinh Thực cho biết: có 72 Nhà Dòng với 1.600 nữ tu trong cả nước Việt Nam[27].

– Năm 1859: Linh mục Migne cung cấp số thống kê về các cộng đoàn và nữ tu Mến Thánh Giá trên khắp các Địa Phận của Việt Nam: “Ngày nay, các nữ tu Mến Thánh Giá gồm 72 cộng đoàn, với khoảng 1.680 nữ tu. Ở Đông Đàng Trong, có sáu cộng đoàn Mến Thánh Giá với khoảng 120 nữ tu; ở Tây Đàng Trong có sáu cộng đoàn với khoảng 160 nữ tu, và tại Bắc Đàng Trong có tám cộng đoàn với 300 nữ tu. Ở Tây Đàng Ngoài có 24 cộng đoàn với 509 nữ tu, ở Trung (Nam) Đàng Ngoài có 23 cộng đoàn và 556 nữ tu, và ở Đông Đàng Ngoài có một cộng đoàn với 37 nữ tu”[28].

Thực ra, điều quan trọng không phải là sự chính xác của số lượng các nhà hay con số các nữ tu, vì như chúng ta biết trong hoàn cảnh khó khăn và đầy bất trắc trong các thời kỳ bách hại, thì sự hợp tan của các cộng đoàn là điều dễ hiểu. Tan đó rồi lại hợp đó. Khi tan, các chị trở về nhà cha mẹ hay tìm nơi ẩn trốn; khi tạm yên, các chị lại tìm về bên nhau, gầy dựng lại cộng đoàn. Cơ sở của cộng đoàn chỉ là những căn nhà tranh vách đất thô sơ như bao nhà của dân quê nghèo khó, bỏ đi cũng chẳng mấy tiếc mà xây dựng lại cũng không mấy khó khăn.

Điều quan trọng là ơn gọi Mến Thánh Giá, đặc sủng Mến Thánh Giá từ khi được thành lập, không bao giờ biến mất hoàn toàn trong đời sống Giáo Hội tại Việt Nam. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, các chị vẫn kiên trì trong ơn gọi của mình, ứng phó linh hoạt với hoàn cảnh. Do vậy, có thể nói rằng nữ tu Mến Thánh Giá luôn luôn hiện diện trên mảnh đất quê hương này.

3.3. Đời tu

Các nữ tu Mến Thánh Giá ít được học vì “người ta không có thói quen dạy cho trẻ nữ học đọc, học viết”, các chị sống không có nội vi, các Nhà độc lập với nhau tuy cùng theo một Bản Luật. Chứng từ của các thừa sai ghi nhận rằng các nữ tu Mến Thánh Giá “sống một cuộc đời rất vất vả, rất siêng năng và rất hãm mình […]; giữ các nhân đức chính là khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, họ không thua kém gì các cộng đoàn nữ tu Châu Âu. Lại nữa, họ chỉ khấn đơn […] từng năm một”[29]. Các chị đã “cảm hóa nhiều người bằng cuộc sống ngay lành”. Bên cạnh đó, các chị năng đi thăm viếng và an ủi những người đau yếu, dạy dỗ các phụ nữ dự tòng, tìm kiếm các trẻ em ngoại trong cơn nguy tử để tái sinh các em trong nước Thánh Tẩy[30].

Trong thời kỳ đạo Công Giáo bị bách hại, ngoài những công việc được kể trên, các nữ tu Mến Thánh Giá còn giúp các thừa sai có nơi trú ẩn; chuyển thư từ và đem lương thực cho các ngài. Khi cần, các chị đã tìm cách vào tận các nhà giam để thăm nuôi và động viên các tù nhân đức tin. Can đảm hơn, các chị còn đồng hành cùng các chứng nhân đức tin từ tòa án đến pháp trường. Chính vì lẽ đó, các chị là một trong các đối tượng bị truy bức một cách đặc biệt, đã có rất nhiều chị là nạn nhân của chính sách cấm đạo, và không ít chị đã hiến thân chịu chết vì đức tin.

  1. Nữ tu Mến Thánh Giá trong cơn thử thách bách hại

Điểm lại những biến cố trong suốt chiều dài lịch sử Dòng Mến Thánh Giá mới thấy rằng, hầu như không lúc nào đời sống các nữ tu của Dòng vắng bóng Thánh Giá, nhất là trong thời bị bách hại.

Trong các thời kỳ Công Giáo bị cấm cách, đối tượng được triều đình và quan quân truy nã gay gắt là các Giám Mục và các thừa sai, kế đó là các linh mục người Việt, theo chủ trương “đánh rắn đập đầu”, nhưng các tín hữu nhiệt tình cũng chẳng được tha. Các nữ tu Mến Thánh Giá, vì là nữ giới nên có khi được châm chước, nhưng cũng là đối tượng bị truy lùng và nhà của các chị cũng bị triệt phá. Đến một lúc mà triều đình nhận thấy vai trò của nữ tu trong việc che giấu các thừa sai, các linh mục; nhà của các chị là nơi cất giấu các đồ đạo, và các chị lại là những người thông tin liên lạc cho những người phải lẩn trốn hay là người tiếp tế cho những kẻ phải tù đày, thì triều đình đã xếp các chị vào một loại đối tượng đặc biệt phải theo dõi. Quả vậy, chỉ dụ ngày 17/01/1859 của Vua Tự Đức đã nói đến việc phải truy lùng và bắt giam cả những phụ nữ mang thư từ và tin tức. Hơn một năm sau, trong chỉ dụ tháng 07/1860, các phụ nữ này được xác định rõ là những phụ nữ đồng thân, nghĩa là những phụ nữ khấn giữ đồng trinh, ám chỉ cụ thể các nữ tu Mến Thánh Giá, và truyền lệnh phải bắt giam những phụ nữ này[31]. Hậu quả, có nhiều nữ tu Mến Thánh Giá trở thành nạn nhân của các chính sách cấm đạo, và có nhiều chị phải tù tội hoặc đã hiến thân chịu chết vì đức tin.

4.1. Ở Đàng Ngoài

Ngay từ đầu thế kỷ XIX, trong năm 1800, chúng ta đã có được chứng từ về việc các nữ tu Mến Thánh Giá bị bắt vì đức tin, qua thư của thừa sai La Bissachère gửi cho thừa sai Chaumont và Blandin: “Trong số khoảng 50 phụ nữ bị dẫn tới quan, chỉ có hai nữ tu trẻ Mến Thánh Giá đã đồng ý bước qua Thánh Giá và chúng tôi đã đuổi ngay cả hai ra khỏi cộng đoàn, […] tất cả các nữ tu và các phụ nữ có đạo khác đã làm cho cánh đàn ông phải xấu hổ vì lòng can trường của họ”[32].

Sau khi có lệnh cấm đạo của Vua Minh Mạng năm 1833, tình hình ngày càng trở nên khó khăn hơn cho các nữ tu.

– Trong thư ngày 29/03/1839, thừa sai Jeantet cho biết: . bốn nhà của các nữ tu bị phá huỷ. Các nữ tu đáng thương của chúng ta, sau khi mất hết ruộng, vườn, nhà cửa và hầu như tất cả những gì họ có, […] mặc cho tình trạng đó, họ vẫn tuân giữ tu luật và tinh thần cộng đoàn”[33].

– Vào lễ Phục Sinh, ngày 11/04/1841, dưới thời tổng đốc Nam Định là Trịnh Quang Khanh, bà Anê Lê Thị Thành và hai nữ tu Mến Thánh Giá là Anna Khiêm và Anê Thanh cùng bị bắt, bị đeo gông, bị tra khảo, bị thả rắn vào quần áo, nhưng cả ba luôn kiên vững trong đức tin. Tuy nhiên, do bị lừa nên hai chị Khiêm và Thanh đã in dấu tay lên tờ giấy chối đạo mà các chị không biết. Còn bà Anê Thành, sau đó, chết trong tù và được tôn phong Hiển Thánh[34].

– Tại Đông Đàng Ngoài, trong phúc trình ngày 23/04/1839, thừa sai Hermosilla cho biết: “Các cư sở của các thừa sai bị triệt hạ. Hai chủng viện, 22 tu viện của các nữ tu Dòng Ba Đa Minh, ba nhà của các nữ tu Mến Thánh Giá cùng chung một số phận”[35].

4.2. Ở Đàng Trong

So sánh với Đàng Ngoài, các nữ tu Mến Thánh Giá ở Đàng Trong chịu nhiều thiệt hại hơn trong các thời kỳ bách hại đạo Công Giáo.

– Qua thừa sai Delamothe, trong thư ngày 14/01/1834, chúng ta được biết tình hình chung của các Nhà Dòng Mến Thánh Giá: “Có thể nói rằng nhà của các nữ tu đã bị phân tán hoàn toàn, các nữ tu về nhà cha mẹ. Tại những nơi có ba nhà, người ta phá bỏ đi hai, và tại những nơi có hai nhà, người ta phá bỏ đi một…”[36]. Tuy nhiên, vào những lúc cao trào của cuộc bách hại, tất cả các nhà này không còn nữa[37], 18 nhà nữ tu bị phân tán[38], bị phá đổ[39], có nhà bị san bình địa[40].

– Sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, sự bách hại càng gay gắt hơn. Chỉ trong ba năm, từ tháng 09/1859 đến tháng 06/1862, đạo Công Giáo Việt Nam đã trải qua một giai đoạn đau thương, với những tổn thất hết sức nặng nề về nhân mạng và tài sản. Trong đó, chỉ riêng Dòng Mến Thánh Giá “80 Tu Viện bị triệt phá với 2.000 nữ tu người Việt của chúng ta đã bị phân tán và khoảng 100 đã hiến mạng sống vì đức tin”[41].

– Số nữ tu nạn nhân chưa dừng lại đó, vì vào thời Văn Thân và Cần Vương, “khoảng 50% tổng số tín hữu của Địa Phận Đông Đàng Trong bị sát hại một cách thảm thương”, trong đó có “270 nữ tu bị thảm sát”[42].

Một tổng kết bi thương cho các nữ tu Mến Thánh Giá ở Đông Đàng Trong được ghi lại: “Trước lúc xảy ra cuộc thảm sát năm 1885, ở Địa Phận Đông Đàng Trong có 12 cộng đoàn với 442 nữ tu; sau các cuộc tàn sát năm 1885, chỉ còn ba cộng đoàn: một ở Trà Kiệu và hai ở Qui Nhơn, tổng cộng 120 nữ tu”[43]. Như vậy, có đến chín cộng đoàn đã bị triệt phá và 322 nữ tu đã bị sát hại hoặc chạy trốn.

  1. Nữ Tu Mến Thánh Giá: Chứng nhân đức tin

Như đã trình bày trên đây, rất nhiều nữ tu Mến Thánh Giá đã chấp nhận tù tội, gông cùm, tra tấn, để trung thành với đức tin Kitô Giáo. Tuy thế, chỉ có một số ít trường hợp được ghi vào sổ sách. Sau đây, xin được nêu lên một số trường hợp điển hình mà các nữ tu Mến Thánh Giá đã chung phần tô điểm thêm cho bức tranh chứng nhân đức tin của Giáo Hội Việt Nam.

5.1. Tại Đàng Ngoài: Bà Paula

Bà Paula có thể là một trong hai nữ tu Mến Thánh Giá tiên khởi tại Đàng Ngoài, được đặt làm “Bà Mụ Cả” của một Nhà Mến Thánh Giá (có thể là Nhà Kiên Lao) từ khi Nhà này được thành lập. Bà bị bắt và bị giải lên tận Phố Hiến vào một ngày trong tháng 06/1686. Tuy bị tra khảo nhiều lần, bà không tỏ vẻ sợ hãi nhưng luôn ứng xử rất can đảm. Quan đã ra lệnh cho lính đánh bà 30 roi và đốt tất cả sách vở và đồ dùng trong việc đạo được tìm thấy trên chiếc thuyền mà bà Paula tự nhận là của mình, để những người có liên quan không bị bách hại[44].

5.2. Tại Đàng Trong

Các nữ tu Mến Thánh Giá Thợ Đúc-Huế

Cuộc nội chiến giữa Nhà Tây Sơn và Chúa Nguyễn gây biết bao tang thương cho người dân Việt. Song song đó, việc bách hại đạo vẫn tiếp tục xảy ra. Các nữ tu Mến Thánh Giá vẫn là mục tiêu của các cuộc truy lùng và phân tán[45]. Năm 1795, tình hình trở nên gắt gao hơn, tại Tu Viện Mến Thánh Giá Thợ Đúc-Huế, các chị bị bắt, bị canh giữ, bị đánh đập một cách tàn nhẫn vì đã che giấu cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu[46]. Trong số đó, có Bà Bề Trên Thục[47], 72 tuổi, và 10 chị em trẻ bị trói, bị đem về đồn Phú Xuân. Nhờ thân nhân lo lót tiền cho lính canh, nên sau năm ngày bị canh giữ, các chị được tha và bị đuổi ra khỏi Tu Viện với vỏn vẹn y phục trên mình. Toàn bộ tài sản của các chị bị tịch thu, nhà cửa thì bị phá bình địa.

Nữ Tu Maria Mađalêna Nguyễn Thị Hậu[48]

Khi nói về nữ tu Mến Thánh Giá, chứng nhân đức tin can trường và anh dũng trong thời gian đạo Công Giáo bị bách hại khốc liệt thời Vua Minh Mạng, không thể không nhắc đến chị Maria Mađalêna Nguyễn Thị Hậu, một nữ tu Mến Thánh Giá trẻ trung và kiên cường, thuộc Tu Viện Nhu Lý-Huế. Đêm 12 rạng ngày 13/04/1839, chị Maria Mađalêna Hậu đã bị bắt cùng với cha Delamotte Y và một số người khác trên thuyền khi đang đi trốn. Chị bị giải về nhà tù Trấn Phủ, Huế. Tại đây, chị bị đưa ra tra khảo, chịu nhiều đòn vọt và nhiều trò tra tấn dã man. Dù rất đau đớn và sợ hãi, nhưng chị vẫn can trường, kiên trung trong đức tin. Chị bị kết án làm nô tỳ, rồi đổi thành lưu đày. Đầu năm 1841, sau khi được giáo dân giải cứu và lén đưa về Tu Viện Mến Thánh Giá Phủ Cam-Huế, chị trở bệnh nặng và đã bình an đi về Nhà Cha ngày 20/01/1841, lúc mới 27 tuổi. Chị Maria Mađalêna Hậu đã được công nhận là chết vì đạo, vì chị đã chết do hậu quả những cực hình phải chịu trong tù vì đức tin[49].

Hai nữ tu Anê Soạn và Anna Trị[50]

Khi chiếu chỉ Phân Tháp[51] của Vua Tự Đức được ban hành[52], người Công Giáo bị phân tán hoặc phải lẩn trốn khắp nơi. Các nữ tu Mến Thánh Giá không chỉ bị cô lập trong làng, mà còn bị nghiêm cấm không cho đi lại để ngăn ngừa việc đưa thư cho các thừa sai từ tỉnh này sang tỉnh khác[53]. Nhiều chị đã chịu chết vì Danh Chúa Kitô, nhất là vào những năm 1860-1862. Trong số đó, có hai nữ tu Anê Soạn và Anna Trị, cùng bị bắt ở Nhà Phước Bình Thuận. Dù là chốn lao tù, hay nhục hình, bao tra tấn, gông cùm, đòn roi, cũng không khuất phục được hai chị giẫm đạp lên Thánh Giá. Ít lâu sau đó, khi bản án từ triều đình gửi về, hai chị cùng bị xử giảo với 12 vị tử đạo khác tại Phan Rí, năm 1862.

Bà Nhất Matta Lành và nữ tu Ysave Ngọ[54]

Lịch sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn cũng ghi nhận hai chứng nhân đức tin đã từng bị bắt bớ, tra tấn và tù tội trong thời cấm cách, đó là Bà Nhất Matta Lành và chị Ysave Ngọ. Ngày 09/12/1858, binh lính ập vào Nhà Phước Cái Mơn, bà Matta Lành và chị Ysave Ngọ bị bắt cùng với một vài kỳ hào bên cạnh Nhà Phước, vì bị phát hiện đang cất giấu các đồ đạo. Tất cả bị đeo gông và bị giải về nhà giam Vĩnh Long. Hơn ba năm trong chốn lao tù, bà Matta và chị Ysave phải chịu nhiều tra tấn, đòn vọt, đến độ da thịt bị rách nát, với những vết thương hằn sâu. Mang trên mình sự đau đớn khó có thể diễn tả hết thành lời, thế mà Bà Nhất Matta còn chinh phục được nhiều tù nhân trở lại đạo Chúa. Ngày 28/03/1862, khi thành Vĩnh Long thất thủ, quân Pháp tràn vào phá cửa ngục, bà Matta và chị Ysave được trả tự do cùng với các tù nhân khác. Tuy không được phúc đón nhận cành thiên tuế tử đạo, nhưng hậu quả của những tra tấn, đòn roi đã để lại thương tật nơi thân thể mà bà Matta và chị Ysave phải mang suốt đời, đã nói lên sự kiên trung và là một dấu chứng về sự can trường của những chứng nhân đức tin, sẵn sàng hiến tế thân mình vì Đức Kitô.

5.3. Các cuộc tàn sát dưới thời Văn Thân và Cần Vương

Cuộc tàn sát các Kitô hữu càng trở nên khốc liệt, dã man hơn trong thời Văn Thân và Cần Vương. Nhất là, trong Năm Kinh Hoàng từ tháng 07/1885 đến tháng 07/1886, khắp 12 tỉnh thành miền Bắc, Trung, Nam xứ Việt, biết bao tín hữu, trong đó có ba nữ tu Maria Hồi, Anna Nhiên, Matta Mến thuộc Nhà Phước Mến Thánh Giá Lưu Mỹ[55] và hàng trăm nữ tu Mến Thánh Giá vô danh khác đã dùng máu đào để minh chứng niềm tin của mình[56].

Riêng Đàng Trong, có khoảng 270 nữ tu bị sát hại vì đức tin tại Qui Nhơn, và khoảng 60 chị Mến Thánh Giá Nhu Lý bị thiêu sống với giáo dân trong nhà thờ Dương Lộc, Triệu Phong, Quảng Trị[57].

Một cuộc tàn sát man rợ xảy ra ở Tu Viện Mến Thánh Giá Phú Hoà, Quảng Ngãi: có 40 nữ tu bị lột quần áo và bị tàn sát ngay dưới mắt cha Louis Guégan. Ngay sau đó, cha cũng bị tra tấn và hành quyết[58].

Trên đây chỉ là một vài sự kiện điển hình. Còn những cuộc tàn sát tập thể cùng với giáo dân xảy ra nhiều nơi khác như Trí Bưu – Quảng Trị, Gia Hựu – Bình Định, Phương Chuối – Quảng Ngãi… Thật đáng tiếc, hầu hết những cái chết can trường của các chị không được sử liệu ghi lại một cách đầy đủ.

5.4. Thời kỳ kháng chiến (1945-1954)

Năm 1945, đất nước đang trong bom đạn chiến tranh thì quân đội Nhật lật đổ chính quyền bảo hộ Pháp tại Việt Nam, sau đó đầu hàng Đồng Minh, rồi nhiều phong trào cách mạng nổi dậy, làm cho tình hình lại càng trở nên bất ổn, gây nhiều tang thương và chết chóc hơn.

Trong thời gian này, Hội Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán đã hy sinh hai nữ tu là chị em ruột, Maria Nguyễn Thị Nương và Catarina Nguyễn Thị Trượng. Gắn bó cuộc sống của mình với người dân Cái Bèo chân lấm tay bùn từ tháng 02/1943 đến ngày 23/09/1946, hai chị đã san sẻ với họ những vất vả, những khó khăn thiếu thốn trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc. Mặc cho tình cảnh nguy hiểm và khắc nghiệt, hai chị vẫn trung thành với sứ mạng của người nữ tu Mến Thánh Giá và kiên vững cho đến cùng trong niềm tin Kitô Giáo.

Ngày 23/09/1946, hai chị Maria Nương và Catarina Trượng bị bắt với tội danh nấu cơm cho linh mục sở tại, người bị coi là Việt gian. Họ đem hai chị vào nhà làng tra khảo, rồi giải ra chân cầu xử bắn. Chị Nương chết ngay bởi loạt đạn đầu tiên. Bị thêm lưỡi lê đâm vào bụng, chị Trượng chịu sự đau đớn kéo dài đến khoảng 7 giờ tối hôm đó mới trút hơi thở cuối cùng[59].

5.5. Hai Chân Phước Mến Thánh Giá Tử Đạo Thái Lan[60]

Thái Lan, phần đất được xem là nơi được tự do tôn giáo, nhất là thời Đức Cha Pierre Lambert de la Motte. Chính vì thế mà khi các Giám Mục Đại Diện Tông Tòa và các thừa sai được gửi đến vùng Viễn Đông thì Thái Lan luôn là điểm dừng chân an toàn, vì vùng truyền giáo thuộc thẩm quyền các ngài đang trong tình trạng đạo bị cấm cách và bắt bớ.

Thế nhưng, những thời kỳ sau Đức Cha Lambert[61], và cả vào đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, đạo Công Giáo cũng bị đàn áp tại Thái Lan, nhiều vị thừa sai bị bắt bớ, tù đày, tra tấn và trục xuất; nhiều Kitô hữu, trong đó có các nữ tu Mến Thánh Giá bị tù tội hoặc phải trốn tránh.

Hai nữ tu Mến Thánh Giá là Agnès Phila Thipsuc và Lucia Khambang Sikhampong[62] được sai đến phục vụ tại nhà thờ Đức Mẹ Cứu Chuộc Nô Lệ thuộc Songkhon, hiện nay thuộc Tổng Giáo Phận Tharae-Nongsaeng,Thái Lan.

Năm 1940, ở Thái Lan, cuộc bách hại đạo Công Giáo lan đến nhiều nơi. Tại giáo xứ Songkhon, sau khi cha sở bị trục xuất và một giáo lý viên là anh Philip Siphong bị bắn chết vì đức tin, hai nữ tu Agnès và Lucia trở thành trụ cột cho giáo dân, với trách nhiệm dẫn dắt, trấn an, chăm sóc cho cộng đoàn Công Giáo và điều hành ngôi trường làng, dù bị nghiêm cấm và đe dọa. Cuối cùng, vì từ chối mệnh lệnh phải loại bỏ Danh Thiên Chúa, không được giảng dạy về Chúa Giêsu, hai nữ tu cùng với bốn phụ nữ khác đã bị cảnh sát đem ra nghĩa trang xử bắn ngày 26/12/1940 tại Songkhon.

Ngay sau khi tự do tôn giáo trở lại trên đất Thái Lan, các Đấng Bản Quyền địa phương bắt đầu lập hồ sơ xin tuyên thánh cho bảy anh hùng tử đạo Thái Lan. Chúa Nhật Truyền Giáo, ngày 22/10/1989, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong Chân Phước cho bảy vị tử đạo Thái Lan trong đó có hai nữ tu Mến Thánh Giá là Agnès Phila Thipsuc và Lucia Khambang Sikhampong.

Qua dòng lịch sử trải dài trong suốt thế kỷ XVIII-XIX, các nữ tu Mến Thánh Giá đã được các Đấng Bản Quyền xem là “phần tốt nhất của đoàn chiên” và là “một trong những trang sức xinh đẹp nhất của Đạo Công Giáo”[63]. Sự hiện diện và hoạt động của các chị đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống của Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt là trong những lúc khốn cùng nhất của thời kỳ đạo bị bách hại. Đời sống phục vụ lẫn tinh thần tu trì của các chị Mến Thánh Giá đã được xây nên bằng máu, nước mắt và đức hạnh. Nền móng các chị xây dựng vẫn còn vững bền cho đến hôm nay và chắc chắn đến tận mai sau. Các chị luôn là niềm tự hào của các thế hệ nữ tu Mến Thánh Giá.

WHĐ, 17-05-2020

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN số 116 (Tháng 1 & 2, năm 2020) 

[1] X. Vũ Thành, Giòng Máu Anh Hùng – Lịch Sử Những Cuộc Bách Hại Đạo Công Giáo Trong Thế Kỷ XVII – XVIII, tập I, Hoa Kỳ, 1987.

[2] Cf. M. Gispert, Historia de las Missiones Dominicanas en Tungkin, Avila, 1928, pp.189-191.

[3] Cf. L. E. Louvet, La Cochinchine religieuse, tome I, Paris, Ernest Leroux, p.341.

[4] X. Trương Bá Cần, Lịch Sử Phát Triển Công Giáo Ở Việt Nam, tập I, Tp.HCM, nxb Tôn Giáo, 2008, tr.267.

[5] Cf. AMEP, vol. 685, pp.230-232.

[6] Néez, Documents historiques sur le clergé Tonkinois aux XVIIe et VIIIe siècles, Paris, Téqui, 1925, p.237.

[7] Cf. AMEP, vol 690, p.464.

[8] Nouvelles Lettres Édifiantes des Missions de la Chine et des Indes Orientales (NLE), Paris, Le Cler, 1821, vol. VI, p.273.

[9] Cf. AMEP, vol. 692, p.595.

[10] Cf. Ibib., p.811.

[11] Cf. Ibib., vol. 701, p.102.

[12] Cf. A. Launay, Histoire de la mission du Tonkin: Documents Historiques I,Paris, Téqui, 1894, pp.462-463.

[13] Bùi Đức Sinh, Dòng Đa Minh Trên Đất Việt, Sài Gòn, 1993, tr.64-65.

[14] Cha Adriano còn được gọi là Cụ Chính Tri, đã bị cha Campos, Bề Trên các thừa sai Dòng Tên ở Đàng Ngoài, với tư cách là thẩm phán thừa ủy của các cha Đa Minh, ra vạ tuyệt thông cuối năm 1758, nhưng vạ này bị Tòa Thánh bác bỏ năm 1761, điều này chứng tỏ các chị Mến Thánh Giá đã hành động đúng.

[15] X. Kỷ Yếu Giáo Phận Bùi Chu, 1533-1999, tr.69.

[16] X. Đào Quang Toản, Cái Nôi Dòng Mến Thánh Giá, Lịch Sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Kiên Lao-Bùi Chu, 2017, tr.126-136.

[17] X. nt., tr.140.

[18] X. Đinh Thực, Les Soeurs Amantes de la Croix au Vietnam – Các Nữ Tu Mến Thánh Giá Tại Việt Nam, Sài Gòn, 1994, tr.151.

[19] Nhóm NCLĐMTG, Lịch Sử Dòng Mến Thánh Giá, 2017, tr.259.

[20] X. Đinh Thực, sđd., tr.65-66.

[21] A. Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, tome II, Paris, Téqui, 1923, p.401.

[22] Gispert, Historia de las Missiones Dominicanas en Tungkin, Avila, 1928, p.287.

[23] Cf. AMEP, vol. 701, p.102; x. Trương Bá Cần, tập II, sđd., tr.192-283.

[24] Cf. A. Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, tome III,op.cit., p.275.

[25] Cf. Compte Rendu des Travaux du Séminaire des Missions Étrangères de Paris (CRTSMEP),1886.

[26] Cf. APF, Acta CP, vol. 12, 1838, pp.121-122.

[27] X. Đinh Thực, sđd., tr.99.

[28] Abbé Migne, “Religieuses annamites des Amantes de la Croix”, dans Dictionnaire des Ordres religieux, tome IV, Paris, Éditeur Migne, 1859, col. 94-95.

[29] Cf, AMEP, vol. 749, p.222.

[30] Cf. Ibib., vol. 693, pp.1059-1060.

[31] X. Đại Nam Thực Lục, tập 115, tr.232-235.

[32] AMEP, vol. 693, p.318.

[33] Ibib., vol. 701, p.1269.

[34] X. Trương Bá Cần, tập II, sđd., tr.85.

[35] APF, vol. 12, pp.397-398.

[36] Ibid., vol. 1259, p.138A.

[37] Cf. Archives des Oeuvres Pontificales Missionnaires (AOPM), vol. E-80, p.E13651.

[38] Cf. AMEP, vol. 805, p.182.

[39] Cf. Ibib.,vol. 748, p.688.

[40] Cf. Ibib.,vol. 748, p.819.

[41] L. E. Louvet, La Cochinchine religieuse, tome II, op,cit., p.295.

[42] Trương Bá Cần, tập II, sđd., tr.285.

[43] Trương Bá Cần, tập II, sđd., tr.382.

[44] X. Đỗ Quang Chính, Dòng Mến Thánh Giá Những Năm Đầu, sđd., tr.78.

[45]Cf. A. Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, tome III, op.cit.,p.271.

[46] Cha Emmanuel Triệu đã được phúc tử đạo ngày 17/09/1798, được tuyên phong Hiển Thánh ngày 19/06/1988 (x. Nguyễn Văn Ngọc, Lịch Sử Các Phước Viện Chị Em Mến Thánh Giá Địa Phận Huế, 1970, tr.17).

[47] Theo Lịch sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế, thì bà Bề Trên này tên là Thục, nhưng theo A. Launay, thì Bà tên là “Thoc” (cf.A. Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, tome III, op.cit., p.253).

[48] Những chi tiết về chị Maria Mađalêna Nguyễn Thị Hậu được trích trong Đào Quang Toản, Nữ Tu Nguyễn Thị Hậu (1814-1841), lưu hành nội bộ, Toulouse, 2000.

[49] X. Nguyễn Văn Ngọc, sđd., tr.28.

[50] Những chi tiết về hai chị Anê Soạn và Anna Trị được trích trong Đào Quang Toản, Cha Durand và Dòng Mến Thánh Giá – Anê Soạn Và Anna Trị, sđd., tr.13-27; 123-126.

[51] Chiếu chỉ Phân Tháp do Vua Tự Đức ban hành năm 1860, theo đó: tất cả người Công Giáo buộc phải bỏ quê quán đến tháp nhập vào các làng lương dân, năm người lương canh giữ một người Công Giáo, các làng Công Giáo bị phá huỷ, tài sản phải chia cho những người lương, gia đình phải phân tán mỗi người một nơi, trước khi đi phải khắc vào má phải 2 chữ “Tả Đạo”, khắc vào má trái tên tổng và huyện họ phải đày tới để họ không thể trốn đi.

[52] X. Cao Thế Dung, Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên 1553-2000, tập III, Dân Chúa, 2005, tr.1980.

[53] Nt., tr.1956.1960.

[54] X. Đào Quang Toản, Cha Durand Và Dòng Mến Thánh Giá – Anê Soạn Và Anna Trị, sđd., tr.45-48.

[55] Theo sử liệu của giáo xứ Lưu Mỹ, Giáo Phận Vinh.

[56] X. Đỗ Quang Chính, Dòng Mến Thánh Giá Những Năm Đầu, sđd., tr.145.

[57] X. Jabouille, Một Trang Huyết Lệ Tỉnh Quảng Trị, Trung Hòa, Hà Nội, 1941.

[58] X. Đào Quang Toản, Cha Durand Và Dòng Mến Thánh Giá – Anê Soạn Và Anna Trị, sđd., tr.64.

[59] Theo sử liệu Hội Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán.

[60] Theo tài liệu của The Finance Committee of the Seven Blessed Martyrs of Thai.

[61] Năm 1688, cuộc cách mạng xảy ra, Vua mới là Pra Petracha, có thái độ chống Pháp nên ra lệnh bách hại đạo Công Giáo tại Thái Lan (x. F. F. Buzelin, Tìm Về Nguồn Gốc Hội Thừa Sai Hải Ngoại, sđd.,tr.353-354).

[62] Hai nữ tu này là người Thái Lan, gia nhập Dòng Mến Thánh Giá Xieng Wang, Lào, được sai đến phục vụ tại một cộng đoàn ở Thái Lan.

[63] Đinh Thực,sđd., tr.85-86.

Read More
17Tháng Năm
2020

6 vật mà một người Công Giáo nên có trong nhà

17/05/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

6 vật mà một người Công Giáo nên có trong nhà

 

Thật ra thì không có một giới hạn nào về những đồ vật tôn giáo đẹp đẽ mà một người Công Giáo có thể có trong nhà. Tuy nhiên, có thể đây là 6 món đồ mà người Công Giáo nên có trong nhà nhất, với một giải thích ngắn.

 

 

  1. Cây Thánh giá

 

Biểu tượng nổi bật và đặc trưng nhất của đức tin Kitô Giáo chính là cây Thánh giá, ngay từ thời kỳ đầu tiên của đức tin. Quả vậy, cây Thánh giá của Chúa Giêsu Kitô chính là khí cụ cứu độ chúng ta. Những tín hữu thời đầu vẽ Thánh giá lên cả cơ thể họ. Ngày nay, chúng ta lưu lại truyền thống này bằng dấu Thánh giá mà ta kêu cầu lên Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

Trong nhà chúng ta, cây Thánh giá đóng vai trò là vật nhắc nhở về ân huệ Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta trên Thánh giá. Đó là một á bí tích của Giáo Hội mà nhờ chiêm ngắm nó bằng con mắt thể xác, con mắt linh hồn chúng ta cũng mở ra với thác nguồn ân sủng của Thiên Chúa.

 

  1. Ảnh tượng đức tin

 

Một vật nhắc nhở đức tin tuyệt vời là các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo. Tượng, tranh vẽ, ảnh icon có ý nghĩa sâu sắc hơn là các vật lưu niệm hay trang trí đơn thuần.

 

Một điều chắc chắn là chúng ta không bao giờ “thờ” các ảnh tượng này; sự thờ phượng chỉ hướng về một Thiên Chúa Ba Ngôi mà thôi. Nhưng các ảnh tượng giúp ta tưởng nhớ và bắt chước các Đấng mà ảnh tượng ấy mô tả. Điều đó có nghĩa là, nếu trong nhà chúng ta có một bức ảnh Thánh Giuse, việc treo ảnh làm chứng rằng chúng ta tin vị Thánh vĩ đại này đang ở trên Thiên đàng với Thiên Chúa, Thánh Giuse đang sống động thực sự trong Chúa Kitô. Do vậy, chúng ta có thể thưa chuyện với ngài, và học theo các nhân đức mà ta biết từ ngài. Đây không phải là đi đường vòng, không đến trực tiếp Thiên Chúa, nhưng thật ra là chính trong ân sủng của Thiên Chúa mà một người ở dưới đất và một người ở Thiên đàng có thể kết nối với nhau. Ảnh thánh đại diện cho sự hiện diện của vị Thánh, người đang ở trên Thiên đàng, và giúp cảm quan thể xác chúng ta tôn kính mà hướng đến vị Thánh để cầu nguyện.

 

  1. Móc treo tường

 

Mỗi người Công Giáo cũng nên có móc treo tường trong không gian sống. Trong vấn đề đạo, móc treo tường phục vụ như nơi treo xâu chuỗi Mân Côi. Với người Công Giáo thuộc truyền thống Byzantine thì có thể treo chuỗi chotkis hoặc dây cầu nguyện. Treo xâu chuỗi ở một không gian chung, dễ thấy có thể là cách hiệu quả để nhắc nhở mọi người trong gia đình cầu nguyện, đôi khi là cầu nguyện cùng nhau.

 

  1. Bình đựng nước thánh

 

Nước thánh là một á bí tích nhắc nhở về phép Rửa tội. Nhờ nước của phép Rửa, chúng ta được tẩy sạch vết nhơ tội lỗi, và được tháp nhập vào thân mình Chúa Giêsu Kitô, được đóng ấn tín Thánh Thần, và được nhận ơn thánh hoá linh hồn từ Thiên Chúa toàn năng.

 

Khi chúng ta chấm nước thánh và làm dấu Thánh giá, chúng ta cho phép ân sủng Chúa chỉnh đốn con người chúng ta, củng cố mối liên kết sự sống của chúng ta với sự sống của Thiên Chúa, và tuyên xưng lại trong lòng về bí tích Rửa tội mình đã lãnh nhận. Hội Thánh cũng ban ơn tiểu xá cho việc này.

 

 

  1. Tượng đài Đức Mẹ Maria

 

Một khung cảnh đẹp đẽ khác mà gia đình chúng ta nên có, nếu có điều kiện, là đặt tượng Đức Trinh Nữ Maria trong vườn nhà và trồng cây xanh quanh tượng đài ấy. Đó cũng là một cách truyền giáo tốt nếu tượng được đặt ở sân trước nhà, nơi dễ nhìn thấy từ ngoài đường.

 

Nhiều người, với tư tưởng rất con người, sợ rằng mình đã tôn kính Đức Mẹ nhiều quá mức. Thực chất, chúng ta không bao giờ có thể tôn kính và yêu mến Mẹ Maria nhiều hơn Con Một Mẹ là Chúa Giêsu Kitô, Đấng không ngừng muốn chúng ta yêu mến Mẹ ngày một hơn. Thật vậy, càng tôn kính Đức Trinh Nữ là càng tôn vinh và chúc tụng Chúa Giêsu. Đức Mẹ dẫn ta đến Chúa. Đức Mẹ trông nom và bảo vệ ta. Đức Mẹ kéo mọi ơn Chúa Thánh Thần cho con cái trên thế gian. Trong mầu nhiệm Hội Thánh là Thân Mình Chúa Kitô, Đức Mẹ chính là cái cổ để thông chuyển mọi sự tốt lành của Đầu xuống thân mình.

 

Một khi đã “xin vâng”, Đức Mẹ không ngừng trở thành người mang Chúa cho thế giới. Nhìn ngắm Mẹ chính là nhìn ngắm sự kiện Thiên Chúa Ngôi Lời làm người và giáng sinh. Ở với Chúa là ở Thiên đàng, vì thế, Mẹ chính là người mang Thiên đàng đến cho tất cả chúng ta.

 

  1. Lịch Công Giáo

 

Ở nhiều nơi, các nhà thờ phát lịch Công Giáo đến các tín hữu mỗi tuần hoặc mỗi tháng. Lịch Công Giáo là quyển lịch ghi thông tin các ngày lễ Công Giáo trong suốt năm. Quyển lịch này nên được để ở giữa nhà, chỗ dễ thấy, để mọi người đều có thể xem.

 

Là một điều tốt lành khi các tín hữu biết điều gì đang diễn ra trong niên lịch Giáo Hội để có thể giữ đức tin luôn sống động. Chẳng hạn, gia đình có thể đặt một cái bánh kem để ăn mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hoặc Hồn Xác Lên Trời. Đến lễ Thánh bổn mạng hoặc một vị Thánh mình yêu thích, gia đình có thể trang trí những biểu tượng của vị Thánh đó hoặc cầu nguyện đặc biệt với ngài.

 

Theo Catholic-link.org

Gioakim Nguyễn biên dịch

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 58
  • Page 59
  • Page 60
  • …
  • Page 67
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.