Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
01Tháng Tám
2021

Đức Giê-su Ki-tô – Đường kiện toàn Lời Chúa

01/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 08 năm 2021

ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG KIỆN TOÀN LỜI CHÚA

+ Pet. Nguyễn Văn Viên

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng 7 vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lề Luật. Tháng 8 này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lời Chúa. Đây là hai chủ đề liên hệ mật thiết với nhau bởi vì lời của Thiên Chúa cũng được thể hiện qua lề luật Người. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng nhờ lời của Thiên Chúa mà muôn vật muôn loài cũng như con người được dựng nên và lịch sử nhân loại gắn liền với lịch sử mặc khải của Thiên Chúa. Đặc biệt, dân Do-thái đóng vai trò quan trọng trong việc đón nhận, trao đổi và lưu truyền mặc khải của Người. Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã gửi Đức Giê-su là Lời của Người đến với gia đình nhân loại để kiện toàn mặc khải, kiện toàn lời của Thiên Chúa hầu đem lại ơn cứu độ cho con người và quy tụ muôn vật muôn loài.

Trong Cựu Ước, lời của Thiên Chúa đến với dân Do-thái qua những người lãnh đạo được Thiên Chúa tuyển chọn, đặc biệt, qua các ngôn sứ. Theo các học giả Kinh Thánh, trong Cựu Ước, ‘lời’ (דָּבָר‎/ dabar là danh từ có chung gốc với động từ ‘nói’ (דבר/ dbr)) được dùng hơn 394 lần, còn trong Tân Ước, ‘lời’ (λόγος/ logos) được dùng khoảng hơn 300 lần. Lời của Thiên Chúa không chỉ là lời phát ra hay lời được lắng nghe mà còn được diễn tả qua các sự kiện, hiện tượng, biến cố hay hành động của Thiên Chúa nữa. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như những thị kiến, tiên báo, luật lệ, mệnh lệnh, cảnh cáo, khuyến khích. Lời của Thiên Chúa không chỉ cho con người mà còn cho các thiên thần hay các thụ tạo vô hình khác. Đặc biệt, lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn, được ứng nghiệm, được đầy đủ ý nghĩa (πληρόω, fulfill) nhờ Biến Cố Đức Giê-su. Trong bối cảnh Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su nói rằng Người đến để kiện toàn lề luật và lời các ngôn sứ (Mt 5,17). Quả thật, Đức Giê-su đã thực thi điều đó và nội dung chính yếu của việc Người thực thi được diễn tả trong 27 cuốn sách của bộ Tân Ước, nhất là trong 4 cuốn Tin Mừng.

Để khai triển chủ đề ‘Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lời Chúa’, chúng ta điểm qua ‘năm lời’ chính yếu của Thiên Chúa theo mặc khải Cựu Ước: (1) Lời của Thiên Chúa là lời sáng tạo: “Thiên Chúa phán: ‘Phải có ánh sáng’. Liền có ánh sáng” (St 1,3) hay: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6); (2) Lời của Thiên Chúa là lời giao ước: “Người đã thông báo cho anh em giao ước của Người, giao ước mà Người truyền cho anh em đem ra thực hành, đó là mười lời Người viết trên hai bia đá” (Đnl 4,13) hay: “Người đã viết trên các bia điều đã viết lần trước, là mười lời Đức Chúa đã phán với anh em trên núi, từ trong đám lửa, trong ngày đại hội. Rồi Đức Chúa ban những bia đó cho tôi” (Đnl 10,4); (3) Lời của Thiên Chúa là lời qua miệng ngôn sứ: “Đừng nói ngươi còn trẻ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói” (Gr 1,7) hay: “Nhờ thần khí của Đức Chúa, tôi được đầy sức mạnh, công lý và can trường để loan báo cho nhà Gia-cóp biết tội phản nghịch, cho nhà Ít-ra-en biết tội lỗi của nó” (Mk 3,8); (4) Lời của Thiên Chúa là lời khôn ngoan: “Đức Khôn Ngoan kêu to ‘phàm nhân hỡi, ta mời gọi các ngươi đó, ta ngỏ lời với các ngươi, hỡi con cái loài người’” (Cn 8,3-4) hay: “Đức Khôn Ngoan hiểu biết tất cả, sẽ khôn khéo hướng dẫn con trong việc con làm, lấy quyền năng vinh hiển mà gìn giữ con” (Kn 9,11); (5) Lời của Thiên Chúa là lời dẫn lối chỉ đường: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105) hay: “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người và bước theo đường Người chỉ vẽ” (Mk 4,2).

Theo nghĩa rộng, lời của Thiên Chúa đến với con người đồng thời với sự hiện hữu của con người (do Thiên Chúa sáng tạo) trong vũ trụ này. Tuy nhiên, lời của Thiên Chúa đến với con người cách cụ thể và rõ ràng hơn với việc Người chọn gọi Áp-ra-ham để qua ông, chương trình của Thiên Chúa ngày càng được trọn vẹn. Lời của Thiên Chúa được lưu truyền trong lịch sử dân Do-thái, dần dần được sưu tập và biên soạn. Như vậy, Kinh Thánh chính là lời của Thiên Chúa theo truyền thống được viết ra. Cuốn Kinh Thánh của người Do-thái (the Hebrew Bible) hay Cựu Ước (the Old Testament) được hình thành với khoảng thời gian hơn một ngàn năm. Nội dung chính yếu của Cựu Ước hướng về sự xuất hiện của Đức Giê-su, Lời hằng hữu của Thiên Chúa và là Đấng được Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần để thực thi chương trình của Thiên Chúa đối với con người và toàn thể thế giới thụ tạo. Hành trình của Đức Giê-su trên đường dương thế được diễn tả trong Tân Ước.

Các vị lãnh đạo hay các ngôn sứ trong Cựu Ước như Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en đều chuẩn bị cho sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su. Trong Tân Ước, Đức Giê-su nói với nhiều tầng lớp người khác nhau, chẳng hạn như Người nói với Đức Ma-ri-a, với các môn đệ, với những người Pha-ri-sêu, với các kinh sư, với Hê-rô-đê, với Phi-la-tô, với đám đông dân chúng. Lời của Người liên quan đến những hoàn cảnh đặc biệt, chẳng hạn như lời của Người xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, nâng đỡ người đau yếu, hồi sinh kẻ chết. Đặc biệt, Đức Giê-su đã kêu gọi và thiết lập Nhóm Mười Hai cũng như công bố những tiêu chuẩn luân lý trổi vượt của thời Tân Ước so với Cựu Ước. Lời nói và việc làm của Đức Giê-su minh chứng rằng Người không chỉ thuộc về Thiên Chúa mà còn là Thiên Chúa hiện diện trong dòng lịch sử để đồng lao cộng khổ với mọi người trong gia đình nhân loại và cứu độ nhân loại.

Chúng ta nhận ra lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn, được trở nên hiện thực nơi Đức Giê-su, chẳng hạn như lời của Thiên Chúa là ánh sáng trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Ánh Sáng trong Tân Ước (Tv 119,105; Ga 8,12); lời của Thiên Chúa là lời sự thật trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Sự Thật trong Tân Ước (Tv 12,7; Ga 14,6); lời của Thiên Chúa đem lại sự sống trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Sự Sống trong Tân Ước (Tv 119,116; Ga 11,25); lời của Thiên Chúa là lời hy vọng trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Hy Vọng của mọi người trong Tân Ước (Tv 119,147; 1 Tm 1,1); lời của Thiên Chúa là của ăn cho bậc ngôn sứ trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Của Ăn cho mọi người trong Tân Ước (Gr 15,16; Ga 6,54-55); lời của Thiên Chúa ‘chớ giết người công chính’ trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Đấng Công Chính chịu chết cho mọi người trong Tân Ước (Đn 13,53, Mt 27,19). Chúng ta có thể kể ra nhiều trích đoạn tương tự khi so sánh lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn bởi Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng Cựu Ước là nền tảng cho Tân Ước, còn Tân Ước là ánh sáng chiếu soi Cựu Ước.

Dưới nhãn quan của thánh Gio-an, Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa đến với thế giới thụ tạo. Ngài viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” [ὁ λόγος σὰρξ ἐγένετο καὶ ἐσκήνωσεν ἐν ἡμῖν] (Ga 1,14). Từ ‘λόγος’ của tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng Việt là ‘Ngôi Lời’ (viết hoa). Có hai điểm cần quan tâm ở đây: (1) Trong bản văn cổ bằng tiếng Hy Lạp, người ta không phân biệt chữ viết hoa hay chữ viết thường và (2) khi dịch ‘λόγος’ là ‘Ngôi Lời’, chúng ta dịch theo cách diễn tả của thánh Gio-an. Đối với tiếng Việt, nói rằng ‘Ngôi Lời đã trở nên người phàm’ dễ hiểu hơn nói rằng ‘Lời đã trở nên người phàm’. Như vậy, với Đức Giê-su (Ngôi Lời), lời của Thiên Chúa không chỉ là âm thanh phát ra, đi vào lòng và biến đổi tâm hồn con người mà còn cho phép con người nhìn ngắm, đụng chạm và thiết lập mối tương quan liên vị trong hành trình trần thế. Với Đức Giê-su, lời của Thiên Chúa không chỉ cư ngụ trong hòm bia ở Lều hội ngộ để dẫn dắt dân Do-thái vào miền Đất Hứa Ca-na-an mà ‘đã cắm lều giữa chúng ta’ để dẫn dắt toàn thể nhân loại vào miền Đất Hứa Nước Trời. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa vô hình của Cựu Ước đã trở nên Thiên Chúa hữu hình của Tân Ước. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa trở nên ‘vừa tầm’ hơn để con người có thể tiếp cận, học hỏi và thực thi thánh ý Người. Chúng ta cùng xem xét một số trình thuật chính yếu diễn tả lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước.

Theo thánh Mát-thêu, khi truyền tin cho thánh Giu-se, sứ thần của Thiên Chúa nói: “Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’” (Mt 1,22-23). Điều này ứng nghiệm lời của ngôn sứ I-sai-a: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14). Thánh Mát-thêu cũng trình thuật biến cố Đức Giê-su đến Ai-cập rồi trở về Na-da-rét: “Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập” (Mt 2,14-15). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Hô-sê: “Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Ai-cập Ta đã gọi con Ta về” (Hs 11,1). Tin mừng Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu có 130 chỗ quy chiếu trực tiếp Cựu Ước, trong đó có 43 lần trích sát bản gốc, chẳng hạn như Mt 1,22; 2,5.15.17.23; 3,3; 4,14. Thánh nhân muốn minh chứng rằng Đức Giê-su chính là Đấng kiện toàn và hoàn thành mọi lời Cựu Ước đã loan báo.

Theo thánh Lu-ca, Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Giu-đa: “Khi Đức Giê-su khởi sự rao giảng, Người trạc ba mươi tuổi. Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giu-se. Giu-se là con Ê-li… Nác-sôn con Am-mi-na-đáp, Am-mi-na-đáp con Át-min, Át-min con Ác-ni, Ác-ni con Khét-rôn, Khét-rôn con Pe-rét, Pe-rét con Giu-đa… I-xa-ác con Áp-ra-ham… A-đam là con Thiên Chúa” (Lc 3,23-38). Điều này ứng nghiệm lời chúc phúc của ông Gia-cóp trong sách Sáng Thế: “Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó, cho tới khi người làm chủ vương trượng đến, người mà muôn dân phải vâng phục” (St 49,10). Cũng theo thánh Lu-ca, sau khi chịu cám dỗ, Đức Giê-su trở về loan báo Tin Mừng tại Ga-li-lê. Đặc biệt, khi đến quê hương là Na-da-rét, Đức Giê-su vào hội đường như Người vẫn thường làm trong ngày sa-bát. Người ta trao cho Người sách ngôn sứ I-sai-a. Mở sách ra, Đức Giê-su gặp đoạn: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a (Is 61,1-2). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cũng nói với các môn đệ về sự ứng nghiệm nơi Người lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh: “Thầy bảo cho anh em hay: Cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép: Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất” (Lc 22,37).

Theo thánh Mác-cô, khi Đức Giê-su bị bắt: “Có nhiều kẻ đưa chứng gian tố cáo Người, nhưng các chứng ấy lại không ăn khớp với nhau. Có vài kẻ đứng lên cáo gian Người rằng chúng tôi có nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội ba ngày, tôi sẽ xây một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm!” (Mc 14,56-58). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa: “Bọn chứng nhân giả dối đứng lên, hạch hỏi tôi những điều tôi chẳng biết. Chúng lấy oán đền ơn, này thân tôi trơ trọi một mình” (Tv 35,11-12). Khi Đức Giê-su chịu đóng đinh vào thập giá giữa hai tên trộm cướp, thánh Mác-cô trình thuật: “Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái” (Mc 15,27-28). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53,12).

Thánh Gio-an trình thuật cuộc thương khó của Đức Giê-su: “Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ’Tôi khát!’ Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người” (Ga 19,28-29). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Thánh Vịnh: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát nước, lại cho uống giấm chua” (Tv 69,22). Cũng trong cuộc thương khó Đức Giê-su theo thánh Gio-an: “Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,33-34). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong trong Thánh Vịnh: “Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy” (Tv 34,20-21). Chúng ta còn gặp rất nhiều đoạn trong Tin Mừng Nhất Lãm cũng như theo thánh Gio-an về lời của Thiên Chúa trong Tân Ước ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước, chẳng hạn như Mt 2,17-18; Mt 8,17; Mt 12,17-18; Mc 1,2-3; Mc 8,31; Mc 10,45; Lc 1,20; Lc 3,4-6; Lc 21,20-22; Ga 12,38; Ga 13,18; Ga 15,25.

Việc kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng được diễn tả trong các sách khác của bộ Tân Ước. Chẳng hạn, trong Giáo Hội sơ khai ở Giê-ru-sa-lem, khi chọn người thay thế Giu-đa (môn đệ phản bội Đức Giê-su), thánh Phê-rô lên tiếng: “Thưa anh em, lời Kinh Thánh phải ứng nghiệm, lời mà Thánh Thần đã dùng miệng vua Đa-vít để nói trước về Giu-đa, kẻ đã trở thành tên dẫn đường cho những người bắt Đức Giê-su” (Cv 1,16). Đặc biệt, thánh nhân hiểu rõ giá trị và thẩm quyền độc nhất vô nhị của Kinh Thánh so với các tài liệu khác. Trong thư gửi các tín hữu, ngài viết: “Anh em phải biết điều này: Không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa (2 Pr 1,20-21). Hơn nữa, theo thánh nhân, Đức Giê-su chính là Người Tôi Tớ Đau Khổ được ngôn sứ I-sai-a trình bày trong Cựu Ước (Is 52,13-53,12; 1 Pr 2,23-25).

Tương tự như thánh Phê-rô, nhiều trích đoạn của thánh Phao-lô khẳng định rằng Đức Giê-su đến trần gian theo ‘lời hứa’ trong Cựu Ước. Thánh nhân viết: “Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ [hậu duệ của Áp-ra-ham]” (Rm 9,5). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách Sáng Thế: “Nhờ ngươi [Áp-ra-ham], mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Thánh nhân biện giải: “Tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh. Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 1,1-3). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời” (Is 9,6). Đề cập đến cuộc thương khó, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su, thánh nhân viết: “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3-4).

Đối với tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, Đức Giê-su là Đấng kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Tuy nhiên, sự kiện toàn của Đức Giê-su theo cách thức siêu việt, nằm ngoài nhận thức hay tưởng tượng của con người. Chẳng hạn, (1) Đức Giê-su kiện toàn giao ước: “Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9,15). (2) Đức Giê-su kiện toàn của lễ hiến tế: “Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9,14). (3) Đức Giê-su kiện toàn phẩm vị thượng tế: “Đức Giê-su không như các vị thượng tế khác: Mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Mô-sê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng manh yếu đuối trong mình, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7,27-28). Cũng theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Không phải Đức Ki-tô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5,5-6). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Thánh Vịnh: “Đức Chúa đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng ‘muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê’” (Tv 110,4). Như vậy, cùng là giao ước, của lễ và thượng tế nhưng những gì được Đức Giê-su đảm nhận và kiện toàn thì cao trọng, kỳ diệu và nhiệm mầu hơn những gì được thực thi trong Cựu Ước cũng như lịch sử dân Do-thái.

Khi so sánh tương quan giữa thánh Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su (trong bài giảng 293,3), thánh Au-gút-ti-nô quả quyết rằng Gio-an là tiếng (voice), Đức Giê-su là Lời (Word); Gio-an là tiếng trong không gian, Đức Giê-su là Lời hằng hữu; Gio-an là tiếng bên ngoài, Đức Giê-su là Lời bên trong. Theo thánh nhân, tiếng vô nghĩa khi không có lời; tiếng phá vỡ im lặng, lời đi vào tâm hồn; tiếng chỉ đập vào tai, lời cảm hóa trí lòng; tiếng qua đi, lời ở lại; tiếng hoàn thành, lời tiếp tục. Vì người ta khó phân biệt giữa tiếng và lời, giữa Gio-an và Đức Giê-su, Gio-an đã nói ra cho họ biết (Ga 1,19-28). Khi gặp gỡ Đức Giê-su lần đầu tiên, thánh Gio-an Tẩy Giả nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Lời chứng của thánh Gio-an Tẩy Giả giúp chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su là Đấng kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước khi Người dạy bảo dân Do-thái giết chiên và lấy máu bôi lên khung cửa như là dấu chỉ để được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập (Xh 12,1-14). Nhờ Máu của Đức Giê-su, Chiên Thiên Chúa, mọi người trong gia đình nhân loại được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Thánh Phê-rô diễn giải rõ ràng hơn trong thư của ngài: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa” (1 Pr 1,19-21).

Như đã được đề cập ở trên, lời của Đức Giê-su chữa lành bệnh tật, xua đuổi ma quỷ, hồi sinh kẻ chết, tha thứ tội lỗi. Trong ba năm loan báo Tin Mừng, phần lớn những lời Đức Giê-su là lời trực tiếp với con người, chẳng hạn như: ‘Thầy bảo thật các con…’, ‘Thầy bảo cho anh em biết…’, ‘hãy đứng dậy…’, ‘hãy ăn năn hối cải…’, ‘đừng thề thốt…’, ‘phải yêu kẻ thù…’, ‘hãy loan báo Tin Mừng…’. Thánh Mát-thêu trình thuật: “Người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,16-17). Lời của Đức Giê-su là những ‘lời mới mẻ’: “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc 1,22) hay: “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!” (Ga 7,46). Đặc biệt, Đức Giê-su diễn tả Người như là tác giả của lề luật được kiện toàn (Mt 5,17-48).

Lời của Đức Giê-su là lời đầy quyền năng. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su đến Ca-phác-na-um, một viên đại đội trưởng dân ngoại thuộc quân đội Rô-ma đến xin Người cứu chữa người đầy tớ của ông đang trong tình trạng thập tử nhất sinh. Đức Giê-su định đến nhà ông để cứu giúp người đầy tớ đó. Tuy nhiên, viên đại đội trưởng nói với Người: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8,8). Thánh Mát-thêu trình thuật: “Đức Giê-su nói với viên đại đội trưởng rằng ‘ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy!’ Và ngay giờ đó, người đầy tớ được khỏi bệnh” (Mt 8,13). Đức Giê-su định đến nhà viên đại đội trưởng nhưng chưa đến. Người không nhìn thấy, không đụng chạm người đầy tớ bệnh tật nhưng người đầy tớ vẫn được khỏi bệnh. Có lẽ viên đại đội trưởng chờ nơi Đức Giê-su ‘lời chữa bệnh’ nhưng lời của Đức Giê-su lại là ‘lời đức tin’. Đức Giê-su tán dương đức tin của viên đại đội trưởng: ‘Ông tin thế nào thì được như vậy!’. Ông là ‘dân ngoại’ nhưng niềm tin của ông trổi vượt hơn niềm tin của những người được gọi là dân được tuyển chọn, dân Chúa. Với sự chữa lành này, Đức Giê-su biểu lộ sức mạnh của ‘lời’ cho những ai đặt niềm tin và hy vọng vào Người.

Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa sáng tạo con người và muôn vật muôn loài; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi Lời đã trở nên người phàm, nhờ đó, Thiên Chúa tái tạo con người và muôn vật muôn loài từ cảnh lầm than, hư hoại. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa giải thoát dân Do-thái khỏi ách nô lệ Ai-cập; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ tội lỗi. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó dân Do-thái có được man-na nuôi sống trong hành trình về với Đất Hứa; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi nhờ đó toàn thể gia đình nhân loại có được Man-na Mới là Mình và Máu Đức Giê-su dưỡng nuôi trong hành trình về với quê hương vĩnh cửu. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi hồi sinh kẻ chết; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi trả lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả những ai tin tưởng, tuân giữ và thực thi thánh ý Người.

Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước vang vọng và được nghe trong không gian, thời gian, cũng như thẩm thấu vào những gì thuộc về không gian, thời gian. Còn theo mặc khải Tân Ước, Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa có trước không gian, thời gian. Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước được tóm lược trong Kinh Tin Kính là ‘Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha…’. Nói cách khác, những gì thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Chúa Cha, đều thuộc về Đức Giê-su và ngược lại (Mc 2,1-12; Lc 5,17-26; Ga 17,10). Như vậy, có sự liên kết mật thiết và trọn vẹn giữa Thiên Chúa và Đức Giê-su, Lời trở nên người phàm (Θεός-Λόγος σὰρξ ἐγένετο). Đây là sự liên kết nội tại và vĩnh cửu, đồng thời cũng là sự liên kết trong chương trình cứu độ, chương trình diễn ra trong không gian, thời gian của môi trường thế giới thụ tạo. Hơn ai hết, Đức Giê-su làm chứng về điều này khi nói với các môn đệ thân tín rằng Người ở trong Chúa Cha cũng như Chúa Cha ở trong Người (Ga 17,21). Người cũng minh định rằng những việc Người làm cũng là những việc của Chúa Cha và ngược lại (Ga 5,21; Ga 5,24-29).

Khi so sánh ‘Lời’ theo cách hiểu biết và diễn tả của thánh Gio-an với ‘lời’ (dabar) trong Cựu Ước hay ‘lời’ (logos) trong văn hóa Hy Lạp, chúng ta nhận ra rằng ‘Lời’ thánh Gio-an sử dụng mang ý nghĩa sâu đậm hơn. Chẳng hạn, thánh nhân viết: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống” (1 Ga 1,1). Đối với thánh nhân, Đức Giê-su không phải là Lời như bao lời khác mà là Lời hằng hữu, Lời quyền năng, Lời sự sống. Chính thánh nhân đã nghe, thấy, chiêm ngưỡng, gặp gỡ, đụng chạm Lời này. Các lời của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Cựu Ước nói riêng được xem là chuẩn bị cho Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa đến với gia đình nhân loại. Sự gắn bó mật thiết với Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, nhất là việc ghé tai vào trái tim Đức Giê-su trong Bữa Tiệc Ly cũng như chứng kiến Đức Giê-su chịu chết trên cây thập giá với trái tim bị đâm thủng, giúp thánh nhân nhận ra căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người cách đầy đủ hơn. Kinh nghiệm của thánh nhân về Đức Giê-su được ngài diễn tả cách cụ thể trong Tin Mừng cũng như các thư mà ngài biên soạn.

Chúng ta nhận ra ba hình thức lời của Thiên Chúa trong mặc khải Ki-tô Giáo: (1) Lời của Thiên Chúa phán ra, (2) Lời của Thiên Chúa được sưu tập, biên soạn (Kinh Thánh) và (3) Lời của Thiên Chúa đã trở nên người phàm. Trong ba hình thức đó, ‘Lời của Thiên Chúa đã trở nên người phàm’ thật nhiệm mầu và quan trọng hơn cả. Đây chính là nội dung căn bản giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa Ki-tô Giáo và các tôn giáo khác trong lịch sử thế giới. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta biết rằng lời nói hay chữ viết không bao giờ giải thích trọn vẹn thực tại, thậm chí lắm lúc còn làm cho thực tại méo mó, biến dạng hay vong bản. Thực tại luôn dồi dào, đa dạng và giàu có hơn các hình thức diễn tả nó. Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa đến trần gian để làm cho lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh hay các hình thức khác trở nên khả tín hơn, giúp con người điều chỉnh các tương quan nội tại của bản thân cũng như tương quan với anh chị em, với muôn vật muôn loài và với Thiên Chúa.

Lời của Thiên Chúa đến với gia đình nhân loại được diễn tả bằng ngôn ngữ con người. Lời của Thiên Chúa luôn dồi dào hơn những gì con người có thể đón nhận, sống và lưu truyền trong lịch sử. Đặc biệt, lời của Thiên Chúa luôn dồi dào hơn những gì được viết trong các sách của bộ Kinh Thánh. Đức Giê-su nói với các môn đệ thân tín của Người trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16,12). Thánh Gio-an minh chứng: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,30-31). Như vậy, theo thánh nhân, lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh là điều kiện thiết yếu giúp con người luôn biết ở lại với Đức Giê-su để lắng nghe và tin tưởng vào Người hầu có thể cộng tác với Người trong việc biến đổi bản thân, biến đổi anh chị em đồng loại cũng như môi trường xã hội.

Là Lời hằng hữu của Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Đức Giê-su đã trút bỏ chính mình (ἑαυτὸν ἐκένωσεν/ emptied himself), làm cho mình trở nên trống rỗng. Tuy nhiên, những lời của Đức Giê-su đối với gia đình nhân loại không phải là những lời trống rỗng mà là những lời “sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4,12). Những lời của Đức Giê-su mãi mãi là những lời tiêu chuẩn giúp con người xây dựng và thăng tiến đời sống cá nhân, cộng đoàn, xã hội. Những lời của Đức Giê-su mãi mãi là những lời đầy quyền năng và lòng thương xót đối với con người. Đặc biệt, những lời của Đức Giê-su mãi mãi vang vọng trong gia đình nhân loại để thông đạt ý định của Thiên Chúa, hướng dẫn mọi người cách thức hoàn thiện bản thân và chú tâm hơn vào những giá trị của Nước Thiên Chúa giữa dòng đời.

Chúng ta nhận thức rằng lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước, đặc biệt trong mầu nhiệm nhập thế, sự đau khổ, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su như lời Người nói với các môn đệ trước khi về trời: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24,44). Tuy nhiên, Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước luôn là một tiến trình nhiệm mầu. Một mặt, nội dung chính yếu của mặc khải Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước. Mặt khác, một số khía cạnh liên quan đến cấu trúc, thể chế, phụng tự trong Cựu Ước được tiếp tục theo cách thức vượt quá sự hiểu biết của con người, chẳng hạn như những người Do-thái thuộc Dân Thiên Chúa và Dân Thiên Chúa Mới là Giáo Hội được Đức Giê-su thiết lập; việc thuộc về Dân Thiên Chúa Mới ít lệ thuộc vào yếu tố văn hóa, dân tộc mà lệ thuộc nhiều vào sự gắn bó với Đức Giê-su cũng như tuân giữ giới răn của Người; quan tâm chính yếu của dân Do-thái trong Cựu Ước là lề luật, trong khi quan tâm chính yếu của Dân Thiên Chúa Mới trong Tân Ước là ân sủng; việc cắt bì như là dấu chỉ để thuộc về giao ước giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham không còn tiếp tục nữa nhưng thay vào đó là các bí tích khai tâm Ki-tô Giáo.

Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước nhiều đến nỗi làm cho con người dễ bị lẫn lộn, khó phân biệt rành mạch đâu là những điểm căn bản hầu có thể học hỏi và thực thi cách xứng hợp (Mc 12,28-34; Lc 10,25-28). Vì thế, Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa đến trần gian để ‘tóm lược lời của Thiên Chúa’ bằng chính bản thân Người. Như đã được đề cập ở trên, các hình thức lời chính yếu trong Cựu Ước như lời sáng tạo, lời giao ước, lời ngôn sứ, lời khôn ngoan, lời dẫn lối chỉ đường, đều được Đức Giê-su kiện toàn trong hành trình trần thế của Người. Chúng ta có thể khẳng định rằng lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước là ‘tiềm năng’, là ‘mầm mống’, là ‘phôi thai’, là ‘chồi non’, là ‘hình ảnh’, là ‘mũi tên’, là ‘tiên báo’ hướng tới sự trọn vẹn về mục đích và ý nghĩa trong Tân Ước. Nội dung chính yếu của các sách Cựu Ước ‘hội tụ nơi Đức Giê-su’, còn nội dung chính yếu của các sách Tân Ước ‘khởi đi từ Người’. Do đó, chúng ta cần quan tâm đặc biệt đến tương quan giữa lời của Thiên Chúa trong toàn bộ Kinh Thánh và Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa.

Đề cập đến tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội, Công Đồng Vatican II minh định: “Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa” (DV 21). Chúng ta biết rằng nói đến thân thể là nói đến thịt và máu. Nếu Kinh Thánh như chính Thân Thể Đức Giê-su thì chúng ta cần ý thức về ‘thịt’ và ‘máu’ của Kinh Thánh, tức là những gì giúp con người sống xứng đáng với phẩm giá cao trọng của mình giữa muôn vật muôn loài. Trong đời sống phụng tự, mỗi lần cử hành Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ có ‘Thịt’ và ‘Máu’ của Đức Giê-su Thánh Thể mà còn có ‘thịt’ và ‘máu’ của lời Người nữa. Chúng ta gặp gỡ Đức Giê-su nơi lời của Người cũng như Bánh và Rượu được thánh hiến và trở nên Của Ăn, Của Uống thiêng liêng nuôi sống chúng ta. Chính Đức Giê-su đã nói với các môn đệ: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20). Lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh thật kỳ diệu, thật nhiệm mầu so với các hình thức lời mà con người có thể tiếp cận hay có kinh nghiệm trong cuộc sống mình. Đó là lý do giải thích tại sao thánh Giê-rô-ni-mô khẳng định: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô”. Công Đồng Vatican II giải thích cách cặn kẽ hơn: “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (DV 21).

Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, đã biến đổi và định dạng tâm tính, thái độ và hành vi của các môn đệ Người để họ tiếp tục chương trình loan báo lời của Thiên Chúa được kiện toàn cho muôn dân muôn nước. Ngay từ buổi sơ khai, các môn đệ đã ý thức về sự cần thiết phải loan báo Đức Giê-su và lời của Người cho anh chị em đồng loại. Nội dung chính yếu của ‘Lời loan báo tiên khởi’ (Κήρυγμα/ Kerygma) là: Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, đã trở nên người phàm; Người chịu chết vì tội lỗi loài người, được mai táng và ngày thứ ba chỗi dậy như lời Kinh Thánh; Người đã hiện ra với Phê-rô và các môn đệ khác. Lời loan báo tiên khởi này luôn được lưu truyền và quảng diễn trong đời sống Giáo Hội, thực thể được Đức Giê-su thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ để đồng hành với gia đình nhân loại cho đến tận thế. Là Ki-tô hữu, tất cả chúng ta được mời gọi dõi theo Đức Giê-su và hiệp thông với Người để ngày càng được biến đổi và trở thành khí cụ thuận tay Người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống mình.

Chúng ta có thể kết luận rằng Đường của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Đường Kiện Toàn Lời Chúa. Nhờ Người là Lời hằng hữu, Thiên Chúa sáng tạo muôn vật muôn loài. Nhờ Người, mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng như trong dòng lịch sử nhân loại được quy tụ, được kiện toàn và tiếp tục vang vọng giữa lòng nhân thế. Nhờ Người, chương trình kỳ diệu và đường lối sư phạm nhiệm mầu của Thiên Chúa được thực thi nhằm biến đổi và giải thoát con người từ thân phận nô lệ tội lỗi, nô lệ sự chết thành con cái của Ánh Sáng thường hằng bất biến, của Thiên Chúa từ bi, nhân hậu. Tất cả mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đón nhận Đức Giê-su, Đường Kiện Toàn Lời Chúa và sống theo Đường của Người. Cùng với Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su tiếp tục đồng hành và hướng dẫn mọi người trong gia đình nhân loại. Người luôn hiện diện để làm cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa được lan rộng đến tận cùng trái đất, tận cùng lịch sử của thế giới thụ tạo hầu quy tụ con người và muôn vật muôn loài về với Gia Đình Thiên Chúa viên mãn.

Read More
28Tháng Bảy
2021

Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?

28/07/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?

 

Hỏi : dư luận báo chí cho rằng Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ công nhận hôn nhân đồng tính và bỏ luật độc thân cho các linh mục được kết hôn. Xin cha cho biết tin đồn đó có đúng không?

Trả lời :

Là người Công giáo sống trong Giáo Hội, chúng ta không được nghe và tin những gì  Giáo Hội không chính thức loan báo hay dạy bảo. Tin đồn bên ngoài Giáo Hội thì có nhiều nhưng đó chỉ là những  tin đồn  vô căn cứ ( groundless rumors) mà thôi.

Thật vậy, từ khi Đức Thánh Cha Phanxicô lên ngôi Giáo Hoàng cho đến nay, báo chí Tây phương đã phóng đại nhiều tin giật gân, cụ thể như nội dung câu hỏi trên đây, khiến gây hoang mang cho người tín hữu Công giáo.

Hội Nghị các Giám Mục ( synod of bishops) về Gia đình mới đây tại Rôma, tuy chưa kết thúc bằng  một quyết định chung  cuộc nào , nhưng chắc chắn đã  không đề nghị  lên Đức Thánh Cha một thay đổi nào về mục đích của hôn nhân vốn đã  được thi hành từ bao thế kỷ nay. Nghĩa là các giám mục  sẽ không đề nghị những gì trái ngược với giáo lý , tín lý của Hội Thánh về bí tích hôn  phối ,mà chỉ đưa ra những đề nghị nhằm tái xác  định lại hay làm sáng tỏ thêm giáo huấn của Giáo Hội về định chế hôn nhân giữa một người nam và một người nữ  để Đức Thánh Cha duyệt xét hầu  đi đến  chung cuộc trong lần Hội Nghị kế tiếp vào  tháng 10 năm 2015. Như thế, chúng ta chưa thể kết luận gì về Hội Nghị các Giám mục thế giới vừa qua về gia đình.

Tuy nhiên, chắc chắn Giáo Hội sẽ không thay đổi gì về mục đích của  bí tích hôn phối đã được duy trì  từ bao thế kỷ nay, dựa trên giáo lý căn bản của chính Chúa Giêsu như ta đọc thấy trong cácTin Mừng Thánh Matthêu và Mác Cô  sau đây :

“ … Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.Và cả hai sẽ thành một xương một thit. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19: 4-6;  Mc 10 : 6-8)

Giáo lý  hiện hành của Giáo Hội cũng dạy rằng:

“ Giao ước  Hôn nhân, nhờ đó một người nam và một người nữ làm thành một cộng đoàn cho cả cuộc đời, tự bản chất nó hướng tới lợi ích của những người phối ngẫu cũng như hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Giao ước  này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội.” ( x. SGLGHCG số 1601)

Giáo luật của Giáo Hội cũng qui định rõ như sau :

“ Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích.”(   giáo luật số 1055& 1)

Như thế, tuyệt đối không có giáo lý hay giáo luật nào cho phép hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) giữa hai người nam hay hai người nữ mà một số quốc gia –trong đó có Hoa Kỳ- đang cho phép loại hôn nhân này.Đâylà một sự suy thoái trầm trọng về luân lý và mục đích của  hôn nhân, một định chế đã có từ lâu trong xã hội con người thuộc mọi nền văn hóa.Định chế đó chỉ nhìn nhận hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mà thôi.

Nhưng nay vì  đạo đức suy đồi  , hậu quả của trào lưu tục hóa ( vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi, mà người ta muốn định nghĩa lại hôn nhân để công nhận “ hôn nhân giữa hai người đồng tính” ( homosexual, lesbian), một đổ vỡ to lớn về mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu  khi  tạo dựng nên con người có nam có nữ và truyền cho họ “  phải sinh sôi nảy nở  cho thật nhiều và thống  trị mặt đất,” ( St  1: 28)

Trung thành với giáo lý của Chúa, chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ thay đổi định chế hôn nhân để bảo vệ mục đích của gia đình, một giáo hội tại gia ( domestic church) và cũng là hình ảnh của Gia Đình trên Trời nơi Chúa là Cha Chung của mọi con cái đã được cứu độ và đoàn tụ quanh Người trong niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu.

Liên quan đến những người “ đồng tính” Giáo Hội không kỳ thị và loại bỏ họ trong mục đích hiệp  thông tôn thờ Thiên Chúa và tuyên xưng đức tin vào Chúa Cứu Thế Giêsu.  Nhưng chắc chắn Giáo Hội  cũng  sẽ không bao giờ cho phép hay  công nhận hôn nhân đồng tính giữa hai người nam hoặc hai người nữ như một số quốc gia đang  làm vì  áp  lực chính trị  để  chiều theo thị hiếu của  những  người đồng tính muốn hợp thức hóa hôn nhân của họ.Làm như thế, họ đang phá đổ mục đich của hôn nhân và tước bỏ quyền có cha , mẹ , có ông bà nội ngoại của con cháu. Lại nữa, họ cũng tạo gương xấu ( scandal)  cho giới trẻ   khi thấy hai người nam hoặc hai người nữ  công khai sống chung với nhau như vợ chồng.

Về mặt tinh thần, những người đồng tính có thể đến nhà thờ cầu nguyện chung với mọi tín hữu, nhưng không thể lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và hòa giải được vì lối sồng của họ ( sống chung như vợ chồng) không được Giáo Hội nhìn nhận như những cặp vợ chồng đã thành hôn qua bí tích hôn phối. Và ngay cả những  cặp vợ chồng đã kết hôn hợp pháp trong Giáo Hội,  nhưng nay đã ly dị ngoài tòa dân sự mà chưa được tòa án hôn phối của giáo phận tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì cũng tạm thời không được lãnh nhận hai bí tích trên.

Tóm lại, dù Giáo Hội chưa chính thức  lên tiếng về vấn đề  hôn nhân  của người đồng tính , nhưng chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ định nghĩa lại hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, vì đây là một định chế thiêng liêng ( sacred institution) mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi có con người trên mặt đất và đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích như đã nói ở trên.

2- về câu hỏi liên thứ hai quan đến  vấn đề  độc thân của hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo, xin được trả lời như sau:

Kỷ luật độc thân ( celibacy) của hàng giáo sĩ  và tu sĩ trong Giáo Hội Công Giáo La mã  không phải là vần đề tín lý hay giáo lý, mà chỉ là luật của Giáo hội đặt ra vì mục đích thánh hóa và hy sinh của hàng giáo sĩ ( Giám mục, linh mục) và tu sĩ mà thôi. Kỷ luật này mới có từ thế kỷ thứ 11 cho đến nay vì mục đích hy sinh , “sống khiết tịnh ( chaste) vì Nước Trời” như Chúa Giêsu đã phán dạy ( Mt 19: 11-12)

Do đó, chắc chắn Giáo Hội cũng sẽ không thay đổi hay bỏ luật này như có một số người đã vội suy đoán sai lầm.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là chỉ có Giáo Hội Công Giáo La Mã mới có kỷ luật này , trong khi ở các Giáo hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thì  kỷ luật này chỉ áp dụng cho hàng Giám mục mà thôi; trong khi các linh mục có thể chọn lựa hoặc kết hôn  hay không trước khi lãnh chức linh mục. Nếu đã chọn không kết hôn khi còn là phó tế, thì sẽ không được kết hôn sau khi là linh mục.

Iiên quan đến vấn đề này, cũng cần nói thêm là : các linh mục Anh Giáo ( Anglican

Communion) và mục sư Tin Lành đều kết hôn. Vì thế ,sau khi họ trở lại với Công Giáo  và được thụ phong linh mục thì họ được quyền tiếp tục sống với vợ con như cũ.Nhưng nếu  sau đó vợ chết, thì không được  tái kết hôn nữa..

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Read More
28Tháng Bảy
2021

Cái nhìn của Giáo Hội về người đồng tính và ”hôn nhân” đồng giới

28/07/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Cái nhìn của Giáo Hội về người đồng tính và ”hôn nhân” đồng giới

 

Vài sự kiện dẫn nhập

Một cuộc biểu tình đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cộng đồng LGBT (đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) làm cha mẹ, ở Paris vào ngày 27 tháng năm 2013 (AFP Photo / Thomas Samson)

Hiện nay, cho đến tháng Năm 2013, đã có mười bốn nước trên thế giới có hôn nhân đồng tính được luật pháp nhìn nhận là: Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Hòa Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điển, Uruguay. Pháp là nước thứ mười bốn ngày 23.4 vừa qua đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cho phép các cặp đồng tính nhận con nuôi. Riêng ở Mỹ, hiện nay hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa tại 12 tiểu bang và quận Columbia (trong đó có Connecticut, Delaware, Iowa, Maine, Maryland, Massachusetts, Minnesota (1/8/2013), New Hampshire, New York, Rhode Island (1/8/2013), Vermont and Washington). Ba mươi sáu tiểu bang đã có lệnh cấm hôn nhân đồng tính. Chính phủ liên bang không công nhận vấn đề hôn nhân đồng tính này.

Ngày 26.5.2013 hơn 1 triệu người Pháp xuống đường ở thủ đô Paris chống luật hôn nhân đồng tính. Luật hôn nhân đồng tính là vấn đề gây chia rẽ sâu sắc tại nước Pháp, mặc dù được tổng thống Hollande ủng hộ.

Tại Hà Nội, ngày 17.05.2013 vừa qua các bạn trẻ cộng đồng LGBT (Les, Gay, Bisexual, Transgender) làm một đám cưới tập thể (dĩ nhiên là giả) 10 đôi uyên ương đồng giới, nhằm chào mừng ngày quốc tế chống kỳ thị người đồng tính (IDAHO), đã gây sự chú ý đặc biệt trong công luận Việt Nam.

Uỷ Ban Nhân Dân TP Hà Nội cho rằng thực tế hiện nay hiểu biết của xã hội Việt Nam về đồng tính còn rất hạn chế. Đa số đang hiểu sai ít hoặc nhiều về người đồng tính. Theo đó, UBND TP Hà Nội đề xuất luật nên quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính là phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống của người Việt Nam cũng như mục đích của việc kết hôn. Tương tự, báo cáo của Sở Tư pháp Thanh Hóa cũng cho rằng việc kết hôn giữa những người đồng giới là trái với quy luật phát triển bền vững của xã hội do không đảm bảo được chức năng của gia đình là duy trì nòi giống.

Còn người Công giáo có cái nhìn thế nào về những người đồng tính này, có quan điểm nào về sự kết hôn đồng giới có thể được luật hóa trong tương lai?

  1. Có thể định nghĩa đồng tính như thế nào ?

Truyền thống thường mô tả đồng tính luyến ái (homosexuality) hay sự hấp dẫn đồng giới (same-sex attraction – SSA) như là một sự thu hút dai dẳng và nổi trội, về mặt tình dục hay sinh lí, từ phía những người cùng giới với mình. Chữ “dai dẳng” có ý muốn nói có lẽ đương sự ít cảm thấy thích thú hơn về tình dục đối với người khác phái.

Một định nghĩa truyền thống khác do tiến sĩ Gerard van den Aardweg : “Chúng tôi dùng chữ đồng tính ở đây để chỉ những ước muốn tình dục hướng tới những người cùng phái, đồng thời giảm đi sự thích thú tình dục đối với những người khác phái”[1]

  1. Nguồn gốc

Từ một quan điểm khác, tiến sĩ Elizabeth Moberly cho rằng xu hướng đồng tính “không phụ thuộc vào sự thiếu cân bằng hoóc-môn có tính di truyền hoặc do các tiến trình tiếp thu bất bình thường, nhưng do từ những khó khăn trong mối quan hệ cha mẹ-con, nhất là trong những năm tháng của thời thơ ấu”[2].

Trong khi nhìn nhận tính phức tạp của hiện tượng đồng tính luyến ái, Moberly lưu ý một nguyên lí cơ bản, đó là: người nam hay người nữ đồng tính đã phải chịu một sự thiếu thốn nào đó trong mối quan hệ với người cha hay người mẹ cùng giới với mình, và có một xung năng tương ứng nhằm cải thiện sự thiếu thốn ấy nhờ mối quan hệ đồng giới hay đồng tính. Có thể tình trạng này là hậu quả của một chấn thương nào đó thời thơ ấu, đã hủy diệt sự quyến luyến đối với người cha hay mẹ đồng giới, để lại nơi đứa bé nhu cầu quyến luyến đồng giới không được thỏa nguyện. Điều này không hàm nghĩa người cha/mẹ đồng giới với em chủ tâm bỏ bê hay đối xử với em tàn tệ.

Moberly có ý muốn nói đồng tính (homosexuality) nói chung là một tình trạng lưỡng nan về đồng giới, nghĩa là, trước hết đó là một vấn đề về căn cước giới tính (gender-identity) hơn là vấn đề về tình dục-sinh dục[3]. Vì đứa bé kìm nén hay trấn áp giới tính của mình, nên xung năng đối trọng để khôi phục lại sự quyến luyến được củng cố mạnh thêm. Hậu quả của sự rời bỏ có tính phòng vệ đó là tình trạng lưỡng nan đồng giới[4].Quan điểm truyền thống về đồng tính tập chú vào ước muốn tình dục-sinh dục đối với một người đồng phái, trong khi định nghĩa của Moberly thì liên hệ đến sự lưỡng nan về căn cước giới tính của một người. Tình trạng này tồn tại trước, hay độc lập đối với bất kì một hoạt động tình dục nào. Điều quan trọng là, nhu cầu về căn cước giới tính của một người có thể  (và phải) được đáp ứng cách độc lập đối với bất kì một hoạt động tình dục nào[5].

  1. Quan điểm của Hội thánh Công giáo về đồng tính

Trong Kinh thánh các đoạn văn liên quan đều kết án các hành động đồng tính. Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính, do Bộ Giáo Lí Đức Tin ban hành năm 1986, đã trích dẫn những đoạn Kinh thánh sau đây : Sáng thế 19, 4-11 (liên hệ đến chuyện phá hủy thành Sơđôm và Gômôra vì đã thực hành đồng tính), và Lêvi 18, 22; 20, 13 (lên án chuyện ăn nằm giữa hai người đồng giới là điều ghê tởm), Rôma 1, 18-32 (lên án những hành vi đồng tính giữa người nam với nhau, và giữa người nữ với nhau)[6]. Trong bối cảnh mới Kitô giáo phải đối đầu với xã hội ngoại giáo thời bấy giờ, thánh Phaolô dùng kiểu sống đồng tính như một ví dụ cho tình trạng mù tối đang bao trùm trên nhân loại : xem 1Côrinthô 6, 9-10 (trong đó thánh Phaolô dạy rằng những kẻ làm những hành động đồng tính sẽ không được vào Nước Thiên Chúa) và 1 Timôthê 1, 9-10 (lặp lại những lời cảnh cáo trong 1 Côrinthô). Trong Rôma 1, 26, những thực hành đồng tính giữa nữ với nữ cũng bị lên án cách riêng.

Quan điểm dứt khoát của Hội thánh về đồng tính luyến ái được tuyên bố trong sách Giáo Lí Hội Thánh Công Giáo.

Dựa trên Kinh thánh, vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng, truyền thống Hội thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự”. Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng loại bỏ khỏi hành vi tính dục tặng phẩm sự sống. Chúng cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc cho nhau thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.[7]

Thật ra, lập luận chống hoạt động đồng tính luyến ái “xuất phát trực tiếp từ giáo huấn của mạc khải về hôn nhân, cụ thể dạy rằng hai mục đích của hành động tính dục con người là sự hợp nhất thường xuyên trong tình yêu giữa người chồng và người vợ và sinh sản con cái – hai mục đích này gắn liền với nhau không thể tách biệt. Vì hoạt động đồng tính luyến ái không thể thực hiện mục đích này cũng như mục đích kia, nên chắc chắn tự chính bản chất của nó là vô luân”[8]. Từ đó ta đi tới kết luận “không thể sánh ví đồng hàng giữa hôn nhân của hai người khác giới và thực hành tính dục ngoài hôn nhân, bao gồm trong đó cả những phối giao đồng tính”[9].

  1. Bản chất của hôn nhân

Trong Kinh Thánh, hai chương đầu của sách Sáng thế có bao hàm những đoạn văn nền tảng về hôn nhân. Sáng thế 1,27-28 thuộc trình thuật sáng tạo thứ nhất tuyên bố «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất”». Trong trình thuật sáng tạo thứ hai, Sáng thế 2,23-24, Thiên Chúa giới thiệu Eva và Ađam cho nhau, và Ađam hô lên «‘Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút tự đàn ông ra’. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt». Nên lưu ý hai bản văn này đã mô tả hai thân xác hiệp thông với nhau như thế nào cũng như từ đó một đứa con được sinh ra (xem Sáng thế 4,1 nói về sự sinh hạ Cain).

Trong Tân ước, Đức Giêsu tái xác nhận lề luật đã được tuyên bố trong sáng Sáng thế. Phúc âm thánh Mathêu 19,3-7 ghi lại câu chuyện những người Pharisêu đến hỏi Đức Giêsu người ta có được phép li dị vợ mình vì bất kì lí do gì hay không. Đức Giêsu trả lời: «Các ông không đọc thấy điều này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ’, và Ngài đã phán: ‘Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt’ ? Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li».

Đoạn Thư Êphêsô chương 5 là một đoạn văn tuyệt vời trong đó người làm chồng được ví như Đức Kitô và người làm vợ như là Hội Thánh. Khi thánh Phaolô muốn diễn tả tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh, ngài nhờ đến tình yêu nam-nữ giữa vợ chồng: «Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa Hội Thánh… Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình» (Ep 5,25; 5,28). Thế rồi thánh Phaolô trích dẫn Sáng thế 2,24: «Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình» (Ep 5,31). Thế đó, luật của Sáng thế về sự kết hôn dị tính (giữa một nam và một nữ) và vĩnh hôn, được khẳng định lại.

  1. Đối thoại với các nền văn hóa hiện nay

Không phải ai cũng tin vào mạc khải của Kitô giáo. Trong thực tế để đối thoại với những người không tin với các nền văn hóa hiện nay, người tín hữu Công giáo có thể dùng những lập luận rút ra từ luật luân lí tự nhiên. Luật luân lí tự nhiên là một luật trong phạm vi của con người bắt đầu có hiệu lực khi một đứa trẻ tới tuổi khôn. Đó là tiếng lương tâm giúp ta phân biệt phải hay trái. Đó là việc làm của một lí trí ngay thẳng. Thánh Phaolô nhắc tới luật tự nhiên này trong đoạn Thư Rôma 2,14-15 khi ngài nói rằng dân ngoại là những người không biết luật Môsê, nhưng họ có luật này được ghi khắc trong lòng họ.

Theo luật tự nhiên, phần đa số con người, nam cũng như nữ, có chịu sự thu hút về thể lí tự nhiên từ phía người khác giới, và sự thu hút đó có ý nghĩa để đưa tới một sự kết hợp thân mật vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ trong hôn nhân hướng tới việc sinh con cái. Chúng ta gọi điều này là tính bổ túc cho nhau giữa hai giới nam và nữ. Với tiên đề này chúng ta xem xét lập luận của triết gia Michael Pakaluk. Ông chống các hành động đồng tính luyến ái và lập luận từ ý nghĩa của hành vi giao hợp vợ chồng, “vốn là một tình trạng đặc thù khác với các hoạt động nhân linh khác. … Chúng ta nói tính dục là đặc thù bởi vì nó là một dấu hiệu của sự kết hợp hai thân xác, và điều đó có ý nghĩa là một sự kết hợp hai nhân vị. Như thế, quả là đúng nếu ta nói khi một người đàn ông và một người đàn bà dấn mình vào tình dục, thì sự giao hợp hai thân xác họ (bodies) có nghĩa là sự hợp nhất hai bản vị của họ (selves)”[10]. Pakaluk còn nói thêm “sự giao hợp tình dục có một ý nghĩa độc lập nào đó của lựa chọn của ta; nó có nghĩa là một sự kết hợp bản vị. Vì thế, chúng ta không thể thay đổi ý nghĩa khách quan của sự giao hợp tình dục.

“Hơn nữa, vì giao hợp tình dục giữa một người nam và một người nữ mang tính chất hướng đến sinh sản, hành vi hướng đến việc sản sinh ra con cái, bản thân chúng vốn là sự kết hợp các đặc trưng của vợ và chồng, và như thế càng làm gia tăng sự hiệp nhất vợ chồng. Như chúng ta biết, giao hoan đồng tính thì không có được những sức mạnh đó”.

Có thể triển khai các lập luận khác. Không thể có một sự hiệp thông thân xác đích thực trong giao hoan đồng tính. Cách đây ít năm một người mẹ, là thành viên của nhóm hướng dẫn một cuộc gặp gỡ tĩnh tâm cho các cặp đính ước (Engagement Encounter), đến gặp riêng một vị linh mục đồng hành với Phong trào Courage, hỏi về hành vi đồng tính: “Họ làm ‘chuyện ấy’ như thế nào, hở cha?” Vị linh mục mô tả cách thức họ làm ‘chuyện ấy’, và bà ta cười phá lên và nói: “mấy cái bộ phận làm sao mà tra khớp vừa khít được!”

Một người đàn ông cầm biểu ngữ “A father and a mother, nothing it′s better for a child!” trong một cuộc biểu tình để phản đối hôn nhân đồng tính vào ngày 02 Tháng Hai năm 2013 tại Paris (AFP Photo / Francois Guillot)

  1. Mục vụ cho những người có sự thu hút đồng giới (SSA)

Cha John F. Harvey, O.S.F.S., kể từ những năm giữa thập niên 1980, đã tham vấn cho các bạn trẻ đồng tính trong khi dùng đến những kết quả của Moberly giúp họ nhận ra rằng họ có thể làm cái gì đó về tình trạng thu hút đồng giới này của họ. Khi một bạn trẻ bắt đầu hiểu ra rằng không ai chủ ý chọn cho mình loại cảm giác thu hút này và rằng anh (hay cô ta) có thể học để khống chế quyền lực của nó, anh (cô ta) thường muốn làm việc với cả nhà tham vấn tâm linh và nhà tâm lí trị liệu, để giúp mình giải quyết vấn đề. Bạn trẻ ấy sẽ rất vui khi nghe, theo như Moberly hiểu, rằng sự thu hút đồng giới không phải là một điều bệnh hoạn (xu hướng bị thu hút đồng giới thì khác với hành vi và lối sống đồng tính có giao hoan tình dục). Thật ra đó là xung năng để khôi phục lại những quyến luyến vốn đã bị đổ vỡ với “một suối nguồn yêu thương, vốn là chính người cha hay người mẹ cùng giới với bạn ấy” và như thế, đây “không phải là một vấn đề cho bằng là một nỗ lực giải đáp vấn đề”[11]. Vấn đề bệnh hoạn hay không là ở chỗ đứa trẻ bị tách li sớm khỏi người cha hay người mẹ cùng giới trong tình trạng đổ vỡ oán trách, tuy nhiên người ta có thể sửa chữa sự thiếu hụt do quá khứ ấy bằng sự vun đắp một tình bạn đồng giới thanh khiết[12]. Trong khi giúp đỡ những người chịu sự thu hút đồng giới (SSA) sống đức khiết tịnh (là mục tiêu chính yếu của Phong trào Courage [Can đảm]), cha John nhận thấy quan điểm của Moberly rất hữu ích[13]. Theo đuổi đức khiết tịnh là bước đầu tiên rời xa chứng thu hút đồng giới (SSA). Cá nhân người đồng tính có thể không hoàn toàn phục hồi trở về tình trạng xu hướng dị tính tự nhiên, nhưng người ấy đang đi trên con đường tâm linh đúng đắn. Nhờ ơn Chúa, người ấy không những sẽ tránh được sa ngã phạm tội tình dục đồng giới mà còn phát triển được một tâm hồn khiết tịnh. Trong tiến trình từ giai đoạn non nớt sống thiên về cảm xúc đến giai đoạn trưởng thành hơn về tình cảm (tình cảm được hướng theo một trật tự ngay chính) những bạn này phát triển từng ngày một nhân đức gọi cho chính xác là khiết tịnh hay tiết độ (continence). Người có nhân đức khiết tịnh, theo định nghĩa, phải thường xuyên sống cảm xúc của mình hòa hợp với lí trí. Chừng nào người ấy vẫn còn sống cái phản ứng tách li phòng vệ hoặc bị thu hút tình dục chủ yếu bởi những người đồng giới, thì vẫn còn một lỗ hổng lớn trong tương quan giữa lí trí và tình cảm.

Thái độ và cái nhìn của Kitô hữu về anh chị em có sự thu hút đồng giới

Nhiều vị mục tử và các nhà thần học mục vụ chuyên về lãnh vực này tránh dùng những nhãn hiệu như “gay” (đồng tính nam) và “lesbian” (đồng tính nữ) hay “bisexual” (song tính) xuất phát từ tầm nhìn nhân học đúng đắn của Kitô giáo vốn coi trọng nhân vị, hình ảnh của Thiên Chúa. Đối với họ, một con người hay một cá vị thì khác hẳn một xu hướng tình dục. Một cá nhân là một ngôi vị, là một thọ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, có trí hiểu và ý chí tự do, được tiền định để sống đời vĩnh cửu, và khi được rửa tội, lại là một người anh em hay chị em của Đức Kitô. Khi nói về người anh em hay chị em ấy như là kẻ “đồng tính” là ta đã giảm thiểu con người ấy (vốn là một nhân vị) thành chỉ như là một xu hướng tình dục. Một con người thì khác xa hơn nhiều do mầu nhiệm ngã vị tính của người ấy.

Những từ ngữ như “gay” hay “lesbian” thậm chí còn giảm trừ hơn nữa tính phức tạp kì diệu của mầu nhiệm ngôi vị. Gọi những người anh em / chị em ấy là “gay” hay là “lesbian” tức là xem xu hướng tình dục của họ như là điểm quan trọng nhất của căn tính con người họ. Sinh ra làm người theo cách như thế ấy hay không, đối với những cá nhân đó, không là vấn đề. Họ tuyên bố rằng: “Đó là cái cách thức mà tôi sống và sẽ luôn như thế. Tôi phải kết bạn với những người giống như tôi và để rồi sau cùng sẽ tìm thấy được một đối tác (bạn tình) lí tưởng mà tôi có thể kết giao trong một ‘quan hệ đơn nhất’ để ổn định cuộc sống. Tôi sẽ ra sức để kiến tạo nên một xã hội trong đó những người kết giao đồng tính có cùng quyền lợi như những người kết hôn dị tính”.

Cả ba hình thức xác định bản vị kiểu như thế (đồng tính luyến ái, gay, và lesbian) đều không thể mô tả một người hiện hữu như là một nhân vị. Không chỉ là một vấn đề lí thuyết, bạn nhìn chính mình như một nhân vị như thế nào liên quan chặt chẽ với cái nhìn về bản thân bạn và thiết lập những mục tiêu cá nhân của bạn cho tương lai thế nào. Hình ảnh về bản thân bạn như thế nào tác động rất lớn trên hành vi cuộc sống bạn.

Gọi người ấy là người có xu hướng bị “thu hút bởi người đồng giới” (“same-sex attraction”) (đối lại với cách gọi họ là “gay” hoặc “lesbian”) đặt trọng tâm trên tính duy nhất của ngôi vị hơn là trên một xu hướng (tendency) vốn ở thấp bên dưới lí trí và có thể thay đổi khi người ấy trưởng thành hơn. Trong ngôn ngữ của thời đại, người ta lại nói đến “hướng định” đồng tính (homosexual “orientation”). Thật không may, trong số nhiều người có xu hướng chịu “sự thu hút đồng giới”, từ ngữ trên mang một hàm nghĩa ấy là một xu hướng tất định, không thay đổi được. Nhưng đó không phải là trường hợp của nhiều cá nhân, cách riêng của những em tuổi teennghĩ mình là người đồng tính, nhưng chỉ sau ít năm lại đi yêu một người khác phái!

Nỗi khó khăn của việc ‘dán nhãn’ cho một ai đó, là: làm như thế là đã giới hạn người ấy vào một số tùy chọn và tầm nhìn giới hạn nhất định rồi. Bộ Giáo Lí Đức Tin phát hành văn kiện Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính, nói rất rõ điểm này: «Ngày nay Hội Thánh đề nghị một cảnh vực hết sức cần thiết cho việc chăm sóc mục vụ con người, khi từ khước xem họ như là ‘người đồng tính’ (homosexual) hay như là ‘người dị tính’ (heterosexual), và luôn nhấn mạnh rằng mỗi người đều có một căn tính nền tảng. Họ là thụ tạo của Chúa, và nhờ ơn Chúa họ còn là con cái Chúa và được hưởng gia nghiệp đời đời»[14].

Vì thế, tình cảnh của một người có xu hướng đồng tính không lấy mất của người ấy phẩm giá thụ tạo được Chúa ban cho, cũng không làm thay đổi sự kiện một người đã rửa tội là anh em hay chị em của Đức Kitô với hi vọng được sống đời vĩnh cửu. Trên bình diện nhân bản, theo quan điểm của tiến sĩ Joseph Nicolosi, tác giả của Healing Homosexuality (Chữa lành Đồng tính), người ta nên nhìn bản thân mình như là một người vốn tự nhiên có xu hướng dị tính với vấn đề đồng tính[15]

Kết

Thiên Chúa không tạo dựng con người đồng tính; Ngài để cho con người chịu nỗi niềm riêng này là có những lí do bí nhiệm riêng của Ngài. Đừng ai để mình bị cám dỗ đi đến mức tự ghét bản thân, than thân trách phận, và oán trách Thiên Chúa vì một tin tưởng sai lầm rằng Ngài đã dựng nên mình đồng tính. Khinh bỉ bản thân mình vì mình là người có xu hướng chịu sự thu hút đồng giới (SSA) thật ra là một hình thái của chứng “sợ người đồng tính” (homophobia) và thậm chí thù ghét chính bản thân mình cách phi lí.

Ngày nay vẫn có nhiều người sợ một cách phi lí những người mang tiếng là đồng tính luyến ái bởi vì tình cảnh của những người ấy bị hiểu lẫn lộn với tình trạng của những người lạm dụng tình dục trẻ em (pedophilia), hoặc xem họ gắn liền với AIDS, hoặc cho là những người ấy đã tự chọn cách sống như thế. Thế nhưng, Hội thánh dạy chúng ta nên có một chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt cho những anh chị em có sự thu hút đồng giới, đồng thời đối xử với họ bằng thái độ yêu thương và kính trọng: «Phẩm giá của mỗi người phải luôn được kính trọng bằng lời nói, hành động, và bằng luật pháp»[16].

Lữ Y Nguyễn

THƯ MỤC

  1. BỘ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính(1986)
  2. MOBERLY, E. R., Homosexuality: A New Christian Ethic(Cambridge, England: James Clark, 1983)
  3. MOBERLY, E. R., Psychogenesis: The Early Development of Gender Identity(London: Routledge and Kegan Paul, 1983)
  4. HARVEY, J. F., O.S.F.S., The Homosexual Person(San Francisco: Ignatius Press, 1987)
  5. HARVEY, J. F., O.S.F.S., The Truth about Homosexuality(San Francisco: Ignatius Press, 1996)
  6. HARVEY, J. F., O.S.F.S., Homosexuality and The Catholic Church(Ascension Press, LLC, 2007)
  7. AARDWEG, G. VAN DEN, On the Origins and Treatment of Homosexuality(New York: Praeger, 1986)
  8. NICOLOSI, J., PH.D., Healing Homosexuality(Northvale, NJ: Jason Aronson, 1997)

[1] G. VAN DEN AARDWEG, On the Origins and Treatment of Homosexuality (New York: Praeger, 1986), p. 1.

[2] E. R. MOBERLY, Homosexuality: A New Christian Ethic (Cambridge, England: James Clark, 1983), p. 2.

[3] J. F. HARVEY, O.S.F.S., The Homosexual Person (San Francisco: Ignatius Press, 1987), p.28.

[4] E.R. MOBERLY, Homosexuality: A New Christian Ethic, được trích lại trong Harvey, The Homosexual Person, p.28.

[5] HARVEY, The Homosexual Person, p.28.

[6] BÔ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, (Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo) Về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính (1986), ss. 6-8; cũng nên tham khảo Persona Humana, s.8.

[7] Sách GLHTCG,  2357.

[8] J. F. HARVEY, O.S.F.S., The Truth about Homosexuality (San Francisco: Ignatius Press, 1996), p.304.

[9] Ibid.,p.127.

[10]  Ibid., p.133.

[11] E. R. MOBERLY, Psychogenesis: The Early Development of Gender Identity (London: Routledge and Kegan Paul, 1983), p. x.

[12] MOBERLY, Homosexuality, pp. 28-29.

[13] Để biết chi tiết hơn lí thuyết của Moberly xin tham khảo chương ba của HARVEY, The Homosexual Person, p.38-48.

[14] BÔ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính (1986), 16.

[15] J. NICOLOSI, PH.D., Healing Homosexuality (Northvale, NJ: Jason Aronson, 1997).

[16] Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính (CSMVĐT), 10.

Read More
28Tháng Bảy
2021

Hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công Giáo [1]

28/07/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công Giáo [1]

 

Những năm gần đây các phòng trào bênh vực những người trong cộng đồng LGBT [2] một ngày càng gia tăng. Các cuộc biểu tình nổi dậy để đòi quyền lợi mà những người LGBT phải được hưởng, trong đó có quyền yêu cầu công nhận hôn nhân đồng tính hợp thức hóa dân sự.

Kết quả mà cộng đồng đạt được tính đến 2017 đã có hơn 25 quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính[3]. Đặc biệt đánh dấu lớn nhất khi Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra luật liên bang về bình đẳng hôn nhân vào năm 2015. Hôn nhân đồng tính đã được hợp pháp hóa tại 37 trong số 50 tiểu bang Hoa Kỳ, cùng Quận Columbia, trước khi có phán quyết năm 2015.

 

Tại Việt Nam nếu Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 kết hôn đồng giới là một trong năm trường hợp cấm. Thì nay Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã cởi mở hơn kết hôn đồng giới không còn thuộc trường hợp bị cấm. Thay vào đó, Luật mới chỉ quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính (Điều 8). Đây được xem là một bước tiến khả quan, tín hiệu vui mừng của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

 

Vậy có nên việc công nhận hôn nhân đồng tính có nên hay không? Chắc có lẽ tùy vào ý thức hệ của mỗi người, tổ chức, quốc gia, tôn giáo mà có những cái nhìn khác nhau. Ta không thể bắt buộc người này phải công nhận, hay bắt người kia không công nhận. Thái độ đối thoại trong việc này rất cần thiết, tránh các thái độ thái hóa đi quá mức ở những trạng thái lên án gây rắc, hay chống đối một cách bạo động.

 

Thế thì trong giáo hội Công giáo xem những người đồng tính ra sao, họ có giá trị trong giáo hội hay không? Hôn nhân đồng tính được giáo hội công nhận hay không? Hướng đi nào cho người đồng tính khi họ là những người Công giáo

 

Để trả ba câu hỏi trên, đề tài đưa ra các lý thuyết sau để trả lời. Cụ thể:

 

  1. Lý thuyết chức năng luận

    Với lý thuyết chức năng cá thểMalinowski cho rằng môi trường càng bất trắc thì những lo lắng tâm lý càng tăng, và người ta lại càng có khuynh hướng dùng đến lễ nghi và ma thuật [17]. Từ lý thuyết này đề tài đưa ra giả thuyết rằng: Khi người đồng tính có xu hướng tính dục khác lạ với những người dị tính. Họ là những thành phần bị xã hội lên án xem là dị ngượm, không được người khác chấp nhận…dẫn tới tình trạng cô lập. Thế nên họ rất cần tổ chức lên tiếng bênh vực họ. Tôn giáo là phương thế họ dùng để lắp đầy nổi khát vọng này.

 

Giáo hội Công giáo cho rằng con người là hình cảnh của Thiên Chúa, “con người có phẩm giá của một ngôi vị, không phải chỉ là một cái gì đó mà là một ai đó” [5,101], thế nên dù là nam hay nữ hay đồng tính cũng là một con người mà “hình ảnh sống động của Thiên Chúa” [5,99].

 

Giáo hội Công giáo hoàn toàn không lên án người đồng tính, nhưng xem họ là những đứa con cần yêu thương hơn trong lòng Giáo hội là Mẹ của tín đồ. Sách giáo lý số 2358 đã nói lên tinh thần này: “Đừng quên một số người đã có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, khuynh hướng lệch lạc ấy là một thử thách. Chúng ta phải đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công. Cả những người này cũng được mời gọi thực hiện ý Chúa trong cuộc sống”

 

Giáo hội mời gọi con cái mình là những người đồng tính sống đúng ơn gọi của mình, vác thập giá đời mình trong niềm hy vọng. Sách giáo lý số 2359 của Hội thánh Công giáo nói rõ: “Những người đồng tính luyến ái cũng được mời gọi sống khiết tịnh. Họ có thể và phải cương quyết tiến dần đến sự toàn thiện Ki-tô giáo nhờ kinh nguyện và ân sủng bí tích, nhờ biết tự chủ để củng cố tự do nội tâm và nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi”.

 

Bên cạnh đó Công giáo còn cho rằng mỗi tín đồ đều được mời gọi nên thánh theo bậc sống của mình. Không phải chỉ Giáo hoàng, Giám Mục, Linh mục hay tu sĩ nam nữ mới được mời gọi nên thánh. Mà cả những người lập gia đình dị tính cũng được mời gọi, đặc biệt hơn là những người con đồng tính trong giáo hội càng được mời gọi nên thánh.

 

Trong Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, chương IV Giáo dân đã đề cập đế việc này: “Trong giáo hội không phải tất cả mọi người đều cùng đi theo một con đường như nhau, nhưng tất cả đều được kêu gọi nên thánh, và đã nhận được một đức tin như nhau nhờ sự công chính của Thiên Chúa” [4,130], “Tất cả mọi người trong Hội thánh, hoặc thuộc hàng giáo phẩm cũng như những kẻ được họ coi sóc, cũng đều được kêu gọi nên thánh” [4,142], “Tất cả mọi tín hữu, dù thuộc bất cứ bậc sống hay hoàn cảnh nào, đều được kêu gọi đạt đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của đức ái” [4,143], “tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi và thậm chí có nghĩa vụ phải luôn tìm kiếm sự thánh thiện và trọn lành trong bậc sống của mình” [4,151].

 

Từ những phân tích trên đề tài tiên liệu những người đồng tính thuộc tín đồ Công giáo sẽ có điểm tựa đời mình, gắn bó với tôn giáo của mình. Chấp nhận số chung với số phận một cách hạnh phúc, từ đó cống hiến cho đời. Bên cạnh đó những người dị tính có cái nhìn cảm thông hơn đối với những người đồng tính.

 

Đối với lý thuyết chức năng xã hội thì Brown cho là tôn giáo gây ra những âu lo cũng nhiều như làm giảm âu lo: thí dụ như vì niềm tin tôn giáo đã ăn sâu vào tâm trí mà người ta âu lo hệ quả khi qua đời vì đã gây ra «tội».

 

Nếu vừa được phân tích bên trên với chức năng cá thể, Công giáo được xem là mãnh đất màu mỡ cho người đồng tính sinh sống. Thì đến chức năng xã hội thì dường như Công giáo trở thành mãnh đất khô cằn thiếu nước cho người đồng tính, khi họ thực hiện các hành vi quan hệ đồng tính.

 

Sách giáo lý Công giáo số 2357 dạy rằng: “…..Căn cứ vào Kinh Thánh vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng ( x.St 19,1-29; Rm 1,24-27; 1 Cr 6,10; 1Tm 1,10 ), truyền thống HộiThánh luôn tuyên bố :”Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là thác loạn” ( x. CDF, décl “persona humana” 8 ). Các hành vi này nghịch với luật tự nhiên vì loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục, cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.”

 

Từ lý thuyết chức năng xã hội đề tài đưa ra giả thuyết như sau: Vì nhu cầu công khai hóa xu hướng tính dục, mà những người đồng tính Công giáo phải từ bỏ nhà thờ, các bí tích, nghi thức sinh hoạt tôn giáo chỉ vì sợ tội, xem đó là trái ngược với tôn giáo và mặc cảm với cộng đoàn nơi sinh hoạt. Đề tài cũng tiên liệu ngày càng mất tín đồ, hay những người đồng tính có hành vi quan hệ đồng tính kín hay công khai hóa sẽ sống trong lo sợ, dấu kín, sống không thật….

 

  1. Lý thuyết Tân Mác-Xít và Cấu Trúc Luận

    Đối với hai lý thuyết này sẽ giải mã câu hỏi số hai trong câu hỏi nghiên cứu, và đây trọng tâm của tiểu luận.

 

Ý thức hệ và sự thống trị về ý thức hệ (ideological hegemony) trong luận điểm của Antonio Gramsci. [17]

 

Hệ thống tổ chức của Công giáo rất chặt chẽ, không chỉ ở tín điều, luân lí, phẩm trật mà ngay cả hệ thống giáo huấn của hội thánh. Từ bộ giáo luật, các công đồng, các thông điệp hay các giáo huấn của bộ trong hệ thống giáo hội.

 

Cụ thể mỗi tín đồ đều được giáo huấn qua các lớp giáo lí, từ khi biết đọc biết viết tín đồ đã được học giáo lý. Mô hình tổ chức như một trường thực thụ, thi cử để lên lớp qua các học phần khác nhau về giáo lí phù hợp với độ tuổi. Khi trưởng thành sẽ được tham gia các lớp về hôn nhân Công giáo, để học hỏi về quan niệm về hôn nhân dưới cái nhìn của Công giáo. Hay khi lập gia đình, dù người kết hôn với tín đồ có Công giáo hay không, thì vẫn bắt buộc người phối ngẫu đó tìm hiểu mục đích và ý nghĩa hôn nhân Công giáo. Đặc biệt các buổi hành lễ linh mục cũng truyền tải thông điệp qua bài giảng về quan niệm của giáo hội Công giáo về hôn nhân.

 

Vậy hệ thống luân lý Công giáo về hôn nhân ra sao?

 

Trong Công đồng Vaticanô II văn kiện đã dành ra một chương khá lớn để nói về phẩm giá cao quý của hôn nhân và gia đình trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes (“Vui mừng và Hi vọng”). Đặc biệt lưu tâm đến vấn đề truyền sinh, tình yêu, giáo dục.

 

Bộ giáo luật 1983 ở điều 1053 quy định “giao ước hôn nhân” dành cho “một người nam và một người nữ” mục đích của hôn nhân “sinh sản” và “giáo dục con cái” và “chính Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữ hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích” [3,333]. Đặc tính hôn nhân Công giáo được điều 1504 chỉ rõ mang tính “đơn nhất” và “bất khả phân ly” [3,333]. “Sự đồng thuận của ý chí”, “chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi” [3,333] được điều 1057 nói đến. Điều 1141 cũng nói đến trường hợp tháo gỡ khi hôn nhân không thành sự theo giáo luật và lí do “tử vong” [3,353]. Điều 1059 nói rõ “Hôn nhân của những người Công giáo bị chi phối không chỉ luật Thiên Chúa mà còn luật của Giáo hội Công giáo nữa” [3,333]. Trong Giáo hội Công giáo có hai loại luật đó là luật Thiên Chúa và luật Hội thánh. Đối với luật Thiên Chúa là luật không bao giờ được thay đổi, còn luật Hội thánh có thể thay đổi.

 

Về vấn đề mục vụ cho hôn nhân Bộ giáo luật hết sức lưu ý đến việc giáo huấn, điều 1063 quy định rất chi tiết: “…1. Bằng việc rao giảng, huấn luyện giáo lý thích hợp cho vị thành niên, thanh niên và người lớn, kể cả qua việc xử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, ngõ hầu các tín hữu được giáo dục về ý nghĩa của hôn nhân Kitô giáo và về nghĩa vụ của vợ chồng và của cha mẹ Công Giáo; 2. Bằng việc chuẩn bị riêng cho những người sắp kết hôn để đôi bạn được sửa soạn để lãnh nhận sự thánh thiện và những bổn phận của bậc sống mới; 3. Bằng việc cử hành phụng vụ hôn phối cách chu đáo, để làm sáng tỏ rằng đôi bạn trở thành dấu chỉ và tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội; 4. Bằng sự giúp đỡ cho đôi bạn sống trung thành với giao ước vợ chồng, đễ mỗi ngày họ thêm thánh thiện và hoàn hảo hơn trong đời sống gia đình.” [3,335]

 

Bộ giáo luật còn đưa ra những trường hợp ngăn trở tiêu hôn nói riêng và nói chung, nghi thức hôn nhân, hôn nhân hỗn hợp. Còn những điều được nói ở trên nhằm truyền tải một thức hệ về hôn nhân Công giáo một cách ngắn gọn và đầy đủ nhất.

 

Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo cho rằng “gia đình là tế bào sống động của xã hội”, “cộng sự với Đấng tạo hóa” [5,163] trong việc truyền sinh. Trong Tông huấn Hậu thượng Hội đồng Christifideles Laici, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II nói Gia đình là “chiếc nôi của sự sống và tình yêu” [5,163]. Gia đình là “thánh điện của sự sống” [5,177], gia đình có vai trò “cổ vũ và xây dựng nền văn hóa sự sống” [5,177]. Bởi thế hôn nhân Công giáo loại bỏ và lên án các hình thức “triệt sản và phá thai” [5,178], cũng như các “phương pháp ngừa thai dưới nhiều hình thức khác nhau” [5,179]. Nói thế không phải mọi hình thức ngừa thai đều không được chấp, giáo hội mời gọi tín đồ cân nhắc, trách  nhiệm trước khi truyền sinh, và có thể dựa vào “trật tự nhân học, người ta được phép vận dụng sự tiết dục định kì trong thời gian có thể mang thai của người phụ nữ.” [5,179] Giáo hội lên án sựu can thiệp của “kỹ thuật sinh sản” [5,180] để “tách rời hành vi kết hợp vợ chồng ra khỏi hành vi sinh sản” [5,180], chẳng hạn: “gieo tinh” [5,180], “thụ tinh nhân tạo đồng nguồn” [5,180]. Vì xem kết quả “đứa trẻ đó được sinh ra là kết quả của một hành vi công nghệ hơn là kết quả tự nhên của một hành vi nhân linh” [5,180]

 

Không chỉ thế học thuyết xã hội Công giáo còn cho rằng “gia đình phải được đặt trên xã hội và quốc gia” [5,166] vì chính là gia đình là điều kiện khởi nguồn sự sống và giúp cho xã hội phát triển các chức năng khác. Việc kết hợp tạo thành gia đình “không phải là kết quả của những thỏa thuận giữa con người với nhau, cũng không phải là kết quả của những quy định pháp lý” [5,167] mà là do “quyết định của Thiên Chúa” [5,167]. Một đằng hôn nhân Công giáo “nhắm tới việc sinh sản và giáo dục con cái” [5,169], nhưng bên cạnh đó “hôn nhân không được lập ra chỉ vì lí dó sinh sản” [5,169], mà nó còn đề cao đến “tính bất khả phân ly của hôn nhân và giá trị hiệp thông của hôn nhân vẫn còn nguyên vẹn” [5,169] vì có những cuộc hôn nhân vì lí do khách quan mà không thể thực hiện thiên chức làm cha làm mẹ. Những trường hợp này giáo hội mời gọi tín đồ “chấp nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi hay bằng cách thực hiện những công tác phục vụ theo nhu cầu cần thiết của người khác” [5,169].

 

Như đã đề cập ngoài năng truyền sinh, bất khả phân ly của hôn nhân Công giáo, thì nhiệm vụ giáo dục cũng không kém. Thật vậy học thuyết xã hội Công giáo nhấn mạnh gia đình chính là: “cộng đồng yêu thương và liên đới, nơi duy nhất thích hợp để dạy dỗ và truyền đạt các giá trị văn hóa, đạo đức, xã hội, tâm linh và tôn giáo, rất cần cho các thành viên của gia đình và xã hội được phát triển và hạnh phúc” [5,182], “gia đình đóng một vai trò hoàn toàn độc đáo và không thể thay thế được trong việc dạy dỗ con cái” [5,182]. Trách nhiệm của các bậc almf cha làm mẹ phải làm sao đó “cung cấp một sự giáo dục toàn diện” [5,182], “đặc biệt trong việc giáo dục giới tính” [5,182].

 

Đây là một trong chuỗi ý thức hệ xuyên suốt về hôn nhân trong đời sống giáo hội Công giáo. Như thế thấy được rằng hôn nhân Công giáo chỉ chấp nhận sự kết hợp tự nhiên giữa một người nam và một người nữ. Không chấp nhận các hành vi quan hệ đồng tính hay hôn nhân đồng tính. Vì một số đặc tính chỉ có hôn nhân giữa người nam và người nữ mới đáp ứng được đó là việc truyền sinh, giáo dục đúng nghĩa, để gìn giữ các giá trị gia đình mang lại cho xã hội và giáo hội.

 

Đó là hệ thống ý thức hệ về hôn nhân của Công giáo, thế thì đằng sau ý thức hệ đó có điều gì diễn ra trái ngược không? James Scott trong sách Domination and the Arts of Resistance chịu ảnh hưởng của Erving Goffman, đặt nghi vấn về sự thống trị của ý thức hệ. James Scott cho rằng ngoài việc xem các diễn ngôn trên sân khấu (diễn ngôn trước công chúng) thì cũng xem diễn ngôn phía sau hậu trường (diễn ngôn kín). [17]

 

Ngay cả phía sau hậu trường về tính đơn nhất bất khả phân ly, giữa người nam và người nữ hôn nhân Công giáo đã từng xảy ra. Đó là trường hợp ly khai Anh giáo do vua Enricô VIII năm 1533 khởi xướng vì tính đơn nhất bất khả phân ly của Kitô giáo. Thế thì việc cổ võ hôn nhân đồng tính buộc giáo hội Công giáo phải chấp nhận đã diễn ra như thế nào trong giáo hội Công giáo.

 

Những năm gần đây việc những phe phái ủng hộ hôn nhân đồng tính đòi buộc giáo hội Công giáo phỉa chấp nhận, đã hết sức tâm huyết dùng cả phương tiện truyền thông, để lên tiếng đã kích giáo hội Công giáo về vấn đề này. Điều đáng nói ở đây nó không xãy ra ngoài giáo hội, mà nó còn xuất phát từ bên trong giáo hội.

 

Cụ thể các giám mục hoa kỳ đã lên tiếng về sự giảng dạy sai lầm của linh mục dòng tên James Martin về các vấn đề quan hệ đồng tính và hôn nhân đồng tính. Được biết Linh mục Martin là tác giả của cuốn “Building a Bridge: How the Catholic Church and the LGBT Community Can Enter into a Relationship of Respect, Compassion, and Sensitivity”, nghĩa là “Xây dựng một nhịp cầu: Làm thế nào Giáo Hội Công Giáo và Cộng đồng LGBT có thể tiến vào một mối quan hệ Tôn trọng, Cảm thông, và Nhạy Cảm”[4].

 

Vào tháng 03 năm 2019 giáo hội Công giáo tại Đức, Hồng y Reinhard Marx Tổng Giám Mục của Munich và Freising, và là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức đã tuyên bố rằng Giáo Hội Công Giáo ở Đức đang bắt đầu một “tiến trình công nghị với hiệu lực ràng buộc” để bàn thảo lại các vấn đề luật độc thân linh mục, vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ, giáo lý về đạo đức tình dục, , chủ nghĩa giáo sĩ trị và các kết hiệp đồng tính, trong đó có hôn nhân đồng tính. Sau khi công bố Giáo hoàng Phanxico đã gửi thư cảnh báo tiến trình công nghị này, Giáo hoàng nói: “chỉ tập trung vào việc xem xét các cấu trúc chứ không được linh hoạt bởi sứ mệnh thiết yếu của Giáo Hội là truyền bá đức tin.”  “chủ nghĩa tân Pelagiô” [dựa vào sức riêng của mình] khi “tìm cách điều chỉnh cuộc sống của Giáo Hội theo luận lý hiện tại.” Hệ quả là chúng ta có thể có “một cấu trúc giáo hội gọn gàng và thậm chí là được ‘hiện đại hóa’, nhưng không có linh hồn và hấp lực truyền giáo”.[5] Cũng xin nói thêm Hồng y Reinhard Marx là một trong chín cố vấn cho Giáo hoàng, và với tiến trình công nghị với hiệu lực ràng buộc có nghĩa là không cần tòa thánh phê chuẩn. Thế nên việc này xảy ra có thể một cuộc ly khai sẽ xãy ra, được gọi Đức giáo, khi các điều khoản trong công nghị trái ngược với giáo huấn với giáo hội hoàn vũ.[6]

 

Lý thuyết tân Mác-xít cho ta thấy chính ý thức hệ mà Công giáo không chấp nhận hôn nhân đồng tính, dù có những cuộc nổi dậy một cách ngấm ngầm phía sau hậu trường (James Scott), hay trước sân khấu. Hay nói khách khác có những tiếng nói đi ngược lại giáo huấn về hôn nhân, từ bên trong giáo hội Công giáo. Đã gây tiếng vang khác mạnh, để giáo hội Công giáo một lần nữa nhìn lại giáo huấn này.

 

Việc tiếng nói đi ngược lại giáo huấn của giáo huấn Công giáo về hôn nhân không mới xãy ra trong thời kì hiện nay, mà đó đã có từ lâu. Thế nên từ những năm 1986 Bộ giáo lí đức tin đã gửi thư cho các giám mục tại giáo hội địa phương về mục vụ người đồng tính[7]. Mà tiền thân của thư này đã được đề cập tới trong “Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến đạo đức tính dục” của Thánh Bộ ban hành ngày 29 tháng 12 năm 1975.[8]

 

Trãi qua biết nhiêu thăng trầm từ bên ngoài đến bên trong phía giáo hội, nhưng giáo hội Công giáo vẫn trung tín trong giáo huấn của mình, tại sao giáo hội Công giáo không thay đổi, lí do nào. Đừng vội kết án Công giáo là cổ hũ hay lạc hậu, hay nặng hơn cố chấp trong giáo huấn. Việc tìm hiểu lí do là việc cần làm trước khi quy kết các điều trên.

 

Lý thuyết cấu trúc luận cho rằng trước khi đánh giá một vấn đề nào đó, cần tìm hiểu cái người ta nghĩ, cái ý nghĩa bên trong. Việc tìm hiểu này phải đặt trong quan hệ đối ngẫu (opposition) với những hiện tượng hay biểu tượng khác trong hệ thống [17]. Từ lý thuyết này ta có thể đưa ra các cặp đối ngẫu giữa hôn nhân dị tính với hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công giáo như sau:

 

 

 

Như đã đề cập bên trên hôn nhân Công giáo là hôn nhân kết hợp giữa một người nam và một người nữ, sự kết hợp này không nằm ở sự thỏa thuận của đương sự, hay chứng nhận pháp lý mà do sự quyết định của Thiên Chúa. Thế nên hôn nhân Công giáo không chỉ là hôn nhân tự nhiên nữa, mà nó vươn tới siêu nhiên, vì nó là một bí tích của Công giáo. Từ đó ta thấy được rằng hôn nhân là cộng sự viên đắc lực của thượng đế để truyền sinh một cách tự nhiên và giáo dục con cái theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa thông qua quyền bính của giáo hội.

 

Hôn nhân đồng tính không bao giờ có đặc tính này. Có những ý kiến đưa ra là những cặp hôn nhân đồng tính có thể xin con nuôi, hoặc sinh sản nhân tạo, mang thai hộ… nói chung làm mọi cách để có con. Nhưng họ bỏ quên một yếu rất quan trọng, con cái được sinh ra phải là kết quả của sự yêu thương, chứ không phải là một món hàng của giới y khoa, vì con người là một nhân vị chứ không phải là cái gì đó. Vì thế “sự thụ tinh ngoài thân thể vợ chồng luôn thiếu các ý nghĩa và giá trị được biểu lộ trong ngôn ngữ thể xác và sự kết hợp giữa nhân vị” [9,61]. Cũng xin nói thêm ngay cả những cặp hôn nhân dị tính cũng không được áp dựng các hình thức này, khi họ là những cặp vợ chồng son sẻ. Tính nhân quyền trong ý thức hệ của Công giáo rất cao, không ai có thể can thiệp vào công trình của Đấng tạo hóa, và hoàn toàn tôn trọng nhân phẩm của con người dù đó là một sinh linh nhỏ bé.

 

Trường hợp xin con nuôi là trường hợp được những cặp hôn nhân đồng tính chọn lựa để xây dựng và duy trì đời sống gia đình. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây liệu đứa trẻ được nuôi dạy trong môi trường có hưởng đủ quyền mà một con người được hưởng hay không. Liệu đứa trẻ đó có chấp nhận được trong gia đình mình có hai người đàn ông là cha mình, hay hai người nữ là mẹ mình. Hay tồi tệ hơn khi gọi người nam là mẹ mình, người nữ là cha mình. Giá trị văn hóa, định nghĩa về gia đình có cần tái định nghĩa lại hay không? Quả thật là một sự khó khăn dành cho tất cả mọi người, ngay cả những người đồng tính đắn đo muốn xây dựng một gia đình.

 

Từ lý thuyết Tân Mác-Xít và Cấu trúc luận, đề tài đưa ra giả thuyết Công giáo sẽ không bao giờ chấp nhận hôn nhân đồng tính, vì các đặc tính truyền sinh, yêu thương, giáo dục mà hôn nhân Công giáo mang lại. Bên cạnh đó sẽ còn nhiều cuộc nổi dậy từ bên ngoài đến bên trong giáo hội, sự đấu tranh giữa các phe cấp tiến và bảo thủ để chống đối quyết định này. Tiên liêu sẽ các cặp hôn nhân đồng tính là những tín đồ Công giáo sẽ từ bỏ nhà thờ, chết trong sự rời xa giáo hội. Các chương trình mục vụ cho người đồng tính từ bên trong giáo hội sẽ diễn ra. Để nhằm giữ lại và giáo huấn cho người đồng tính hiểu được giá trị của họ, mà sống đúng với ơn gọi của họ. Ngoài ra gìn giữ hôn nhân của Công giáo trước thế tục hóa.

 

  1. Lý thuyết lựa chọn duy lí

    Nếu các tín đồ Công giáo có thể thấm nhuần các giáo huấn của Công giáo về đồng tính thì chắc chắn sẽ không bao giờ xãy ra các sự việc được đề cập bên trên. Một số tín đồ hay tổ chức trong và ngoài giáo hội không chấp nhận, có hướng chọn cách sống khác, nặng hơn là trái ngược với giáo huấn của Giáo hội về quan hệ đồng tính và hôn nhân đồng tính. Bên cạnh đó cũng có những tín đồ sống kép kín, giả dối, che dấu xu hướng tính dục để được vị thế trong xã hội và giáo hội.

 

Fredrik Barth (1928 – 2016) nhà nhân học đương đại cho rằng: “Mô hình sản sinh này dựa trên khái niệm quan hệ xã hội là những giao dịch (transaction), trong đó những đối tác có những lựa chọn chiến lược chứ không chỉ thể hiện vai trò hay vị thế theo quy ước đạo đức”[17]. Áp dụng lý thuyết này về các trường hợp những người đồng tính không muốn công khai xu hướng tính dục, nên đã chấp nhận các cuộc hôn nhân dị tính, để che đậy thân phận, bị áp lực từ gia đình, xã hội hay giữ vững vị thế trong hệ thống xã hội.

 

Việc này còn nguy hại hơn khi nó xâm nhập vào môi trường chủng viện nơi đào tạo các chủng sinh trở thành các linh mục, giám mục tương lai. Đây là những trường hợp mà đương sự không thể sống được đời sống vợ chồng, mà chấp nhận sống môi trường tu trì để che đậy xu hướng tính dục. Dẫn tới các cuộc quan hệ hôn nhân đồng tính trong môi trường chủng viện, hay các cuộc tình đồng giới ngoài chủng viện. Chẳng hạn: “Hồng y McCarrick đã lạm dụng với trẻ giúp lễ, với các chủng sinh và linh mục trẻ dưới quyền.”[7,33]. “Giáo hoàng Biển Đức XVI đã sa thải gần 800 linh mục vì xâm phạm tình dục trẻ em.” [7,39]… Từ đó có những thế lực chống đối giáo hội Công giáo lợi dụng công kích truyền thông về việc bỏ luật độc thân của linh mục và cổ vũ hôn nhân đồng tính. Tạo ra những bằng chứng giả để tố cáo các vị đứng đầu trong việc chống lại hôn nhân đồng tính, trong đó có Hồng y George Pell là một những việc điển hình.

 

Hồng y George Pell là người đứng đầu trong chiến dịch chống lại hôn nhân đồng tính, Hồng y bị cáo buộc đã lạm dụng tình dục trẻ em, Hồng y phải ngồi tù 400 ngày bắt đầu tháng 2 năm 2019. Mới đây Hồng y George Pell đã được các thẩm phán của Toà án Tối cao của Úc thông báo quyết định đảo ngược phán quyết kết tội Đức Hồng y George Pell về tội lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên của tòa cấp dưới, tuyên bố ngài vô tội và được trả tự do ngay lập tức.[9]

 

Thế nên Công giáo ngày càng kỹ lưỡng chọn lựa các ứng sinh trưởng thành về tính dục. Bộ giáo luật 1983 giáo hội Công giáo số 1024 quy định: “Chỉ người nam đã chịu phép Rửa Tội mới được lãnh nhận bí tích truyền chức cách hữu hiệu.” [3, 323]. Các ứng viên phải phân định rõ ràng trước khi nhận thiên chứ này, không nên cố chấp che đậy, sớm muộn đương sự cũng phải tự mình tỏa hiện ra xu hướng tính dục của mình.

 

Năm 2013 linh mục Krzysztof Charamsa đã bị sa thải khỏi Bộ giáo lí đức tin, vì linh mục đã thừa nhận mình là người đồng tính và đã có người yêu với tờ báo Ý Corriere della Sera và báo chí Ba Lan. Sau khi bị bãi chức linh mục Krzysztof Charamsa trực thuộc giáo phận Pelplin, Ba Lan.[10]

 

Ngày nay không ít các cặp hôn nhân Công giáo đã đổ vỡ vì một trong hai người đồng tính, hay các cặp hôn nhân mới vì áp lực xã hội và giáo hội đã nhắm mắt che đậy đầy duy lí về xu hướng tính dục đồng tính. Hay nó nặng hơn khi hai đương sự là người đồng tính thuộc tín đồ Công giáo thỏa thuận thực hiện nghi thức hôn nhân Công giáo để phủ lắp dư luận. Hệ quả mang lại là phá vỡ sự thiêng liêng của hôn nhân Công giáo, dẫn đến xúc phạm bí tích, hôn nhân không thành sự.

 

Vậy hướng đi nào cho người đồng tính. Lập gia đình với người khác giới thì không sống được, cùng giới thì không được công nhận, dấn thân vào con đường tu trì thì không được đón nhân. Chỉ còn một phương thế là chấp nhận đời sống độc thân, sống đứng với ơn gọi đặc biệt dành riêng cho mình.

 

Từ lý thuyết duy lí đề tài đưa ra giả thuyết, nếu người tín đồ sống trong môi trường nhiều áp lực về ý thức hệ và không thể chống cự lại thì người tín đồ Công giáo tiếp tục các hành vi che đầy sự thật tính dục đồng tính, mà sống và hành động như những người dị tính. Kế tiếp các cuộc hôn nhân Công giáo của những người đồng tính vô hình chung vô hiệu, và các chủng viện ngày càng gia tăng các ứng sinh là những người đồng tính, nếu không có phương án tuyển chọn phù hợp.

 

Tiên liệu giáo hội Công giáo ngày càng sẽ để ý hơn với những người đồng tính, mà có hướng mục vụ cụ thể để hướng dẫn. Để tạo ra môi trường các tín đồ phân định trước những quyết định của mình, hỗ trợ các tín đồ sống đúng ơn gọi theo giáo huấn của giáo hội.

 

Cao Dương Cảnh

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Equipes Notre (Nguyễn Anh Tuấn dịch) (2008), Tình yêu và hôn nhân, Phương đông.
  2. Gioan Phaolo II (Nguyễn Anh Tuấn) (2018), Thần học về thân xác, Tôn giáo
  3. Hội đồng Giám mục Việt nam (2007), Bộ giáo luật, Tôn giáo.
  4. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2012), Công đồng Vaticanô II, Tôn giáo
  5. Hội đồng Giám mục Việt nam (2007), Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công Giáo, Tôn giáo
  6. Richard Parker và Peter Aggleton (biên tập) (2013), Văn hóa, xã hội và tình dục , Văn hóa – Thông tin.
  7. Trần Minh Huy (2019), Linh mục và tu sĩ sống trưởng thành tình cảm và tình dục trong bối cảnh Giáo hội và xã hội hôm nay, Hồng đức
  8. Trần Ngọc Ánh (2015), Nhân học Kitô giáo (2 tập), Phương đông
  9. Trần Quốc Dũng (2017), Đạo đức sinh học (tập 2), Phương đông

 

Các tài liệu trang web

  1. conggiao.info
  2. vaticannews.va
  3. conggiao.info
  4. youtube.com
  5. simonhoadalat.com
  6. tgpsaigon.net
  7. tgpsaigon.net

 

Tài liệu powerpoint

  1. “Lý thuyết Nhân học” của Lương Văn Hy, Đại học Toronto

 

[1] Đây là một phần của tiểu luận cuối môn Lý thuyết Nhân học, đề tài nghiên cứu hôn nhân đồng tính với luân lí Công giáo. Bài viết mang tính chất cá nhân, thế nên chắc chắn bài còn nhiều thiếu xót, cũng có thể sai lầm. Xin quý đọc giả rộng lòng bỏ qua va xin góp ý về mail [email protected]

[2] “LGBT” là tên viết tắt của “đồng tính nữ (Lesbian), đồng tính nam (Gay), song tính (Bisexual) và chuyển giới (Transgender)”

[3] Xem thêm: dantri.com.vn

[4] Xem thêm: conggiao.info

[5] Xem thêm: vaticannews.val

[6] Xem thêm: conggiao.info. Và youtube.com

[7] Xem thêm: simonhoadalat.com

[8]  Xem thêm: tgpsaigon.net

[9] Xem thêm: vaticannews.va

[10] Xem thêm: gplongxuyen.org

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 36
  • Page 37
  • Page 38
  • …
  • Page 67
  • Next page
Bài viết mới nhất
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
ĐỜI SỐNG MỚI TRONG CHÚA KITÔ - SỨ ĐIỆP THIÊNG LIÊNG CỦA THƯ RÔMA
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.