2022
Tìm hiểu về hạn từ “sự phân định” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô
Tìm hiểu về hạn từ “sự phân định” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô
TÌM HIỂU VỀ HẠN TỪ
SỰ PHÂN ĐỊNH
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHAN-XI-CÔ
Lm. Giu-se Đỗ Mạnh Thịnh
Đại chủng viện thánh Giu-se Xuân Lộc,
Ngày lễ kính Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, 2022.
Kể từ khi được công nghị Hồng Y vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 bầu chọn làm Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã mang đến cho thời đại ngày nay, cách riêng Giáo Hội của Chúa Ki-tô, nhiều “làn gió” đặc trưng trong mục vụ cũng như trong giáo thuyết. Người ta nhắc đến “tinh thần Phan-xi-cô” như sự gợi hứng mới về hình ảnh sống động của một Giáo Hội đi ra “ngoại biên”, về người mục tử “mang mùi chiên”, về thời đại của xác tín lòng thương xót của Thiên Chúa có sức mạnh chữa lành và nâng đỡ, thời của sự cấp bách thúc đẩy gặp gỡ, đối thoại, xây những nhịp cầu thay cho những bức tường chia cắt… Nhưng có thể nói rằng, động lực tiềm ẩn sâu xa của những niềm tin tưởng và thực hành mục vụ đó chính là một dòng chảy xuyên suốt và trào tràn: sự phân định.
Trong một dịp trả lời phỏng vấn của tạp chí Thinking Faith ngay sau khi được tuyển chọn làm người kế vị thánh Phê-rô, ĐTC Phan-xi-cô được hỏi “Việc một tu sĩ Dòng Tên được chọn làm Giáo Hoàng có ý nghĩa gì?”, người đáp ngắn gọn: sự phân định.[1] Kể từ đó sự phân định xuất hiện thường xuyên trong những cuộc trao đổi, những bài huấn dụ cũng như trong những thông điệp và tông huấn của người, đến độ người ta đã gọi người là “giáo hoàng phân định” (“Francis: The Discerning Pope”).[2]
Từ khi tông huấn Niềm Vui của Tình Yêu được ban hành vào ngày 19 tháng 3 năm 2016, sự phân định của ĐTC Phan-xi-cô đã trở nên một vấn đề gây nên không ít tranh luận trong Giáo Hội. Không khó để chúng ta thấy rằng, có nhiều người nhiệt tình ủng hộ và cổ võ sự phân định, coi sự phân định mục vụ như là tư duy chủ đạo cho một lối tiếp cận mục vụ mới của Giáo Hội đối với những vấn đề gai góc của thời đại, cũng như thế giới “bên ngoài”, hoặc như là chìa khóa vạn năng để “hóa giải” những vấn đề luân lý vốn thường khơi lên những tranh luận, như ly dị tái hôn, hôn nhân de facto, “hôn nhân” đồng tính, phá thai…; thậm chí có khi người ta đồng hóa sự phân định với sự “khôn ngoan” thỏa hiệp trong mục vụ của cá nhân. Tuy nhiên, cũng có người băn khoăn và hồ nghi về sự phân định: liệu sự phân định có phải là tương đối hóa chân lý, thay đổi chân lý, hay thậm chí đồng nghĩa với việc trao quyền “quyết định chân lý” vào “sự khôn ngoan” của vài cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể (một cách thể hiện của thuyết tương đối về luân lý)?
Để hiểu thấu đáo hơn ý nghĩa sự phân định của ĐTC Phan-xi-cô, thiết nghĩ chúng ta phải tìm hiểu hạn từ sự phân định trong chính bối cảnh của nó, nghĩa là trong những cuộc trao đổi, những huấn dụ cũng như trong những văn bản huấn quyền quan trọng của người. Trong tinh thần đó, bài viết gợi lên một vài tầng ý nghĩa quan trọng của sự phân định: (1) Sự phân định: một viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa, (2) Sự phân định: một giác quan tâm linh, (3) sự phân định: một ân ban của Thiên Chúa.
- Sự phân định: một viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa
Trước tiên, sự phân định được hiểu như là việc con người đón nhận, đọc ý nghĩa các thực tại trong viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa. Đây là thái độ đầu tiên mà một người môn đệ Chúa Giê-su cần xác tín.
Một cách chung, con người thường suy nghĩ và hành động dựa trên những tiêu chuẩn, những phạm trù chủ quan theo ngành nghề chuyên biệt của mình. Những cách tiếp cận đó xem ra là bình thường và hợp lý. Tuy nhiên, nó có thể là nơi phát sinh những thực hành, hay quyết định chủ quan mang đậm dấu ấn cá nhân, và thậm chí nó “khác xa” với điều Thiên Chúa muốn.
Trái với điều đó, theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định là một hành động đón nhận viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa. Niềm xác tin này đã được ĐTC ngỏ lời trong một dịp gặp các giám mục, người nói: “Tôi mời gọi anh em hãy trau dồi thái độ lắng nghe, lớn lên trong sự tự do từ bỏ viễn quan của riêng mình, để đón nhận viễn quan của Chúa”[3]. Có lẽ, cách hiểu về sự phân định như vậy ít nhiều mang bóng dáng tinh thần phân định trong linh đạo của thánh I-nha-xi-ô. Quả thực, trong một dịp khác, ĐTC đã giải thích rõ hơn về sự phân định như là một tác động kép: ngài cho rằng sự phân định như việc chúng ta học cách loại bỏ những định kiến và quan điểm hạn chế của mình, đồng thời tiếp nhận một quan điểm mới, quan điểm của Thiên Chúa…, nhờ đó chúng ta được lôi cuốn vào một “cách cảm nhận sự việc như Thiên Chúa cảm nhận từ trong chính trái tim của Người.”[4] Hình ảnh Na-tha-na-en đã được ĐTC trưng dẫn như một ví dụ và một lời mời gọi thực hành sự phân định: “Đứng trước mặt Ngài [Đức Giê-su] với trái tim rộng mở và để Ngài nhìn chúng ta, chúng ta thấy được cái nhìn yêu thương mà ông Na-tha-na-en đã nhìn thấy hôm Đức Giêsu nói với ông: ‘Tôi đã nhìn thấy anh dưới cây vả’ (Ga 1:48).”[5]
Sự phân định như một cách thức gạt bỏ viễn kiến cá nhân đồng thời tiếp cận thực tại và con người trong viễn quan của Thiên Chúa sẽ chất vấn chúng ta trước mỗi quyết định: “Thiên Chúa nhìn trường hợp này thế nào?”, “Người muốn gì nơi tôi trong hoàn cảnh này?” ĐTC đã ngụ ý nhiều lần các nguyên tắc phân định đó của ngài, một cách đặc biệt trong tông huấn Niềm Vui của Tình Yêu (Amoris Laetitia). Ví dụ, khi đề cập đến trường hợp của những anh chị em “phải” sống trong tình trạng “đối nghịch” trầm trọng với giáo huấn của Kinh Thánh cũng như luật của Giáo Hội về hôn nhân, như những cuộc hôn nhân de facto, ĐTC đã nhắc nhở chúng ta về “luật tiệm tiến.” Điều đó có nghĩa là, dù sống trong “lầm lỗi”, nhờ ân sủng, con người hiểu biết, yêu thương và hoàn thành những điều tốt đẹp về mặt đạo đức qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Đức Giáo hoàng giải thích:
“Đây […], đúng hơn là tính tiệm tiến trong việc thi hành một cách khôn ngoan các hành vi tự do của những người chưa ở vị trí có thể hiểu, đánh giá hay thi hành trọn vẹn các đòi hỏi khách quan của lề luật. Vì lề luật tự nó là một ơn phúc của Thiên Chúa dùng để chỉ đường, một ơn ban cho mọi người không trừ ai; nó có thể được tuân giữ nhờ sự trợ giúp của ơn thánh, cho dù mỗi con người nhân bản “tiến bước từ từ với sự hội nhập tiệm tiến các ơn phúc Chúa ban cũng như các đòi hỏi của tình yêu dứt khoát và tuyệt đối của Thiên Chúa trong suốt cuộc sống bản thân và xã hội của họ.”[6]
Đó chính là viễn quan mà Đức Giê-su đã sử dụng khi tiếp cận người phụ nữ Sa-ma-ri-a (x. Ga 4,1-26), hay người phụ nữ bị bắt vì tội ngoại tình (x. Ga 8,1-11). Chúng ta có thể tìm ra viễn quan của Thiên Chúa tương tự như thế trong những vấn đề và hoàn cảnh khác nữa của cuộc sống hàng ngày.
- Sự phân định:một giác quan tâm linh
Điều quan yếu hơn đó là làm thế nào để chúng ta có thể “thoát khỏi” những viễn quan cá nhân, khi chúng ta đã được trang bị quá nhiều “kiến thức” của các bộ môn khoa học thánh và tri thức khôn ngoan nhân loại, những kiến thức và kinh nghiệm mục vụ cá nhân cũng như cộng đoàn. Làm sao chúng ta có thể thực sự “đón nhận vào mình” viễn quan của Thiên Chúa khi mà chúng ta quá “đầy ắp” với những tin tưởng của lý trí và kinh nghiệm của bản thân? Thực sự, theo ĐTC Phan-xi-cô, việc mở ra với viễn quan của Thiên Chúa cũng là một loại “nhận thức” nhưng nó vượt trên logic khoa học và sự nhận biết của lý trí. Đây thực chất là lĩnh vực thuộc về “bản năng đức tin” giúp phân định “điều thuộc về Thiên Chúa”; do đó, có được sự trực giác đức tin bằng một giác quan tâm linh là điều rất cần thiết, ĐTC nói:
[…] Để chia sẻ tình thương nhiệm mầu của mình, Thiên Chúa ban cho toàn thể các tín hữu một bản năng đức tin – sensus fidei – là khả năng giúp họ phân định rõ cái gì thực sự là của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Thần Khí ban cho người Kitô hữu một sự đồng bản tính nào đó với các thực tại của Thiên Chúa, và một sự khôn ngoan giúp họ nắm bắt các thực tại ấy bằng trực giác, cả khi họ không có đủ phương tiện cần thiết để diễn tả nó một cách chính xác.[7]
Dựa vào giáo huấn trên, sự phân định có thể được hiểu như là một thứ giác quan tâm linh để có thể “trực giác” về “cái gì thực sự là của Thiên Chúa.” Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải biết sử dụng và phát triển các giác quan tâm linh, ví dụ: một “đôi tai thiêng liêng” để có thể nghe được những âm hưởng của Thần Khí, những giai điệu siêu nhiên, cũng như những âm thanh trong cuộc sống “không phải lời cũng không phải tiếng”; cũng vậy, sự phân định cần đến một “cái mũi”, một “cặp mắt” và một “cảm quan” của đôi tay thiêng liêng như khả năng “trực giác” của đức tin để nhận ra được những dấu tích, những lời thì thầm và viễn quan của Thiên Chúa (x. Tv 19).
- Sự phân định:một ân ban của Thiên Chúa
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng giác quan thiêng liêng đó không hẳn là điều mà người ta chỉ chăm chú luyện tập như việc luyện tập các kỹ năng âm nhạc, mỹ thuật hay ẩm thực. Theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định nhờ các giác quan tâm linh, trước hết và trên hết, là một ân ban của Thiên Chúa. Xác tín này được ĐTC nhắc đến trong dịp gặp gỡ các giám mục mới được tấn phong vào năm 2017 khi người nói: “Chư huynh không thể sở hữu một món quà cao quý và siêu việt đó (sự biện phân tìm viễn quan của Thiên Chúa) như thể là một ơn tất yếu kèm theo bí tích truyền chức, nhưng nó đích thực là ân ban của Thần Khí, điều mà chúng ta cần kiên trì nài xin Chúa.” Điều này gợi đến lời cầu xin của vua Sa-lô-môn tại Ghíp-ôn, ông đã xin Chúa cho được ơn biết phân định để dẫn dắt đoàn dân của Chúa (1 V 3,5-12). Như vậy, “chúng ta phải thường xuyên trở lại Ghíp-ôn để cầu xin ân ban biết phân định, điều mà vua Sa-lô-môn đã coi là quý giá hơn sự trường thọ và vinh hoa phú quí.”[8]
Như một đòi hỏi tất yếu, sự thinh lặng trong cầu nguyện và sự kiên trì khẩn nài là những tác động cần thiết để rũ bỏ viễn kiến cá nhân, cũng như mở lòng cho viễn quan của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ trong thinh lặng của cầu nguyện, chúng ta mới có thể tìm ra dấu vết và lĩnh hội được chân lý của Thiên Chúa ở một thứ ánh sáng thuộc tầm cao khác biệt.[9]
Thay lời kết
Theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định – tìm viễn quan của Thiên Chúa nhờ những giác quan tâm linh – cần đến thái độ khiêm tốn và vâng phục (Thiên Chúa). Cũng tương tự khi chúng ta đón nhận một món quà (ân ban) nào đó, sự phân định phải được đón nhận với một tâm hồn rộng mở, và sự chờ đợi một thời khắc do ý muốn của Đấng Trao Ban. Do đó, ĐTC nói: “Một điều kiện thiết yếu để tiến bộ trong sự phân định là giáo dục chúng ta trong sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và thời khắc của Người, những điều không bao giờ là của chúng ta. Thiên Chúa không ‘thiêu hủy kẻ bất trung’ (x. Lc 9, 53-54), cũng như không cho phép những người sốt sắng ‘nhổ cỏ lùng khỏi đồng lúa’ mà họ thấy đang mọc ở đó (x. Mt 13, 27-29).”[10]
Chúng ta cần rộng mở tấm lòng mỗi ngày để đón nhận niềm hy vọng từ Thiên Chúa, điều mà có thể gìn giữ chúng ta khỏi những gì là tối tăm, khó hiểu. Niềm hy vọng đó giúp chúng ta khám phá ra ân ban được tiềm ẩn trong hiện tại, mà không làm mất đi sự nhẫn nại của kế hoạch yêu thương mà Thiên Chúa dự định cho con người, điều trổi vượt biết bao trên tâm tưởng và ý muốn của con người (x. Is 55,8-9).
[1] X. POPE FRANCIS – Antonio SPADARO, “A Big Heart Open To God”, Thinking Faith, 19 September 2013, http://www.thinkingfaith.org/articles/20130919_1.htm
[2] X. Nicolas AUSTIN, “Francis: The Discerning Pope”, Thinking Faith, 9 March 2018, https://www.thinkingfaith.org/articles/francis-discerning-pope
[3] POPE FRANCIS, Address to the Bishops Ordained over the Past Year, 14 September 2017, http://w2.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2017/september/documents/papa-francesco_20170914_nuovi-vescovi.html
[4] Jorge Mario BERGOGLIO, “Writings on Jesuit Spirituality II”, Studies in the Spirituality of Jesuits, 45.4 (2014), p. 17, https://ejournals.bc.edu/ojs/index.php/jesuit/issue/archive
[5] Niềm Vui của Tin Mừng, s. 264.
[6] Niềm Vui của Tình Yêu, s. 295.
[7] Niềm Vui của Tin Mừng, s. 119.
[8] Pope Francis, Address to the Bishops Ordained over the Past Year, 14 September 2017, http://w2.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2017/september/documents/papa-francesco_20170914_nuovi-vescovi.html.
[9] Ibid.
[10] Ibid.
2021
Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam
Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam
Mở đầu Sắc Lệnh Optatam Totius, Công Đồng Vatican II khẳng định: “Việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng…
Vì tính cách duy nhất của chức linh mục Công Giáo, nên việc đào tạo linh mục là cần thiết cho tất cả các linh mục dòng cũng như triều, thuộc bất cứ lễ chế nào” (OT số 1). Chính vì thế, công cuộc đào tạo con người, đào tạo linh mục và đời sống thánh hiến là mối quan tâm hàng đầu của Giáo Hội. Để có thể thực hiện tốt sứ vụ đào tạo nhân sự cho Giáo Hội trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nhìn lại triết lý giáo dục và những nguy cơ có thể xảy ra trong việc huấn luyện con người.
- Vấn đề giáo dục ở trong Nước
Nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo tình trạng khủng hoảng giáo dục ở Việt Nam như sau:
“Giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, cái hỏng của nó có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”.[1]
Ông đề cập tới cái “lỗi hệ thống”, một thứ lỗi nền tảng nhất, sâu xa nhất và nguy hại nhất. Theo các nhà giáo dục chân chính, nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng.[2] Giáo dục của chúng ta không chỉ là “lạc hậu” mà còn “lạc đường”. Đó là một điều tồi tệ nhất và đáng lo ngại nhất! Nếu lạc hậu mà còn đúng đường thì còn ít nguy hại hơn là lạc đường, vì lạc đường là hết cách cứu chữa nếu không có đổi hướng. Bởi vì, giáo dục chỉ là “nhồi nhét kiến thức” mà ít chú trọng đến việc giáo dục con người, không huấn luyện họ trở thành những người tốt, trưởng thành, có đạo đức và có chuyên môn. Phải có sự chuyển hướng và canh tân giáo dục thực sự cách triệt để và tận căn thì mới hy vọng rằng tương lai đất nước ta được sáng sủa hơn.
- Việc đào tạo ở trong Giáo Hội
Trong công việc đào tạo linh mục – tu sỹ nam nữ của Giáo Hội, chúng ta cũng được cảnh báo về hiện tượng “nín thở qua sông” của ứng sinh; hay mô hình đào tào linh mục – tu sỹ thiếu tính thống nhất và tính toàn vẹn, đã đưa công cuộc đào tạo này rơi vào tình trạng một chiều như duy tri thức, duy tu đức, duy luân lý, hay duy kỹ năng và duy hiệu quả…
Kiểu huấn luyện một chiều thường quá chú trọng đến một phương diện mà lãng quên các phương diện khác. Chẳng hạn, lối huấn luyện duy tu đức là khuynh hướng giảm thiểu một cách nền tảng con người và toàn bộ chương trình đào tạo chỉ trong yếu tố tu đức, tâm linh mà thôi, trong khi đó lại lãng quên những yếu tố khác về nhân bản, tri thức và mục vụ; lối huấn luyện này ít quan tâm tới các vấn đề của con người, như sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm, tính dục và tương quan liên vị… của ứng sinh. Họ được huấn luyện để trở thành những con người trong trắng như “những thiên thần” vậy, mà không hề biết nhiều về những thực tại “con người”!
Hoặc lối giáo dục duy tri thức là kiểu giáo dục chỉ lo lắng trau dồi tri thức, nhồi nhét kiến thức. Đào tạo chỉ tập trung vào “cái đầu” nhưng lãng quên toàn bộ con người. Đó là “những con mọt sách” hay những người có “đầu to mà đít nhỏ”, thiếu sự quân bình trong nhân cách v.v…
Ngược lại, lối giáo dục duy kỹ năng hay duy hiệu quả là lối huấn luyện chỉ tập trung trang bị cho các thụ huấn sinh những kỹ năng sống, kỹ năng thi hành sứ vụ hay làm việc và đánh giá họ theo chỉ tiêu chuẩn hiệu quả công việc, trong khi đó lại lãng quên huấn luyện căn tính và nhân cách của họ trước. Phải tập trung huấn luyện và hình thành nơi ứng sinh “căn tính tốt” trước khi “làm việc tốt”. Cần tránh lối huấn luyện chạy theo chức năng và vai trò mà lãng quên việc huấn luyện căn tính. Vì như cha ông ta nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Phải “là” linh mục trước khi “làm” linh mục. Cần huấn luyện có căn tính tốt trước khi thi hành sứ vụ.
Cần phải có những nỗ lực canh tân kịp thời để chương trình huấn luyện phải giúp các ứng sinh thực sự được biến đổi toàn vẹn, trở thành những con người tốt, kitô hữu trưởng thành và những linh mục – tu sỹ thánh thiện để có thể đáp ứng cho những đòi hỏi của sứ vụ loan báo Tin Mừng trong bối cảnh của thế giới hôm nay.
Để thực hiện được việc canh tân đào tạo tại các Chủng Viện và Dòng Tu, trước hết chúng ta cần tránh lối đào tạo theo một mô hình một chiều, thiếu tính thống nhất và thiếu tính toàn vẹn. Cha Cencini nói tới những sự thiếu hụt có thể xảy ra trong đào tạo:[3]
Trước hết, đó là nguy cơ mô hình huấn luyện mơ hồ, nghĩa là không xác định được mục đâu là mô hình nền tảng và chính yếu để toàn bộ chương trình huấn luyện dựa vào đó làm mô mẫu và chuẩn mực. Nguy cơ thứ hai là mục tiêu huấn luyện thiếu rõ ràng. Việc huấn luyện không có mục tiêu. Nhà huấn luyện và người thụ huấn không biết sẽ phát xuất từ đâu và sẽ đi về đâu; huấn luyện để làm gì v.v… Ở đây, các mục tiêu huấn luyện không được xác định.
Một nguy cơ khác có thể xảy ra là lẫn lộn các giai đoạn huấn luyện. Trong huấn luyện thời gian tính rất quan trọng. Tiến trình huấn luyện phải được thực hiện theo từng gian đoạn như giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Mỗi giai đoạn có một sự đặc trưng riêng. Vì thế, chúng ta cần phải quan tâm và đảm bảo tính phù hợp của nó theo từng giai đoạn. Tránh lẫn lộn giao đoạn hoặc đốt cháy giai đoạn để việc huấn luyện có hiệu quả hơn.
Cuối cùng là phương pháp huấn luyện nghèo nàn. Cần loại bỏ phương pháp huấn luyện cổ điển lỗi thời. Đó là phương pháp theo kiểu:
“Trước tiên là huấn luyện tri thức, rồi huấn luyện mục vụ và nếu còn thời gian thì huấn luyện trưởng thành nhân bản. Vì thế, các giáo sư thì quan tâm đến hoạt động trí tuệ; các nhà huấn luyện quan tâm đến thực hành; các nhà linh hướng thì chăm lo phần hồn; các nhà tâm lý quan tâm đến bệnh lý; và chẳng ai quan tâm đến con người”.[4]
Việc huấn luyện linh mục và tu sỹ ngày hôm nay đòi hỏi phải là việc huấn luyện mang tính toàn vẹn về các phương diện khác nhau và quân bình cách chính đáng từng phương diện. Các thụ huấn sinh phải được huấn luyện trưởng thành và toàn nhập các phương diện tâm lý, tình cảm, tính dục, cảm xúc, ơn gọi, tính liên vị, tương quan, các đức tính nhân bản, tri thức, tu đức, mục vụ v.v… để có thể sống và làm chứng cách hiệu quả cho Tin Mừng giữa một thế giới đầy thách đố và cám dỗ như ngày hôm nay.
Tạm kết
Tương lai của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào công cuộc đào tạo nhân sự. Vì thế, hơn lúc nào hết, các Chủng Viện và các Dòng Tu cần có những nỗ lực cụ thể nhằm canh tân cách đúng đắn và triệt để công cuộc đào tạo linh mục và tu sỹ theo những đòi hỏi của Giáo Hội hiện nay, ngõ hầu việc đào tạo này mang lại nhiều hoa quả tốt đẹp cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội trong thế hiện hôm nay.
- Petrus Nguyễn Văn Hương
[1] Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, 261-263.
[2] Cf. Gm. Nguyễn Thái Hợp, Tôn Giáo Giáo Dục. Một cách tiếp cận, CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình 2009, 11-24.
[3] A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con, NXB Tôn Giáo, 154.
[4] A. Cencini và A. Manenti, (Lm. Nguyễn Ngọc Kính, ofm chuyển ngữ), Tâm lý và huấn luyện cơ cấu và năng động, Nxb Phương Đông, HCM 2011, 191.
2021
Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa
Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa
Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử hơn ai hết phải là những sứ giả của lòng thương xót Chúa:
“Tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi nhấn mạnh rằng các cha giải tội là dấu chỉ xác thực cho lòng thương xót của Chúa Cha… Các linh mục chúng ta đã nhận được ân sủng của Chúa Thánh Thần, để tha tội, và chúng ta chịu trách nhiệm về việc này. Không ai trong chúng ta nắm giữ quyền lực trên Bí Tích này; thay vào đó, chúng ta là những tôi tớ trung tín của lòng thương xót Chúa qua Bí Tích ấy” (Misericordiae vultus số 17).
Để thực sự trở thành khí cụ của lòng thương xót Chúa, các mục tử cần thực hiện một cuộc “hoán cải mục vụ” triệt để hơn, nghĩa là cần có một sự thay đổi về cách hành xử, thái độ phục vụ, tiêu chuẩn mục vụ và cả đời sống sao cho phù hợp hơn với Tin Mừng và với Giáo huấn Giáo Hội hiện nay. Sau đây là một số gợi ý giúp thực hiện cuộc hoán cải này.
1- Thương xót hơn là nghiêm khắc
Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta biết gương mặt đích thực của Thiên Chúa không phải là một gương mặt khó tính và ưa trả thù, nhưng là một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Trong tư cách là Mục Tử nhân lành, Chính Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ cứu độ nhân loại với lòng thương xót hơn là thái độ nghiêm khắc, loại trừ.
Khi khai mạc Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã chọn “lòng thương xót hơn là kết án” làm định hướng mục vụ cho Giáo Hội trong thế giới hôm nay. Ngài nói: “Giáo Hội luôn chống lại những sai lầm qua các thời đại. Giáo Hội thường lên án chúng với thái độ rất nghiêm khắc. Tuy nhiên bây giờ, Hiền Thê của Chúa Kitô ưu thích sử dụng liều thuốc của lòng thương xót hơn là sự nghiêm khắc”.[1]
Hạn từ misericordia trong tiếng Latin là sự kết hợp bởi hai từ misereri có nghĩa là đau khổ, thương xót; và từ cors nghĩa là trái tim. Nó diễn tả một trái tim biết thương xót và đau nỗi đau của người khác như trái tim của người mẹ đau nỗi đau của người con, như trái tim của Chúa Giêsu bị đâm thủng vì đau nỗi đau của nhân loại.
Còn hạn từ “nghiêm khắc” là thái độ của những người duy ý chí, nệ luật và cứng nhắc đối với người khác mà không chút xót thương, nhất là đối với những người tội lỗi.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn các mục tử của Chúa tiếp tục áp dụng nguyên tắc “thương xót” như là “liều thuốc” để đưa con người thời nay về với Thiên Chúa. Đây là dấu chỉ thời đại và cái nhìn ngôn sứ. Bởi lẽ, nếu một Giáo Hội quá nghiêm khắc, duy luật và gây khó khăn thì chẳng những không giúp được gì cho các linh hồn mà còn trở thành nguyên cớ làm cho họ xa rời Thiên Chúa.
Là hiện thân của Chúa Kitô, các mục tử trước hết phải có lòng thương xót, lòng thương cảm, hay nói cách khác, có trái tim mục tử của Chúa Giêsu để có thể đồng cảm, đồng hành và chia sẻ vui buồn với mọi người, nhất là với những người đau khổ. Nếu bác ái mục tử là linh hồn của đời sống và sứ vụ linh mục, thì hoạt động mục vụ của các mục tử phải là một sự biểu lộ đức ái của Chúa Kitô mà các mục tử là hình ảnh phản chiếu. Các mục tử phải biết biểu lộ các thái độ và hành vi của Chúa đến mức hiến mình hoàn toàn vì đàn chiên được giao phó.[2]
Ngày hôm nay, ở Việt Nam, người ta đã rất dị ứng với cung cách làm việc của những cảnh sát giao thông, của nhân viên hải quan ở một số phi trường, hoặc của một số quan chức nhà nước, bởi vì họ hành xử theo kiểu “bắt bẻ, gây khó dễ để kiếm chác”, hay theo cơ chế “xin – cho”.
Sống trong một thế giới phẳng, chủ nghĩa độc tài, độc đoán hay chủ nghĩa “giáo sĩ trị” sẽ dần dần không còn chỗ để tồn tại. Các mục tử phải tỉnh thức và xa tránh những lối hành xử trên. Thay vì thái độ khắt khe, trừng phạt và gây khó khăn, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử không bao giờ mỏi mệt trong việc thực thi và chuyển thông lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa đối với mọi người. Ngài nói rằng: “Các linh mục đừng sợ khi phải thương xót và tha thứ quá nhiều. Nếu linh mục nào đó cảm thấy mình đã tha thứ quá nhiều thì nhớ lại câu chuyện về một linh mục nọ đến cầu nguyện với Chúa rằng : “Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa vì con đã tha thứ quá nhiều, nhưng tại vì Chúa đã làm gương xấu cho con”.
Vì thế, các mục tử hãy tạo điều kiện hết sức có thể để giúp mọi người đến với Thiên Chúa và Giáo Hội. Tuy nhiên, chọn lựa hành xử theo lòng thương xót không có nghĩa là “laissez faire” – để mặc cho người ta muốn làm gì thì làm. Lòng thương xót Chúa là ân ban nhưng không luôn bao hàm sự hy sinh, kỷ luật và hoán cải từ phía con người.
2- Mục tử hơn là công chức
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhiều lần lưu ý rằng chúng ta cần tránh một thứ quan niệm giảm thiểu và phiến diện về linh mục. Theo đó, thiên chức này được coi như là một “thứ nghề nghiệp”, một “địa vị” hay “một đặc ân” trong Giáo Hội. Vì thế các mục tử hành xử như những “công chức” của Giáo Hội. Nếu là công chức, thì sau khi làm xong phận vụ, họ được tự do sống cho riêng mình. Lối nhìn này chỉ chú trọng tới chức năng mà ít chú trọng tới căn tính linh mục. Nếu căn tính của linh mục trống rỗng, thường sẽ được lấp đầy bởi những lối sống không phù hợp với chính sứ vụ linh mục. Linh mục không phải là công chức, mà còn cao cả hơn một công chức !
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Huấn về Pastores Dabo Vobis định nghĩa căn tính và sứ vụ linh mục như sau:
“Linh mục là hình ảnh sống động và trong suốt của Đức Kitô Linh Mục (Cf. PDV 12). Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được biến biến đổi ngay trong chính con người của mình, nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử; linh mục tham dự vào sứ vụ “loan báo Tin Mừng cho người nghèo nhân danh Chúa Kitô và thay mặt Chúa Kitô” (PDV, số 18).
Khi nói về mối liên hệ giữa linh mục với Chúa Kitô và Dân Chúa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô quả quyết: “Linh mục chân chính là người được Thiên Chúa xức dầu để phục vụ Dân Chúa, linh mục có quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: khi thiếu quan hệ này, thì linh mục trở thành người không còn được xức dầu nữa, thành người thờ ngẫu tượng, thờ thần là cái tôi của mình”. Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Nếu linh mục xa Chúa Giêsu, linh mục phải tìm bù trừ tình trạng này bằng những thái độ trần tục khác. Và như thế có những thứ linh mục kinh tài, linh mục doanh nhân…”.
Vượt lên chủ nghĩa công chức (fonctionnalisme), Đức Giáo Hoàng mời gọi các mục tử hãy “mang lấy mùi chiên”. Mang lấy mùi chiên là gì nếu không phải là trở nên một người mục tử ở giữa đoàn chiên, gần gũi với đàn chiên và sống chết cho đàn chiên.
Nhưng theo thiển ý, để mang “mùi chiên” trước hết linh mục phải có “mùi mục tử”, để chiên ngửi thấy mùi đó mà theo như Chúa Giêsu nói: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10,27). Mùi mục tử là mùi hương nhân đức của Chúa Giêsu; là mang lấy tâm tình và cách sống của Chúa; là nên giống Chúa Giêsu. Linh mục được xức dầu để có mùi mục tử. Đây là yếu tố làm nên căn tính của linh mục.
Như thế, nếu linh mục không có “mùi mục tử” thì chỉ là những kẻ chăn thuê, chỉ là người quản trị, là một công chức. Công tác mục vụ chỉ là một thứ dịch vụ. Chức linh mục chỉ là một thứ nghề nghiệp, hay một địa vị trong Giáo Hội mà thôi. Từ đó ta mới hiểu tầm quan trọng của chữ “là linh mục” (l’être) quan trọng biết bao so với chữ “làm linh mục” (le faire).
3- Thay đổi cung cách và phương thức phục vụ
Câu chuyện thần thoại cổ của Sufi nói về Người săn dưa hấu phần nào làm sáng tỏ vấn đề đang được nói ở đây:
Ngày xưa, có một người đi lạc vào trong một thế giới gọi là đất của những Kẻ Ngu Xuẩn. Ít lâu sau, anh thấy một số người đang gặt lúa mì trong ruộng tan tác, tán loạn. Họ bảo anh: “Trong ruộng có một con quái vật”. Anh nhìn và phát hiện ra đó không phải là quái vật mà chỉ là một quả dưa hấu. Anh tự nguyện giết con “quái vật” ấy giùm họ. Anh cắt cuống dưa, rồi xắt thành từng miếng mỏng, và bắt đầu ăn. Dân bắt đầu sợ anh hơn cả trước đây họ sợ quả dưa hấu. Họ lấy đòn cản đuổi anh đi và nói: “Không đuổi hắn đi, hắn sẽ giết chúng ta mất”.
Rồi sau đó, một người khác cũng lạc vào vùng đất ấy, và anh này cũng gặp phải những chuyện y như anh trước. Nhưng, thay vì tình nguyện giết chết “quái vật”, anh này đồng ý với dân làng làm con quái vật ấy đúng là nguy hiểm thật, rồi cùng với dân làng, anh rón rén bỏ chạy, anh đã chinh phục được dân. Anh ở lại với dân ấy một thời gian dài cho tới khi, từng bước một, anh dạy họ những sự kiện căn bản, giúp họ không chỉ sợ dưa hấu, mà thậm chí còn gieo trồng dưa hấu nữa.[3]
Trong câu chuyện này, người thứ nhất đến với dân, anh có lòng tốt, có thiện chí, và đã làm mọi sự có thể để giúp họ, nhưng kết quả là anh càng làm thì dân càng sợ anh và xa lánh anh. Tại sao? Tại vì anh chưa đứng về phía dân, chưa lắng nghe họ và hiểu họ. Anh thất bại !
Trái lại, người thứ hai đến với dân, nhưng anh có một lối tiếp cận khác, anh đứng về phía họ, suy nghĩ và hành xử như họ. Dần dần anh chinh phục được họ và từ đó, anh biến đổi dân từ việc sợ “quái vật dưa hấu” đến việc biết cách trồng dưa hấu. Anh đã thành công !
Câu chuyện trên chứa đựng những bài học thật ý vị cho các mục tử khi thi hành sứ vụ. Trong giáo phận, có rất nhiều mục tử thành công, được giáo dân yêu mến và kính trọng, bởi vì các ngài đã sống như người thứ hai trong câu chuyện. Tuy nhiên, cũng không thiếu những mục tử thất bại hay gặp khó khăn và không được đón nhận bởi vì đã hành xử như người thứ nhất.
Trong bối cảnh xã hội hôm nay, các mục tử cần có một sự hoán cải về cung cách và phương thức phục vụ. Cuộc hoán cải này bao gồm sự thay đổi về lối sống, thái độ và cách thế hiện diện khi phục vụ.
Con người thời nay sống vô cảm, hời hợt và chuộng hình thức bên ngoài. Người mục tử là người sống đơn giản, bình dị, chân thành và thân thiện với mọi người.
Con người thời nay thích khẳng định mình bằng quyền lực, của cải vật chất, thích “gồng mình” để tỏ ra quan trọng, hơn người, nhưng lại hay đòi hỏi nhiều và thường hay bất mãn với cuộc sống. Người mục tử sống như là một người phục vụ bình thường, vui tươi, thánh thiện, biết đón nhận mọi hoàn cảnh với thái độ an nhiên tự tại và âm thầm phục vụ theo tinh thần men muối giữa đời.
Thay vì lấy trọng tâm mục vụ là công việc và thành quả hay vật chất, người mục tử biết lấy con người làm trọng tâm của mục vụ, từ đó hằng ngày xây dựng tốt các mối tương quan liên vị với mỗi người trong cộng đoàn cách thân thiện và thánh thiện. Để nhờ những nhịp cầu này, người mục tử đưa các linh hồn đến với Thiên Chúa.
Thay vì thích dùng quyền áp đặt và bắt người khác làm theo ý mình, người mục tử khiêm tốn, nhẹ nhàng đối thoại, biết tôn trọng ý kiến người khác, đa diện trong cách nhìn, mềm dẽo trong cách hành xử, biết thấu hiểu và cảm thương những hoàn cảnh và nỗi đau của từng người trong cộng đoàn được giao phó.
Noi gương Đức Kitô, Đấng không phân biệt đối xử, người mục tử biết mở rộng cửa đón tiếp mọi người mà không loại trừ ai, tận tụy phục vụ họ, đặc biệt là những người đau khổ, nhỏ bé, các trẻ em, những người gặp khó khăn, bị loại trừ và người nghèo. Mục tử phải mang tình yêu và lòng thương xót của Vị Mục Tử Nhân Lành đến cho mọi người.[4]
Khi phục vụ người khác, người mục tử biết đón nhận họ như họ là, không thành kiến và chấp nhận những ưu điểm cũng như cả những khuyết điểm của họ. Từ đó, khi có thể, với sự kiên nhẫn và khôn ngoan, vị mục tử dần dần tìm cách để chinh phục họ, hướng dẫn và giúp họ thay đổi theo những tiêu chuẩn và giá trị Tin Mừng. Có lẽ đây là bí quyết để thành công trong mục vụ.
Khi thi hành tác vụ, các mục tử có thể bị chính quyền, các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị lôi kéo đứng về phía họ để giải quyết những vấn đề liên quan hay để tìm sự hậu thuẫn và lợi ích khác nhau. Các mục tử cần cẩn trọng, khôn ngoan và có lập trường rõ ràng để biết phân định từng vấn đề, phân biệt phạm vi và sứ vụ của mình, để khỏi bị lôi kéo vào một vị trí không thuộc sứ mạng của người mục tử. Với tư cách là người của Giáo Hội, các mục tử biết đứng về phía Dân Chúa để hướng dẫn và bảo vệ họ.
Ngoài ra, câu chuyện trên còn nói thêm điều này nữa. “Ta thường nghĩ rằng phục vụ có nghĩa là cho người khác một cái gì đó, dạy cho họ nói năng, hành động hoặc cư xử; nhưng nay phục vụ khiêm tốn, đích thực trước hết chính là giúp người khác khám phá ra rằng họ đang sở hữu những tài năng rất lớn nhưng thường ẩn khuất, đến độ họ có thể hơn cả những gì ta có thể làm cho họ”.[5]
4- Đón nhận đau khổ khi thi hành sứ vụ
Tình yêu và đau khổ luôn đi liền với nhau. Bởi vì yêu thương nên mới đau khổ. Chân lý đó được minh chứng qua cuộc đời và sứ mạng của Đức Kitô. Quả thế, khi thi hành sứ vụ, thập giá luôn gắn liền với sứ vụ cứu độ của Đấng Cứu Thế. Đức Giêsu cũng phải trải qua những kinh nghiệm thất bại, chống đối, bị sỉ nhục mà tột đỉnh của nó là cái chết đau đớn trên thập giá.
Cuộc đời không phải luôn là một thảm hoa màu rực rỡ mà không có những gai nhọn. Sẽ rất ảo tưởng nếu chỉ thấy đời mục tử toàn là những thành công mà không có thất bại, đau khổ và chống đối. Trong cuộc sống của người mục tử, có những nỗi đau vì không được cảm thông; có những hiểu lầm vì không được lắng nghe; có những thất bại xảy ra ngoài ý muốn.
Vì thế, người mục tử không chỉ biết đón nhận những thành công nhưng còn phải biết đón nhận những thất bại và đau khổ trong đời sống linh mục. Có thể nói đau khổ thường gắn liền với sứ vụ mục tử. Chính đau khổ làm cho vị mục tử nên giống Đức Kitô hơn. Khi đau khổ, chỉ có ai biết ngước nhìn lên thập giá mới khám phá ý nghĩa của đau khổ. Thập giá là sức mạnh để các mục tử không quỵ ngã trước thử thách. Thập giá mang lại hy vọng để kiên nhẫn đón nhận những biến cố đau thương của ngày Thứ Sáu và biết hy vọng đời chờ hoa quả cứu độ của ngày Chúa Nhật Phục Sinh.
Khi suy mầu nhiệm sự Thương, chúng ta ngắm: “Thứ ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai, ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”. Như thế, chúng ta xin cho biết đón nhận những đau khổ, chịu sỉ nhục và cả thất bại trong đời sống của mình theo thánh ý Chúa.
Nếu chúng ta biết đón nhận đau khổ và thất bại trong mục vụ với thái độ đức tin, thì đó sẽ là cơ hội giúp chúng ta lớn lên về các nhân đức. Thánh Ignatiô Loyola tự rèn luyện mình bằng cách xin chịu đau khổ và sỉ nhục như là phương thế để tránh sự kiêu ngạo và vì danh Chúa được vinh hiển. Theo ngài, có ba bậc khiêm nhường: thứ nhất là xin Chúa dẫn ta tới sự nghèo khó tinh thần tột bậc, bậc thứ hai là xin Chúa dẫn ta đến sự ước ao chịu những nhục nhã và khinh bỉ đối lập với danh vọng thế gian, bởi vì do hai điều này mà có sự khiêm nhường; bậc thứ ba là sự khiêm nhường đối lập với kiêu ngạo; và từ ba bậc thang này dẫn ta tới mọi nhân đức.[6]
Tạm kết
Nếu để tìm một hình ảnh sống động của một mục tử trong Giáo Hội hiện nay đang thu hút và lôi cuốn mọi người, thì không ai khác hơn chính là Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Với cương vị là một vị Giáo Hoàng đứng đầu Giáo Hội, ngài có bao nhiêu bổn phận và bận rộn công việc hằng ngày, nhưng vị Giáo Hoàng đó mỗi lần xuất hiện với dân chúng, người ta gặp thấy một vị mục tử hồn nhiên, vui tươi, thân thiện và khiêm tốn. Đức Phanxicô toát lên một vẽ đẹp đáng quý và đáng yêu của một người mục tử chân chính, một mục tử có niềm vui thực sự của Chúa Kitô, một mục tử có đầy tràn Thần Khí. Vị Giáo Hoàng này không áp đặt ai, không loại trừ ai, nhưng với cung cách khiêm tốn, chân thành, và khôn ngoan, Ngài thu phục mọi người về với Chúa. Ngài quả là tấm gương phản chiếu dung mạo đích thực của vị Mục Tử nhân lành. Bởi vì Ngài đã sống những giá trị của Tin Mừng và thực thi sứ vụ mục tử theo một cung cách rất nhân bản và nhân văn.
Dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận Vinh 31/12/2015
Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hương
[1] www.vatican2voice.org/91docs/opening_speech.htm. All papal quotes for this book are from the Vatican website.
[2] x. PO 14.
[3] Shah Indries, The Way of the Sufi, New York: E. P. Dutton & Co., Inc. 1970 tr. 207 tt.
[4] Kim Chỉ Nam về Tác vụ và Đời sống Linh mục, Nxb. Tôn giáo 2013, tr. 89.
[5] Henri Neuwen et alii, Lòng thương xót, Nxb. Tôn giáo 2002, tr. 106-107.
[6] Ignatiô Loyola, Linh Thao, 146.
2021
Hôn nhân Công Giáo: Các bế tắc và hướng giải quyết
Hôn nhân Công Giáo: Các bế tắc và hướng giải quyết
Các vấn đề nan giải, các vướng mắc và các bế tắc trong đời sống hôn nhân nói chung và trong đời sống hôn nhân Công giáo nói riêng rất đa dạng: Từ các khó khăn về kinh tế, cho đến sự khác biệt về tính tình, văn hóa, quan điểm sống, tôn giáo, xã hội, khuynh hướng chính trị.
Trên thực tế xã hội ngày nay, dù ở Âu-Mỹ hay ở Á-Phi, đặc biệt các gia đình đông con thường rơi vào tình trạng thiếu thốn và nghèo đói về vật chất. Đây là một thực tại cụ thể thu hút nhiều nhất sự quan tâm của toàn xã hội, kể cả các xã hội tại các nước Âu-Mỹ giàu có. Nhưng chúng ta cũng không được phép bỏ qua một tình trạng nghèo nàn và thiếu thốn sâu rộng khác đã luôn luôn đóng vai trò không nhỏ, nếu không muốn nói là đóng vai trò chủ chốt, trong cuộc sống an vui hạnh phúc hay rời rạc và bất hạnh cho các gia đình: Vấn đề tâm linh tín ngưỡng, hay nói rõ hơn, vấn đề sống đức tin Công giáo! Nhiều bậc cha mẹ đã không thành công trong việc gieo vãi đức tin Công giáo và làm cho nó bén rễ sâu trong tâm hồn con cái của họ, có lẽ do phần lớn những bậc cha mẹ này hoặc vốn liếng hiểu biết về các giáo lý quá ít ỏi nông cạn hoặc không sống và không thực hành các giáo lý một cách cẩn thận. Vì người ta không thể cho người khác điều mình không có. Đó thường là nguyên nhân chính khiến con cái họ có thái độ thờ ơ lạnh nhạt đối với đời sống đức tin. Và một điều đáng buồn khác cũng không phải là nhỏ, khi một trong hai vợ chồng bỏ rơi người còn lại một mình trong cuộc sống đức tin.[1]
Nhưng sự khủng hoảng gây đau khổ nhiều nhất cho mọi thành phần của gia đình, đó là khi các đôi vợ chồng không thể dẹp bỏ được sự tự ái cá nhân và tìm làm hòa với nhau, để cứu vãn cuộc sống hạnh phúc gia đình, nhưng sống chia rẽ nhau, sống ly thân, hay tồi tệ hơn nữa, ly hôn, tức họ tự tiện xóa bỏ giao ước hôn nhân, mà họ đã long trọng thề hứa với nhau trước bàn thờ Chúa, và qua đó, họ xóa bỏ gia đình và hạnh phúc của nó. Vâng, hiện tượng ly hôn là nguyên nhân chủ chốt gây ra bao bất hạnh cho cả gia đình, cho con cái và cho chính đôi vợ chồng. Vì thế, đây là một chủ đề hết sức quan trọng[2] mà chúng ta sẽ trình bày trong những dòng tiếp sau đây.
Tình trạng ly hôn và những phức tạp kèm theo
Một điều quá hiển nhiên không ai phủ nhận được, đó là con số các đôi vợ chồng ly hôn hay ly dị trong mấy thập niên vừa qua đã tăng nhanh một cách đáng sợ: Ở các các nước Bắc Âu vào khoảng trên 60%, còn ở Tây Âu vào khoảng từ 40 đến 50%. Sự khủng hoảng gia đình này đã ảnh hưởng trực tiếp không những đến những người liên hệ, đến xã hội, mà còn đến cả Giáo Hội nữa. Chắc hẳn tất cả chúng ta cũng đã tận mắt chứng kiến cảnh đổ vỡ của các gia đình, những phức tạp và những bất hạnh kèm theo của những người sống ly thân, ly hôn và rồi lại tiếp tục lập gia đình mới với người khác. Đó quả một sự mất mát, bất an và đau khổ to lớn nhất cho toàn thể gia đình nói chung và nhất là cho các con cái nói riêng, những thành phần mà người ta không được phép quên sót. Và dĩ nhiên, trong những trường hợp phức tạp và thương tâm ấy, việc thực hành, gìn giữ và thăng tiến đức tin Kitô giáo của mình một cách đầy hân hoan và xác tín quả là một thách đố không nhỏ, nếu không muốn nói là hầu như bất khả.
Nhưng đâu là lối thoát khả dĩ? Hay đâu là những giải quyết mà người ta có thể khám phá ra được dưới ánh sáng của tình yêu Đức Kitô?
Trong vấn nạn này, các quan điểm và các ý kiến trong Giáo Hội phần lớn không đồng đều và rất khác biệt nhau. Một ví dụ điển hình: Nhân dịp Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI thăm mục vụ Đức quốc vào tháng 9 năm 2011, một Tổng Giáo phận tại đây đã cho xuất bản một số tập tài liệu về các vấn đề phụng vụ và đời sống thiêng liêng. Một trong số các tập tài liệu ấy, người ta đọc thấy: “Hai vấn nạn được đặt ra cho ĐTC Bênêđictô XVI,”[3] Vấn nạn đầu tiên trong hai vấn nạn được đặt ra là: Cho phép những người sau khi ly hôn và lại tái kết hôn được rước lễ. Tác giả của hai vấn nạn đó là một vị giáo sư thần học đã nghỉ hưu. Ông đã trình bày vấn đề trong hơn 7 trang giấy. Cuối bài viết, ông đã dựa theo nguyện vọng của nhiều người khác cùng đồng quan điểm, xin Đức Thánh Cha xem xét lại nguyện vọng của các Đức Giám mục Đức thuộc miền thượng lưu sông Rhein, tức miền tây nam Đức, gồm các Tổng Giáo phận và Giáo phận: Freiburg, Rottenburg-Stuttgart và Mainz, là những vị vào năm 1993 đã công bố một Thư Mục Vụ chung cho cả ba giáo phận, trong đó các vị đã bày tỏ ý kiến muốn cho phép những người đã ly hôn và lại đã tái hôn được phép rước lễ với một số điều kiện nhất định, ví dụ: những người vợ hay chồng vô tội trong vấn đề ly dị, tức những người vợ hay chồng bị chồng hay vợ mình bỏ rơi một cách bất công. Nhưng một năm sau đó, trong một Thư Chung gửi tất cả các Giám mục Công giáo trên khắp thế giới, Bộ Giáo lý Đức tin đã bác bỏ ý kiến ấy.[4]
Ví dụ chúng ta vừa dẫn chứng cho thấy rằng, trên nguyên tắc, chương trình mục vụ cho những người ly hôn trong các vùng lãnh thổ nói tiếng Đức vẫn đang trên đường tìm kiếm một lối thoát hay một đường hướng đi khả dĩ. Còn trên thực tế, rất nhiều vị linh mục, mà người ta thường gọi là các linh mục “cấp tiến” hay “cởi mở“, đã tỏ thái độ khoan dung đối với những người tín hữu ly hôn và đã tái kết hôn bằng cách âm thầm “làm ngơ” để họ lên rước lễ, nếu không muốn nói là nhiều vị còn mời họ đến tham dự Bàn Tiệc Thánh như các tín hữu khác. Trong khi đó, các linh mục muốn tuân giữ nghiêm ngặt các chỉ thị và hướng dẫn của Tòa Thánh lại cảm thấy mình đang phải đối mặt với một tình huống mục vụ vô cùng phức tạp và “khó xử” và phải mang một tâm trạng day dứt “bỏ thì thương, vương thì tội.”
Vấn đề mục vụ cho những người ly hôn và lại đã tái hôn tại một số quốc gia khác như tại Bỉ, Pháp, Áo hay Canada, v.v.. cũng đã đưa ra những đường lối mới mẻ, tuy nhiên, vẫn không vượt quá xa khỏi giới hạn các chỉ dẫn của Giáo Hội.[5]
Giải quyết dưới ánh sáng tình yêu Đức Kitô, nhưng như thế nào?
Đây là một vấn đề mục vụ khó khăn, tế nhị và quan trọng của Giáo Hội, vì nó liên quan trực tiếp đến con người và hạnh phúc của họ: từng cá nhân, từng hôn nhân, từng gia đình và toàn xã hội. Do đó, vấn đề cần phải được giải quyết dưới ánh sáng của tình yêu Đức Kitô. Nhưng nếu người ta tìm cách giải quyết vấn đề ấy dưới ánh sáng tình yêu Đức Kitô, người ta không được phép loại bỏ chân lý của Người. Bởi vì, không thể gọi là tình yêu đích thực được, khi người ta không thể hiện tình yêu ấy trong chân lý. Ở đây câu nói của Đức Giêsu mang trọn vẹn ý nghĩa của nó: “Chân lý sẽ giải thoát các ngươi!” (Ga 8,32). Và thuộc về chân lý ấy là Sứ điệp Tin Mừng của Người về tính chất bất khả tháo cởi của Bí tích Hôn nhân. Trong vấn đề này, khi Giáo Hội rao giảng và bảo vệ tính chất bất khả phân ly hay bất khả tháo cởi của Bí tích Hôn nhân, Giáo Hội không rao giảng một giáo huấn riêng của mình, nhưng là một chân lý mặc khải về một thực tại mà Giáo Hội không có quyền thay đổi. Giáo Hội chỉ có quyền và có bổn phận rao giảng và bảo vệ mà thôi: Sự bất khả tháo cởi của Bí tích Hôn Nhân, vì “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6b). Đây là mệnh lệnh và nguyên tắc bất di dịch của Thiên Chúa.
Theo tinh thần Bí tích Hôn nhân, những người sống bậc hôn nhân Công giáo được kêu mời làm chứng cho sự trung tín vô điều kiện của Thiên Chúa đối với nhân loại trong chính sự chung thủy hôn nhân của mình. Qua Bí tích Hôn nhân, tình yêu vợ chồng mang một giá trị vô cùng thánh thiêng và cao cả, chứ không chỉ là một tình yêu thuần tuý nhân loại giữa một người nam và một người nữ mà thôi. Bởi vì, một khi tình yêu vợ chồng đã được thánh hóa bởi Bí tích Hôn nhân, bởi ân sủng của Thiên Chúa, thì nó trở thành nhân chứng cụ thể của tình yêu Đức Kitô đối với nhân loại, Đấng đã vì yêu nhân loại và muốn cho nhân loại được hạnh phúc chân thật, nên tự hiến thân mình đến chịu chết trên thập giá.
Vì thế, cả khi những người vợ chồng sống ly thân hay ly hôn, thì sợi dây hôn nhân nối kết giữa họ vẫn tiếp tục tồn tại, vì sự nối kết hôn nhân ấy được đặt nền tảng trên hôn ước mà chính Thiên Chúa đã thiết lập và cũng đã đóng ấn niêm phong. Điều đó muốn khuyến khích tất cả những người, vì hoàn cảnh bất đắc dĩ nào đó, đang phải sống trong tình trạng ly thân hay ly hôn, cần phải giữ sự chung thủy với người bạn đời mà một lần mình đã long trọng thề hứa trước bàn thờ Chúa là dù trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống cũng sẽ giữ lòng chung thủy trọn đời, và từ chối một quan hệ mới có tính cách vợ chồng. Để thực hiện được điều đó, họ cần tới những sự nâng đỡ thiêng liêng và tinh thần của Giáo Hội, cũng như một sự thông cảm, cùng đồng hành và chia sẻ đầy nhân bản của gia đình và bạn bè.
Khi một hôn nhân bị đổ vỡ bao giờ cũng kéo theo những tổn thương sâu xa về mặt tinh thần như một hậu quả tất yếu. Vì thế, những người liên hệ cần phải được hướng dẫn với sự chia sẻ và thông cảm chân thành, trên từng bước tiến dần tới sự tha thứ cho nhau và có lẽ với thời gian cả từng bước tiến tới sự hòa giải với nhau nữa.
Tất cả những sáng kiến mới mẻ về vấn đề mục vụ cho những người ly hôn được thực hiện trong khuôn khổ các biện pháp và các hướng dẫn của Giáo Hội sẽ mang một giá trị đặc biệt, là giúp cho những người ấy xác tín vào các kế hoạch từ muôn thủa của Thiên Chúa dành cho hôn nhân và gia đình, như Giáo Hội vẫn rao giảng. Hơn nữa, như vừa nói trên, tính chất bất khả phân ly của thể chế hôn nhân và gia đình Công giáo là chân lý do Thiên Chúa mặc khải, chứ không phải do Giáo Hội thiếp lập ra, nên Giáo Hội không có quyền thêm bớt, sửa đổi hay loại bỏ. Nhờ thế, những người ly hôn sẽ nhận ra rằng, ơn gọi sống bậc hôn nhân của họ luôn vẫn là cùng với Giáo Hội làm nhân chứng cho kế hoạch bất di dịch của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình giữa lòng xã hội thế tục.
Sự tha thứ là hoa quả của lòng thương xót
Trong Phúc Âm không chỉ có tiệc cưới Cana, nhưng nhất là thập giá cũng phải được coi như một sự kiện nói lên một cách hùng hồn sự quan tâm của Thiên Chúa đối với hạnh phúc con người nói chung và hạnh phúc hôn nhân gia đình nói riêng. Sự thông cảm tha thứ chân thành là hoa quả của lòng từ bi nhân hậu và đại lượng bao dung mà Thiên Chúa đã bày tỏ cho chúng ta cuộc tử nạn trên thập giá của Đức Kitô. Chính trong sự nhắc lại và hiện tại hóa Hy Lễ thập giá của Chúa qua việc cử hành Thánh Lễ, những người ly hôn sẽ kín múc cho mình sức mạnh và sự hỗ trợ nội tâm cần thiết để bảo toàn và làm nảy nở tình nghĩa thiết với Đức Kitô trong đức tin, trong hy vọng và trong tình yêu – dĩ nhiên trong cả tình yêu đối với người bạn đời “vắng mặt” của mình nữa. Và trong suốt dòng lịch sử của Giáo Hội đã từng có biết bao chứng nhân can đảm và sống động cho sự tha thứ bao dung ấy.
Tất nhiên những người sống ly thân và ly hôn rất có thể được phép rước lễ, nếu họ sống trong tình trạng ơn thánh. Nhưng nếu họ lại có những quan hệ kiểu vợ chồng, thì bấy giờ họ lại rơi vào tình trạng bất bình thường, như ĐTC Gioan Phaolô II đã trình bày minh bạch trong Tông Thư Familiaris Consortio của ngài,[6] và vì thế họ không còn được phép rước lễ nữa. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ bị kỳ thị, bị loại bỏ và không còn thuộc về Giáo Hội nữa. Vì những gì đã được đặt nền tảng trong Bí tích Thánh Tẩy thì luôn luôn vẫn tồn tại. Nói cách khác, những người qua tình trạng cuộc sống hiện tai, tuy không hội đủ điều kiện để được phép rước lễ thực tiễn, vẫn luôn là thành viên của Giáo Hội, là chi thể của Đức Kitô và là con cái của Cha trên trời, nên họ luôn có thể sống kết hiệp mật thiết cách thiêng liêng với Đức Kitô trong phép Thánh Thể qua lòng ao ước thiết tha và kinh nguyện sốt sắng, mà người ta thường gọi là “rước lễ thiêng liêng”. Vâng, họ sống tinh thần đạo hạnh và khiêm tốn của người thu thuế được nhắc đến trong Tin Mừng thánh Luca: “Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa cầu nguyện: Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội“. Và Đức Giêsu đã nói về anh ta: “Tôi nói thật cho các ông biết: người này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được trở nên công chính rồi” (Lc 18,13tt).
Sự thông cảm bao dung không thay đổi được thực tại tội lỗi
Nếu những người sống ly thân, ly hôn và tái kết hôn, mặc dù vẫn có chỗ đứng chính thức trong Giáo Hội, vẫn được quyền đòi hỏi nơi Giáo Hội sự săn sóc mục vụ cho những nhu cầu tâm linh cần thiết của mình như mọi người khác, thì theo quan điểm nhất quán của Giáo Hội, không phải tất cả mọi lối sống đều mang đầy đủ các giá trị ngang nhau. Nói cách khác, nếu vì lòng nhân từ bao la của Người, Thiên Chúa có thể làm nên một điều thiện hảo nào đó từ sự dữ do chúng ta gây ra, thì không có nghĩa là điều đó có thể biện minh cho việc chúng ta cứ tiếp tục làm điều dữ. Tội lỗi luôn vẫn là tội lỗi. Tội lỗi chỉ được xóa bỏ, khi đương sự thật lòng sám hối ăn năn, cải thiện cuộc sống và trở về cùng Thiên Chúa.
Cũng như Đức Giêsu, Giáo Hội không hề kết án những người sống trong tình trạng bất bình thường, trong tình trạng tội lỗi, nhưng Giáo Hội luôn kết án những tình trạng bất bình thường, những tình trạng tội lỗi, vì chúng tách rời con người ra khỏi Thiên Chúa, vì chúng trói buộc và giam cầm con người trong sự bất hạnh không lối thoát. Dĩ nhiên, Giáo Hội luôn tìm gặp và đón nhận tất cả những người sống trong những tình trạng ấy với vòng tay rộng mở, với tất cả sự kính trọng và đầy yêu thương. Nhưng đồng thời Giáo Hội cũng không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa tương đối hóa. Giáo Hội không bao giờ đánh giá tất cả mọi lối sống đều mang cùng giá trị như nhau. Bóng tối không thể hòa lẫn với ánh sáng. Tội lỗi không thể hòa lẫn với sự trọn lành được.
Tất cả những điều ấy muốn khẳng định rằng:
- Tốt nhất là thà cùng nhau chung sức tìm kiếm giải pháp khả dĩ cho những khủng hoảng, những vướng mắc và những bế tắc của hôn nhân và gia đình còn hơn là từ bỏ nhau để sống trong bất an và trong bất hạnh, không những cho chính mình, mà còn cho con cái và cho cả đại gia đình cũng như cho toàn xã hội nữa.
- Tốt nhất là những người sống ly thân thà cố gắng tiếp tục giữ lòng chung thủy với người bạn đời của mình, còn hơn là lại lập gia đình theo phép đời.
- Tốt nhất là nếu những người ly thân đã tái lập gia đình theo phép đời, thì cả hai người nên cố gắng sống với nhau như hai anh em, còn hơn là có những quan hệ kiểu vợ chồng.
Dĩ nhiên, trong cuộc sống cụ thể đời thường, chắc hẳn những gợi ý trên thoạt đầu khi mới đọc qua người ta sẽ có ngay cảm tưởng là một điều vô cùng khó khăn, hầu như bất khả thi, nếu không muốn nói là một điều thiếu thực tế, quá lý tưởng, đến nỗi hầu như giả tưởng vậy. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, trong số những người không may phải rơi vào hoàn cảnh sống chẳng đặng đừng như thế, chắc chắn không thiếu những người đầy thiện chí luôn muốn tìm kiếm cho cuộc sống tâm linh của mình một lối thoát, một sự an bình, thì đây hẳn là những gợi ý cần thiết giúp họ tìm cho mình một quyết định hợp với luân thường đạo lý tự nhiên, hợp với tiếng nói của lương tri và nhất là hợp với thánh ý Thiên Chúa Tạo Hóa, Đấng ngay lúc khởi đầu khi dựng nên con người gồm có nam có nữ và phối hợp họ thành vợ chồng, đã muốn họ suốt đời sống chung thủy với nhau.
Nhưng một điều chắc chắn là dù sống trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cần nắm chặt lấy bàn tay Đức Kitô đang giơ ra chờ đón và kêu mời tất cả chúng ta, Đấng muốn hướng dẫn chúng ta vượt lên trên chính những khả năng và những điều kiện tự nhiên của chúng ta, để cùng với Người bước đi trên con đường tình yêu quảng đại, trên con đường tha thứ bao dung và trên con đường từ bỏ chính mình, mà Người đã từng một lần bước đi. Nếu chúng ta tiếp tục bước đi trên những con đường ấy với Chúa, dần dà có lẽ chúng ta sẽ khám phá được rằng, sau một thời gian dài, khi vết thương lòng đã được hàn gắn, sự tự ái cá nhân cũng đã lắng xuống và lý trí đã có thể đóng vai chủ động hơn, bấy giờ một sự hòa giải, một sự làm hòa với nhau hoàn toàn có thể xảy ra.
Ở đây, có lẽ chúng ta cần ghi nhận hai điều quan trọng:
Thứ nhất, người ta chỉ có thể tìm gặp được tương lai đích thực và hạnh phúc bền vững của mình trong cuộc sống trên Nước Trời, chứ không phải nơi các sự vật thể chất và trong cuộc sống trần thế.
Thứ hai, nếu trên thực tế, những người ly hôn chính là những người phải gánh chịu sự tổn thương về tinh thần lẫn vật chất, gây ra bởi sự đổ vỡ của tình yêu hôn nhân, của đời sống vợ chồng, và phải trải nghiệm sự khó khăn và vất vả trong công việc một mình phải chăm sóc và giáo dục con cái, thì họ không nên để mất hết hy vọng. Thánh Phaolô đã có những lời an ủi và động viên cần thiết cho những người đang phải sống trong khó khăn và thử thách như họ: “Chúng ta tự hào khi phải gian truân, vì biết rằng: Ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là người trung kiên, thì có quyền trông cậy” (Rm 5,3-4). Chính sự trung kiên củng cố và bảo đảm cho sự chung thủy hôn nhân, và đến lượt sự chung thủy hôn nhân dẫn đưa tới niềm hy vọng.
Nói tóm lại, ở đâu lòng chung thủy hôn nhân trong khi vắng bóng người bạn đời của mình là một con đường của thách đố và của đau khổ, thì đồng thời nó cũng có thể trở thành con đường của sự thánh thiện, của sự trọn lành. Những Kitô hữu Armenien sau khi đã phải trải qua những cuộc bắt đạo tàn bạo khủng khiếp của người Hồi giáo, đã phát biểu kinh nghiệm của họ: “Trong mỗi cây Thánh Giá đều chứa ẩn một cây sự sống”. Chúng ta cũng đừng quên rằng, tình yêu chỉ thể hiện mình thực sự trong những quyết định can trường và đòi hỏi sự hy sinh. Vào cuối đời sống trần thế của mình, mỗi người trong chúng ta sẽ bị đoán xét theo tình yêu của mình.[7] Sự thưởng công hay án phạt của mỗi người đều dựa trên tình yêu thương đối với cận nhân mà người ấy đã thực hiện và đã thực hiện như thế nào, hay không thực hiện.
Nếu vậy, tình yêu của những người tuy phải sống ly thân hay ly hôn nhưng vẫn luôn giữ lòng thủy chung với người vợ/chồng vắng mặt của mình, thật mạnh mẽ và nên công đức trước tòa Thiên Chúa biết chừng nào! Cũng vậy, tình yêu của những người sống ly hôn và nay vì hoàn cảnh cuộc sống thực tế đòi hỏi nên đã tái kết hôn theo phép đời, nhưng vẫn luôn ý thức được luật Chúa và biết coi tình yêu mới ấy là tình thương yêu hỗ trợ nhau, chứ không phải tình yêu lứa đôi bình thường, và cũng đã can đảm sống với nhau như thể anh em, chứ không phải như vợ chồng, thật mạnh mẽ, thật kiêu hùng và thật đáng thưởng công trước tòa Thiên Chúa biết chừng nào!
Qua đức tin Kitô giáo, chúng ta cảm nhận được chân lý này, là những điều đối với tính xác thịt yếu đuối là bất khả, nhưng với ơn Chúa đều hoàn toàn khả thi, vì “đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).
Lm. Nguyễn Hữu Thy
[1] x. Maria Prügl, „Wenn der Partner nicht mitmacht – Allein in Ehe und Familie“, Verlag Ehe Familie Buch.
[2] x. Maria Prügl/Christoph Casetti, „Getrennt,geschieden, wiederverheiratet in der Kirche“, Verlag Ehe Familie Buch, 2.Aufl. 2010.
[3] x. Hansjürgen Verweyen, „Fragen aus der Kirche an der Kirche“, Freiburger Texte số. 59, 2011, trang 76-83.
[4] Kongregation für die Glaubenslehre, „Schreiben an die Bischöfe der Katholischen Kirche über den Kommunionempfang von wiederverheirateten geschiedenen Gläubigen“, 1994.
[5] x. Christoph Casetti, „Wege im Licht der Liebe Gottes – Initiativen zur Geschiedenenpastoral“, trong: Nguyệt San „Der Fels“ 42 (2011), trang 241tt.
[6] Johannes Paul II, „Familiaris Consortio“, 1981, số 84.
[7] x. Ngày phán xét chung: Mt 25,31-46.
