Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
18Tháng Một
2022

Công nghệ 4.0 và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non

18/01/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

CÔNG NGHỆ 4.0 VÀ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ MẦM NON:
TỔNG QUAN TỪ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

Nt. Nguyễn Bảo Uyên, MTG Huế
Tiến sĩ Tâm lý Tham vấn

Tóm tắt

Mục tiêu: Tìm hiểu ảnh hưởng của việc tiếp xúc sớm với màn hình lên sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em tuổi mầm non.

Phương pháp: Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các nghiên cứu sẵn có liên quan đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ và việc tiếp xúc sớm với màn hình.

Kết quả: Có một mối liên hệ ý nghĩa về mặt thống kê giữa việc tiếp xúc sớm với màn hình và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non.

Từ khóa: Tiếp xúc sớm với màn hình, chậm phát triển ngôn ngữ.

  1. Mở đầu

Sự phát triển của trẻ em ngày nay chịu sự ảnh hưởng đáng kể của các phương tiện kỹ thuật số. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có 64% đến 100% trẻ em xem tivi trước 2 tuổi.[1] Trẻ em thường vui vẻ, yên lặng khi có một màn hình tivi trước mặt hoặc có một thiết bị điện tử trong tay. Trẻ ăn cơm nhanh hơn và tốt hơn nếu vừa ăn vừa xem tivi. Trẻ sẽ yên lặng cho cha mẹ giải quyết các công việc hay vượt qua một ngày bận rộn cách dễ dàng nếu có tivi trước mặt hoặc một thiết bị điện tử khác trong tay. Nhiều người còn nghĩ rằng tivi là một công cụ tốt để giúp trẻ trở nên ngoan hơn.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, màn hình không là phương tiện tốt cho trẻ em học hỏi các kỹ năng, trong đó có kỹ năng về ngôn ngữ.[2] Trước đây, nguyên nhân thường được biết đến của chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em là do hậu quả của khiếm thính, khuyết tật trí tuệ, sang chấn sản khoa, động kinh, tổn thương não, giảm tập trung chú ý, hoặc do di truyền, rối loạn phổ tự kỷ điển hình/ bậc cao… Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra một nguyên nhân tác động khác, ảnh hưởng đáng kể đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ, là do tiếp xúc sớm với màn hình.

Trong thực tế, hiện tượng chậm phát triển ngôn ngữ có liên quan đến tiếp xúc sớm với tivi, điện thoại thông minh hoặc các phương tiện truyền thông khác đang gia tăng tại một số nước trên thế giới. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có một con số thống kê chính xác nhưng có thể thấy rằng có một sự gia tăng báo động về vấn đề chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Theo BS. Phạm Ngọc Thanh, tại bệnh viện Nhi Đồng 1, Tp. Hồ Chí Minh, số trẻ em bị chậm nói đến bệnh viện Nhi Đồng 1 để kiểm tra và điều trị ngày càng gia tăng, trong đó 100% trẻ chậm nói đều có gắn liền với việc xem truyền hình quá sớm. Cũng vậy, tại Khoa Tâm lý bệnh viện Nhi Đồng 2, BS.TS Ngô Xuân Điệp nhận định rằng: “Thời gian gần đây, khoa cũng tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ chậm nói do xem truyền hình quá nhiều.”[3] Tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng Huế, trong 6 tháng cuối năm 2018, có 130 trẻ từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi đến nhận dịch vụ tham vấn trị liệu. Các trẻ đến trung tâm, đa số trong đó là do những biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ: hoàn toàn không có ngôn ngữ ở tuổi lên hai hoặc lên ba, khiếm khuyết ngôn ngữ theo độ tuổi, hoặc khả năng giao tiếp kém. Những thông tin được báo cáo từ phụ huynh thường là “trẻ ở với bà ngoại, bà nội và đã bắt đầu xem tivi trước 12 tháng tuổi.” “Vì công việc, cha mẹ không có nhiều thời gian chăm sóc con, người giúp việc là người chăm sóc chính và hầu hết thời gian trẻ xem tivi hoặc máy tính bàn để thuận tiện cho người chăm sóc có thể làm các công việc khác. Mỗi ngày trẻ có thể xem từ 5 đến 7 tiếng đồng hồ.” “Ba mẹ không nói chuyện nhiều với con vì ngoài thời gian làm việc, thời gian bên màn hình lấn chiếm thời gian của gia đình, thay thế sự tương tác giữa người lớn và trẻ em.” “Người lớn trong nhà xem phim, chơi game online trước sự hiện diện của trẻ.” “Đi khám bác sĩ y khoa thì bảo rằng cháu phát triển bình thường, nhưng tôi thấy lo vì thấy trẻ chậm nói hơn bạn bè cùng lứa” v.v.[4]

Vậy có một tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê nào giữa chậm phát triển ngôn ngữ và tiếp xúc sớm với màn hình đối với trẻ ở tuổi trước khi đến trường? Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng hợp và phân tích các nghiên cứu sẵn có về mối tương quan giữa chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em trước khi đến trường và tiếp xúc sớm với màn hình. Qua đó, đề xuất những phương pháp phù hợp cho phụ huynh, cho những người chăm sóc trẻ em cũng như các nhà giáo dục trẻ em để có cách hiểu đúng và hướng dẫn đúng đối với con trẻ trong việc tiếp xúc với màn hình.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Bài báo này sử dụng phương pháp nghiên cứu các tài liệu sẵn có về tương quan giữa việc tiếp xúc màn hình sớm ở tuổi mầm non và chậm phát triển ngôn ngữ. Các tài liệu tham khảo phải được xuất bản sau năm 2000 và đạt tiêu chuẩn của một bài báo khoa học. Các bài báo được đăng trên các tạp chí online của viện nghiên cứu Khoa Nhi, như viện khoa nhi Canada, Hoa Kỳ, v.v. Các tạp chí nghiên cứu về phát triển hành vi, ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp của trẻ.

Sau khi các tài liệu tham khảo được chọn đúng theo mục tiêu nghiên cứu, phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các nghiên cứu về mối tương quan giữa việc tiếp xúc sớm với màn hình và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ tuổi mầm non.

Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị cho phụ huynh, những người chăm sóc, các nhà giáo dục trẻ và các nhà nghiên cứu quan tâm đến công việc giáo dục trẻ thơ trong thời đại cách mạng 4.0.

  1. Kết quả nghiên cứu

2.1. Các từ khóa

Thời gian tiếp xúc màn hình (Screen time)

Thời gian tiếp xúc với màn hình là thời gian ngồi trước một màn hình bất kỳ như: Tivi, màn hình rạp chiếu phim, điện thoại thông minh, máy tính bảng, thiết bị trò chơi video cầm tay, đầu DVD trong xe ôtô hoặc bất cứ phương tiện nào khác mà có màn hình và hình ảnh chuyển động.[5]

v Chậm phát triển ngôn ngữ (language delay)

Một trẻ được chẩn đoán chậm phát triển ngôn ngữ, khi khả năng ngôn ngữ cơ bản và số lượng từ vựng thấp hơn so với cột mốc phát triển của tuổi, như giảm từ vựng, cấu trúc câu giới hạn, khiếm khuyết trong diễn ngôn.[6] Trẻ phát triển ngôn ngữ theo trình tự chính xác nhưng với tốc độ chậm hơn mong đợi so với tuổi thực.[7] Một sự chậm trễ trong việc tiếp thu các kỹ năng ngôn ngữ so với các bạn cùng tuổi theo thời gian của các cột mốc phát triển. Một trẻ chậm phát triển ngôn ngữ có thể biểu hiện sự khởi đầu chậm hơn của việc sử dụng một kỹ năng ngôn ngữ, tốc độ tiến bộ chậm thông qua quá trình tiếp thu. Nói chung, chậm phát triển ngôn ngữ có thể được đánh giá, ví dụ, bởi số từ vựng ít hơn 50 từ trong 24 tháng, chỉ nói được một ít từ đôi trong 30 tháng, hạn chế sử dụng cử chỉ và âm thanh để giao tiếp, hạn chế hiểu biết về nghĩa của từ và không thể theo dõi hướng dẫn bằng lời nói, hạn chế chơi với bạn.[8]

Chậm phát triển ngôn ngữ được phân biệt với các rối loạn ngôn ngữ (language disorders). Rối loạn ngôn ngữ được định nghĩa: một rối loạn ngôn ngữ là sự suy yếu đáng kể trong việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ qua các phương thức (ví dụ: lời nói, ngôn ngữ ký hiệu hoặc cả hai) do khiếm khuyết khả năng hiểu và / hoặc khả năng diễn đạt, được thể hiện qua một hoặc nhiều trong năm lĩnh vực ngôn ngữ bất kỳ, bao gồm âm vị học, hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ cảnh). Rối loạn ngôn ngữ là không đồng nhất, và bản chất và mức độ nghiêm trọng của các rối loạn có thể thay đổi đáng kể (Hiệp hội Thính giác Ngôn ngữ Hoa Kỳ/ASHA, 2015). Rối loạn ngôn ngữ cho thấy khả năng nói hoặc khả năng ngôn ngữ của trẻ khác biệt cách căn bản so với trẻ bình thường.[9]

Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ dẫn đến khó khăn trong việc hiểu được ngôn ngữ của người khác (ngôn ngữ tiếp nhận/ receptive language) và khó khăn khi muốn dùng lời nói (ngôn ngữ biểu đạt/ expressive language) để diễn tả suy nghĩ hay nhu cầu của bản thân. Ngoài ra, chậm phát triển ngôn ngữ còn biểu hiện ở khiếm khuyết khả năng biểu cảm, sử dụng ngôn ngữ cơ thể.[10]

Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ có thể dẫn đến những hạn chế về chức năng trong hiệu quả giao tiếp, tương quan xã hội (DSM -5, tr. 42). Trong thực tế những trẻ chậm phát triển ngôn ngữ cũng khó khăn trong một số kỹ năng như: kỹ năng tương tác hai chiều, chủ động làm bạn, chơi theo quy luật trong nhóm, v.v.

3.2. Các nghiên cứu về tương quan giữa chậm phát triển ngôn ngữ và thời gian tiếp xúc màn hình

Vấn đề nghiên cứu Kết quả nghiên cứu Tác giả và thời gian
Khi màn hình tivi đang được bật lên: màn hình tivi sẽ thu hút sự chú ý của trẻ sơ sinh từ 6 đến 18 tháng tuổi hơn sự tương tác của chúng đối với cha mẹ. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ mẫu giáo, thời gian tiếp xúc với màn hình có tương quan tỉ lệ nghịch với thời gian tương tác với cha mẹ. Nghĩa là trẻ càng tiếp xúc với màn hình nhiều thì càng ít tương tác với cha mẹ qua các trò chơi để học các kỹ năng trong đó có kỹ năng ngôn ngữ. Vandewater, Bickham, & Lee (2006)
Mối liên hệ giữa việc sử dụng các phương tiện truyền thông và phát triển ngôn ngữ ở trẻ em dưới 2 tuổi. Kết quả khảo sát hơn 1.000 cha mẹ của trẻ em dưới hai tuổi cho thấy rằng những trẻ em mới biết đi chập chững xem nhiều video thì nói được ít từ hơn. Đối với những trẻ từ 8 tháng tuổi đến 16 tháng tuổi, với gia tăng mỗi giờ video trong một ngày, trung bình sẽ làm giảm từ 6 đến 8 từ. Zimmerman,

Christakis, & Meltzoff (2007)

Mối tương quan giữa xem tivi và chậm ngôn ngữ. Những trẻ em bắt đầu xem tivi trước 12 tháng tuổi với thời gian > 2 giờ mỗi ngày có khả năng chậm ngôn ngữ gấp sáu lần so với trẻ phát triển bình thường (nhóm đối chiếu). Chonchaiya

& Pruksananonda (2008)

Chất lượng tương tác giảm với thời lượng xem tivi cùng với trẻ so với việc đọc sách hay chơi cùng với trẻ. Chất lượng tương tác giữa cha mẹ đối với con cái trong khi cùng xem tivi với con kém hơn thời gian khi họ nói chuyện trực tiếp với con hay đọc sách hoặc chơi với con. Courage,

Murphy, Goulding, Setliff (2010)

Nathanson,

& Rasmussen (2011)

Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. Yếu tố tác động (môi trường xung quanh) dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em: Trẻ xem truyền hình quá nhiều, bố mẹ ít nói chuyện với con, khiến trẻ chỉ nhận thông tin một chiều, không có sự phản hồi trong một thời gian dài sẽ làm trẻ chậm nói. Thiếu tình thương của bố mẹ, trẻ bị ngược đãi. Bố mẹ phó mặc con cho người giữ trẻ không có thời gian trò chuyện với trẻ, trẻ không có cơ hội được nói. Trẻ bị tách ra khỏi môi trường xung quanh. Trẻ suy dinh dưỡng, sinh đôi, sinh ba (hơn 50% các cặp sinh đôi, sinh ba bị chậm nói). Phạm Ngọc

Thanh (2010)

Liên hệ giữa sử dụng thời gian trên màn hình và phát triển ngôn ngữ ở trẻ mới biết đi ở Tây Ban Nha: Một nghiên cứu cắt ngang và dọc. Những trẻ em xem tivi > 2 giờ mỗi ngày có tỷ lệ điểm giao tiếp thấp. Duch, Elisa, &

Ensari (2013)

Tương quan giữa xem truyền hình và chậm ngôn ngữ ở trẻ em mới biết đi: Bằng chứng từ một cuộc khảo sát cắt ngang ở Hàn Quốc. Kết quả phân tích hồi quy Regression cho thấy trẻ mới biết đi với thời lượng xem tivi: 2 giờ < thời gian xem tivi < 3 giờ, có khoảng 2,5 lần có nguy cơ chậm ngôn ngữ hơn. Những trẻ với thời lượng xem tivi > 3 giờ có khoảng 3 lần có nhiều rủi ro chậm ngôn ngữ hơn (p <0,05). Byeon & Hong

(2015)

Ảnh hưởng của việc tiếp xúc với tivi đối với các kỹ năng phát triển ở trẻ nhỏ. Trong số 75 trẻ em thường xuyên tiếp xúc với tivi, các em đã xem trung bình 67,4 phút/ ngày, thời điểm trước 2 tuổi. Điều này là quá mức theo tiêu chuẩn của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ. Xem tivi làm tăng nguy cơ chậm phát triển nhận thức, ngôn ngữ và vận động ở trẻ. Sự chậm trễ về nhận thức, ngôn ngữ và vận động ở trẻ có liên quan đáng kể đến việc chúng dành bao nhiêu thời gian để xem tivi. Ling-Yi et al.

(2015)

Tương quan giữa thời gian tiếp xúc với màn hình và chậm ngôn ngữ ở trẻ em. Một nghiên cứu mới từ Bệnh viện dành cho Trẻ em bị bệnh ở Canada đã theo dõi gần 900 trẻ nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi. Kết quả cho thấy những trẻ chập chững tiếp xúc với màn hình cầm tay nhiều dẫn đến chậm trễ các kỹ năng ngôn ngữ biểu cảm. Kết quả cũng cho thấy rằng cứ sau 30 phút tăng cường thời gian tiếp xúc với màn hình cầm tay hằng ngày sẽ tăng 49% nguy cơ chậm trễ ngôn ngữ biểu cảm! American

Academy of

Pediatrics (2017)

Sử dụng thiết bị truyền thông di động có liên quan đến chậm ngôn ngữ biểu cảm ở trẻ 18 tháng tuổi. Mẫu nghiên cứu bao gồm 893 trẻ em (tuổi trung bình 18,7 tháng). Hầu hết các bậc cha mẹ đã báo cáo con trẻ họ sử dụng 0 phút mỗi ngày thiết bị phương tiện di động (n = 693, 77,6%). Trong khi đó, những đứa trẻ có cha mẹ báo cáo bất kỳ việc sử dụng thiết bị phương tiện di động nào (n = 200, 22,4%), thời gian sử dụng phương tiện di động trung bình hằng ngày là 15,7 phút. Tỷ lệ chậm phát triển ngôn ngữ biểu cảm do phụ huynh báo cáo là 6,6% và tỷ lệ chậm trễ giao tiếp do phụ huynh báo cáo là 8,8%.

Trẻ em sử dụng điện thoại di động, tăng 30 phút/1ngày tỉ lệ thuận với tăng tỷ lệ chậm ngôn ngữ biểu cảm (báo cáo của phụ huynh).

Như thế kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ ý nghĩa giữa việc sử dụng thiết bị truyền thông di động và chậm ngôn ngữ biểu cảm ở trẻ 18 tháng tuổi.

Heuvel và cs. (2018)

Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thời gian tiếp xúc với màn hình không thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ của con trẻ. Ngược lại, xem tivi hay tiếp xúc với bất kỳ màn hình nào khác như điện thoại thông minh, máy tính bàn, thiết bị trò chơi video cầm tay, đầu video v.v. làm tăng khả năng chậm ngôn ngữ và chất lượng giao tiếp xã hội kém. Cụ thể, về ngôn ngữ biểu đạt, hệ quả của việc tiếp xúc nhiều với màn hình làm giảm vốn từ gấp 6 lần hoặc giảm từ 6 đến 8 từ.[11] Tiếp xúc với màn hình với thời lượng không phù hợp làm giảm khả năng hứng thú trong tương tác hai chiều với cha mẹ, người chăm sóc.[12] Chất lượng tương tác giữa cha mẹ với con cái thông qua các chương trình trên tivi giảm so với các phương tiện khác như đọc sách cho con nghe, chơi cùng con.[13]

Màn hình trẻ tiếp xúc được đề cập trong các nghiên cứu trên là tivi, điện thoại di động, hay các thiết bị điện tử cầm tay khác.

Thời lượng tiếp xúc với màn hình gây cản trở phát triển ngôn ngữ là từ 2 giờ trở lên/ngày đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi. Gia tăng thời gian tiếp xúc với màn hình từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi cũng làm giảm sự chú ý, trí nhớ ngắn hạn và khả năng đọc kém.

Ngoài ra, vấn đề chậm ngôn ngữ do tiếp xúc sớm với màn hình còn có thể được giải thích như sau:

Sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em xảy ra liên tục từ khi sinh ra cho đến 5 tuổi. Giai đoạn này được biết đến như giai đoạn rất quan trọng đối với việc tiếp thu ngôn ngữ ở trẻ.[14] Đặc biệt, trẻ sơ sinh từ 18 đến 24 tháng tuổi là thời điểm vàng tiếp thu hay học từ ngữ, trong đó các từ tăng theo cấp số nhân. Trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu nói được câu có hơn hai từ.[15]

Trẻ học cách nói chuyện và giao tiếp thông qua tương tác với người khác. Đó là cách hữu hiệu và vẫn luôn tồn tại. Những năm đầu đời rất quan trọng cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đó là lúc mà bộ não của trẻ dễ tiếp thu nhất để học ngôn ngữ mới và xây dựng các lộ trình giao tiếp mà sẽ làm nền cho các bước phát triển khác sau này. Từ vựng quan trọng trong giao tiếp, tuy nhiên, với sự tương tác hai chiều, trẻ còn học được ngôn ngữ biểu cảm qua nét mặt, ngôn ngữ cơ thể và các tín hiệu phi ngôn ngữ. Một khi cửa sổ đó đóng lại, nghĩa là cơ hội tương tác hai chiều giữa trẻ và người khác bị đóng lại thì việc học và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ sẽ khó khăn hơn nhiều. Hãy tưởng tượng, đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những con sói trong rừng thì rất khó học cách giao tiếp hiệu quả. Cũng thế, mỗi phút mà trẻ tiếp xúc với màn hình là một phút trẻ mất cơ hội để học cách tương tác với người khác. Khi trẻ có một thiết bị điện tử trước mặt, nó lặng lẽ ngồi và xem chương trình yêu thích của mình và không thấy có nhu cầu tương tác với người khác. BS. Phạm Ngọc Thanh (2010)[16] cho rằng khi xem tivi, trẻ nhận thông tin một chiều trong một thời gian dài, không có cơ hội tương tác hai chiều gây nên chậm nói.

Chậm phát triển ngôn ngữ do tiếp xúc sớm với tivi hay các loại màn hình khác đã được chứng minh và giải thích qua các kết quả nghiên cứu như đã được đề cập ở trên. Tuy nhiên, giới hạn của các nghiên cứu này là không đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh về chậm ngôn ngữ như thế nào về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ ở trẻ trong tương quan với việc tiếp xúc sớm với màn hình. Chưa xác định rõ các loại nội dung nào trẻ tiếp xúc thì ảnh hưởng đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ[17] hoặc có thể dùng video để dạy ngôn ngữ cho trẻ không?

  1. Kết luận

Thời gian tiếp xúc với màn hình càng nhiều thì khả năng phát triển ngôn ngữ càng chậm lại. Làm ảnh hưởng đến chất lượng tương quan giữa trẻ và người khác. Sự phát triển không đồng đều giữa ngôn ngữ tiếp nhận (hiểu và làm theo mệnh lệnh của người khác) và ngôn ngữ biểu đạt (nói, dùng ngôn ngữ diễn tả nhu cầu của bản thân hay ý muốn) xảy ra ở các trẻ có tiền sử xem tivi hoặc tiếp xúc với các loại màn hình khác sớm trước 12 tháng tuổi hoặc tăng cường thời gian xem tivi, điện thoại thông minh, máy tính bảng, v.v. trong các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung ở lĩnh vực ngôn ngữ biểu đạt ở trẻ, thay vì có một bức tranh toàn diện bao gồm ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt.

Trẻ em sinh ra trong bối cảnh cách mạng 4.0, không thể tránh khỏi việc tiếp xúc với các loại phương tiện truyền thông đại chúng. Điều quan trọng là phụ huynh, những người chăm sóc trẻ, những nhà giáo dục hiểu và hướng dẫn cho trẻ có những lối tiếp cận phù hợp và hữu ích. Dưới đây là một số kiến nghị cho phụ huynh, người chăm sóc và những nhà giáo dục.

Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 2 tuổi hoàn toàn không nên tiếp xúc với bất kỳ loại màn hình nào. Trẻ em từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi với thời lượng phù hợp là không quá 1 giờ /ngày.[18]

Chọn chương trình chất lượng cao, cùng xem video với con trẻ, nói chuyện với con trẻ trong khi xem video, kết nối những gì con trẻ nhìn thấy với những trải nghiệm hằng ngày của chúng. Chất lượng của chương trình và sự tương tác hai chiều với người lớn trong khi trẻ xem video là rất quan trọng đối với trẻ từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi.[19]

Khi người lớn hướng dẫn trẻ trong thời gian trẻ tiếp cận với màn hình và lôi cuốn trẻ vào cuộc trò chuyện hai chiều về nội dung chúng đang xem, thì tác động bất lợi đối với chậm phát triển ngôn ngữ có thể bị vô hiệu hóa.[20] Kết quả này cho thấy vấn đề quan trọng ở đây là cách trẻ tiếp xúc với màn hình như thế nào là phù hợp và ích lợi dưới sự hướng dẫn của người lớn.

Chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ thường dẫn đến cảm xúc, hành vi tiêu cực ở trẻ do khó khăn trong giao tiếp với người khác. Các phụ huynh, người chăm sóc trẻ và các nhà giáo dục mầm non cần hiểu những khó khăn của trẻ và có những cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả.

Cần có nhiều nghiên cứu khác về các nội dung, hình thức không phù hợp khi trẻ tiếp xúc với màn hình, dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em. Kế hoạch sử dụng các phương tiện truyền thông trong gia đình có con trẻ ở tuổi mầm non. Các nghiên cứu trong tương lai được đề xuất nghiên cứu về sự chênh lệch khác biệt giữa ngôn ngữ tiếp nhận và biểu đạt của trẻ như hệ quả của việc tiếp xúc sớm với màn hình và với thời lượng không phù hợp. Nghiên cứu các hệ quả về kỹ năng cá nhân, xã hội của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Phân biệt chậm nói và chậm ngôn ngữ do tác động của việc tiếp xúc sớm với màn hình. Nghiên cứu các yếu tố khác có thể ảnh hưởng làm chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. American Academy of Pediatrics (2017).American Academy of Pediatrics Announces New Recommendations for Children’s Media Use. Retrieved fromhttps://www.aap.org/en-us/about-the-aap/aap-press-room/pages/american-academy-of-pediatrics-announces-new-recommendations-for-childrens-media-use.aspx
  2. American Academy of Pediatrics (2017).Handheld Screen Time Linked with Speech Delays in Young Children. Retrieved fromhttps://www.healthychildren.org/English/news/Pages/Handheld-Screen-Time-Linked-with-Speech-Delays-in-Young-Children.aspx
  3. American Psychology Association. (2013).Diagnostic and Statistical Manual of MentalDisorders – 5 (DSM-5). The American Psychiatric Publication.
  4. American Speech-Language Hearing Association. (2015).Spoken Language Disorders. Retrieved fromwww.Practice-Portal/Clinical-Topics/Spoken-Language-Disorders
  5. Berk L.Child Development(9th Ed). NJ: Pearson Education Inc, 2012.
  6. Byeon, H., & Hong, S. (2015).Relationship between Television Viewing and Language Delay in Toddlers: Evidence from a Korea National Cross-Sectional SurveyPLoS One; 10(3): e0120663. doi: 10.1371/journal.pone.0120663.
  7. Canadian Pediatric Society (2017).Screen time and young children: Promoting health and development in a digital world.Retrieved from https://www.cps.ca/en/documents/position/screen-time-and-young-children
  8. Chonchaiya W., & Pruksananonda C. (2008). Television viewing associates with delayed language development,Acta Paediatrica,97(7), 977-982. doi: 10.1111/j.1651-2227.2008.00831.
  9. Christakis, D. A. (2009). The effects of infant media usage: what do we know and what should we learn? Review Article.Acta Paediatrica, 98, 8-16.
  10. Council On Communications And Media. (2016). Media Use in School-Aged Children and Adolescents,American Academy of Pediatrics 138(5), 1-8.
  11. Courage, M., Murphy, A., Goulding, S., & Setliff, A. (2010). When the television is on: The impact of infantdirected video on 6- and 18-month-olds’ attention during toy play and on parent-infant interaction.Infant Behavior and Development,33, 176-188.
  12. Duch H., Elisa M.F., Ensari I. (2013). Association of Screen Time Use and Language Development in Hispanic Toddlers: A Cross-Sectional and Longitudinal Study,Clinical Pediatrics, 52(9), 857 – 865.
  13. Elisabeth R.McClureYulia., E.Chentsova-DuttonRachel., F.BarrSteven J.Holochwost1.,W. GerrodParrott. (2015). Facetime doesn’t count”: Video chat as an exception to media restrictions for infants and toddlers.International Journal of Child-Computer Interaction, 6,1 – 6.
  14. F. Wallace, Nancy D. Berkman, Linda R. Watson, Tamera Coyne- Beasley, Charles T. Wood, Katherine Cullen, Kathleen N. Lohr. (2015). Screening for Speech and Language Delay in Children 5 Years Old and Younger: A Systematic Review.Pediatrics, 136(2), 447 – 462.
  15. Linebarger D.L., Walker D. (2005). Infants’ and toddlers’ television viewing and language outcomes.American Behavior Science, 48,624–645.
  16. Ling-Yi, L., Rong-Ju, C., Yung-Jung, C., Yi-Jen, C., Hei-Mei, Y. (2015). Effects of television exposure on developmental skills among young children.Infant Behavior and Development, 38,20 – 26.
  17. Meta, H., Julia, M., Cornelia M., Christine, K., David W. H., Parkin, C., Jonathon L., & Catherine S., (2018). Mobile Media Device Use is Associated with Expressive Language Delay in 18-Month-Old Children.Developmental & Behavioral Pediatrics. doi: 10.1097/DBP.0000000000000630.
  18. Nathanson, A. I., & Rasmussen, E. E. (2011). TV viewing compared to book reading and toy playing reduces responsive maternal communication with toddlers and preschoolers.Human Communication Research,37(4), 465-487.
  19. National Institute on Deafness and Other Communication Disorders (NIDCD). (2017).
  20. Nguyễn Bảo Uyên (2018). Tổng quan từ các kiểm tra và đánh giá trường hợp các trẻ có nhu cầu dịch vụ Tham vấn trị liệu tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng, Huế.
  21. Phạm Ngọc Thanh. (2010).Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. Nhà xuất bản thanh niên.
  22. Prasad, A.D. (2015). Language Delay Versus Language Disorder: Is There a Problem?.Special Education GuideRetrieved from https://www.specialeducationguide.com/blog/language-delay-versus-language-disorder/?fbclid=IwAR3807YnV1SeSLju2T1EWB-Wzo9tOCi53dwIfs4Qyl47HIgLRndjbSs4RdQ
  23. Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003).Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers. The Henry J. Kaiser Family Foundation, Menlo Park, CA 94025.
  24. Speech and Language Kids. (2016). Retrieved fromhttps://www.speechandlanguagekids.com/screen-time-and-language-development
  25. Steiner-Adair, C. (2013).The Big Disconnect: Protecting Childhood and Family Relationships in the Digital Age.New York, NY: Harper.
  26. Thùy Dương (2007).Trẻ Chậm Nói Do xem Tivi. Retrieved fromhttps://dantri.com.vn/suc-khoe/tre-cham-noi-do-xem-tivi-1186467174.htm
  27. Vandewater, E. A., Bickham, D. S., & Lee, J. H. (2006). Time well spent? Relating television use to children’s free-time activities.Pediatrics,117(2), 181-191.
  28. Zimmerman, F. J., Christakis, D. A. & Meltzoff, A. N. (2007). Associations between Media Viewing and Language Development in Children Under Age 2 Years.The Journal of Pediatrics, 151, 364-368.
  29. Zimmerman, F.J., Gilkerson, J., Richards, J.A., Christakis, D.A., Xu, D., Gray, S., & Yapanel, U. (2009). Teaching by Listening: The Importance of Adult-Child Conversations to Language Development.Pediatrics,124(1), 342-349. doi: 10.1542/ peds.2008-2267.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 125 (Tháng 7 & 8 năm 2021)

WHĐ (17.01.2022)

[1] Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003). Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers.

[2] Christakis, D. A. (2009). The effects of infant media usage: what do we know and what should we learn?.

[3] Thùy Dương (2007). Trẻ Chậm Nói Do xem Tivi. Retrieved from https://dantri.com.vn/suc-khoe/tre-cham-noi-do-xem-tivi-1186467174.html.

[4] Nguyễn Bảo Uyên (2018). Tổng quan từ các kiểm tra và đánh giá trường hợp các trẻ có nhu cầu dịch vụ Tham vấn trị liệu tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng, Huế.

[5] Speech and Language Kids. (2016). Retrieved from https://www.speechandlanguagekids.com/screen-time-and-language-development

[6] American Psychology Association. (2013). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – 5 (DSM-5), tr.42.

[7] F. Wallace, và cộng sự. (2015). Screening for Speech and Language Delay in Children 5 Years Old and Younger.

[8] Prasad, A.D. (2015). Language Delay Versus Language Disorder: Is There a Problem?. Special Education Guide.

[9] F. Wallace, và cộng sự (2015).

[10] National Institute on Deafness and Other Communication Disorders (NIDCD). (2017).

[11] Zimmerman, F. J., và cộng sự.(2007). Associations between Media Viewing and Language Development in Children Under Age 2 Years; Chonchaiya W., & Pruksananonda C. (2008). Television viewing associates with delayed language development.

[12] Vandewater, E. A., Bickham, D. S., & Lee, J. H. (2006). Time well spent? Relating television use to children’s free-time activities.

[13] Courage, M., và cộng sự. (2010). When the television is on: The impact of infantdirected video on 6- and 18-month-olds’ attention during toy play and on parent-infant interaction; Nathanson, A. I., & Rasmussen, E. E. (2011). TV viewing compared to book reading and toy playing reduces responsive maternal communication with toddlers and preschoolers.

[14] Berk L. Child Development (9th Ed). NJ: Pearson Education Inc, 2012.

[15] Linebarger D.L., Walker D. (2005). Infants’ and toddlers’ television viewing and language outcomes.

[16] Phạm Ngọc Thanh. (2010). Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. Nhà xuất bản thanh niên.

[17] Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003). Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers.

[18] Canadian Pediatric Society (2017). Screen time and young children: Promoting health and development in a digital world.

[19] American Academy of Pediatrics (2017). American Academy of Pediatrics Announces New Recommendations for Children’s Media Use.

[20] Zimmerman, F.J., và cộng sự. (2009). Teaching by Listening: The Importance of Adult-Child Conversations to Language Development.

Read More
12Tháng Một
2022

5 cách ứng xử sai lầm phụ huynh nên tránh

12/01/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

5 cách ứng xử sai lầm phụ huynh nên tránh

Con cái là món quà vô giá của bố mẹ. Và vì ‘vô giá’ nên nhiều phụ huynh đã và đang ứng xử hết sức sai lầm trong cách nuôi dạy trẻ.

 

 

 

Cưng con như trứng mỏng

Cảnh nhà con đàn cháu đống trước đây không còn nữa, thay vào đó là mỗi gia đình chỉ có 1 – 2 “thiên thần” nhỏ. Vậy nên, mối bận tâm lớn nhất của bố mẹ là chu toàn cho con cuộc sống đủ đầy, phủ phê đến mức thừa mứa…

Những đứa trẻ được cưng như “trứng mỏng” sẽ lớn khôn và phát triển toàn diện thế nào? Quen được nuông chiều và hưởng thụ, con sẽ mặc định mình là “bảo bối” và vô tư vô lo trước nhịp đời hối hả này. Đem tư duy “cậu ấm”, “tiểu thư” đến trường đến lớp, con càng khó hòa vào tập thể chung khi mà bản thân cứ khư khư muốn mình là “số một”, là “duy nhất”.

5 cách ứng xử sai lầm phụ huynh nên tránh - ảnh 1
Mỗi đứa trẻ có một tố chất riêng, năng khiếu, sở trường và sở đoản khác biệt  SHUTTERSTOCK

Con tôi là thần đồng

“Con hát mẹ khen hay” là điều có thể thông cảm được. Nhưng nhiều bố mẹ lại thường thêm mắm thêm muối vào thành tích của con trẻ và ca ngợi con lên đến tận mây xanh.

Những đứa trẻ sớm được ngợi ca là “thần đồng”, “thiên tài”, “siêu tài năng”, “siêu trí tuệ” vô tình tiêm nhiễm căn bệnh thành tích ảo khiến tuổi thơ phải mướt mồ hôi luyện tập theo lịch học dày đặc, khắt khe và áp lực. Rồi một khi năng khiếu của con chững lại, thành tích của con không như ý, cả bố mẹ lẫn con trẻ đều rơi vào vòng xoáy của thất vọng lẫn tuyệt vọng. Một cuộc đời không như ý sẽ nhấn chìm bao số phận vào nỗi buồn hiu hắt!

Con cái là “trang sức” làm đẹp mặt bố mẹ

Kỳ vọng vào thành tích và tương lai sáng bừng của con trẻ là nỗi lòng chung của các bậc sinh thành. Nhưng ranh giới giữa kỳ vọng và căn bệnh chuộng thành tích lại rất mong manh.

Nhiều bố mẹ sa đà vào cuộc đua khoe thành tích của con rộn ràng trên các nền tảng mạng xã hội mỗi khi năm học kết thúc, giấy khen vừa về tay. Nhiều bố mẹ cứ đặt đích nhắm trường chuyên lớp chọn và các ngành nghề tốp đầu rồi buộc con trẻ phải cặm cụi học. Để rồi danh hiệu học sinh xuất sắc, thương hiệu trường chất lượng cao bỗng trở thành món “trang sức” làm bố mẹ nở mày, gia đình và dòng họ nở mặt. Có biết đâu tâm hồn của những đứa trẻ miệt mài rượt đuổi thành tích cứ hoang hoải nỗi buồn, hao khuyết niềm vui.

“Áo mặc không qua khỏi đầu”

Lấp đầy khoảng cách thế hệ giữa các thành viên trong gia đình vốn là nỗi lòng đầy trăn trở của những ông bố bà mẹ muốn gần gũi, thấu hiểu và đồng hành cùng con cái.

Tuy nhiên, dưới những mái ấm còn nặng tính gia trưởng theo lối tư duy “áo mặc không qua khỏi đầu” thì giấc mơ làm bạn cùng con hẳn là còn xa vời. Nhiều bố mẹ còn mặc định mình là người đi trước rành rẽ hơn, thông hiểu hơn và sáng suốt hơn nên phủ nhận tất tần tật mọi ý kiến của con cái. Tiếng lòng của con trẻ bị đè nén, dồn ứ qua ngày qua tháng sẽ chẳng khác nào quả bóng căng đầy hơi chỉ chực chờ bùng nổ thành những điều tiêu cực trong nhận thức, hành động.

“Hãy nhìn con nhà người ta”

Sai lầm lớn nhất trong ứng xử của bố mẹ khiến con cái tổn thương chính là thói quen so sánh. Nhìn con nhà người ta khác biệt tí xíu thôi đủ khiến bố mẹ quýnh quáng so bì hơn kém.

Chúng ta thường quên mất rằng mỗi đứa trẻ có một tố chất riêng, năng khiếu, sở trường và sở đoản khác biệt. Nhưng nhiều bố mẹ cứ chăm chăm nhìn vào thế mạnh của con nhà người ta để phủ nhận sạch trơn mọi cố gắng của con cái. Tiếc thay!

Read More
04Tháng Một
2022

10 quyết tâm cho một năm hạnh phúc

04/01/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

10 QUYẾT TÂM CHO MỘT NĂM HẠNH PHÚC

Bruno Ferrero

“Không phải lúc nào chúng ta cũng hạnh phúc khi mọi thứ tốt đẹp; nhưng chúng ta sẽ luôn tốt lành khi chúng ta hạnh phúc.”

1- LÀM NHỮNG GÌ BẠN “PHẢI” LÀM

Hãy tập trung nhiều năng lượng hơn vào mọi việc và giải quyết những điều phiền muộn nho nhỏ. Quan tâm chăm sóc ngoại hình và tinh thần. Đi bộ nhiều hơn và đi ngủ sớm. Thu dọn các ngăn tủ và vứt bỏ những thứ, quần áo không dùng đến. Làm những công việc cần thiết mà bạn đang bỏ bê. Trả lời tất cả các email.

2- DIỄN TẢ TÌNH YÊU CỦA BẠN

Tình yêu không thể nhìn thấy: chỉ có những biểu hiện của tình yêu. Lòng tốt là sự sẵn sàng và dấu hiệu của tình yêu. Hãy bỏ đi sự ham muốn chỉ trích mọi thứ và đừng trút những căng thẳng của bạn lên người khác.

Thường xuyên nói “con thương mẹ [cha, ông, bà…]; bố/mẹ yêu con;”, ôm và hôn những người bạn yêu thương. Luôn chào hỏi thân tình và gọi mọi người bằng cái tên của họ. Đừng cứng ngắt trong các cuộc thảo luận.

3- LÀM VIỆC VỚI SỰ NHIỆT HUYẾT

Cách thức tốt nhất là tổ chức một ngày của bạn cách hoàn chỉnh hơn. Hãy đặt cho mình một nhiệm vụ mỗi ngày và đừng trì hoãn cho đến khi hoàn thành. Tất cả công việc có vẻ tốt đẹp.

4- CƯỜI NHIỀU HƠN

Trong một ngày có nhiều lo lắng hoặc những tình huống khó chịu, nhưng cũng có những giây phút vui vẻ và dễ chịu. Chọn để ghi nhớ trên tất cả những điều này. Vui chơi nhiều hơn với gia đình của bạn và ghi nhớ tất cả các ngày sinh nhật và ngày kỷ niệm với một chút tưởng tượng. Kể cho con cháu nghe những kỷ niệm thời trai trẻ.

5- DÀNH THỜI GIAN CHO BẠN BÈ

Ghi nhớ những ngày quan trọng. Mời bạn bè của bạn và vui vẻ chấp nhận lời mời của họ. Đừng chỉ trích. Bạn càng gặp một người thường xuyên, bạn sẽ càng thấy họ thú vị và thông minh.

Vui lòng lắng nghe những chia sẻ về kỷ niệm của người khác. An ủi bạn bè của bạn trong thời gian khó khăn.

6- GIỮ CƠ THỂ CÂN ĐỐI VÀ KHỎE MẠNH

Tập thể dục được chứng minh là điều rất tốt. Ngoài những lợi ích khác, những người luôn vận động sẽ khỏe mạnh hơn, lý trí minh mẫn hơn, ngủ ngon hơn và trì hoãn sự khởi phát của chứng sa sút trí tuệ do tuổi già.

Tập luyện thường xuyên làm tăng mức năng lượng của bạn. Mặc dù có vẻ mệt mỏi, tập thể dục thực sự làm tăng năng lượng. Đi bộ giúp bạn suy nghĩ. Nietzsche đã viết: “Tất cả những ý tưởng thực sự tuyệt vời đều được hình thành bằng cách đi bộ”.

7- KHƠI DẬY TÂM TRÍ THEO MỘT CÁCH MỚI

Chinh phục thói quen nhận thức. Hãy chú ý đến giây phút hiện tại: hãy sống thật trọn vẹn và vui vẻ. Nó sẽ không bao giờ trở lại. Ngày thì dài nhưng năm thì lại ngắn.

Horacio, nhà thơ Latinh, đã viết: “Năm tháng trôi qua, hết điều này đến điều khác bị tước đoạt khỏi chúng ta”.

Cập nhật cho mình về kỹ thuật, âm nhạc, sách báo, điện ảnh. Tìm ít nhất năm giải pháp thay thế cho mọi vấn đề hoặc khó khăn.

8- HÃY KHOAN DUNG

Tính linh hoạt là một dạng của trí tuệ thực tế, đó là sự thông minh sống ở hiện tại và có tính sẵn có và tính linh hoạt cần thiết để thích ứng với cái mới. Ai không bao giờ bỏ cuộc và muốn trở thành người mạnh nhất bằng mọi giá thì thực sự là người yếu nhất, và thường bị chế giễu.

Chấp nhận những thất bại nhỏ mà cuộc sống hàng ngày đem đến.

9- CAN DỰ

Cảm giác thuộc về, nghĩa là, niềm tin là một phần của thực tại lớn hơn bản thân chúng ta, mà chúng ta có mối quan hệ thể chất, tình cảm, tinh thần và tâm linh, là một yếu tố cần thiết cho hạnh phúc của chúng ta. Nếu thiếu, chúng ta cảm thấy tồi tệ.

Hầu như tất cả các học giả đều cho rằng khi nhu cầu này không được đáp ứng, chúng ta dễ bị trầm cảm hơn.

Khi bạn gặp những người lạ, hãy nhớ rằng họ cũng là những người như chúng ta.

Đọc nhiều, cập nhật thông tin và xem truyền hình với trí thông minh quan trọng.

10- MỞ RA VỚI SIÊU VIỆT

Cầu nguyện mỗi ngày. Sâu thẳm trong con người chúng ta có một nguồn sống hạnh phúc vô tận. Hãy nghĩ đến chứng nhân dịu dàng của một người nào đó.

Kinh Thánh nói: “Thiên Chúa đã lấy một ít đất từ​ đất để tạo nên con người. Một luồng hơi thở quan trọng thổi vào mũi và con người được biến đổi thành một sinh vật sống” (Sáng thế ký 2,7).

Đừng bao giờ quên điều này: trong bạn và trong mọi người bạn gặp là hơi thở của Thiên Chúa.

Read More
04Tháng Một
2022

Tìm hiểu về hạn từ “sự phân định” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

04/01/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Tìm hiểu về hạn từ “sự phân định” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

 

TÌM HIỂU VỀ HẠN TỪ
SỰ PHÂN ĐỊNH
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHAN-XI-CÔ

Lm. Giu-se Đỗ Mạnh Thịnh
Đại chủng viện thánh Giu-se Xuân Lộc,
Ngày lễ kính Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, 2022.

Kể từ khi được công nghị Hồng Y vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 bầu chọn làm Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã mang đến cho thời đại ngày nay, cách riêng Giáo Hội của Chúa Ki-tô, nhiều “làn gió” đặc trưng trong mục vụ cũng như trong giáo thuyết. Người ta nhắc đến “tinh thần Phan-xi-cô” như sự gợi hứng mới về hình ảnh sống động của một Giáo Hội đi ra “ngoại biên”, về người mục tử “mang mùi chiên”, về thời đại của xác tín lòng thương xót của Thiên Chúa có sức mạnh chữa lành và nâng đỡ, thời của sự cấp bách thúc đẩy gặp gỡ, đối thoại, xây những nhịp cầu thay cho những bức tường chia cắt… Nhưng có thể nói rằng, động lực tiềm ẩn sâu xa của những niềm tin tưởng và thực hành mục vụ đó chính là một dòng chảy xuyên suốt và trào tràn: sự phân định.

Trong một dịp trả lời phỏng vấn của tạp chí Thinking Faith ngay sau khi được tuyển chọn làm người kế vị thánh Phê-rô, ĐTC Phan-xi-cô được hỏi “Việc một tu sĩ Dòng Tên được chọn làm Giáo Hoàng có ý nghĩa gì?”, người đáp ngắn gọn: sự phân định.[1] Kể từ đó sự phân định xuất hiện thường xuyên trong những cuộc trao đổi, những bài huấn dụ cũng như trong những thông điệp và tông huấn của người, đến độ người ta đã gọi người là “giáo hoàng phân định” (“Francis: The Discerning Pope”).[2]

Từ khi tông huấn Niềm Vui của Tình Yêu được ban hành vào ngày 19 tháng 3 năm 2016, sự phân định của ĐTC Phan-xi-cô đã trở nên một vấn đề gây nên không ít tranh luận trong Giáo Hội. Không khó để chúng ta thấy rằng, có nhiều người nhiệt tình ủng hộ và cổ võ sự phân định, coi sự phân định mục vụ như là tư duy chủ đạo cho một lối tiếp cận mục vụ mới của Giáo Hội đối với những vấn đề gai góc của thời đại, cũng như thế giới “bên ngoài”, hoặc như là chìa khóa vạn năng để “hóa giải” những vấn đề luân lý vốn thường khơi lên những tranh luận, như ly dị tái hôn, hôn nhân de facto, “hôn nhân” đồng tính, phá thai…; thậm chí có khi người ta đồng hóa sự phân định với sự “khôn ngoan” thỏa hiệp trong mục vụ của cá nhân. Tuy nhiên, cũng có người băn khoăn và hồ nghi về sự phân định: liệu sự phân định có phải là tương đối hóa chân lý, thay đổi chân lý, hay thậm chí đồng nghĩa với việc trao quyền “quyết định chân lý” vào “sự khôn ngoan” của vài cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể (một cách thể hiện của thuyết tương đối về luân lý)?

Để hiểu thấu đáo hơn ý nghĩa sự phân định của ĐTC Phan-xi-cô, thiết nghĩ chúng ta phải tìm hiểu hạn từ sự phân định trong chính bối cảnh của nó, nghĩa là trong những cuộc trao đổi, những huấn dụ cũng như trong những văn bản huấn quyền quan trọng của người. Trong tinh thần đó, bài viết gợi lên một vài tầng ý nghĩa quan trọng của sự phân định: (1) Sự phân định: một viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa, (2) Sự phân định: một giác quan tâm linh, (3) sự phân định: một ân ban của Thiên Chúa.

  1. Sự phân định: một viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa

Trước tiên, sự phân định được hiểu như là việc con người đón nhận, đọc ý nghĩa các thực tại trong viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa. Đây là thái độ đầu tiên mà một người môn đệ Chúa Giê-su cần xác tín.

Một cách chung, con người thường suy nghĩ và hành động dựa trên những tiêu chuẩn, những phạm trù chủ quan theo ngành nghề chuyên biệt của mình. Những cách tiếp cận đó xem ra là bình thường và hợp lý. Tuy nhiên, nó có thể là nơi phát sinh những thực hành, hay quyết định chủ quan mang đậm dấu ấn cá nhân, và thậm chí nó “khác xa” với điều Thiên Chúa muốn.

Trái với điều đó, theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định là một hành động đón nhận viễn quan mới – viễn quan của Thiên Chúa. Niềm xác tin này đã được ĐTC ngỏ lời trong một dịp gặp các giám mục, người nói: “Tôi mời gọi anh em hãy trau dồi thái độ lắng nghe, lớn lên trong sự tự do từ bỏ viễn quan của riêng mình, để đón nhận viễn quan của Chúa”[3]. Có lẽ, cách hiểu về sự phân định như vậy ít nhiều mang bóng dáng tinh thần phân định trong linh đạo của thánh I-nha-xi-ô. Quả thực, trong một dịp khác, ĐTC đã giải thích rõ hơn về sự phân định như là một tác động kép: ngài cho rằng sự phân định như việc chúng ta học cách loại bỏ những định kiến và quan điểm hạn chế của mình, đồng thời tiếp nhận một quan điểm mới, quan điểm của Thiên Chúa…, nhờ đó chúng ta được lôi cuốn vào một “cách cảm nhận sự việc như Thiên Chúa cảm nhận từ trong chính trái tim của Người.”[4] Hình ảnh Na-tha-na-en đã được ĐTC trưng dẫn như một ví dụ và một lời mời gọi thực hành sự phân định: “Đứng trước mặt Ngài [Đức Giê-su] với trái tim rộng mở và để Ngài nhìn chúng ta, chúng ta thấy được cái nhìn yêu thương mà ông Na-tha-na-en đã nhìn thấy hôm Đức Giêsu nói với ông: ‘Tôi đã nhìn thấy anh dưới cây vả’ (Ga 1:48).”[5]

Sự phân định như một cách thức gạt bỏ viễn kiến cá nhân đồng thời tiếp cận thực tại và con người trong viễn quan của Thiên Chúa sẽ chất vấn chúng ta trước mỗi quyết định: “Thiên Chúa nhìn trường hợp này thế nào?”, “Người muốn gì nơi tôi trong hoàn cảnh này?” ĐTC đã ngụ ý nhiều lần các nguyên tắc phân định đó của ngài, một cách đặc biệt trong tông huấn Niềm Vui của Tình Yêu (Amoris Laetitia). Ví dụ, khi đề cập đến trường hợp của những anh chị em “phải” sống trong tình trạng “đối nghịch” trầm trọng với giáo huấn của Kinh Thánh cũng như luật của Giáo Hội về hôn nhân, như những cuộc hôn nhân de facto, ĐTC đã nhắc nhở chúng ta về “luật tiệm tiến.” Điều đó có nghĩa là, dù sống trong “lầm lỗi”, nhờ ân sủng, con người hiểu biết, yêu thương và hoàn thành những điều tốt đẹp về mặt đạo đức qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Đức Giáo hoàng giải thích:

“Đây […], đúng hơn là tính tiệm tiến trong việc thi hành một cách khôn ngoan các hành vi tự do của những người chưa ở vị trí có thể hiểu, đánh giá hay thi hành trọn vẹn các đòi hỏi khách quan của lề luật. Vì lề luật tự nó là một ơn phúc của Thiên Chúa dùng để chỉ đường, một ơn ban cho mọi người không trừ ai; nó có thể được tuân giữ nhờ sự trợ giúp của ơn thánh, cho dù mỗi con người nhân bản “tiến bước từ từ với sự hội nhập tiệm tiến các ơn phúc Chúa ban cũng như các đòi hỏi của tình yêu dứt khoát và tuyệt đối của Thiên Chúa trong suốt cuộc sống bản thân và xã hội của họ.”[6]

Đó chính là viễn quan mà Đức Giê-su đã sử dụng khi tiếp cận người phụ nữ Sa-ma-ri-a (x. Ga 4,1-26), hay người phụ nữ bị bắt vì tội ngoại tình (x. Ga 8,1-11). Chúng ta có thể tìm ra viễn quan của Thiên Chúa tương tự như thế trong những vấn đề và hoàn cảnh khác nữa của cuộc sống hàng ngày.

  1. Sự phân định:một giác quan tâm linh

Điều quan yếu hơn đó là làm thế nào để chúng ta có thể “thoát khỏi” những viễn quan cá nhân, khi chúng ta đã được trang bị quá nhiều “kiến thức” của các bộ môn khoa học thánh và tri thức khôn ngoan nhân loại, những kiến thức và kinh nghiệm mục vụ cá nhân cũng như cộng đoàn. Làm sao chúng ta có thể thực sự “đón nhận vào mình” viễn quan của Thiên Chúa khi mà chúng ta quá “đầy ắp” với những tin tưởng của lý trí và kinh nghiệm của bản thân? Thực sự, theo ĐTC Phan-xi-cô, việc mở ra với viễn quan của Thiên Chúa cũng là một loại “nhận thức” nhưng nó vượt trên logic khoa học và sự nhận biết của lý trí. Đây thực chất là lĩnh vực thuộc về “bản năng đức tin” giúp phân định “điều thuộc về Thiên Chúa”; do đó, có được sự trực giác đức tin bằng một giác quan tâm linh là điều rất cần thiết, ĐTC nói:

[…] Để chia sẻ tình thương nhiệm mầu của mình, Thiên Chúa ban cho toàn thể các tín hữu một bản năng đức tin – sensus fidei – là khả năng giúp họ phân định rõ cái gì thực sự là của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Thần Khí ban cho người Kitô hữu một sự đồng bản tính nào đó với các thực tại của Thiên Chúa, và một sự khôn ngoan giúp họ nắm bắt các thực tại ấy bằng trực giác, cả khi họ không có đủ phương tiện cần thiết để diễn tả nó một cách chính xác.[7]

Dựa vào giáo huấn trên, sự phân định có thể được hiểu như là một thứ giác quan tâm linh để có thể “trực giác” về “cái gì thực sự là của Thiên Chúa.” Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải biết sử dụng và phát triển các giác quan tâm linh, ví dụ: một “đôi tai thiêng liêng” để có thể nghe được những âm hưởng của Thần Khí, những giai điệu siêu nhiên, cũng như những âm thanh trong cuộc sống “không phải lời cũng không phải tiếng”; cũng vậy, sự phân định cần đến một “cái mũi”, một “cặp mắt” và một “cảm quan” của đôi tay thiêng liêng như khả năng “trực giác” của đức tin để nhận ra được những dấu tích, những lời thì thầm và viễn quan của Thiên Chúa (x. Tv 19).

  1. Sự phân định:một ân ban của Thiên Chúa

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng giác quan thiêng liêng đó không hẳn là điều mà người ta chỉ chăm chú luyện tập như việc luyện tập các kỹ năng âm nhạc, mỹ thuật hay ẩm thực. Theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định nhờ các giác quan tâm linh, trước hết và trên hết, là một ân ban của Thiên Chúa. Xác tín này được ĐTC nhắc đến trong dịp gặp gỡ các giám mục mới được tấn phong vào năm 2017 khi người nói: “Chư huynh không thể sở hữu một món quà cao quý và siêu việt đó (sự biện phân tìm viễn quan của Thiên Chúa) như thể là một ơn tất yếu kèm theo bí tích truyền chức, nhưng nó đích thực là ân ban của Thần Khí, điều mà chúng ta cần kiên trì nài xin Chúa.” Điều này gợi đến lời cầu xin của vua Sa-lô-môn tại Ghíp-ôn, ông đã xin Chúa cho được ơn biết phân định để dẫn dắt đoàn dân của Chúa (1 V 3,5-12). Như vậy, “chúng ta phải thường xuyên trở lại Ghíp-ôn để cầu xin ân ban biết phân định, điều mà vua Sa-lô-môn đã coi là quý giá hơn sự trường thọ và vinh hoa phú quí.”[8]

Như một đòi hỏi tất yếu, sự thinh lặng trong cầu nguyện và sự kiên trì khẩn nài là những tác động cần thiết để rũ bỏ viễn kiến cá nhân, cũng như mở lòng cho viễn quan của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ trong thinh lặng của cầu nguyện, chúng ta mới có thể tìm ra dấu vết và lĩnh hội được chân lý của Thiên Chúa ở một thứ ánh sáng thuộc tầm cao khác biệt.[9]

Thay lời kết

Theo ĐTC Phan-xi-cô, sự phân định – tìm viễn quan của Thiên Chúa nhờ những giác quan tâm linh – cần đến thái độ khiêm tốn và vâng phục (Thiên Chúa). Cũng tương tự khi chúng ta đón nhận một món quà (ân ban) nào đó, sự phân định phải được đón nhận với một tâm hồn rộng mở, và sự chờ đợi một thời khắc do ý muốn của Đấng Trao Ban. Do đó, ĐTC nói: “Một điều kiện thiết yếu để tiến bộ trong sự phân định là giáo dục chúng ta trong sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và thời khắc của Người, những điều không bao giờ là của chúng ta. Thiên Chúa không ‘thiêu hủy kẻ bất trung’ (x. Lc 9, 53-54), cũng như không cho phép những người sốt sắng ‘nhổ cỏ lùng khỏi đồng lúa’ mà họ thấy đang mọc ở đó (x. Mt 13, 27-29).”[10]

Chúng ta cần rộng mở tấm lòng mỗi ngày để đón nhận niềm hy vọng từ Thiên Chúa, điều mà có thể gìn giữ chúng ta khỏi những gì là tối tăm, khó hiểu. Niềm hy vọng đó giúp chúng ta khám phá ra ân ban được tiềm ẩn trong hiện tại, mà không làm mất đi sự nhẫn nại của kế hoạch yêu thương mà Thiên Chúa dự định cho con người, điều trổi vượt biết bao trên tâm tưởng và ý muốn của con người (x. Is 55,8-9).

[1] X. POPE FRANCIS – Antonio SPADARO, “A Big Heart Open To God”, Thinking Faith, 19 September 2013, http://www.thinkingfaith.org/articles/20130919_1.htm

[2] X. Nicolas AUSTIN, “Francis: The Discerning Pope”, Thinking Faith, 9 March 2018, https://www.thinkingfaith.org/articles/francis-discerning-pope

[3] POPE FRANCIS, Address to the Bishops Ordained over the Past Year, 14 September 2017, http://w2.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2017/september/documents/papa-francesco_20170914_nuovi-vescovi.html

[4] Jorge Mario BERGOGLIO, “Writings on Jesuit Spirituality II”, Studies in the Spirituality of Jesuits, 45.4 (2014), p. 17, https://ejournals.bc.edu/ojs/index.php/jesuit/issue/archive

[5] Niềm Vui của Tin Mừng, s. 264.

[6] Niềm Vui của Tình Yêu, s. 295.

[7] Niềm Vui của Tin Mừng, s. 119.

[8] Pope Francis, Address to the Bishops Ordained over the Past Year, 14 September 2017, http://w2.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2017/september/documents/papa-francesco_20170914_nuovi-vescovi.html.

[9] Ibid.

[10] Ibid.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 19
  • Page 20
  • Page 21
  • …
  • Page 67
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.