2022
Một vài nhận định về từ “giáo lý viên”
Tôma Nguyễn Như Danh
Bài viết này không nhằm phân tích từ “giáo lý viên” dưới góc độ hình thái học, tức là cấu tạo từ. Trái lại, bài viết thảo luận cụm từ “giáo lý viên” dưới góc độ ngữ học ứng dụng, nghĩa là nó được sử dụng và được hiểu như thế nào. Hai vấn đề chính sẽ được tìm hiểu đó là:
– Từ “giáo lý viên” được sử dụng trong các văn bản chính thức của Tòa Thánh, của Hội Thánh Công giáo Việt Nam.
– Từ ‘giáo lý viên” được áp dụng cho những đối tượng nào.
- Từ giáo lý viên được sử dụng trong các văn kiện quan trọng của Giáo quyền
Vì nguồn tư liệu hạn chế, người viết xin được tìm hiểu từ ngữ này qua một vài văn kiện của Tòa Thánh từ Công đồng Vatican II trở lại đây và một số văn bản của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
1.1 Từ “giáo lý viên” được sử dụng trong những văn bản của Tòa Thánh
Các văn kiện quan trọng của Tòa Thánh đề cập đến giáo lý viên hàng ngàn lần.
Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mạc Khải Dei Verbum: 1 lần
Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium 1 lần
Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh Về Nhiệm Vụ Mục Tử Của Các Giám Mục Trong Giáo Hội – Christus Dominus 1 lần
Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam huấn giáo 1971: 40 lần
Đức Thánh Cha Phaolô VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng Evangeli Nuntiandi 1975: 4 lần
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, Tông Huấn Dạy giáo lý 1979: 24 lần
Giáo luật 1983: 5 lần
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, Tông huấn Kitô hữu giáo dân Christifideles Laici, 1988: 2 lần
Bộ Phúc Âm hóa các dân tộc, Hướng dẫn mục vụ dành cho các linh mục triều 1989: 6 lần
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, Thông điệp sứ vụ Đấng Cứu Độ Redemptoris Missio, 1990: 13 lần
Bộ Phúc Âm hóa các dân tộc, Hướng dẫn Giáo lý viên 1993: 267
Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam huấn giáo 1997: 221 lần
Bộ Giáo sĩ, Vai trò của linh mục trong việc huấn giáo, 1999: 20 lần
Hội đồng Giáo hoàng về việc thăng tiến Tân Phúc Âm hóa, Chỉ Nam huấn giáo 2020: hàng trăm lần
Đức Thánh Cha Phanxicô, Thừa tác vụ cổ kính Antiquum Ministerium 2021: 20 lần
Như vậy, trong các văn kiện quan trọng của Tòa Thánh, từ Giáo lý viên được sử dụng rất nhiều, nhiều đến cả ngàn lần. Nội dung chính yếu khi các văn bản của Tòa thánh đề cập đến giáo lý viên là ơn gọi, sứ mạng, căn tính, linh đạo dành cho giáo lý viên và đào tạo giáo lý viên[1]. Điều đó nói lên tầm quan trọng của giáo lý viên trong công cuộc dạy giáo lý và truyền giáo của Hội Thánh.
1.2 Từ “giáo lý viên” được sử dụng trong những văn bản của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và các giáo phận.
Hội đồng Giám Mục Việt Nam cũng dùng từ “giáo lý viên” nhiều lần trong các thư chung và Hướng dẫn dạy giáo lý tại Việt Nam.
Thư chung của HĐGM 2007 cho biết mỗi Kitô hữu đều là giáo lý viên (số 21) và giáo lý viên “giống như những cành nho gắn liền với thân nho là Chúa Kitô, hút nhựa sống Lời Chúa từ thân cây là Chúa Giêsu để chuyển đến các học viên bằng chứng từ rao giảng và thực thi huấn lệnh Chúa” (số 20).
Thư chung HĐGM 2019, chủ đề năm 2020 hướng đến người trẻ “Đồng hành với người trẻ trong tiến trình hướng tới sự trưởng thành toàn diện” HĐGM mời gọi các mục tử và giáo lý viên cần canh tân việc dạy giáo lý cho người trẻ để người trẻ có thể trưởng thành về đời sống tâm linh (số 7).
Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam 2017 của Ủy ban Giáo lý Đức tin, trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề cập đến giáo lý viên 41 lần.
Nội dung chính yếu khi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề cập đến về giáo lý viên là những chỉ nam của Tòa Thánh về dạy giáo lý và Đào tạo giáo lý viên[2].
Linh mục Giuse Vũ Đức An trong bài viết “Tầm quan trọng của Giáo lý trong đời sống Đức tin” đăng ngày 28/3/2022 trên trang web của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nêu bật tầm quan trọng của giáo lý trong đời sống đức tin của dân Chúa. Ngài đã cho thấy được tầm quan trọng của dạy giáo lý trong lịch sử Hội Thánh và lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam. Điểm đặc biệt là từ thế kỷ 17, các vị thừa sai đã quan tâm soạn sách giáo lý bằng tiếng Việt và quan tâm đến việt đào tạo giáo lý viên:
“Các vị thừa sai không những quan tâm đến việc soạn thảo sách giáo lý mà còn trú trọng đến việc đào tạo các giáo lý viên. Đó là việc đào tạo các thầy giảng để chuyên lo việc dạy giáo lý cách hiệu quả hơn.”[3]
Trong số các thầy giảng này có Anrê Phú Yên, người giáo lý viên được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong chân phước ngày 05/3/2000. Ngài cũng là bổn mạng của các giáo lý viên Việt Nam[4].
Tổng giáo phận Sài Gòn vẫn dùng từ giáo lý viên trong Bộ sách giáo lý Hiệp thông, gồm 12 trình độ, có sách dành cho giáo lý viên và học viên. Giáo phận Xuân Lộc sử dụng từ giáo lý viên trong các tài liệu của Ban Huấn giáo, trong các văn bản gửi cho các giáo xứ. Tất cả 27 giáo phận tại Việt Nam đều sử dụng từ “giáo lý viên” để gọi chung những người giáo dân, có cả tu sĩ tham gia dạy giáo lý. Nhiều văn bản, thư chung và hướng dẫn ở cấp giáo phận dùng từ “giáo lý viên” nhiều vô số, không thể đếm hết được.
- Từ giáo lý viên được áp dụng cho những đối tượng nào
Từ “Giáo lý viên” được sử dụng lâu đời trong Hội Thánh với dưới nhiều tên gọi khác nhau như thầy dạy[5], người chỉ dẫn[6]. Từ giáo lý viên được nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần trong nhiều văn kiện của Tòa Thánh như đã đề cập ở trên.
Theo nghĩa thông thường, giáo lý viên nói chung là người dạy giáo lý. Thế nên tất cả những ai dạy giáo lý đều có thể gọi là giáo lý viên. Họ có thể là Giám mục, linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân. Từ điển bách khoa công giáo nói về giáo lý viên như sau:
“Trong bối cảnh Kitô giáo, giáo lý viên là giáo sĩ, tu sĩ hoặc giáo dân, những người hướng dẫn người khác trong đức tin Công giáo. Bằng lời nói và gương sáng, giáo lý viên chia sẻ đức tin cá nhân của mình với các thành viên khác trong cộng đồng và/hoặc với những người tìm gia nhập Hội Thánh”[7].
Như thế, qua định nghĩa trên chúng ta thấy rõ hơn rằng tất cả mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi trở nên giáo lý viên.
Thật vậy, nhiệm vụ dạy giáo lý liên hệ đến tất cả mọi thành phần dân Chúa[8]: Giám mục[9], linh mục[10], tu sĩ nam nữ tức những người sống đời thánh hiến[11], giáo lý viên giáo dân[12], các bậc phụ huynh[13] và tất cả mọi Kitô hữu[14]. Bởi thế mọi tín hữu Kitô đều có thể là một giáo lý viên cách nào đó[15].
Từ giáo lý viên được áp dụng trước hết và trên hết cho đức giám mục giáo phận bởi vì “Giám Mục là nhà rao giảng Tin Mừng đầu tiên bằng lời nói và chứng từ của đời sống mình”[16]. Giám mục là người có trách nhiệm hoàn toàn, đầu tiên về việc huấn giáo. Ngài là giáo lý viên đầu tiên của giáo phận[17]. Đầu tiên ở đây nghĩa là ngài là giáo lý viên trước hết và trên hết mọi giáo lý viên, nhờ ngài mà mọi thành phần khác trong giáo phận được tham dự vào sứ vụ rao giảng Tin mừng của Giám mục. Nói cách khác, không có ngài hoặc không hiệp thông với ngài thì không có giáo lý viên đúng nghĩa trong giáo phận của ngài. Chính ngài chọn gọi các tín hữu để trở thành giáo lý viên và các giáo lý viên thực thi công cuộc huấn giáo trong giáo phận dưới sự chỉ đạo của ngài. Điều này được thể hiện rõ trong chức vụ của giám mục đặc biệt nhiệm vụ giáo huấn, trình bày học thuyết Kitô giáo và tổ chức dạy giáo lý[18].
Các linh mục là giáo lý viên vì các linh mục “là cộng sự viên đầu tiên của Giám Mục và qua sự ủy nhiệm của ngài, trong khả năng là nhà giáo dục đức tin” (x. PO 6), có nhiệm vụ làm sống lại, điều hợp và hướng dẫn hoạt động dạy giáo lý của cộng đồng đã được trao phó cho mình (GDFC 2020, số 115). Tân chỉ nam huấn giáo 2020 nói rõ hơn “Vị linh mục của giáo xứ hay cha xứ là giáo lý viên hàng đầu trong cộng đồng giáo xứ” ngài là “giáo lý viên của các giáo lý viên” (số 116).
Các Phó tế và phó tế vĩnh viên cũng là giáo lý viên vì chức phó tế liên quan đến phục vụ Lời. Tân chỉ nam huấn giáo, số 117 và 118 của nói về trách nhiệm của các phó tế trong việc dạy giáo lý cho các tín hữu ở mọi giai đoạn của đời sống người Kitô hữu. Các phó tế phải tham gia vào các chương trình dạy giáo lý của Giáo phận hay của giáo xứ, trên hết là những chương trình liên quan đến những sáng kiến liên hệ với việc rao giảng Tin Mừng[19].
Tu sĩ nam nữ, những người sống đời thánh hiến được mời gọi dạy giáo lý:
“Trong lịch sử Hội Thánh, họ được kể vào số những người tận tâm nhất với việc ra ngoài dạy giáo lý. Hội Thánh đặc biệt mời gọi những người được thánh hiến vào hoạt động dạy giáo lý, trong đó sự đóng góp độc đáo và đặc biệt của họ không thể được thay thế bằng các linh mục hay giáo dân” (GDFC 2020, số 119).
Chính đời sống thánh thiện của họ là bài giáo lý sống động. Hơn thế nữa, sự tham gia dạy giáo lý của các tu sĩ nam nữ đã thực hiện trong lịch sử huấn giáo cho thấy họ đóng góp nhiều cho chiều sâu tôn giáo, sư phạm và phục vụ cho sự phát triển của huấn giáo (GDGC 2020, số 120)
Giáo lý viên giáo dân: Giáo lý viên áp dụng cho giáo dân thật rõ ràng qua các Chỉ nam huấn giáo, Tông huấn Dạy giáo lý và đặc biệt Thừa tác vụ giáo lý viên giáo dân được Đức Thánh cha Phanxicô thiết lập ngày 10/5/2021[20]. Nhờ bí tích Rửa tội và được củng cố qua bí tích Thêm sức, Giáo lý viên giáo dân là người được Chúa Thánh Thần mời gọi, được Hội Thánh sai đi, được cộng tác với Đức Giám mục trong sứ vụ tông đồ và liên kết chặt chẽ với hoạt động truyền giáo của Hội Thánh[21].
Dựa theo những chỉ dẫn của Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền, chúng ta thấy rằng giáo lý viên là một ơn gọi khởi đi từ sáng kiến và lời mời gọi của Thiên Chúa, được Giáo hội nhìn nhận, cụ thể là qua Đức Giám mục giáo phận. Đó là lời mời gọi sống và loan báo Tin mừng cho muôn dân, cho người có đạo cũng như cho những người chưa biết Chúa.
Như vậy, từ “giáo lý viên” vừa có tính phổ quát vừa có tính đặc thù. Tính phổ quát vì là áp dụng được cho tất cả mọi thành phần dân Chúa: Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và giáo dân. Đặc thù là khi nói giáo lý viên, người tín hữu Kitô sẽ không lẫn lộn với bất cứ công việc, hay nghề nghiệp nào[22] vì họ sẽ nghĩ ngay đó là những người dạy giáo lý.
Mặt khác, từ này cũng có nét hay của nó là tính trung dung, không phân biệt giới tính vì áp dụng được cho cả nam lẫn nữ. Điều này càng thích hợp trong thế giới ngày nay khi nhân loại đề cao sự bình đẳng giữa nam và nữ. Điều này càng giúp từ “giáo lý viên” trở nên thiện cảm hơn khi sử dụng.
Tóm lại, từ giáo lý viên có thể xuất hiện nhiều trong tiếng Việt chưa đầy 100 năm, nhưng nó là từ quen thuộc, phổ biến và có giá trị đặc biệt của nó vì đã đi vào lịch sử của Hội Thánh và của Hội thánh Công giáo Việt Nam qua các văn bản của Tòa Thánh, của nhiều chỉ dẫn quan trọng của Hội đồng Giám mục Việt Nam, của nhiều thư chung và hướng dẫn liên quan đến giáo lý viên của các Giám mục và các Ban Huấn giáo các giáo phận.
Giả sử có ai đó muốn thay đổi từ “giáo lý viên” bằng một từ khác thì không biết kết quả có tốt hơn không nhưng điều chắc chắn là nó sẽ gây xáo trộn rất lớn cho dân Chúa, có thể phức tạp và xáo trộn như điều chỉnh năm tháng lịch Công Nguyên cho đúng năm Chúa Giáng sinh. Hơn thế nữa, nó cũng xóa đi một phần ký ức đức tin của thế hệ trẻ khi mà từ ‘giáo lý viên” đã đi vào lòng dân Chúa cả gần thế kỷ nay.
DANH MỤC VIẾT TẮT
AM : Thừa tác vụ cổ kính “Antiquum Ministerium”. 2021
DGL : Tông Huấn Dạy giáo lý “Catechesi Tradendae”. 1979
GC : Guide for Catechists, 1993 (Hướng dẫn giáo lý viên 1993)
GCD : General Catechetical Directory, 1971. (Chỉ Nam Huấn giáo 1971).
GDFC : General Directory for Catechesis), 1997. (Chỉ Nam Huấn giáo 1997
GDFC 2020 : Directory for Catechesis (Tân chỉ nam Huấn giáo), 2020.
GL : Bộ Giáo luật 1983.
KTHGD : Tông huấn Kitô hữu giáo dân “Christifideles Laici”.1988
LBTM : Thông điệp Loan báo Tin Mừng “Evangeli Nuntiandi ”.1975
MK : Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa “Dei Verbum”. 1965
GM : Sắc lệnh về nhiệm vụ của các Giám Mục trong Giáo hội: Christus Dominus.
PV : Hiến chế Phụng vụ “Sacrosanctum Concilium”. 1963
SVĐCĐ : Sứ vụ Đấng Cứu Độ “Redemptoris Missio”. 1990
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Code of Canon Law, 1983. Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Congregation for the Clergy, General Catechetical Directory. 1971. Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Congregation for the Clergy, General Directory for Catechesis, 1997. Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Congregation for the Clergy, the Role of the Priest in Catechesis (Bộ Giáo sĩ, Vai trò của linh mục trong việc huấn giáo). 1999. Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022.
Congregation for Evangelization of Peoples, Pastoral Guide for diocesan priests in Churches dependent on the Congregation for Evangelization of Peoples (Bộ Phúc Âm hóa các dân tộc, Hướng dẫn mục vụ dành cho các linh mục triều). Rome, June 1989.
Congregation for Evangelization of Peoples, Guide for Catechists. Document of vocational, formative and promotional orientation of Catechists in the territories dependent on the Congregation for Evangelization of Peoples.1993. Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Francis, Antiquum Ministerium (10 May, 2021). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung 2007. Trích từ https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-chung-2007-cua-hoi-ong-giam-muc-viet-nam-ve-giao-duc-kito-giao-giao-duc-hom-nay-xa-hoi-va-giao-hoi-ngay-mai-17878
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam-Ủy Ban Giáo lý Đức tin, Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý Tại Việt Nam 2017. 2017. Trích từ https://giaolyductin.net/huong-dan-tong-quat-viec-day-giao-ly-tai-viet-nam-2017.html
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung 2019. Trích từ https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hdgm-vn-thu-chung-35356
John Paul II, Apostolic Exhortation Catechesi Tradendae (16 October 1979). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
John Paul II, Post-synodal Apostolic Exhortation, Christifedeles Laici (30 December 1988). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Lm. Giuse Vũ Đức An, Tầm quan trọng của Giáo lý trong đời sống Đức tin, 2022. Trích từ https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tam-quan-trong-cua-giao-ly-trong-doi-song-duc-tin-44752
Nguyen Nhu Danh, Investigating a catechist spirituality and solutions to enhance their spiritual life. Luận án tiến sĩ thần học, Trường đại học NCU, USA, 2022.
Paul VI, Apostolic Exhortation Evangeli Nuntiandi (08 December1975). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Pontifical Council for the promotion of the New Evangelization, Directory for Catechesis, 2020.
Vatican Council II, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum (18 November 1965). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
Vatican Council II, Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium (4 December 1963). Retrieved from Vatican.va on 21 March 2022
[1] Nguyen Nhu Danh, Investigating a catechist spirituality and solutions to enhance their spiritual life. Luận án tiến sĩ thần học, Trường đại học NCU, USA, 2022.
[2] Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam 2017
[3] Linh mục Giuse Vũ Đức An trong bài viết “Tầm quan trọng của Giáo lý trong đời sống Đức tin”. 2022
[4] Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam 2017, số 79
[5] x 1 Cor 12:28-31
[6] x Gal 6:6
[7] Reverend Peter M.J. Stravinskas, Ph.D., Catholic Encyclopedia, mục Catechist, Our Sunday visitor, Inc. 1991, tr. 181
[8] x. GL 757 – 759. 774 – 780
[9] x. DGL 16; 63; GL 756. 775
[10] x. DGL 16; 64; GL 757. 776 – 777
[11] x. DGL 16; 65; GL 758. 776. 778; GC 4 khuyến khích các tu sĩ dấn thân vào việc huấn giáo, và kêu gọi họ sẵn sàng và chuẩn bị chuyên môn để lãnh nhận trách vụ huấn giáo:
“Các tu sĩ hoàn tất vai trò giáo lý viên và do cộng tác chặt chẽ với các linh mục, thường chủ động trong việc điều hành. Vì các lý do trên, Bộ Phúc Âm Hoá các dân tộc cũng yêu cầu tu sĩ dấn thân vào các lãnh vực trong yếu của đời sống các giáo đoàn, đặc biệt trên bình diện huấn luyện và đồng hành với các giáo lý viên.”
[12] x. DGL 66; Gl 759
[13] x. DGL 16; 68; Gl 774
[14] x. DGL 15; 16; 63 – 68
[15] Nguyen Nhu Danh, Investigating a catechist spirituality and solutions to enhance their spiritual life. Luận án tiến sĩ thần học, Trường đại học NCU, USA, 2022. Trang 18-35
[16] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Pastores Gregis (16 tháng 10 năm 2003). GDC số 222.
[17] DGL số 63; GDFC 1997, số 222, GDFC 2020 số 114
[18] Christus Dominus số 12-14
[19] GDFC 2020, số 117
[20] AM số 11
[21] GC 2
[22] Từ giáo lý viên dù được áp dụng cho các giám mục, linh mục, phó tế và tu sĩ nhưng người giáo dân nói chung và trong ngôn ngữ của Hội Thánh, các ngài được gọi bằng danh xưng giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ vì nó diễn tả tốt hơn, rõ hơn, bao quát hơn ơn gọi và sứ mạng của các ngài.
2022
Lời khuyên cho các tân linh mục: Ý nghĩa thật sự của đời linh mục
Tôi xin được chia sẻ với tất cả anh chị em bài giảng tôi soạn để giảng lễ Tạ ơn Tân Linh Mục trong Giáo Phận.
Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ,
Thật là một điểm đáng ghi nhớ đối với tất cả chúng ta là người Công giáo đã được rửa tội, vì chúng ta được các linh mục gọi tên lúc rửa tội. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên quan tâm đến Chức Tư Tế Thừa Tác trong Bí tích truyền chức thánh, bởi các linh mục được kêu gọi để phục vụ dân Chúa trong lòng Giáo hội, để vừa hỗ trợ vừa dẫn dắt họ.
Trong Thánh lễ Tạ ơn hôm nay, thường mọi người nghĩ bài giảng của tôi sẽ nói về chức linh mục là một mầu nhiệm. Nơi chức linh mục có nhiều điều để chúng ta có thể nói đến. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn tập trung vào Lời Chúa trong bài Tin mừng theo thánh Gioan (Ga 15,9-17) chúng ta vừa nghe[1], trong đó Chúa Giêsu nói những lời từ biệt cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Hai từ nổi bật trong bài Tin mừng: Tình yêu và Niềm vui.
Trong bài Tin Mừng, chúng ta nghe thấy rằng: “Thiên Chúa là tình yêu, hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình”. Trong những lời này, chúng ta tìm thấy tâm điểm của đời sống Kitô hữu và có lẽ không có lời nào tốt hơn để hướng dẫn đời sống của một linh mục.
Sau đó, Chúa Giêsu nói tiếp “Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn”. Tình yêu và niềm vui luôn đi đôi với nhau. Khi một linh mục thực sự sống với thánh chức của mình, khởi đi từ tình yêu thương thì điều này cũng sẽ dẫn đến niềm vui, cho linh mục và cho những người xung quanh.
Tình yêu mà linh mục được kêu gọi được tìm thấy trong việc phục vụ. Nhiệm vụ của linh mục là để phục vụ dân Chúa, để tìm thấy Chúa Giêsu trong những người mà các linh mục phục vụ: các bệnh nhân, người già đóng neo đơn, mục vụ trong mùa Giáng sinh và Phục sinh, những tín hữu thờ ơ, nguội lạnh, người bị gạt ra ngoài lề xã hội, người giàu và người nghèo, người già và trẻ nhỏ. Các linh mục phải phục vụ tất cả họ bằng con mắt của đức tin. Để mỗi người trong số họ có phẩm giá và giá trị ngang nhau. Một linh mục phải tìm thấy Chúa Giêsu ẩn mình giữa những người mà mình phục vụ.
Một trong những định nghĩa hay nhất về linh mục quản xứ mà tôi đã được nghe là: “Linh mục quản xứ trở nên một với giáo dân và giáo dân nên một với linh mục quản xứ”. Một linh mục phải đi đến với giáo dân. Các linh mục đừng có suy nghĩ rằng liệu giáo dân nào xứng đáng để mình phục vụ hay không. Các linh mục phải phục vụ mà không mong chờ giáo dân đáp lại bất cứ điều gì. Đừng quên và cũng đừng tránh những người có đời sống đạo nguội lạnh, những người ít lui tới nhà thờ hay những người đang chống đối Giáo hội.
Trong cái nhìn về các bí tích trong Đạo Công Giáo của chúng ta, chúng ta thấy rằng tất cả đều là một con đường dẫn chúng ta đến gần với Thiên Chúa. Chúa Giêsu thậm chí còn sử dụng những con người yếu đuối, tội lỗi như chúng ta làm linh mục của Ngài. Một linh mục không cần nản lòng vì tội lỗi và sự yếu đuối của mình. Nhưng hãy thành thật đối mặt với nó. Hãy nhìn nhận tội lỗi và sự yếu đuối của mình. Không được nản lòng vì điều đó, mà hãy trung thực với chính mình. Điều này sẽ giúp các linh mục không có cảm giác được hưởng quyền lợi, không cảm thấy mình vượt trội hoặc hơn những người khác. Điều này sẽ giúp các linh mục nhân ái hơn, nhân từ hơn với tất cả những người họ gặp gỡ. Có người từng nói rằng khi nhìn một người bước vào đời linh mục, họ tự hỏi rằng liệu một giáo dân bình thường như anh ta có trở thành linh mục được không. Xin thưa rằng: khi một linh mục bắt đầu phục vụ tại nhiệm sở đầu tiên trong đời linh mục, nghĩa là linh mục đó chỉ mới bắt đầu học để trở thành một linh mục. Các linh mục phải phục vụ giáo dân của mình bằng tình yêu thương, tìm thấy Chúa Giêsu trong họ, và học cách trở thành một linh mục từ họ.
Chức linh mục được thể hiện rõ ràng nhất khi linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể. Nó không đơn giản chỉ là nghi lễ bên ngoài hay việc phải cử hành cho đúng nghi thức. Trung tâm điểm của Bí tích Thánh Thể đối với linh mục có lẽ được tìm thấy rõ nhất trong lời truyền phép mà các ngài đọc mỗi ngày khi cử hành Bí tích Thánh Thể: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Các linh mục không chỉ nói những lời đó, nhưng còn phải sống những lời đó. Ý nghĩa của chức linh mục được tìm thấy trong những từ đó. Các linh mục phải hy sinh cuộc sống của mình cho những người mà các ngài phục vụ.
Chức Linh Mục là một Bí Tích, Bí Tích Truyền Chức Thánh. Trong truyền thống Công giáo của chúng ta, chúng ta biết rằng lời cầu nguyện và niềm tin là không thể thiếu với nhau, cách chúng ta cầu nguyện là cách chúng ta thể hiện niềm tin của mình. Vì vậy, chúng ta phải thể hiện một cách trực quan những gì chúng ta tin. Các linh mục nên tự hỏi lương tâm mình rằng, “Qua đời sống linh mục của tôi, mọi người thấy gì?”
Khi giáo dân nhìn vào cách các linh mục đang sống với thánh chức của mình, họ sẽ thấy gì? Hy vọng rằng những gì giáo dân nhìn thấy ở mỗi linh mục là người mà họ đang cần. Họ sẽ thấy một linh mục chăm lo cử hành Bí tích, một linh mục luôn chuẩn bị bài giảng, một linh mục luôn hiện diện với người bệnh, người nghèo và người hấp hối. Giáo dân sẽ quan tâm đến cách các linh mục đón tiếp và gặp gỡ giáo dân. Hi vọng tôi sẽ được nghe giáo dân nói rằng: các tân linh mục đây sẽ là những linh mục mà giáo dân có thể đến gặp, những linh mục đón nhận giáo dân với lòng thương xót và sự chăm sóc. Giống như Chúa Giêsu đã nói: Hãy đến với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường.
Tôi đang suy nghĩ về một lời khuyên mà tôi sẽ đưa ra cho bất kỳ ai đang bước vào đời linh mục. Một lời khuyên mà tôi dành cho các tân chức. Tôi nghĩ lại về những lời khuyên mà tôi đã nhận được trong đời linh mục của mình. Một lời khuyên mà tôi nghĩ đến, là lời khuyên từ cha của tôi khi tôi đang còn là chủng sinh. Lời khuyên duy nhất bố dành cho tôi: Hãy tử tế với mọi người. Có vẻ như lời khuyên này nghe có vẻ đơn giản vào thời điểm đó, nhưng tôi thấy rằng đó có lẽ là lời khuyên quan trọng nhất mà tôi đã nhận được. Hơn 28 năm làm linh mục, tôi đã có lúc hối hận vì đã không tử tế với mọi người, nhưng chưa bao giờ tôi hối hận vì đã quá tử tế với mọi người. Vì vậy, đó sẽ là lời khuyên của tôi cho các tân linh mục: Hãy tử tế với mọi người.
Có hai từ mà chúng ta đã bắt đầu ngày hôm nay: Tình yêu và Niềm vui. Trong ơn gọi của mỗi người chúng ta, dù là hôn nhân, sống độc thân, đời linh mục, đời sống tu trì, nếu chúng ta biết cho đi cuộc sống của mình trong tình yêu, thì lúc đó chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và mang lại niềm vui cho người khác. Một linh mục dâng hiến cuộc đời mình trong tình yêu thương, thực sự yêu thương những người mà mình phục vụ, thì linh mục đó sẽ tìm thấy niềm vui trong chức vụ của mình và mang lại niềm vui cho những người mà mình phục vụ.
Jos. Đăng Vũ
Chuyển ngữ từ: catherineofsienachurch.ca (06.5.2018)
[1] Tin mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh Năm B, Ga 15, 9-17:
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau”.
Tác giả: Lm. Mark Gatto
2022
Tội phạm và hình phạt theo luật Giáo Hội Công Giáo
Tội phạm và hình phạt theo luật Giáo Hội Công Giáo
Xét theo bản chất, Giáo Hội Công Giáo vừa là một thực thể tâm linh (nhiệm thể Chúa Kitô) vừa là một đoàn thể hữu hình bao gồm các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Kitô). Đồng thời, Giáo Hội là một tổ chức có cơ cấu phẩm trật, trong đó các phần tử đối với nhau theo công bằng và bác ái. Ngoài ra, các tín hữu phải vâng phục các vị lãnh đạo của mình tại địa phương cũng như tại trung ương.
- Quyền bính của Giáo Hội
Xét theo đối ngoại, Giáo Hội lãnh nhận quyền hành từ Chúa Giêsu, Đấng Sáng Lập Giáo Hội, chứ không phải do nhân dân hay Nhà nước ban cấp. Do đó, Giáo Hội gọi quyền này là quyền bẩm sinh (x. đ. 362; 747 §1; 1254 §1; 1260). Xét theo đối nội, Giáo Hội phải đặt ra những quy luật thường được gọi là “luật” để xác định rõ ràng tương quan công lý giữa các phần tử. Trước tiên, Giáo Hội phải chu toàn những nghĩa vụ với Chúa như trung thành với Lòi Chúa, đức tin, bí tích, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Tiếp theo, Giáo Hội nhắc nhở các tín hữu chu toàn những nghĩa vụ của họ đối với Chúa và Giáo Hội, sống xứng đáng với địa vị con cái Thiên Chúa, hiệp thông để xây dựng Giáo Hội vững mạnh trong đức tin, đức cậy, và đức ái.
- Giáo Hội là cộng đoàn các thánh
Giáo Hội ý thức mình là cộng đoàn các thánh nhưng cũng ý thức rằng tất cả thành phần của Giáo Hội đều là những con người yếu đuối tội lỗi (1Ga 1,18). Do đó, có những thánh phần vi phạm luật lệ, không những gây nên xáo trộn trật tự nhưng còn nghịch lại bản tính thánh thiện của các tín hữu cũng như cộng đoàn Kitô. Một đàng, Giáo Hội tỏ ra nghiêm khắc do ý thức cao độ về ơn cứu độ và sự thánh thiện. Đàng khác, Giáo Hội tỏ ra thông cảm do ý thức về thân phận mỏng dòn của con người. Chính các vị lãnh dạo Giáo Hội đã trải qua những sa ngã nhờ ơn Chúa. Thánh Phêrô chối Chúa 3 lần. Thánh Phaolô đã lộng ngôn, bách đạo và ngạo ngược nhưng đã được Chúa thương xót…(1Tim 1,13-15) Trong xã hội hoặc Giáo Hội, có những thành viên hành động sai lầm nên gây thiệt hại cho cộng đoàn và cá nhân. Xã hội có những hình phạt dành cho các phạm nhân vì làm rối loạn trật tự công cộng. Giáo Hội bài trừ các tội phạm vì chúng làm hoen ố sự thánh thiện của Giáo Hội.
- Ý niệm và những yếu tố tạo nên tội phạm
Theo Giáo luật, tội phạm được hiểu như là sự vi phạm bên ngoài và có thể quy trách một luật có thể gắn theo một chế tài ít là bất định. Có 3 yếu tố cấu thành tội phạm:
1/ Sự vi phạm bên ngoài về một luật hoặc một mệnh lệnh của Giáo Hội qua lời nói hoặc hành động;
2/ Hành vi ấy có thể quy trách được cho chủ thể, nghĩa là đương sự phải nhận trách nhiệm về hành vi đó khi vi phạm luật cách ý thức và tự do;
3/ Luật hay mệnh lệnh có kèm theo chế tài. Một hành vị chỉ bị coi là tội phạm khi vi phạm một luật có kèm theo hình phạt. Một điều đáng chú ý là chỉ có những tín hữu Công Giáo mới là chủ thể của tội phạm bị trừng phạt theo quy định của bộ Giáo luật.
- Khàc biệt giữa “tội lỗi” (sin) và “tội phạm” (delict)
“Tội lỗi” là từ dùng cho sự vi phạm trong lãnh vực luân lý. Tội phạm dùng trong lãnh vực hình sự. Tội lỗi khác biệt với tội phạm ở những điểm sau:
1/ Tội lỗi có thể diễn ra trong tâm tư, lời nói và hành động. Tội phạm phải được thực hiện ra bên ngoài;
2/ Tội lỗi có thể là nặng hoặc nhẹ (tội nặng hoặc tội nhẹ), trong khi có chỉ có những vi phạm nặng mới có thể trở thành tội phạm;
3/ Tội lỗi là sự vi phạm luân lý nói chung. Tội phạm chỉ giới hạn vào luật hình sự mà thôi.
- Mục đích Giáo Hội áp dụng những hình phạt
Giáo luật điều 1399 qui định tổng quát: Ngoài những trường hợp do luật này hay do những luật khác ấn định, sự vi phạm bên ngoài về một luật Thiên Chúa hay luật Giáo Hội chỉ có thể bị một hình phạt thích đáng, khi tính cách nghiêm trọng đặc biệt của sự vi phạm đòi hỏi một sự trừng phạt, và khi có yêu cầu thúc bách phải phòng ngừa hay sửa chữa những gương xấu. Hình phạt là biện pháp của Giáo luật trừng trị tội phạm. Hình phạt gồm có 3 yếu tố:
1/ Bị giới hạn hưởng điều tốt. Phạm nhân có thể bị giới hạn về những điều tốt bên ngoài như không được tham dự các bí tích hoặc giữ các chức vụ; 2
/ Vị lãnh đạo mới có quyền thiết lập và áp dụng những hình phạt nhất định (đ. 1319);
3/ Mục đích chính hình phạt là cải hóa phạm nhân và sửa chữa tội phạm. Khi ra hình phạt, Giáo Hội không nhắm đến việc loại trừ phạm nhân ra khỏi cộng đoàn cho bằng tìm cách giúp họ xứng đáng lãnh nhận ơn cứu rỗi. Chính vì thế, cải hóa phạm nhân đi trước việc trừng trị tội phạm.
- Những hình phạt “chữa trị” (penal remedies) và những hình phạt “đền tội” (expiatory penalties)
Hình phạt “chữa trị” được coi như thuốc chữa bệnh, giúp cải thiện phạm nhân để họ từ bỏ cố chấp. Trước khi ra hình phạt, cần phải cảnh cáo họ để họ từ bỏ sự cố chấp, nếu khuyến cáo vô ích thì mới dùng hình phạt (đ. 1347 §1). Hình phạt này kéo dài cho đến khi phạm nhân thành thực hối lỗi. Phạm nhân được tha khi chấm dứt sự cố chấp (đ. 1358 §1). Hình phạt “đền tội” hay báo đáp được áp dụng vì ích lợi thiện ích công cộng hơn là cá nhân. Hình phạt này thường được xác định thời gian.
- Những vị có thẩm quyền thiết lập hình phạt dưới hình thức luật hoặc mệnh lệnh
Những vị có thẩm quyền được phân chia ra như sau:
1/ Chí có những vị nào có thẩm quyền lập pháp mới có thể thiết lập luật hình sự (đ. 1315);
2/ Ai được quyền cai quản thì có thể thiết lập mệnh lệnh hình sự (đ. 1319). Những người có thẩm quyền lập pháp gồm có:
- a) Đức Thánh Cha và Công đồng hoàn vũ, đối với toàn thể Giáo Hội;
- b) Các công đồng địa phương (quốc gia, miền) trong giới hạn địa phương;
- c) Giám mục giáo phận trong giáo phận của mình.
Điều 1315 giải thích thêm về việc cơ quan địa phương có thẩm quyền trong 5 điểm sau:
- a) Họ có thể ban hành luật kèm theo hình phạt dành cho địa phương của mình (đ. 1315 §1), thí dụ thêm hình phạt cho các sòng bạc, buôn ma tuý hoặc buôn dâm;
- b) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật Chúa (đ. 1315 §1) thi dụ như thêm hình phạt cho những người ly dị tại toà án dân sự;
- c) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật do cấp trên ban hành (đ. 1315 §1); d) Khi cần thiết trầm trọng, họ có thể tăng thêm hình phạt vào một luật hình do cơ quan lập pháp toàn cầu đã ban hành (đ. 1315 §3);
- e) Họ có thể quy định hình phạt xác định và bó buộc mà luật chung có tính cách bất định hoặc nhiệm ý (đ. 1315 §3).
Tuy nhiên, điều 1317 nhắc nhở: Chỉ nên thiết lập hình phạt khi thực sự cần thiết để bảo vệ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp.
- Tính chất hình luật
Khi áp dụng , những hình luật có thể là “xác định” (determinate) hay “bất định” (indeterminate), có thể là “bắt buộc” (obligatory) hay “nhiệm ý” (facultative). Gọi là xác định khi luật đã xác định rõ ràng hình phạt cho phạm nhân, thí dụ ai phạm tội ly giáo thì bị phạt tuyệt thông (x. đi 1364). Gọi là bất định vì nhà lập pháp dành việc xác định hình phạt cụ thể cho cơ quan hành pháp (đ. 1315 §2). Gọi là bắt buộc khi luật buộc phải ra hình phạt phạm nhân. Gọi là nhiệm ý khi luật để cho nhà chức trách tùy nghi thẩm định có cần ra hình phạt hay không (đ. 1369; 1370 §3; 1371; 1372; 1376; 1377; 1379; 1381; 1386; 1392; 1395 §2; 1396). Ngoài ra còn có hình phạt “tiền kết” hay tự kết (latae sententiae) và hình phạt “hậu kết” (ferendae sententiae). Về hình phạt tiền kết, phạm nhân mắc phải hình phạt ngay khi vi phạm do luật qui định và không cần tòa kết án (x. đ 1314). Hình phạt hậu kết chỉ nhận hình phạt sau khi bị toà kết án.
- Những tội phạm mắc phải các hình phạt tiền kết
- Có 6 tội phạm mắc hình phạt tuyệt thông tiền kết:
1/ Những người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo (đ. 1364 §1);
2/ Những người ném bỏ, lấy hoặc giữ Mình Máu Thánh Chúa với mục đích phạm thánh (đ. 1367);
3/ Người nào dung vũ lực thể lý chống lại Đức Giáo Hoàng Roma (đ. 1370 §1);
4/ Tư tế nào giải tội phạm điều thứ sáu cho người đồng lõa, chiếu theo điều 977 (đ. 1378 §1);
5/ Giám Mục nào phong chức Giám Mục cho một người mà không có thư ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng, cũng như người nào được vị ấy truyền chức cho (đ. 1382);
6/ Cha giải tội trực tiếp vi phạm ấn tòa giải tội (đ. 1388)
- Có 5 tội phạm mắc hình phạt cầm chế tiền kết:
1/ Người nào dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (đ. 1370 §2);
2/ Người nào không phải là tư tế mà cám cử hành Thánh Lễ hay ban bí tích Giải tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (1378 §2);
3/ Giám mục phong chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383);
4/ Người nào cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1);
5/ Một giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là dân sự, thì bị vạ huyền chức tiền kết (đ. 1394 §1)
- Có 6 tội phạm mắc hình phạt huyền chức:
1/ Giáo sĩ dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (1370 §2);
2/ Giáo sĩ không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể hoặc dám ban bí tích Giải Tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (đ 1378 §2);
3/ Người được thụ phong do một Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383);
4/ Giáo sĩ cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1);
5/ Giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự (đ. 1394 §1)
- Có 1 tội phạm mắc cấm chế tiền kết: Giám Mục truyền chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có giấy giới thiệu hợp pháp, thì bị cấm truyền thức trong vòng một năm (đ. 1383
- Những hình phạt chữa trị
Trong bộ Giáo luật hiện hành, nhà lập pháp đã liệ kê ba thứ hình phạt chữa trị: tuyệt thông (excommunication), cấm chế (censure) và huyền chức (suspension).
1/ Hình phạt vạ tuyệt thông ngăn cấm phạm nhân lãnh nhận tất cả các bí tích. Chính đương sự tự ý rời bỏ Giáo Hội, chứ không phải là Giáo Hội đã trục xuất họ (x. Đ. 316 §1; 1117);
2/ Cấm chế có nghĩa là bị cấm đoán. Trong giai đoạn một, phạm nhân bị: a) cấm không được làm thừa tác viên trong các buổi cử hành phụng vụ; b) cấm không được ban và nhận lãnh các bí tích và á bí tích. Trong giai đoạn hai (sau khi bị tuyên án) phạm nhân bị trục xuất khỏi các buổi cử hành phụng vụ hay buổi lễ phải tạm đình chỉ;
3/ Huyền chức (suspension) chỉ áp dụng cho giáo sĩ. Phạm nhân bị cấm thi hành các chức năng thuộc quyền thánh chức, quyền cai quản hoặc quyền lợi trong bậc giáo sĩ (đ. 1333 §1)
- Những hình phạt đền tội
Những hình phạt đền tội nhắm mục đích sửa chữa những tổn hại mà tội phạm đãy gây ra. Điều 1336 §1 nêu lên 5 hình thức hình phạt vĩnh viễn hoặc tạm thời:
1/ Cấm chỉ (prohibition) hay bắt buộc lưu trú tại một nơi hay một lãnh thổ nhất định. Hình phạt này áp dụng cho giáo sĩ và tu sĩ;
2/ Tước quyền hành (privation of power) hay chức vụ (office), nhiệm vụ (function), quyền lợi (right), đặc ân (privilege), năng quyền (faculty), ân huệ (grace) danh hiệu (title) hoặc phù hiệu (insignia) dù chỉ là thuần túy danh dự;
3/ Cấm thi hành những điều kê khai ở số 2 hoặc cấm thi hành các điều ấy ở một nơi hoặc ngoài một nơi nhất định;
4/ Thuyên chuyển sang chức vụ khác vì tính cách hình sự. Theo giáo luật, có thứ thuyên chuyển như là thủ tục hành chánh (đ. 190-191; 1748-1752) nhắm tới ích lợi của các tín hữu hoặc nhu cầu của Giáo Hội. Còn sự thuyên chuyển hình sự nhằm trừng phạt một tội phạm;
5/ Trục xuất khỏi hàng giáo sĩ. Ấn tích đã nhận lãnh do chức thánh không thể nào bị hủy bỏ hoặc tước đoạt (đ. 1328 §2). Tuy nhiên, giáo sĩ bị cấm thi hành tác vụ chức thánh và mất hết quyền lợi bậc giáo sĩ. Việc cấm thi hành chức thánh bị đình chỉ mỗi khi cần phải giúp một người tín hữu đang trong tình trạng nguy tử (đ. 1338 §2, đ. 1335)
- Những biện pháp hình sự và việc sám hối
Điều 1339 nói đến hai biện pháp “cảnh cáo” (warning) và “khiển trách” (rebuke). Bề Trên cảnh cáo để họ dừng lại việc họ đang toan tính hoặc cảnh cáo họ từ bỏ sự cố chấp. Cảnh cáo bằng văn thư là điều kiện hữu hiệu cho việc tuyên kết (đ. 1347). Nhà lập pháp đòi hỏi Bề Trên Dòng tu phải cảnh cáo tu sĩ hai lần trước khi tiến hành thủ tục trục xuất (đ. 697). Bề trên khiển trách đương sự để họ thấy hạnh kiểm của họ gây ra gương xấu và xáo trộn trật tự trầm trọng. Theo sự khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền có thể thêm những việc sám hối vào dược hình cảnh cáo và khiển trách thay vì đưa ra cách hình phạt nặng hơn vì phạm nhân đáng được khoan hồng (đ. 1324 §1; 1328 §2) hay đã hối cải (đ. 1343)
Lm. Nguyễn Tất Thắng OP
2022
Giáo Luật về vấn đề phá thai
Giáo Luật về vấn đề phá thai
Sự sống con người là một hồng ân cao quý mà Thiên Chúa ban tặng vì con người là một nhân vị được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, là một cái gì có tính cách linh thánh vì sự sống phát xuất từ Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa.
Sự sống con người cũng là một cái gì hết sức quý báu, vì nó nền tảng của mọi phúc lợi, là nguồn gốc và là điều kiện tất yếu cho mọi sinh hoạt con người và mọi cảm thông trong xã hội. Không có gì gần gũi con người hơn sự sống của chính mình, đụng đến sự sống là đụng đến chính con người. Tôn trọng sự sống là khởi nguồn của mọi tôn trọng các quyền căn bản của con người.
Vì thế, tội giết người là một tội rất nghiêm trọng, vì là tội ác chống Thiên Chúa, Đấng duy nhất có quyền sinh tử, và là tội ác chống tha nhân vì mình đã tước đoạt của họ một giá trị hết sức quý báu. Thiên Chúa đã ra lệnh: “Ngươi không được giết người” (Xh 20,13; Đnl 5,17). Trong tất cả tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống thì sự phá thai do cố ý là một tội ác đặc biệt nghiêm trọng. Đây chính là một loại giết người hết sức ghê tởm vì nạn nhân trong trường hợp này là một kẻ vô tội chưa đủ khả năng tự vệ.
- Vấn đề phá thai
“Phá thai là lấy khỏi bụng mẹ một con người không thể sống được dựa vào một phương pháp nào đó của con người, hoặc bằng cách giết nó trước khi lấy ra khỏi bụng mẹ, hoặc bằng cách làm cho nó phải liều mạng khi sống ngoài bụng mẹ” (KARL H. PESCHKE, Christian Ethics, vol. II: “Special Moral Theology”. Bản dịch tiếng Việt “ Thần học luân lý chuyên biệt, Tập Hai, Tủ sách chuyên đề, trang 285). Vấn đề đặc biệt được nêu ra là chính xác khi nào phôi thai là một con người đúng nghĩa? Từ xưa đến nay đã có hai lý thuyết khác nhau:
– Aristote và thánh Tôma Aquinô cho rằng linh hồn có lý trí chỉ được phú cho thân xác sau khi trứng thụ tinh ấy phát triển tới một mức nào đó. Còn trước đó, phôi thai chỉ có một sự sống thực vật và động vật.
– Các học giả gần đây cho rằng phôi thai đã có linh hồn ngay từ khi thụ thai.
Giáo Hội không đưa ra lời tuyên bố chính thức nào, tán thành hay phi bác một trong hai lý thuyết vừa kể. Tuy nhiên, vì cả hai ý kiến đều có khả năng đúng và vì đứng trước một vấn đề nghiêm trọng là sự sống con người, nên Giáo Hội chỉ còn cách là phải chọn theo hướng hành động nào an toàn hơn Trong trường hợp có sự hoài nghi thì phải theo ý kiến nào đảm bảo hơn, vì nó tránh được nguy hiểm lỗi luật mà phạm tội, theo nguyên tắc luân lý: “In dubio tutior pars est eligenda”. , đó là luôn luôn đối xử với một trứng thụ tinh và còn sống như một con người, với đầy đủ quyền lợi của một con người, bất kể nó đang ở trong giai đoạn phát triển nào.
“Cần phải tôn trọng sự sống con người ngay từ khi bắt đầu quá trình sinh sản. Từ khi trứng thụ tinh, đã có một sự sống mới bắt đầu, không phải của cha, cũng không phải của mẹ. Đúng hơn đó là sự sống của một con người mới sẽ được phát triển riêng. Sự sống ấy sẽ không bao giờ trở thành người được nếu đã không là người” (BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên ngôn Về việc phá thai. III.12.)
- Tính luân lý của việc phá thai
2.1. Lý do biện minh
Có bốn lý do được đưa ra biện minh cho việc phá thai:
2.1.1. Lý do ưu sinh: Lý do ưu sinh đòi phải phá thai trong những trường hợp dự đoán khá chắc chắn trẻ sơ sinh sẽ bị những khuyết tật nghiêm trọng.
2.1.2. Lý do có tính đạo đức: Lý do có tính đạo đức như khi mang thai do bị cưỡng hiếp. Phá thai trong trường hợp này được biện minh là vì đứa trẻ sinh ra là một gánh nặng không chính đáng mà người mẹ phải chịu ngược với ý muốn của mình và vì thế khó lòng yêu thương nó.
2.1.3. Lý do có tính xã hội: Lý do có tính xã hội như khi đứa trẻ (được sinh ra thêm) là một gánh nặng quá lớn về mặt xã hội và đặc biệt về mặt kinh tế cho gia đình hay cho người mẹ.
2.1.4. Lý do có tính y học hay trị liệu: Lý do có tính y học hay trị liệu khi tính mạng của người mẹ bị nguy hiểm nghiêm trọng do việc mang thai.
2.2. Luân lý tính
Luân lý Công giáo tuyệt đối bác bỏ mọi hình thức phá thai vì những lý do ưu sinh, đạo đức và xã hội, coi đó chỉ là những hình thức giết hại trẻ vô tội.
Thần học luân lý công giáo ít ra nhìn nhận phá thai trị liệu cách gián tiếp trong những trường hợp có nguy hiểm trầm trọng tới tính mạng của người mẹ là hợp pháp. Gọi là phá thai gián tiếp khi ta chỉ cho phép phôi thai chết như một hậu quả đi kèm theo một điều ta trực tiếp nhắm tới, như làm chết phôi thai do cắt bỏ tử cung bị ung thư của một người mẹ đang mang thai Trong trường hợp này, ta áp dụng nguyên tắc song hiệu: một sự việc (ở đây là cuộc giải phẫu) có thể gây ra hai hiệu quả, một hiệu quả tốt (là điều duy nhất ta muốn nhắm tới) tức là sức khoẻ người mẹ, và một hiệu quả xấu, nhưng không thể nào tránh được dù ta không nhắm tới (phôi thai chết). Hai hiệu quả quan trọng (hai mạng sống) nhưng độc lập với nhau: người mẹ được cứu không phải do ta diệt phôi thai, nhưng do ta cắt bỏ tử cung bị ung thư..
Vấn đề phá thai trị liệu cách trực tiếp nghĩa là việc phá thai trực tiếp muốn như một phương tiện xấu (giết hại bào thai) để đạt được mục đích tốt (chữa bệnh cho người mẹ) thì không hợp với luân lý. (Còn Tiếp)
- Giáo luật về vấn đề phá thai
Trực tiếp tiêu diệt sự sống một người vô tội bao giờ cũng là một hành vi xấu từ bản chất. Phá thai tự bản chất của nó là xấu, chứ không phải là xấu bởi vì Giáo Hội cấm đoán. Giáo Hội chỉ cấm phá thai bởi vì tự bản chất phá thai là xấu.
Công đồng Vativcan II đã khẳng định phá thai là tội ác ghê tởm chống lại sự sống: “Sự sống ngay từ lúc thụ thai đã phải được giữ gìn hết sức cẩn thận: phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm” (GS 51).
Giáo huấn luân lý Kitô giáo luôn luôn coi phá thai là một trọng tội: “Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã khẳng định mọi vụ phá thai đều là tội ác luân lý. Giáo huấn đó không thay đổi. Giáo huấn đó vẫn luôn luôn không thể thay đổi. Việc phá thai trực tiếp, nghĩa là, hoặc được muốn như mục đích hoặc được muốn như phương tiện, đều trái ngược một cách nghiêm trọng với luật luân lý” (GLHTCG. số 2271).
Theo Giáo luật hiện hành, Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho những ai đã phá thai thành công: “Người nào thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết” (Điều 1398).
1/ Tội phạm
Tội phá thai có hiệu quả. Nếu chỉ có ý mà không thi hành hoặc thực hiện mà không có kết quả thì chỉ mắc tội mà không mắc vạ.
Tội phạm cấu thành mỗi khi không những là một thai nhi bị loại ra khỏi tử cung, mà còn là một hành động được thực hiện trực tiếp nhằm giết một thai nhi còn sống – kể từ khi bắt đầu thụ thai – dù là ở trong dạ mẹ hay ở ngoài, bất kể dùng phương tiện nào, miễn là phát sinh hiệu quả.
2/ Hình phạt
Hình phạt đối với tội phá thai là bị vạ tuyệt thông tiền kết Giáo luật phân biệt hai loại hình phạt:
– Hình phạt tiền kết: khi luật hoặc mệnh lệnh ấn định rằng phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội.
– Hình phạt hậu kết: phạm nhân chỉ chịu hình phạt sau khi vị thẩm phán hoặc Bề Trên tuyên bố thật sự..
Giáo sĩ vi phạm, ngoài vạ tuyệt thông, còn bị coi là bất hợp luật để chịu chức và để thi hành chức thánh đã lãnh nhận (Điều 1041, 40 và 1044 §1, 30).
Tu sĩ vi phạm, ngoài vạ tuyệt thông (và những bất hợp luật nếu là giáo sĩ), còn bị sa thải khỏi tu hội (Điều 695 §1).
Theo Điều 1331, những người bị vạ tuyệt thông bị cấm:
– Tham dự cuộc cử hành Hiến Tế Thánh Thể và bất cứ nghi lễ phụng vụ nào khác bằng bất cứ cách nào với tư cách là thừa tác viên;
– Cử hành các bí tích hay các á bí tích, và lãnh nhận các bí tích;
– Thi hành các giáo vụ, các thừa tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hoặc thực hiện những hành vi lãnh đạo.
3/ Những ai bị phạt?
Những người bị phạt là người đi phá thai, những người thực hiện và những người đồng loã phạm tội (Điều 1329). Có sự đồng loã phạm tội khi nhiều người cộng tác với chủ ý chung là thực hiện cùng một hành vi tội phạm.
– Nguời đi phá thai.
– Y tá, bác sĩ thực hiện việc phá thai, hoặc dược sĩ bán thuốc phá thai.
– Những người đã xúi giục, khuyến khích việc phá thai.
– Cha mẹ, anh chị em, bè bạn đã tham gia tích cực vào công việc phá thai.
Nguyệt san Công Giáo và Dân tộc, số 1759, tuần lễ từ 28.5 đến 03.06.2010, trang 26, đã đưa tin như sau: “Một nữ tu ở Mỹ, dòng Thương xót đã bị vạ thuyệt thông và mất việc vì tham gia vào quyết định cho phá thai. Đức Giám Mục giáo phận Koenig bang Arizona nói rằng nữ tu này đã bị vạ tuyệt thông tức khắc theo giáo luật vì đã tham gia quyết định cho phá bào thai của một phụ nữ bị bệnh nặng tại nhà thương Thánh Giuse ở TP Koenig. Nữ tu cũng bị loại bỏ chức vụ phó giám đốc nhà thương. Vụ phá thai này xảy ra hồi năm ngoái”.
Có trường hợp người lỗi luật biết luật (vd. cha mẹ, anh chị em đồng loã trong việc phá thai…) nhưng không biết có hình phạt vạ tuyệt thông kèm theo (de ignorantia poenae) thì người lỗi luật đó cũng vẫn mắc vạ, vì đây là một vạ phạt thông thường mà người đó phải sử dụng những phương thế cần thiết để biết sự lỗi luật phải chịu một hình phạt tương xứng.
Vì thế, các linh mục có bổn phận phải loan báo Tin Mừng về sự sống và trình bày cho giáo dân hiểu rõ về tội phá thai và hình phạt tương xứng kèm theo.
- Tha vạ tuyệt thông tiền kết tội phá thai
Vạ tuyệt thông là một hình phạt chủ yếu dùng để sửa dạy người phạm pháp.
4.1. Trong tình trạng nguy tử
Hình phạt không tự chấm dứt. Tuy nhiên, hình phạt cấm lãnh nhận các bí tích sẽ bị đình chỉ bao lâu phạm nhân còn trong tình trạng nguy tử (Điều 1352§1).
Cũng trong trường hợp nguy tử, bất cứ tư tế nào, cho dù không có năng quyền giải tội, cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử. Mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận (Điều 976).
4.2. Cha giải tội tha ở toà trong
Trong trường hợp bình thường, “cha giải tội có thể tha ở toà trong, lúc ban bí tích, vạ tuyệt thông tiền kết hay vạ cấm chế tiền kết chưa được tuyên bố, nếu hối nhân cảm thấy khổ sở khi phải sống trong tình trạng tội trọng suốt thời gian cần thiết để Bề Trên có thẩm quyền định liệu” (Điều 1357 §1). Khi tha vạ, cha giải tội phải buộc hối nhân, nếu bất tuân, thì sẽ mắc vạ lại, trong vòng một tháng phải thượng cầu lên Bề Trên có thẩm quyền hay lên tư tế có năng quyền và phải tuân theo quyết định của ngài; trong khi chờ đợi, cha giải tội phải ra một việc đền tội cân xứng và phải buộc đương sự sửa chữa gương xấu cũng như đền bù thiệt hại trong mức độ cần thiết; cũng có thể nhờ cha giải tội thực hiện việc thượng cầu này, nhưng không nêu danh tính của hối nhân (Điều 1357 §2).
4.3. Đấng Bản quyền tha vạ tuyệt thông tiền kết
Khi nào phạm nhân thật lòng hối hận về tội phạm của mình và sẵn lòng sửa chữa các thiệt hại và gương xấu cách xứng hợp, hay ít là đã nghiêm chỉnh hứa làm điều ấy thì phải kể như người ấy hết ngoan cố (Điều 1347 §2) và sẽ được Bề Trên có thẩm quyền tha hình phạt (x. 1358 §1).
“Hình phạt tiền kết do luật thiết lập những chưa được tuyên bố, và nếu hình phạt ấy đã không được dành riêng cho Tông Toà, thì có thể được Đấng Bản Quyền tha cho những người thuộc quyền mình và những người đang ở trong địa hạt mình hay những người đã phạm tội tại đó; bất cứ Giám Mục nào cũng có quyền tha hình phạt ấy, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội” (Điều 1355 §2).
Trong Giáo phận Long Xuyên, Đức Giám Mục ban năng quyền cho các linh mục trong Giáo phận được tha vạ tuyệt thông tiền kết, trong khi ban bí tích Giải Tội, cho những ai thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả (Hướng Dẫn Mục Vụ và Năng Quyền, số 5.6, trang 22).
Khi linh mục, chiếu theo luật, giải vạ tuyệt thông tiền kết ở toà trong, lúc ban bí tích Giải Tội cho hối nhân đã chuẩn bị xứng đáng, thì không phải thay đổi mô thức giải tội, nhưng có ý tha vạ là đủ rồi. (x. Prot. số CD 1200/83, ngày 12/09/1983, bí tích Giải Tội, Phụ lục 1, số 1).
Lm. Luy Huỳnh Phước Lâm
