Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
26Tháng Chín
2022

Sáu lý do tại sao chúng ta làm Dấu Thánh giá

26/09/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Sáu lý do tại sao chúng ta làm Dấu Thánh giá

 

Là tín hữu Công giáo, rất nhiều khi chúng ta làm Dấu Thánh giá như một thói quen, và xem việc làm Dấu Thánh giá như là một cử chỉ đạo đức.

Tuy nhiên, Kinh thánh, các Giáo phụ, các vị Thánh trong Giáo hội, và giáo huấn Công giáo đưa ra 6 quan điểm sâu xa về Dấu Thánh giá cho thấy lý do tại sao việc làm Dấu Thánh giá là một lời tuyên xưng đức tin, một lời cầu nguyện đầy sức mạnh, và một phương thế mở ra cho chúng ta những ân sủng.

  1. Dấu Thánh giá, một Kinhtin kính ngắn gọn.

Là một lời tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa như chính Ngài đã mạc khải, Dấu Thánh giá đóng vai trò như một dạng viết tắt của Kinh Tin Kính các Tôngđồ.

Khi đưa tay chạm vào trán, vào ngực, vào vai, và trong một số nền văn hóa, chạm vào môi, chúng ta tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Một cách cụ thể, chúng ta công bố niềm tin vào những gì Thiên Chúa đã thực hiện: sáng tạo muôn vật, cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, thiết lập Giáo hội, đem lại sự sống mới cho tất cả mọi người. Do đó, khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta được nhắc nhớ về sự hiện diện của Thiên Chúa, và mở lòng đón nhận các hoạt động của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.

  1. Dấu Thánh giá, một sự làm mới lại phép Rửa.

Các Kitô hữu vào thế kỷ thứ nhất làm Dấu Thánh giá như một sự nhắc nhở và làm mới lại những gì đã diễn ra khi họ chịu phép Rửa. Cho tới nay, điều này vẫn đang hoạt động theo cùng một cách thế đối với chúng ta.

Khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta tuyên xưng rằng trong phép Rửa, chúng ta đã chết với Chúa Kitô trên thập giá, và được sống một đời sống mới với Người (x.Rm 6, 3-4 và Gl 2, 20). Đồng thời, chúng ta cũng cầu xin Chúa làm mới lại nơi chúng ta những ân sủng của phép Rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Một cách cụ thể, chúng ta nhìn nhận rằng phép Rửa đã kết hợp chúng ta với Đức Kitô và chuẩn bị cho chúng ta vai trò cộng tác với Người trong chương trình cứu độ.

  1. Dấu Thánh giá, một dấu ấn của tư cách môn đệ.

Khi lãnh nhận phép rửa, chúng ta được thuộc về chính Đức Kitô qua Dấu Thánh giá được ghi trên mình chúng ta. Do đó, mỗi khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta từ chối chúng ta thuộc về chính mình, để tuyên bố rằng chúng ta thuộc về Đức Kitô và khẳng định lòng trung thành đối với Người (x. Lc 9, 23).

Các Giáo phụ đã dùng một từ tương tự đối với Dấu Thánh giá mà thế giới cổ đại sử dụng để chỉ quyền sở hữu. Cùng một từ đánh dấu tên của người chăn trên đàn cừu; hình xăm của một vị tướng trên binh lính; dấu hiệu của người chủ trên đầy tớ; và dấu ấn của Đức Kitô trên các môn đệ của Người.

Khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta tự ký nhận rằng mình là chiên của Đức Kitôvà hoàn toàn trông cậy vào sự chăm sóc của Ngài; là binh lính được giao nhiệm vụ làm việc dưới quyền của Đức Kitô để xây dựng vương quốc của Thiên Chúa ngay trên trần gian; và là đầy tớ để tận tâm chu toàn bất cứ điều gì mà Đức Kitô muốn chúng ta thi hành.

  1. Dấu Thánh giá, một sự sẵnsàng chấp nhận đau khổ.

Đức Giêsu đã loan báo rằng đau khổ sẽ là một phần trong đời sống của người môn đệ (x. Lc 9, 23-24). Vì vậy, khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta sẵn sàng vác thập giá của mình để đi theo Đức Kitô (Lc 9, 23), và mở lòng để đón nhận bất cứ đau khổ nào xảy đến với chúng ta.

Tuy nhiên, chính điều này cũng mang lại niềm an ủi khi chúng ta nhận ra rằng Đức Kitô, Đấng đã chịu Đóng đinh trên thập giá, cũng đang đồng hành và nâng đỡ chúng ta trong mọi nỗi gian truân.

Hơn nữa, việc làm Dấu Thánh giá loan báo một chân lý khác đó là, giống như Thánh Phaolô, chúng ta mang lấy những đau khổ như là chi thể của Chúa Kitô,hầu góp phần vào công cuộc cứu độ, và mang lại lợi ích cho nhiệm thể củaNgười là Hội Thánh (x. Cl 1, 24).

  1. Dấu Thánh giá, một vũkhí kép chống lại ma quỷ.

Đức Giêsu chết trên thập giá không phải là một thất bại mà là một chiến thắng vĩ đại trước sự dữ và ma quỷ (x. 1 Cr 2, 8). Do đó, khi làm Dấu Thánh giá, chúng ta tuyên bố sự bất khả xâm phạm của chúng ta trước ảnh hưởng của ma quỷ. Nhưng, quan trọng hơn, Dấu Thánh giá cũng là một vũ khí tấn công giúpchúng ta hợp tác với Đức Giêsu trong việc bảo vệ vương quốc Thiên Chúa chống lại thế lực của bóng tối và sự dữ.

  1. Dấu Thánh giá, một sứcmạnh chiến thắng trên xác thịt.

Trong Tân Ước, từ “xác thịt” tổng hợp tất cả những khuynh hướng xấu xa của con người cũ vẫn còn tồn tại trong chúng ta ngay cả sau khi chúng ta chết với Đức Kitô trong phép Rửa (x. Gl 5, 16-22).

Giống như việc cởi bỏ một chiếc áo dơ bẩn, khi làm Dấu Thánh Giá chúng tabày tỏ quyết tâm lột bỏ khuynh hướng xấu xa của mình để mặc lấy con người mới là những hành vi của Chúa Kitô (x. Cl 3, 5-15) và sống dưới sự hướng dẫn của Thần Khí.

Các Giáo Phụ dạy rằng Dấu Thánh Giá phân tán sức mạnh của những cám dỗ mạnh mẽ như giận dữ và ham muốn. Do đó, chúng ta hãy làm Dấu Thánh Giá để thúc đẩy sự tự do của chúng ta trong Đức Kitô và có sức để chiến đấu và chiến thắng những tội lỗi đang bủa vây chúng ta.

***

Như thế, khi hiểu được 6 lý do sâu xa của việc làm Dấu Thánh Giá, chúng ta hãy ghi nhớ và nhắc mình mỗi khi thực hiện cử chỉ rất đơn giản và quen thuộc này,

– để tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa;

– để ghi nhớ rằng chúng ta đã chết với Đức Kitô trong phép Rửa;

– để tuyên bố rằng chúng ta thuộc về Đức Kitô và luôn biết sống tư cách môn đệ;

– để đón nhận bất cứ đau khổ nào xảy đến trong sự hiệp thông với Đức Kitô và Giáo hội;

– để phòng thủ chống lại ma quỷ, mạnh mẽ chiến đấu cho vương quốc của Thiên Chúa;

– để đóng đinh xác thịt của chúng ta vào thập giá, và mặc lấy chính Đức Kitô và bắt chước lối sống của Người.

Hy vọng rằng, khi ý thức để làm Dấu Thánh giá với lòng tin và sự kính cẩn, chúng ta nhận được những phúc lành, được biến đổi, và trải nghiệm nhữnghoa trái trong đời sống Kitô hữu: cầu nguyện với tâm tình tha thiết hơn, chống lại những khuynh hướng xấu của mình một cách hiệu quả hơn, và tương quan với người khác cách ôn hoà, tử tế hơn.

Bert Ghezzi

Chuyển ngữ Nt. Anna Ngọc Diệp, OP

Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More
26Tháng Chín
2022

Vài đóng góp của tự điển Béhaine trong văn hoá ngôn ngữ Việt Nam

26/09/2022
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Vài đóng góp của tự điển Béhaine trong văn hoá ngôn ngữ Việt Nam

 

Bài viết này bàn về tự điển chép tay của LM Pigneau de Béhaine (viết tắt là TVL). Người viết ghi lại kinh nghiệm đọc tài liệu này cũng như vài kết quả thú vị về tiếng Việt.

TVL có thể đọc trên mạng thoải mái (không cần dùng kính lúp[1]!) như từ trang này chẳng hạn archive.org …v.v… Ngoài giá trị về tự điển tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ khá ổn định vào cuối TK 18 và đầu TK 19, ít người biết TVL là một nguồn tra cứu về ca dao và thành ngữ phong phú. Ngay trong mục đàm, TVL đã ghi cách dùng “tục ngữ hằng đàm[2] 俗語恆談”, phản ánh phần nào một đường hướng biên soạn tài liệu này, như các thí dụ ghi nhận trong bài này. Ngoài ra từ ngày có hệ thống nối mạng toàn cầu Internet, vấn đề tham khảo tài liệu không phải cực nhọc như trước đây nữa: td. các tài liệu tham khảo chính của bài viết này có thể tìm đọc trên mạng (td. xem mục 3 bên dưới). Một trường hợp khác là liên hệ rất lâu đời giữa hai ngôn ngữ và văn hoá Việt và Hán – một gợi ý qua bài viết này – từng được cụ Phan Khôi bộc bạch cách đây hơn nửa thế kỉ “Người VN chúng ta về sau phải sang Trung Quốc ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được cái dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc Trung Quốc từ đời thượng cổ. Tôi tuy chưa được nghiên cứu chứ cũng có thấy trong đó một vài tia sáng, rồi đây tôi sẽ viết ra để nêu lên vấn đề” – trích từ trang 34 Việt Ngữ Nghiên Cứu (sđd). Các chữ viết tắt khác là VBL (tự điển Việt Bồ La), NCT (Nguyễn Cung Thông), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716). Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt hay Hán).

  1. Vài trường hợp ca dao tục ngữ

1.1  Giả mù pha mưa: từ nhỏ người viết (NCT) thường nghe tục ngữ giả mù sa mưa hay quá mù ra mưa, nhưng khi tra TVL thì lại là giả mù pha mưa 假𩂟葩𩄎. Câu này hàm ý giả vờ không biết làm gì, khác với các dị bản là giả mù sa mưa, quá mù sa mưa, quá mù ra mưa (Việt Nam Tự Điển, sđd) …v.v… Ít người biết thành ngữ giả mù pha mưa của TK 18, với pha viết chữ Nôm là ba 葩 (từ HV còn có nghĩa là hoa). Pha có một dạng chữ Nôm khác là ba/pha 坡 như trong Truyện Kiều (câu 140)

𦹵坡味襖染𡽫䏧𡗶

Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời …v.v…

Pha có các dị bản là sa, ra. Không thấy LM Theurel ghi cách dùng này (Đàng Ngoài)! Học giả Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, 1895 sđd) giải thích chi tiết như sau:

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị – trang 359

1.2 Chí công mài sắt chầy ngày nên kim: bây giờ thì thường nghe là “có công mài sắt có ngày nên kim”. Chí công mài sắt chầy ngày nên kim viết chữ Nôm (TVL) là 志功埋鉄迡𣈜年針. Tự điển Taberd ghi lại hoàn toàn chữ quốc ngữ, chữ Nôm hơi khác ở chữ chầy[3] dùng trì HV 遲 (15 nét) so với dạng chầy trong TVL 迡 (5 nét, cả hai dạng đều hiện diện trong TVL). Chữ Nôm trong cuốn Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục (khoảng năm 1914) khác với chữ Nôm trong TVL (khoảng 1772/1773) như mài chữ Nôm là 𪿥 (bộ thạch hợp với chữ mai, dạng này hiện diện trong Truyện Kiều/Lý Hạng Ca Dao), so với dạng chữ Nôm trong TVL là mai HV 埋 (bộ thổ). Nên chữ Nôm là 𢧚 (chữ niên hợp với chữ thành biểu ý). Tự điển Theurel (1877), phản ánh ngôn ngữ Đàng Ngoài, tuy dựa vào công trình của LM Taberd (1838), đã dùng dị bản “có công mài sắt có ngày nên kim” và đây là dạng phổ thông cho đến ngày nay. Trong bản Nôm và chữ quốc ngữ (Đàng Ngoài, khoảng 1914 – Quan Văn Đường tàng bản) “Nam Quốc Phương Ngôn Tục Ngữ Bị Lục” cũng ghi “có công mài sắt có ngày nên kim”: chữ kim ghi bằng châm 針 (viết tắt bộ kim) – xem hình chụp bên dưới. Nên chữ Nôm thời TVL dùng chữ niên HV 年 cũng như trong các tài liệu Nôm cổ như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh … Chữ Nôm hậu kì thường thêm chữ thành HV 成 biểu ý vào thanh phù niên để cho rõ nghĩa hơn.

Béhaine (1772/1773, sđd)

Taberd (1838, sđd)

Theurel (1877, sđd)

Ở Đàng Trong, cụ Huỳnh Tịnh Của vẫn giữ nguyên bản gốc[4]:

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895, sđd)

` Trích từ Nam Quốc Phương Ngôn Tục Ngữ Bị Lục, trang này itrithuc.vn

1.3 Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

Mục trồng của TVL ghi “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” so với bây giờ tiếng Việt đa phần dùng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” – chữ Nôm viết là 咹 (果吏}[5] 汝几櫳核 – LM Béhaine ghi trồng chữ Nôm là 槞. Không thấy ghi câu này trong tự điển Theurel – có lẽ không thông dụng ở Đàng Ngoài vào thời này so với Đàng Trong. Câu tục ngữ này cho thấy trái đã thông dụng hơn so với quả, cũng phù hợp với ghi nhận trong VBL với 9 mục ghi trái (< blái) so với 3 lần dùng quả (trái quả, hoa quả, hàng quả) so với TVL có 22 mục trái và 3 mục quả. Sau này trái lại thông dụng ở Đàng Trong so với quả ở Đàng Ngoài[6] (phương ngữ). Điều này cho thấy Đàng Trong (thành hình từ các đợt di dân từ Đàng Ngoài và cộng cư với dân bản địa) có khả năng bảo lưu một số dấu vết của tiếng Việt cổ. Trái là một trường hợp đáng chú ý: tiếng Mường Bi) là tlái, hay plaj (thổ ngữ Mường) – môt dạng proto-Vietic là *k-la:i?, proto-MonKhme là *klaj(ʔ) – VBL ghi trái là blái. An Nam Dịch Ngữ còn ghi quả viên là vườn trái (*blái) 菓園文拜. Các dạng chữ Nôm[7] cổ cũng cho thấy tổ hợp phụ âm bl- như trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh (5a):

敬礼菩蕯 割𠌊𪮏麻助[𢃊]吒

Kính lạy Bồ Tát, cắt trái tay mà trợ [cứu] vua cha

Chữ Nôm trái viết bằng chữ ba 巴 hợp với chữ lai 來 bên trái – hoàn toàn phù hợp với dạng blái của chữ quốc ngữ trong VBL.

Hay trong Cư Trần Lạc Đạo Phú (23a):

咹蒌咹𢁑 業𠱄庄嫌所䔲荄

Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chăng (chẳng) hiềm (hèm) thửa đắng cay

Chữ Nôm trái viết bằng chữ ba 巴 hợp với chữ lại 賴 ở dưới, hoàn toàn phù hợp với dạng blái của VBL. Một điểm đáng nhắc ở đây là đọc các tài liệu chép tay của cụ Philiphê Bỉnh (1759-1833) thì trái luôn viết là blái, như vậy cùng thời với TVL thì Đàng Ngoài vẫn còn dạng blái thời VBL, so với Đàng Trong đã dung dạng trái (cho đến ngày nay).

Thành ra câu tục ngữ ăn trái nhớ kẻ trồng cây không những cho ta một bài học đạo đức của xã hội truyền thống, mà còn để lại dấu ấn của tiếng Việt cổ đại (trái) so với ảnh hưởng của phương Bắc (quả HV 果 đồng nghĩa) không nhỏ trong ngôn ngữ đại chúng.

1.4 Con công chẳng giống lông thì giống cánh

Con công trong câu tục ngữ này đã ‘nhân cách hoá’ và ‘tổng quát hoá’ thành con nhà tông để cho ra dạng phổ thông hiện nay là con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Từ sự quan sát chi tiết và cụ thể của loài công, tiền nhân ta đã để lại kí ức tập thể trên qua câu tục ngữ này: loài công (đực) có một bộ cánh rất sặc sỡ và óng ánh, các thế hệ sau của loài chim này cũng mang theo đặc tính này[8] (gen di truyền từ đời này sang đời kia).

Chim công đang bay – trích từ trang a-z-animals.com

Dân tộc khác cũng có những quan sát tế nhị như trên, như người Đức còn có ngạn ngữ “này các con công, hãy nhìn lại hai chân của chính mình (tạm dịch/NCT  – Pfauen, schaut auf eure Füße)” (hàm ý thực tế thì không hoàn toàn đẹp đẽ và hoành tráng như cánh/lông mình khoa trương). Vài điểm đáng chú ý là từ phủ định chẳng[9] trong TVL đã hay bằng không trong tiếng Việt hiện đại, ngoài ra con công gọi là chim công[10] vào thời Việt Bồ La (1651). Con công chẳng giống lông thì giống cánh viết bằng chữ Nôm vào thời TVL và Taberd là 昆公庄種 (竜羽) 時種𦑃: chữ công là kí âm trực tiếp bằng chữ công[11] HV 公 (nghĩa HV là chung, đực/trống, tước công …) cũng như dạng chữ Nôm trong Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa. Chữ Nôm hậu kì thường thêm vào thanh phù công bộ điểu 鳥 để cho rõ nghĩa hơn (như trong Lý Hạng Ca Dao, Giai Cú …). Con công có lý hơn trong tục ngữ này vì lông và cánh khó mà liên hệ đến loài người được (“con nhà tông”) tuy tông có cùng vần với công và lông.

Taberd

Theurel

1.5 Xa cừ

Xa cừ là vỏ của loài ốc biển (gọi là ốc xa cừ, ốc mặt trăng, ốc mắt ngọc) dùng làm trang trí cũng như một hải sản có giá trị kinh tế cao. TVL ghi rõ là xa cừ 車渠 (LM Taberd ghi lại y như TVL). Xa là đọc đúng theo âm HV: chữ xa 硨 (thanh mẫu xương 昌 vận bộ ma 麻 khai khẩu tam đẳng, bình thanh) có các cách đọc theo phiên thiết

尺遮切 xích già thiết (NT, QV, TTTH) – Bác Nhã 博雅 ghi xa cừ xuất phát từ Thiên Trúc (Ấn Độ). Các tài liệu đều ghi chữ xa (bộ thạch) chỉ dùng trong cụm danh từ xa cừ 硨磲. KH ghi thêm xa cừ còn viết là 車渠.

昌遮切 xương già thiết (TV, LT, VH, CV)

音車 âm xa (LKTG, CV)

CV ghi cùng vần/bình thanh xa 車 硨

Giọng BK bây giờ là chē (theo pinyin) so với giọng Quảng Đông ce1 và các giọng Mân Nam 客家话:[客英字典] cha1 [台湾四县腔] ca1 [梅县腔] cha1 [海陆丰腔] cha1 潮州话:cia1, tiếng Nhật sha và tiếng Hàn cha.

Tuy nhiên, LM Theurel (Đàng Ngoài, 1877) lại ghi là xà cừ và cũng là cách dùng thông dụng trong tiếng Việt ngày nay – tuy phần giải thích bằng tiếng La Tinh thì chép lại y như tự điển Taberd – xem các hình chụp bên dưới:

Béhaine (1772/1773, sđd)

Taberd (1838, sđd)

Trong quyển Nhật Dụng Thường Đàm, tác giả Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) viết “xa cừ là ốc xa cừ” (xem hình chụp bên dưới) – cũng như tác giả Nguyễn Văn San trong Đại Nam Quốc Ngữ viết “xa cừ ốc xa cừ” với chữ xa viết là xa HV 車, tuy nhiên ngay sau đó lại viết xa bộ ngọc (như Nhật Dụng Thường Đàm, xem hình chụp bên dưới). Các dữ kiện bằng chữ Nôm này cũng cho thấy xa cừ là cách đọc vào cuối TK 18 và đầu TK 19. Khuynh hướng đọc xa cừ thành xà cừ có thể là kết quả của quá trình điều hoà thanh điệu, hay là đồng hoá thanh điệu (tone assimilation/A) trong ngôn ngữ. Một trường hợp nữa ghi trong mục lư của TVL là lư đừ > lừ đừ (tiếng Việt bây giờ, cùng âm điệu). So sánh các kết quả điều hoà thanh điệu như sau

Khiếu[12] nại > kêu nài > kèo nài (cùng âm điệu)

Hắc yên[13] > hắc *in > hắc ín (~ nhựa đường, ín cùng âm điệu với hắc)

Kí Hoà > Kì Hoà (địa danh miền Nam)

câu đáng > câu đang (câu đương)

Huyền Tráng/Tảng > Huyền Trang (pháp sư TQ)

Chúng cư > chung cư (trong cách dùng quần chúng, dân chúng, chúng sinh …)

điền kính[14] > điền kinh (nhưng vẫn dùng đường kính)

Cá *đuôi > cá đuối (cá có đặc điểm là đuôi dài …)

Nước *miệng > nước miếng …v.v…


Nhật Dụng Thường Đàm (sđd) chữ Nôm: xa cừ là ốc xa cừ

Theurel (1877, sđd)

Vallot (Đàng Ngoài, 1898)

Génibrel (Đàng Trong, 1898)

Một điểm đáng chú ý là trong Tam Thiên Tự[15] (Khoảng cuối TK 18) thì ghi xa cừ với chữ Nôm xa viết bằng bộ ngọc hợp với chữ xa 車, còn Ngũ Thiên Tự [16] (khoảng đầu TK 20) ghi xà cừ 蛇渠 cho thấy âm xa đã trở thành xà ngay trong cách dùng chữ Nôm. Điều này phù hợp với các dữ kiện chữ quốc ngữ bên trên.

1.6 Cúng/cung dưỡng

Béhaine (1772/1773, sđd)

Cúng[17] dưỡng đã hiện diện trong TVL (mục dưỡng – xem hình chụp bên trên) và giữ nguyên dạng này trong tự điển của các LM Taberd và Theurel. Cúng dưỡng liên hệ đến cung dưỡng HV 供養, hàm ý phụng dưỡng nuôi nấng đã hiện diện trong các tài liệu Hán cổ như Chiến Quốc Sách, Lễ Kí (Nguyệt Lệnh), sau này mới dùng đặc biệt cho Phật Giáo[18] (td. trong Kinh Hoa Nghiêm) để chỉ hoạt động cúng bái Phật/Pháp/Tăng như hoa quả, ẩm thực …v.v… Bây giờ thì dạng cúng dường phổ thông trong tiếng Việt so với các dạng khác là cúng dàng[19] (Việt Nam Tự Điển, sđd). Dạng cúng dường đã xuất hiện trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895, sđd) của học giả Huỳnh Tịnh Của.

Các biến âm như dàng, dường từ âm HV dưỡng – so với các cách đọc chữ dưỡng HV 養 (thanh mẫu dĩ 以 vận mẫu dương 陽 thượng/khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

餘兩切 dư lưỡng thiết (TVGT, QV)

余掌切 dư chưởng thiết (NT, TTTH)

餘掌反 dư chưởng phản (NTLQ 玉篇零卷)

以兩切 dĩ lưỡng thiết (TV, LT, VH, CV) – TV ghi thượng thanh

餘亮切 dư lượng thiết (QV, CV)

弋亮切, 音恙 dặc lượng thiết, âm dạng (TV, LT) – TV ghi khứ thanh

TNAV ghi vận bộ/thượng thanh và khứ thanh 江陽 (giang, dương)

CV ghi cùng vần/thượng thanh 養 懩 瀁 癢 (dưỡng)

CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 漾 瀁 羕 恙 養 煬 颺 㨾 (dạng dượng)

Giọng BK bây giờ là yǎng (theo pinyin) so với các giọng Mân Nam 客家话:[沙头角腔] jong1 [梅县腔] jong1 [客英字典] jong3 [陆丰腔] jong1 [海陆丰腔] rong1 rong3 [东莞腔] jong1 [台湾四县腔] jong1 jong3 [宝安腔] jong1 [客语拼音字汇] yong, tiếng Nhật yō và tiếng Hàn yang.

Điều quan trọng từ các dữ kiện ngữ âm trên là dưỡng HV không có khi nào là bình thanh (td. dường, dàng).

Tóm lại, TVL là một nguồn dữ liệu quan trọng cho ta biết ca dao tục ngữ qua dạng chữ quốc ngữ đầu tiên trong tiếng Việt. Ít người biết câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” vào giữa TK 18 lại là “Chí công mài sắt chầy ngày nên kim” (khác biệt[20] khoảng 37.5%), “giả mù sa/ra mưa” từng là “giả mù pha mưa” (khác biệt 25%), “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” từng là “Con công chẳng giống lông thì giống cánh” (khác biệt 44.4%), “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” từng là “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” (khác biệt 17%) và “xà cừ” từng có dạng nguyên thuỷ là “xa cừ”, “cúng dường” từng có gốc HV là “cung/cúng dưỡng” (khác biệt thanh điệu). Nhờ vào TVL mà ta có các dữ kiện để tra cứu nguồn gốc cách dùng và âm vận một cách chính xác hơn. Đây chỉ là vài trường hợp điển hình cho ta biết được phần nào quá trình biên soạn TVL, phản ánh qua câu “tục ngữ hằng đàm” (mục đàm, TVL) được ghi lại trong chính tài liệu này. TVL là một kết quả giao thoa giữa hai khái niệm tự điển và từ điển. Không những thế, so sánh tiếng Việt trong TVL và các tài liệu sau đó viết bởi LM Béhaine như “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” và tự điển Taberd cho ta thấy sự thay đổi trong cách dùng liên tục (td. ngày Du Minh > ngày Chúa nhật > chủ nhật). LM Taberd cũng thêm các câu tục ngữ vào nguyên bản TVL khi cập nhật như thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi …v.v… Cũng dựa vào TVL, so sánh tiếng Việt trong tự điển Taberd Đàng Trong và Theurel Đàng Ngoài cũng cho thấy khác biệt trong phương ngữ các miền. Ngay cả vào thời LM Béhaine và Taberd, Đàng Trong có câu quen dái dạ, lạ dái áo[21] (TVL mục dái) thì Đàng Ngoài – qua ngòi bút của cụ Philiuphê Bỉnh trong Sách Sổ Sang Chép Các Việc (sđd, trang 159) – có một dạng là quen thì dái dạ, lạ thì dái áo. Hi vọng bài viết nhỏ này gợi ý cho người đọc tìm hiểu và khám phá thêm nhiều kết quả thú vị trong TVL, cũng như cho thấy các đóng góp của tài liệu này – không những từ lăng kính cấu trúc chữ quốc ngữ (khá ổn định từ thời TVL đến nay) – mà từ những góc cạnh khác hơn như văn hoá ngôn ngữ VN vào TK 18/19 – cụ thể là qua các câu ca dao tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt trong TVL. Tuy soạn giả là người CG và do đó có nhiều thuật ngữ CG cổ như sinh thì (qua đời, thuật ngữ CG cổ), Đức Thánh Pha Pha (bây giờ gọi là Đức Giáo Hoàng), Lâm Bô … Nhưng cũng hiện diện nhiều cách dùng PG như A Di Đà Phật, cúng dưỡng, Tây Phương Phật trong TVL… Thành ra, TVL đã cung cấp nhiều dữ kiên quý báo cho lịch sử tiếng Việt cách đây khoảng vài ba thế kỉ.

  1. Tài liệu tham khảo chính

1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) – Bá Đa Lộc Bỉ Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM – 1999). Có thể tham khảo bản chép tay trên mạng như archive.org …

“Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” 聖教要理國語 (khoảng 1774) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như pdfcoffee.com …v.v…

2) Philiphê Bỉnh (1822) “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968.

(1822) “Phép Giảng Tám Ngày”, “Truyện nước Anam Đàng trong quyển nhị” … Các tài liệu viết tay của chính tác giả còn lưu trữ trong thư viện tòa thánh La Mã.

3) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” Tome I, II – Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d’Adran (SaiGon) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như  vi.wikisource.org …v.v…

4) J. F. M. Génibrel (1898) “Dictionnaire annamite français” Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org

5) Phạm Đình Hổ (1827) Nhật dụng thường đàm (日用常談) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như nomfoundation.org …v.v…

6) Hội Khai Trí Tiến Đức – ban văn học (1931/1954) “Việt Nam Tự Điển” NXB Trung Bắc Tân Văn (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như vietnamtudien.org …v.v…

7) Nguyễn Quang Hồng (2015) “Tự điển chữ Nôm dẫn giải” Tập 1 và 2 – NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như nomfoundation.org …

8) Phan Khôi (1954) “Việt ngữ nghiên cứu” NXB Đà Nẵng in lại.

9) Josepho Maria Morrone (khoảng đầu TK 19) “Lexicon Cochin-sinense Latinum” đăng trong cuốn “A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing” viết bởi nhà ngôn ngữ Mỹ Peter Stephen Du Ponceau (1838), in lại bởi NXB Kessinger Publishing. Kèm thêm bảng từ vựng căn bản có 333 chữ Nôm và chữ quốc ngữ với giải thích về cấu trúc và nghĩa – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org …v.v…

10) Alexandre de Rhodes (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” – Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 – Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như commons.wikimedia.org …v.v…

(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính – NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như books.google.fr …v.v…

“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).

“Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên – Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

11) Jean Louis Taberd (1838) – tên Việt là cố Từ – “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale) và cuốn tự điển La Tinh – Việt (1838) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như  nomfoundation.org …

12) J. S. Theurel (1877) “Dictionarum Anamitico-Latinum” LM Theurel ghi nhận LM Taberd khởi thảo và ông cố tình ‘bổ sung’ ngay trong cách giới thiệu trang đầu, (td. hàm ý các cách dùng Đàng Ngoài khác với Đàng Trong/NCT) – Ninh Phú (Đàng Ngoài) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như books.google.com.au …v.v…

13) Nguyễn Cung Thông (2021) loạt bài viết như 1. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 1) – Tản mạn về tiếng Việt”, 2. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 2) – Huyền Tráng, Huyền Tảng hay Huyền Trang?” 3. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 3) – tẩm liệm hay tấn/tẫn/tẩn liệm?” 4. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 4) – phong phanh hay phong thanh?” – có thể tham khảo trên trang  conggiao.info hay thuvienhoasen.org; “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – cách dùng con và cái (phần 14)” – xem bài viết trên mạng như daophatngaynay.com …v.v…

14) Pierre-Gabriel Vallot (1898) “Dictionnaire franco-tonkinois illustré” NXB F.H. Schneider (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org ..

(1905) “Grammaire Annamite à l’Usage Des Français de l’Annam Et Du Tonkin” Imprimeur-Éditeur F. H. Schneider, HaNoi.

Phụ Trương

TVL còn cho ta nhiều dữ kiện về cấu trúc và cách đọc chữ Nôm vào TK 18/19: một trường hợp điển hình cho thấy giặnglà một dạng đọc chữ Nôm của trang HV 庄 – khả năng ngạc hoá của thanh phù công 工, giải thích được phần nào liên hệ giữa không HV 空 và chăng (< *giăng). Xem chi tiết trong bài viết “Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng” (phần 35)” – có thể tham khảo toàn bài trên trang này nghiencuulichsu.com …


Phần Mục Lục (Index) TVL


TVL (
Béhaine (1772/1773, sđd)


TVL (
Béhaine (1772/1773, sđd)

Nguyễn Cung Thông[22]

[1] Nhất là khi tra các dạng chữ Nôm, chữ quốc ngữ cổ chụp lại không được rõ ràng …v.v… Thành ra nếu đọc được trên màn ảnh (computer screen) có sẵn thì tiện lợi biết bao, đặc biệt là khi phải phóng ra lớn để nhìn các nét viết từ các tài liệu cổ, nét chữ mờ hay phẩm chất kém với thời gian …

[2] Tục ngữ là những câu nói còn lưu truyền trong dân gian (tiếng La Tinh là proverbium ~ lời ví, ngạn ngữ, lời khôn/Taberd), hằng đàm là thường được nói – câu này có ý lặp đi lặp lại (thừa).

[3] chầy có thể liên hệ đến trì HV 遲 cũng như tương quan chỉ – giấy, thị – thấy, thì – giây, thi – thây, phi – bay, quy – quay, si -say, vi – vây (bao vây), khỉ/khởi – gây/gầy (dựng) trì – chầy …v.v… VBL còn ghi cách dùng bao chầy là bao lâu (quandiù La Tinh). Nghĩa của chầy còn vết tích trong thành ngữ chẳng chóng (kíp) thì chầy …

[4] Câu tục ngữ này có thể liên hệ đến thành ngữ HV thiết xử thành châm 鐵杵成針 (tạm dịch/NCT mài sắt thành kim), tương truyền rằng đại thi hào đời Đường Lý Bạch (701-762) bản tính ham chơi, nhân một ngày đi dạo (thật ra là trốn học) ra suối gặp một bà lão đang mài thanh sắt. Ông mới hỏi làm sao và khi nào thì mài thanh sắt trở thành cây kim cho được! Bà lão mới từ tốn trả lời nếu từ từ kiên nhẫn mài thì thanh sắt có ngày sẽ trở thành cây kim. Về nhà suy nghĩ sâu xa hơn, Lý Bạch mới tỉnh ngộ và sau đó học hành chăm chỉ so với trước (ông  xuất thân là con nhà khá giả ham làm thơ và ngao du đây đó). Sau nhiều đời tuyền tụng, câu chuyện trên trở thành tục ngữ nổi tiếng thiết xử thành châm. Có tài liệu ghi câu này là thiết xử thành châm 鐵杵成針 và có xuất xứ từ thời nhà Minh, tác giả Trịnh Chi Trân 鄭之珍 (1518-1595) trong tác phẩm Mục Liên Cứu Mẫu … Tham khảo thêm chi tiết trên các trang này chẳng hạn baike.baidu.hk  hay dict.idioms.moe.edu.tw  …v.v…

[5] Trái chữ Nôm có nhiều dạng, LM Béhaine và Taberd dùng chữ quả 果 hợp với chữ lại 吏 hài thanh, đây là những dạng chữ Nôm hậu kì như trong Dương Từ Hà Mậu, Nhị Độ Mai, Chinh Phụ Ngâm …v.v…

[6] Mục trái của tự điển Theurel Đàng Ngoài chỉ có 4 mục trái (trái cầu, trái cù, trái phá, trái găng).

[7] Trích từ “Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải” (Nguyễn Quang Hồng, 2015 sđd).

[8] Cũng chính đặc điểm này của con công đã làm nhà bác học Charles Darwin mất ăn mất ngủ: tại sao lông/cánh con công ngăn cản hoạt động như chạy hay bay của loài này, nhưng chúng vẫn còn sống cho đến ngày nay? Darwin đề nghị một cách lý giải dựa vào sự chọn lọc tình dục (sexual selection – con mái thích con trống khoe lông/cánh khi xoè ra) thêm vào sự chọn lọc tự nhiên của loài mạnh nhất trong việc đấu tranh sinh tồn.

[9] Xem thêm chi tiết về thể phủ định tiếng Việt trong bài viết (cùng tác giả/NCT) “Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng (phần 35)” trên trang này chẳng hạn vanviet.info …v.v…

[10] Để ý thêm cách dùng cái chim công như “Khổng tước thật là hiệu cái chim công” trang 173 “Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa” Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải – NXB Văn Học (2016, Hà Nội); “Khổng tước chim công” (Đại Nam Quốc Ngữ, sđd). Điều này cho thấy tục ngữ “con công chẳng giống lông thì giống cánh” qua cách dùng con công có khả năng xuất hiện sau thời Chỉ Nam Ngọc Âm và Việt Bồ La.

[11] Để ý chí công viết chữ Nôm là 志功 chứ không phải là 至公 (chí công ~ rất công bình, cũng như chí thân, chí lý, chí khổ, chí ác …). Đây là một khuyết điểm của chữ quốc ngữ dựa vào các mẫu tự La Tinh/Bồ mang tính chất độc đoán cao (arbitrariness/A).

[12] Khiếu HV 叫 đọc là 吉弔切 cát điếu thiết (ĐV, CV) hay cổ điếu thiết 古弔切 (TV, VH) luôn là thượng thanh.

[13] Yên HV 煙 đọc là ô tiền thiết 烏前切 (ĐV), nhân liên thiêt 因蓮切 (TV, VH) luôn là bình thanh.

[14] 徑 có thể đọc là kính (古定切 cổ định thiết/TV) hay kinh (堅靈切 kiên linh thiết/TV).

[15] “Tam Thiên Tự” Đoàn Trung Còn biên soạn, NXB Văn Hoá Thông Tin (2003, Thành Phố HCM).

[16] “Ngũ Thiên Tự” Vũ Văn Kính, Khổng Đức biên soạn – NXB Văn Hoá Thông Tin (2001 – Thành Phố HCM).

[17]Chữ 供 đọc là cung (居容切 cư dung thiết/TV/VH) nhưng cũng đọc là cúng (居用切 cư dụng thiết/TV/VH).

[18] Tham khảo chi tiết nghĩa của cung dưỡng theo Phật Giáo từ Từ Điển Phật Quang chẳng hạn anphat.org …

[19] Thượng toạ Thích Chân Tính còn cho biết các dạng khác của cúng dường như cúng vườn, cúng giường – xem chi tiết trong bài viết chuahoangphap.com.vn .

[20] Đương nhiên có những cách dùng bây giờ hoàn toàn giống như thời TVL như “tay làm hàm nhai” (mục nhai trong TVL), “gần mực thì đen gần đèn thì sáng” (mục đen trong TVL), “ngựa quen đường cũ” (mục quen) … Hay có những cách dùng không còn thấy ai nhắc tới nữa như “lửa xe nước gáo” (mục lửa) “thần tỉnh mô khán”..

[21] Dái là sợ, e – VBL đã từng ghi nét nghĩa này (timeo La Tinh) cùng với nét nghĩa hòn dái. Nét nghĩa thứ nhất đã không còn dùng nữa trong tiếng Việt hiện đại (chỉ còn bảo lưu qua tục ngữ quen dái dạ, lạ dái áo) so với nét nghĩa thứ nhì.

[22] Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập (Melbourne, Australia) – địa chỉ nguyencungthong@gmaịlcom

Read More
26Tháng Chín
2022

Hoàn thiện nhân cách – Hình thành lối sống trung thực

26/09/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Hoàn thiện nhân cách – Hình thành lối sống trung thực

 

HỌC LÀM NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH NHÂN CÁCH – BÀI 65

  1. LỜI CHÚA : Thánh Phao lô :“Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. Bởi thế, một khi đã cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4,23-25).
  1. CÂU CHUYỆN : SỰ TRUNG THỰC CỦA LÃO ĂN MÀY.

Ngày nọ, một lão ăn xin đến gõ cửa một lâu đài tráng lệ”. Ông nói với người quản gia : “Vì tình yêu của Chúa, xin hãy bố thí cho kẻ nghèo này”.

Người quản gia trả lời : “Tôi phải hỏi ý kiến bà chủ đã”. Bà chủ là một quý bà keo kiệt. Bà nói : “Hãy cho ông lão tội nghiệp một ổ bánh mì. Một thôi nhé. Đưa bánh ngày hôm qua ấy”.

Ông lão trở về gốc cây nơi ông trú ngụ cả ngày lẫn đêm, ngồi xuống lôi ổ bánh vừa xin được ra ăn. Đột nhiên, răng ông cắn phải vật gì đó rất cứng. Ông lão hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra đó là chiếc nhẫn vàng nạm kim cương mặt ngọc trai.

“Mình thật may mắn !”, ông lão nghĩ thầm. “Mình sẽ bán chiếc nhẫn này đi và sẽ có đủ tiền tiêu xài trong thời gian dài”.

Thế nhưng, lòng trung thực trong ông lão đã lập tức ngăn ý định đó lại : “Không, ta sẽ tìm chủ nhân của chiếc nhẫn và trả nó lại cho họ”. Bên trong chiếc nhẫn có khắc hai chữ J. X. Ông lão liền đi thẳng đến cửa hàng bán đồ trang sức và tìm hỏi cuốn niên giám điện thoại. Cả thị trấn chỉ có mỗi một gia đình có tên bắt đầu bằng chữ X : Gia đình Xofaina. Quyết tâm sống trung thực, ông lão vội đi tìm nhà Xofaina. Và rất bất ngờ khi đó lại chính là gia đình mới cho ông ổ bánh. Ông nói với người quản gia : “Tôi tìm thấy chiếc nhẫn vàng trong ổ bánh ông mới cho tôi”. Bà chủ vui mừng khôn xiết : “May quá, ta tìm lại được chiếc nhẫn bị mất mấy hôm trước do làm rơi khi coi thợ nhào bột làm bánh. J.X. là viết tắt tên của ta, Josermina Xofaina”.

Sau một hồi suy nghĩ, bà chủ nhà nói : “Hãy cho ông lão tội nghiệp đó bất kỳ cái gì ông ấy muốn, miễn là đừng đắt quá”.

Ông quản gia quay qua hỏi ông lão : “Vì hành vi cao thượng, ông muốn nhận được phần thưởng gì ?”

Ông lão ăn xin nói : “Tôi chỉ xin một ổ bánh mì ! thế là đủ cho tôi rồi”.

Thấy ông không có lòng tham, bà chủ bỗng nảy ra ý định : Sẽ cho ông làm người coi kho trong nhà của bà. Từ đó bà hoàn toàn an tâm không còn sợ bị mất trộm. Còn ông lão do có việc làm nên không còn sợ đói phải đi xin ăn như thời gian qua.

  1. SUY NIỆM :

Người trung thực trước mắt có vẻ thiệt thòi nhưng họ lại nhận được điều lớn hơn nhiều, đó là sự tin tưởng của mọi người.

Chúa Giê-su dạy : “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa.” (Mc 4,24).

Sống trung thực giúp chúng ta có sự bình an trong tâm hồn, và thật tốt đep biết bao khi người ta cư xử với nhau bằng tình cảm chân thành, vô vị lợi !

  1. SINH HOẠT :

Hãy cho biết tầm quan trọng của tính trung thực trong giao tiếp hằng ngày và trong việc làm ăn buôn bán xã hội ?

  1. LỜI CẦU : 

Lạy Chúa Giê-su. Chúa dạy chúng con phải luôn trung thực trong lời nói và hành động, khi luôn nói thật như Lời Chúa phán : “Có thì nói có, không thì nói không”.  Xin cho chúng con luôn hành động trung thực bằng việc không tham lam của cải người khác. Nhờ đó chúng con nên con hiếu thảo của Chúa Cha, nên môn đệ thực sự của Chúa, và nên chứng nhân của Tin Mừng Nước Trời.- AMEN.

LM ĐAN VINH – HHTM

Ý NGHĨ LÀ NỤ HOA , LỜI NÓI LÀ BÔNG HOA , VIỆC LÀM LÀ TRÁI QUẢ

Read More
22Tháng Chín
2022

Chân lý sẽ giải thoát chúng ta

22/09/2022
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

CHÂN LÝ SẼ GIẢI THOÁT CHÚNG TA
(Bài phát biểu đầu năm học 2022-2003, Đại Chủng Viện Thánh Phanxicô Xaviê)

 Năm nay, Ban Đào tạo chọn câu “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8,32) làm châm ngôn sống trong bối cảnh sự giả dối lên ngôi trên mạng, ngoài xã hội và trong lòng người. Chúng ta sẽ khai triển chủ đề này xuyên suốt năm học dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong khuôn khổ ở đây, xin được gợi ý một vài suy tư về châm ngôn liên quan đến nhận thức luận và việc đào tạo linh mục.

Từ những ngụ ngôn

Trong tác phẩm “Cộng Hoà”, Platon có một ngụ ngôn nổi tiếng nhất trong triết học: “The Allegory of the Cave – Ngụ ngôn về cái hang”. Trong đó, có nhiều người sống với nhau và họ không biết gì về thế giới bên ngoài. Họ bị xiềng chân và cổ, nên chỉ có thể nhìn thấy bóng và nghe tiếng con người bên ngoài dội lại từ bức tường. Họ cho rằng những cái bóng đó là thực tại. Cho đến một ngày, có một người đã ra khỏi hang. Lần đầu tiên, anh nhìn thấy trực tiếp vẻ đẹp của vạn vật trong hình dạng đích thực của chúng. Vì lòng trắc ẩn, anh quay trở lại hang động để giúp các bạn mình ra khỏi sai lầm và ngộ nhận. Nhưng họ lại châm chọc anh, rồi nổi giận và cuối cùng âm mưu giết chết anh.

Theo Platon, dân cư trong hang là loài người trước khi biết đến triết học. Chúng ta ít nhiều đều sống trong bóng tối sai lầm, ngộ nhận về chính mình và thế giới. Cuộc sống có nhiều những thứ phù phiếm như những bóng ma, những giá trị ảo mà con người lại theo đuổi, chứ không phải là chân lý khách quan và giá trị thật.

Ở Đông Phương, chúng ta cũng có một ngụ ngôn không kém phần thâm thuý như thế, đó là chuyện “Thầy bói xem voi.” Truyện kể về 5 ông thầy bói rủ nhau xem con voi có hình thù như thế nào. Mỗi ông xem một bộ phận. Ông xem vòi thì bảo con voi sun sun như con đỉa, ông xem ngà bảo con voi giống như cái đòn càn, ông xem tai thì bảo nó giống như cái quạt thóc, ông xem chân bảo nó sừng sững như cái cột đình, còn ông xem đuôi thì bảo nó tun tủn như cái chổi sề cùn. Năm ông cãi nhau, không ông nào chịu nhường ông nào, cuối cùng đánh nhau toạc đầu, chảy máu. Cả năm ông đều sai nhưng lại cho mình là đúng và bác bỏ ý kiến của người khác. Đó chính là thái độ chủ quan, phiến diện và sai lầm trong nhận thức.

Cả hai câu chuyện giúp ta rút ra bài học là: sự vật, hiện tượng bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Nếu chỉ mới biết một khía cạnh mà đã cho rằng đó là toàn bộ sự vật thì sẽ là sai lầm lớn. Muốn kết luận về một sự vật, thì phải nhìn tổng thể, toàn diện và cần phải lắng nghe ý kiến của người khác, kết hợp với phân tích, đánh giá, tổng hợp để có cái nhìn chính xác và đầy đủ nhất về chân lý.

Vậy chân lý là gì?

Theo Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, đây là một câu hỏi quan trọng, trong đó xoay quanh số phận của cả nhân loại. Chúng ta có thể nhận ra chân lý hay không? Chân lý có thể trở thành tiêu chuẩn cho suy tư và ý chí của chúng ta hay không, dù đó là cá nhân hay trong đời sống xã hội? Đức Bênêđictô XVI than phiền rằng “ngày nay chỉ có chân lý chức năng (functional truth) về con người là được quan tâm và khám phá (như mã di truyền chẳng hạn). Còn chân lý về chính con người: Con người là ai? Từ đâu tới? Điều gì đúng, điều gì sai, thì con người thường tránh né, không muốn giáp mặt như chân lý chức năng.”

Về phương diện nhận thức luận, Thánh Tôma Aquinô có một định nghĩa trở thành quy chuẩn kinh điển từ xưa tới nay: “Chân lý là sự tương hợp giữa hiểu biết và thực tại – adaequatio intellectus et rei.”[1] Nếu lý trí con người phản ánh một sự vật đúng như nó là, lúc ấy con người tìm được chân lý. Nếu chỉ có một phần điều hiện hữu thật sự – thì không phải là chân lý tròn đầy và trọn vẹn.[2] Bởi thế, người ta thường nói: Nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng nửa sự thật thì không phải là sự thật.

Một xác quyết khác của Thánh Tôma có thể giúp chúng ta tiếp cận ý hướng mạc khải của Chúa Giêsu: “Chân lý trong lý trí của Thiên Chúa mang ý nghĩa đích thực và tiên khởi; còn chân lý trong lý trí con người cũng đích thực nhưng thứ yếu. Từ đó giúp chúng ta đi đến công thức cuối cùng: Thiên Chúa là “ipsa summa et prima veritas – là chân lý tối thượng và đầu tiên.”[3]

Nhưng chưa dừng ở đó, Kitô giáo mang đến một sự mới mẻ về phạm trù chân lý. Theo đó, chân lý không chỉ là một ý tưởng, nhưng là một Con Người. Đó là sự mới mẻ đến mức không thể tin nổi, nên dù có đối diện với Chân Lý ấy, Philato vẫn thắc mắc: “Chân lý là gì?” (Ga 18,38). Chân lý ấy là Con Thiên Chúa, nhập thể làm người trong Đức Giêsu Kitô thành Nadarét. Người “là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Người là Chân Lý toàn vẹn về Thiên Chúa và về con người. Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn mạc khải: Chúa Cha sẽ ban Thánh Thần, “Người sẽ dẫn anh em tới Chân Lý toàn vẹn” (Ga 16,13). Vì thế, Đức Bênêđictô XVI khẳng định: “Thiên Chúa đã đi vào thế gian và đã thiết lập tiêu chuẩn chân lý giữa dòng lịch sử”, “nếu con người sống mà không có chân lý thì cuộc sống sẽ trôi dạt và cuối cùng chân lý sẽ thuộc về những ai mạnh thế hơn.”[4] Đồng thời, ngài lên án thuyết duy tương đối (relativisme) đang thống trị não trạng con người thời nay như một thứ độc tài mới mà nhiều người hôm nay chủ trương khi cho rằng, mọi chân lý đều là tương đối, và cũng chẳng có chuẩn mực khách quan nào cả về chân lý. Đức Bênêđictô XVI nói rõ hơn: “Ngày nay, có một lực cản đặc biệt đáng ngại trong việc giáo dục, đó là sự hiện diện rộng khắp của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và văn hóa. Chủ nghĩa này không nhìn nhận điều gì là vững vàng, cuối cùng tiêu chuẩn tối thượng duy nhất là cái tôi và những ước muốn của nó. Và ẩn dưới dáng vẻ của tự do, nó lại biến thành ngục tù cho mỗi người vì nó ngăn cách con người với nhau, khóa chặt mỗi người trong cái tôi ích kỷ của mình.”[5]

Sự thật sẽ giải thoát anh em!

Dưới ánh sáng ấy, châm ngôn “Sự thật sẽ giải thoát anh em” áp dụng trong việc đào tạo linh mục.

Thật vậy, việc huấn luyện linh mục là một quá trình với hai giai đoạn Triết – Thần nhằm giúp ứng sinh khám phá chân lý toàn diện, khách quan và đầy đủ nhất về Thiên Chúa, con người và thế giới. Theo Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Veritatis Spendor: “Sự thật soi sáng trí khôn và định hình tự do của con người, dẫn họ đến chỗ nhận biết và yêu mến Chúa.”

Bởi vì Chúa Giêsu Kitô vừa là Chân Lý, vừa là quy chuẩn khách quan của Chân Lý, là mô mẫu lý tưởng của con người, đó là lý do tại sao Ratio của Bộ Giáo Sỹ (2016) trình bày công cuộc đào tạo linh mục trải qua từng giai đoạn tiệm tiến: Giai đoạn triết học là đào tạo ứng sinh trở thành người môn đệ Chúa Kitô qua việc ở với, bước theo Chúa Kitô (Sequela Christi). Giai đoạn thần học đào tạo ứng sinh đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, là Mục Tử và Tôi Tớ, để có thể yêu mến Chúa trên hết mọi sự và dâng hiến đời mình cho tha nhân.

Đào tạo tri thức là giúp các chủng sinh thoát khỏi lối tư duy sai lạc, chủ quan, giảm thiểu, phiến diện và tiêu cực, nhưng càng ngày càng đạt tới khả năng phán đoán và nhận thức thực tại một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện và tích cực hơn. Đặc biệt nhờ việc nghiên cứu triết – thần kết hợp với kinh nghiệm thiêng liêng, các chủng sinh được trưởng thành về mặt nhận thức luận để họ “biết và hiểu cơ cấu nội tại của đức tin trong toàn thể, để đức tin trở thành câu trả lời cho những thắc mắc của con người hôm nay.”[6]

Hoán cải trí tuệ

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng, một đàng, con người có khả năng nhận biết chân lý. Đây là phẩm giá cao quý nhất mà Thiên Chúa phú bẩm cho con người. Lý trí là đặc điểm phân biệt con người với con vật. Nhưng đàng khác, con người có thể sai lầm trong việc nhận thức. Phải thành thật khiêm tốn mà nhận rằng, chúng ta thường chỉ là những người “còn ở trong hang động”, chỉ là “thầy bói xem voi.” Bởi lẽ, thực tại được nhận thức qua khả năng, lăng kính và thái độ của mỗi người. Nên nó được dội lại và phản ánh theo “thế giới nhận thức, cảm xúc và thái độ đón nhận ấy của tôi.” Ta gọi đó là “trí tuệ cảm xúc.” Khi ta thích, ta yêu, mọi sự ta cho là tốt. Khi ta không thích, mọi sự là xấu. Nên sự thật có thể bị bóp méo, bị uốn cong hay giảm thiểu theo ý riêng của từng người. Đó là hiện tượng thiếu “lương thiện” trong nhận thức. Bởi thế, nhà thần học Bernard Lonergan nói đến việc “hoán cải về trí tuệ – the intellectual conversion,” nghĩa là phải luôn đổi mới tận căn tư duy, nếp nghĩ của bản thân, để luôn biết mở ra với chân lý khách quan tự thân (important in se) và giá trị đích thật, hơn là chỉ dựa theo những gì là “quan trọng đối với tôi” (important for me) hay dựa theo tiêu chuẩn “mình thích.” Hoa quả của cuộc hoán cải này là “đạt tới thái độ đúng đắn và lượng giá một cách khách quan, chính xác các sự việc trong cuộc sống.”

Để đổi mới tư duy, ở đây, chúng ta cần phân biệt các loại tư duy:

1) Tư duy không tư duy, nghĩa là người có não mà không suy tư, không chính kiến, chỉ dựa vào tư duy người khác. Người ta nghĩ sao mình nghĩ vậy.

2) Tư duy kinh nghiệm, nghĩa là người tư duy, tìm được nguyên lý nhờ trải qua những kinh nghiệm cuộc sống. Tư duy kinh nghiệm có giá trị của nó nhưng trước những biến mới thì kinh nghiệm không giúp được nhiều, vì chưa trải qua, nên tư duy kinh nghiệm thôi chưa đủ.

3) Tư duy khoa học là tư duy có sự chính xác, khách quan và tính chuyên môn cao nhờ nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi.

4) Tư duy độc đáo là tư duy dựa trên logic khoa học và sự sáng tạo của bản thân. Người nắm nguyên lý khoa học và biết áp dụng vào cuộc sống với sự sáng tạo của mình, tạo nên sự mới mẻ, đột phá, độc lập và khác biệt. Nếu muốn tạo sự khác biệt mà không có tư duy khoa học, không nắm nguyên lý, sẽ trở nên dị biệt. Xu thế thời đại hôm nay đề cao lối tư duy độc đáo này. Người Nhật nói rằng: “Khác biệt hay là chết.” Bởi thế, người ta buộc phải thay đổi liên tục về tư duy, ý tưởng, sản phẩm và lối tiếp cận…

Và nhận ra sự thật bản thân

Thứ đến, châm ngôn “Sự thật sẽ giải thoát anh em” cũng giúp chúng ta khám phá sự thật bản thân để được tự do.

Thật vậy, mỗi ứng sinh là huyền nhiệm đối với chính mình. Hành trình huấn luyện được bắt đầu từ khi ứng sinh biết khám phá sự thật về chính mình. Một đàng, mỗi người được sáng tạo và phú bẩm với rất nhiều khả năng và tiềm năng cần phát triển. Đàng khác, con người là giới hạn, bất nhất và mù loà về chính mình cần khám phá để đổi thay. “Errare humanum est!”

Đào tạo là giúp ứng sinh khám phá, đưa ra ánh sáng sự thật về chính mình, biết mình mỗi ngày một hơn: từ hành vi, thái độ, tình cảm, khuynh hướng, khả năng, tiềm năng, tính tình, nhu cầu, động lực bên trong, những giới hạn, sự bất nhất và những xung đột, những vùng mù tối bên trong. Nhờ ánh sáng của Lời Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần cùng với sự trợ giúp của các nhà đào tạo, các chủng sinh đưa ra ánh sáng sự thật về mình, nhận diện sự thật ấy để được uốn nắn và biến đổi bản thân.

Theo Cha Cencini, biết mình một cách chân thành thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết mình một cách chính xác, khách quan và toàn diện, không trốn tránh, không giả vờ, không phỏng chiếu, không đeo mặt nạ với mình. Chỉ có khi nào ta ở trong sự thật, ta mới có thể thực hiện cuộc hành trình huấn luyện.

Theo Cha James E. Sullivan trong cuốn “Hành Trình Tự Do”,[7] ta không được tự do bởi vì nhiều chứng ngoại vật bên trong và bên ngoài như cơ chế tự vệ, lăng kính nhận thức và cảm xúc của ta… Chúng giam hãm ta trong sự sai lầm, định kiến và nô lệ. Nếu ta có nhận ra sự thật về chính mình, thì chẳng qua chỉ là những ‘thứ tạp nham về mình,” là những biến dạng được tạo ra do hệ thống nhận thức và những lăng kính lệch lạc ấy của mình. Nên ta thường sợ đối diện với sự thật về chính mình. Vì sự thật thì trần trụi. Sự thật thì mất lòng. Sự thật có thể gây tổn thương. Câu chuyện nguyên tổ loài người sa ngã diễn tả điều đó: Ađam và Evà sau khi khi phạm tội, khám phá ra mình trần trụi và trống rỗng trước nhan Thiên Chúa, nên họ tìm cách chạy trốn chính mình, đổ lỗi cho người khác và lấy lá để che thân (x. St 3,1-14). Đó là thái độ trốn tránh tiêu biểu của con người mọi thời khi đối diện với sự thật.

Nhưng để có sự trưởng thành và tự do đích thực, ta phải tìm cách loại bỏ những lăng kính, định kiến và sự cố thủ riêng, và hãy buông mình cho Chúa Thánh Thần. Bấy giờ, ta có thể nhận biết con người và sự vật đúng theo thực chất của con người và sự vật ấy, và chỉ lúc đó, sự thật dẫn đưa ta tới tự do. Vậy, hãy can đảm đón nhận sự thật về mình. Hãy mở ra với chân lý khách quan, các giá trị thật và nội tâm hoá chúng để được biến đổi, tự do và trở nên con người mới trong Đức Kitô. Ước gì được như vậy trong năm học mới này!

[1] Tôma Aquinô, Summa Theologia, I q. 21 a. 2c.

[2] Joseph Ratzinger – Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Đức Giêsu thành Nadarét, Phần II, Từ lúc vào Giêrusalem cho đến phục sinh, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2011, 233-234. 236.

[3] Ibidem. Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologia, Iq 16 a. 5c

[4] Ibidem.

[5] Ibidem.

[6] Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Thư gửi các chủng sinh, 2010.

[7] x. James E. Sullivan, Hành trình tự do. Con đường tự trọng của linh mục và tu sĩ, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2013.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 38
  • Page 39
  • Page 40
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.