Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
26Tháng Sáu
2020

Bản chất và ý nghĩa của trưởng thành nhân bản toàn diện

26/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 Khi nói đến tình trạng lạm dụng tình dục trong hàng giáo sĩ, ĐTC Biển Đức XVI nhận định: “do các thủ tục thiếu sót trong việc ấn định ra tư cách xứng đáng của các ứng viên chức linh mục và cuộc sống tu trì; thiếu sót trong việc đào tạo nhân bản, luân lý, tri thức và thiêng liêng trong các Chủng viện và Tập viện”[1].

Trong bài thuyết trình ở cuộc họp thượng đỉnh ngày 21-24/ 2/2019 với ĐTC Phanxicô, Đức TGM Scicluna cũng nói đến những thiếu sót khi thẩm định sự thích hợp của ứng sinh lên chức linh mục và đời tu, những thiếu sót trong việc huấn luyện tại chủng viện và học viện, xu hướng xã hội đề cao giáo sĩ và những nhân vật có quyền bính, quan tâm không đúng chỗ trong việc bảo vệ thanh danh của Giáo Hội và tránh gương mù, sự áp dụng thiếu sót các hình phạt theo giáo luật và bảo vệ phẩm giá mỗi người. Ngài cũng nói rằng mặc dù tình trạng thiếu linh mục tại một số nơi trên thế giới, hoặc cả tại những nơi dồi dào ơn gọi, vấn đề thanh lọc ứng sinh linh mục vẫn là điều thiết yếu. Các văn kiện gần đây của Bộ giáo sĩ về các chương trình huấn luyện nhân bản phải được nghiên cứu và áp dụng kỹ lưỡng[2].

Pastores Dabo Vobis dạy cần phải vun trồng một tập hợp những đức tính nhân bản, cần thiết cho sự kiến tạo những nhân cách quân bình, mạnh mẽ và tự do: chính vì để có khả năng chịu đựng sức nặng của các trách nhiệm mục vụ. Bởi đó có nhu cầu phải được giáo dục về lòng yêu mến chân lý, về sự chân thành, về sự tôn trọng nhân vị đối với mọi người, về ý thức công bằng, về chữ tín trong lời nói, về lòng trắc ẩn thực thụ, về tính nhất quán, cách riêng về sự quân bình trong phán đoán và trong cách cư xử[3].

Thánh Phaolô căn dặn:“Tất cả những gì là chân thật, là cao thượng, là công minh, là trong trắng, là dễ mến, là đáng kính phục, tất cả những gì được coi là tốt đẹp về mặt nhân đức nhân bản và về những điều được người đời ca ngợi, anh em hãy chú trọng tất cả những điều ấy” (Ph 4,8).

“Sự trưởng thành nhân bản và cách riêng sự trưởng thành về mặt cảm tính đòi hỏi một nền đào tạo trong suốt và cương nghị… đòi hỏi con người phải thực sự làm chủ chính mình, dứt khoát chiến đấu và thắng vượt mọi hình thái vị kỷ và cá nhân chủ nghĩa vốn đe dọa đời sống mỗi người, mau mắn cởi mở đối với tha nhân, quảng đại trong sự tận tụy và trong việc phục vụ đối với tha nhân. Tất cả những điều ấy đều quan trọng để có thể đáp trả ơn gọi, để có thể trung thành với ơn gọi và với những cam kết gắn liền với ơn gọi, nhất là trong những giai đoạn khó khăn”.

  1. Tiền Đề Quan Trọng về Trưởng Thành

Nói đến con người là phải nói đến các mối tương quan với Thiên Chúa, với những con người khác và với chính mình. Chính trong các mối tương quan đó mà Người Trưởng Thành phải được định nghĩa một cách bao quát là người biết mình là ai, biết mình muốn gì và làm chủ được chính mình, làm chủ được các cảm xúc, lời nói và hành vi, với tất cả những khả năng và những giới hạn của mình.

Sự trưởng thành này phải bao gồm cả thể lý và tinh thần, thể xác và tâm hồn: một người có thể lớn xác (trưởng thành thể lý) nhưng tâm hồn có thể còn ấu trĩ (chưa trưởng thành được), trái lại một người thân xác còn trẻ nhưng tâm hồn, suy tư, nói năng hành động đã chín chắn trưởng thành. Sự trưởng thành bao gồm cả bên trong lẫn bên ngoài: khi thấy mình bên trong thì chứa một kho tàng khôn ngoan phong phú nhưng bên ngoài lại là một thân xác mỏng giòn, thánh Phaolô đã nói ‘Kho tàng ấy, chúng tôi chứa đựng trong những bình sành’. Nơi ông Gióp, chiếc bình sành ấy bên ngoài đã nứt vì ung nhọt, nhưng bên trong, kho tàng là niềm tin tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa vẫn còn nguyên vẹn. Bên ngoài, da thịt ông nứt vỡ vì các vết thương, nhưng bên trong, lòng đạo đức tín thác không ngừng tái sinh và đã phát ra những lời khôn ngoan thánh thiện ‘Chúng ta đã đón nhận điều lành từ tay Thiên Chúa, sao lại không chịu đón nhận điều dữ cũng bởi tay Ngài?’

Thái độ trưởng thành đó giúp chúng ta bình tĩnh vượt lên mọi nghịch cảnh và trái ý: nếu đang chịu nghịch cảnh mà vẫn nhớ đến những ơn lành Chúa đã ban thì chúng ta vẫn được niềm an ủi lớn lao và sức mạnh kiên vững giữa cảnh gian truân. Nếu chúng ta mau mắn nghĩ đến những ân huệ của Chúa đã nâng đỡ mình thì dù bao trở ngại khổ đau cũng không đánh gục được chúng ta[4]. Vì thế, chúng ta được căn dặn: Ngày gặp vận may đừng quên điều bất hạnh, và ngày gặp bất hạnh chớ quên đi vận may… Hai thái độ đó phải luôn đi đôi với nhau, để thái độ này nâng đỡ thái độ kia trong suốt cuộc sống và sứ vụ linh mục/tu sĩ của chúng ta.

Sự trưởng thành này giúp chúng ta biết nội tâm hóa bằng sự kết hợp mật thiết với Chúa để đạt được sự biến đổi toàn diện con người.

Từ kinh nghiệm đưa thức ăn từ bên ngoài vào bên trong biến thành dưỡng chất nuôi cơ thể, chúng ta nỗ lực chắt lọc mọi thứ từ bên ngoài và nội tâm hóa chúng thành dưỡng chất cho tinh thần và đời sống thiêng liêng của mình. Không có cuộc biến đổi nào mà không khởi đi từ nội tâm, nhất là bởi tác động của ơn thánh qua bí tích giải tội mà ĐTC Biển Đức XVI đã nói: “Bao nhiêu cuộc hoán cải và đời sống thánh thiện thực sự đã bắt đầu trong một tòa giải tội! Linh mục có thể chứng kiến những phép lạ đích thực về sự hoán cải, cảm nhận và chiêm ngắm lòng từ bi của Thiên Chúa”.

Sự trưởng thành nhân bản toàn diện, (nhân bản làm người nói chung, nhân bản kitô giáo làm người tín hữu và nhân bản đời tu làm linh mục/tu sĩ), không phải là một thực tại tĩnh đã được kiện toàn chung cục và cố định, mà là một thực tại động và đang trở thành, đang thay đổi theo hướng thăng tiến hoặc thoái hóa. Chẳng hạn cuối giai đoạn đào tạo, ứng sinh phải được xác nhận là đã đạt được một mức độ trưởng thành khả dĩ mới cho chịu chức. Theo lý tưởng thì sự trưởng thành ấy sẽ ngày càng được tăng tiến với thời gian và kinh nghiệm. Nhưng nơi một số linh mục trẻ thì ngược lại, đến nỗi bị phê bình là thiếu nhân bản, hay đúng hơn là đang ở vào lúc sự trưởng thành bị thiếu hụt.

Nhưng chúng ta cần bình tĩnh xem xét một cách công bằng, vì trưởng thành nhân bản là làm chủ được bản thân, làm chủ được các cảm xúc, làm chủ được cuộc sống của mình và sống đúng những cam kết của bậc sống mình. Bộ Giáo sĩ khẳng định: “sự trưởng thành nhân bản trước tiên hàm nghĩa sự quân bình và hài hòa trong toàn thể các xu hướng và giá trị, sự ổn định tâm lý và tình cảm, sự cẩn trọng khách quan trong phán đoán, sức mạnh trong việc làm chủ cá tính của mình, khả năng giao tế, v.v…[5]. Nếu hiểu như thế thì trưởng thành nhân bản rất hàm nghĩa và tương đối, và không phải chỉ một số linh mục trẻ thiếu trưởng thành nhân bản mà còn nhiều người lớn tuổi và chức quyền cũng mắc phải, vì không làm chủ được cảm xúc nóng giận hoặc trái ý mà mắng chửi giáo dân ngay cả trên tòa giảng là nơi chỉ dành để nói lời Chúa, thậm chí đánh cả giáo dân và người cộng tác dưới quyền[6]. Chúng ta coi đây là những lúc sự trưởng thành bị thiếu hụt trên tiến trình đang trở thành. Bao lâu con người còn sống là còn thay đổi, hoặc tốt hơn hoặc xấu hơn, cho đến khi hoàn tất cuộc đời. Như thế, mỗi người chúng ta có thể lúc này trưởng thành mà lúc khác lại thiếu trưởng thành, tùy thái độ ứng xử của chúng ta lúc đó.

  1. Trưởng Thành Nhân Bản Toàn Diện

Linh mục phải là con người thực sự trưởng thành nhân bản toàn diện:

   2.1. Trưởng Thành Nhân Bản Nói Chung

Nhân là người, bản là gốc rễ, là nền tảng… Nhân Bản là tập hợp những điều căn bản của con người từ khi được hình thành trong bụng mẹ, vốn tốt lành tự nhiên (“nhân chi sơ tính bổn thiện”). Nhưng vì con người là một sinh vật có lý trí, có tăng trưởng theo dòng thời gian và chịu ảnh hưởng của môi trường sống chung quanh nên cái gốc rễ ấy sẽ không mãi mãi được bảo trì như ban đầu (“tính tương cận”), mà sẽ dần dần biến đổi theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, tùy theo cái ảnh hưởng đó là tốt hay xấu, chứ không còn giống nhau như trước nữa (“tập tương viễn”).

Như thế, chúng ta nhận thức được sự can thiệp vô cùng quan trọng của việc giáo dục nhân bản, tức là giáo dục một con người từ lúc chưa ý thức mình là người trở thành một người có nhân cách. Chẳng hạn một em bé mới sinh nhờ lớn lên trong một nhân cách gia đình tốt mà thừa hưởng những cái tốt ấy: cha mẹ nào con nấy. Em bé cũng lớn lên trong một nhân cách xã hội tốt hay xấu, và cái nhân cách xã hội ấy cũng ảnh hưởng trên em bé. Quan trọng hơn là em bé sẽ sống và lớn lên trong một nhân cách giáo dục: những lời nói, những hành động của cha mẹ, thầy cô, người lớn, những tư tưởng trong sách vở mà em bé tiếp thu, thấu hiểu và đọng lại trong suy nghĩ, trong tiềm thức… đều chạm tới nhân cách của em, được diễn tả ra trong lời nói, thái độ ứng xử và hành động. Cái nhân cách được hình thành từ thuở thiếu thời như thế sẽ bám lấy em cho đến khi em trưởng thành, thành người lớn và theo em mãi suốt cả cuộc đời, nếu không có sự can thiệp hiệu quả của việc được đào tạo và tự đào tạo thích hợp.

Vậy nhân bản là thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử của một người hợp với những quy tắc mà mọi người thừa nhận. Và giáo dục nhân bản là đặt ra những định chế để hướng dẫn hay sửa chữa những lệch lạc, sai lầm nhằm thăng tiến con người hoàn thiện. Từ đó ta gọi nhân bản là “đạo nhân = đạo làm người”, là đường lối và lẽ sống, là cách đối nhân xử thế trong cuộc sống hợp quần của con người với nhau. Chính vì thế, Pastores Dabo Vobis khẳng định: “Không có đào tạo nhân bản thỏa đáng thì việc đào tạo trong toàn bộ sẽ thiếu hụt mất những nền tảng cần thiết”[7].

Điều linh mục được đòi hỏi trước tiên là phải có sự Trưởng Thành Nhân Bản, nghĩa là phải biết làm một con người đích thực là con người (thành nhân), được biểu hiện ra bên ngoài qua những đức tính tự nhiên hoặc do tập luyện mà đạt được nhân cách cao quý, như tác phong tốt đẹp, suy nghĩ chín chắn khôn ngoan, ý chí tự chủ, kiên quyết, tâm tính quân bình, điềm tĩnh, cư xử hài hòa, quảng đại vị tha…

Được coi là trưởng thành và thật sự trưởng thành là hai thực tại khác nhau. Có thể ngộ nhận rằng người trưởng thành không hề bị ảnh hưởng bởi sự xấu, không thể sai lầm, luôn giữ vững lập trường, không hề thay đổi, v.v… Thật ra, người trưởng thành luôn biết thế nào là đúng thế nào là sai và hành động theo lương tâm ngay thẳng; càng trưởng thành càng khiêm tốn chấp nhận mình có thể sai lầm và đón nhận sự phê bình hay quan điểm của người khác; nét đẹp của người trưởng thành chính là sự hài hòa, biết lúc nào cần nghiêm chỉnh, khi nào cần tươi cười, biết nhận ra sự khác biệt và giá trị của người khác, của mỗi hoàn cảnh, mỗi thời điểm, biết linh động thích ứng, chứ không khư khư quan điểm chủ quan sai của mình bất chấp quan điểm khách quan đúng của người khác, nhưng cũng biết nỗ lực thuyết phục người khác nghe theo quan điểm chủ quan đúng của mình.

Sự trưởng thành không lệ thuộc vào tuổi tác và thể lý: Người ốm yếu có thể trưởng thành hơn lực sĩ, người ít học có thể trưởng thành hơn người khoa bảng, người trẻ tuổi có thể có sự trưởng thành tinh thần cao hơn người có tuổi tác, chức vị (dĩ nhiên người tuổi tác và chức vị theo lẽ thường phải có sự trưởng thành chuẩn mực), vì người trưởng thành nhân bản thực sự biết làm chủ bản thân và các cảm xúc của mình. Người trưởng thành biết nhìn xa trông rộng, biết khép mình vào kỷ luật chung, hành động không vì sợ người khác nhưng theo lương tâm và xác tín của mình. Ý chí, tự do, tình cảm, trí khôn, tất cả kết hợp hài hòa nơi bản thân để tạo thành nhân cách của người trưởng thành. Người trưởng thành trung thành sống những cam kết của bậc sống mình, chịu mọi trách nhiệm về hành động và lời nói của mình cho tới cùng.

Tóm lại, một con người trưởng thành nhân bản biết mở rộng ý thức về bản thân, nhưng không lấy cái tôi của mình làm trung tâm điểm, song liên kết với tha nhân cách quân bình, làm chủ cảm xúc và sống với các trạng thái tình cảm của mình: có khả năng mang nổi thất bại, chấp nhận lầm lỗi của mình chứ không dữ dội trút lên tha nhân và các biến cố bên ngoài kiểu giận cá chém thớt, cui đánh đục, đục đánh săng; bộc lộ các xác tín và cảm nhận của mình với lòng trân trọng các xác tín và cảm nhận của người khác; vượt lên cái thiện cảm và ác cảm tự nhiên. Lòng cảm thông đối với đồng loại là một dấu hiệu của sự trưởng thành.

Người trưởng thành nhân bản có nhận thức đúng với thực tế: đánh giá thực tại, nhìn xem sự vật, con người và các hoàn cảnh đúng như chúng là, chứ không như mình mong muốn nó trở thành; đồng thời có khả năng quên mình vì một nhiệm vụ quan trọng trong ý thức trách nhiệm tập thể; biết rõ mình về những điểm mạnh và những điểm yếu của mình trong tinh thần hài hước; có khả năng coi thường những cái mình yêu thích dù vẫn yêu thích chúng; không giả bộ màu mè tỏ ra bề ngoài mình là cái gì đó mà thực ra không phải.

Người trưởng thành nhân bản có sự chín chắn lương tâm đạo đức: biết sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai trong cuộc sống thường ngày; không lẫn lộn phương tiện với mục đích, và cương quyết theo đuổi cho bằng được những mục đích đúng đắn mà mình đã xác tín.

Huấn Thị Hình ảnh Giáo Hội Hôn Thê của Chúa Kitô dạy “phải kiểm chứng sự trưởng thành nhân bản của các ứng sinh: đương sự phải nhận biết thực tiễn về bản thân, và ý thức khách quan về những năng khiếu và giới hạn của mình, khả năng tự quyết và lãnh nhận trách nhiệm; khả năng thiết lập những tương quan lành mạnh, thanh thản, với những người nam nữ, hiểu biết đúng đắn về giá trị hôn nhân và chức phận làm mẹ, khả năng hội nhập tính dục vào trong căn tính bản thân, và điều khiển những năng lực tình cảm để có thể diễn tả nữ tính của mình trong một cuộc sống khiết tịnh, cởi mở đối với một sự phong phú tinh thần rộng lớn hơn… Ngoài ra phải có khả năng làm việc, nghề nghiệp, để có thể tự lực mưu sinh một cách xứng đáng, có khả năng dựa trên kinh nghiệm đương đầu với những đau khổ và bất mãn, cũng như trao ban và nhận lãnh tha thứ, biết giữ lời hứa và chu toàn những cam kết đã đưa ra, có khả năng sử dụng của cải trong tinh thần trách nhiệm, sử dụng các phương tiện truyền thông và thời giờ rảnh rỗi”[8].

Bài đọc thêm: Học Làm Người

Chuyện kể rằng Ðại Sư Tịnh Vân có một đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền đi học Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ. Sau nhiều năm dùi mài kinh sử, đệ tử đó hoàn thành luận án nên vô cùng mừng vui, trở về vinh quy bái tổ và thưa với Đại Sư: “Bạch Sư phụ, nay con đã có bằng Tiến sĩ rồi, con còn phải học những gì nữa không?” Ngài Tịnh Vân bảo: “Học làm người.” Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. Phải tu thân tề gia trước, rồi mới đủ uy tín trị quốc, và sau đó mới khả dĩ bình thiên hạ. Đạo Làm Người là đạo quan yếu nhất, dù theo đạo nào và ở cương vị nào thì trước tiên vẫn phải biết Làm Người. Đây là vài “tín chỉ” trong “môn học làm người”:

  1. HỌC NHẬN LỖI:Con người thường không chịu nhận phần lỗi mình, tất cả lỗi lầm đều đổ cho người khác, vì cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra “không biết mình” là lỗi lầm lớn nhất. Đừng nghĩ mình “lớn” thì hoàn hảo và vô tội. Càng lớn càng dễ lỗi lầm vì có thể đổ lỗi cho người dưới. Ðối tượng mà mình nhận lỗi có thể là ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè…, và bất kỳ ai trong xã hội, thậm chí là người nhỏ hơn mình và với chính người không tốt với mình. Nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân và được khâm phục. Biết nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu thân lớn và là một nhân đức.
  2. HỌC KHIÊM NHU:Răng cứng lưỡi mềm, nhưng cuối cuộc đời, răng rụng hết mà lưỡi vẫn còn nguyên. Đó là bài học về sự mềm mỏng, khiêm nhu. Được vậy thì đời người mới có thể tồn tại dài lâu, chứ “cứng” thì chỉ thiệt thòi. Tâm hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu thân. Có tâm hòa thì mới có nhân hòa. Thường những người cố chấp có tấm lòng và tính cách rất “lạnh”, rất “cứng” như sắt thép vậy. Nếu biết điều hòa hơi thở và tâm tính, dần dần khiến “ngựa chứng” phải thuần thục thì cuộc sống sẽ vui tươi, hạnh phúc và kiên vững.
  3. HỌC ĐỨC NHẪN:Nhẫn nhục là loại “cỏ quý”, là “bùa hộ thân” đặc biệt. Biết nhẫn một chút thì có thể làm sóng yên biển lặng. Nhường nhịn không phải là chiến bại. Nhẫn để tiêu trừ điều ác. Nhẫn là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Muốn sinh tồn thì phải biết nhẫn để có thể phân biệt đúng/sai, thiện/ác, tốt/xấu, thậm chí chấp nhận nó.
  4. HỌC THẤU HIỂU:Không hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm…. Nên thấu hiểu để biết cảm thông và giúp đỡ nhau. Không cảm thông nhau không thể tha thứ cho nhau, không thể có hòa bình.
  5. HỌC BUÔNG BỎ:Cuộc đời như một chiếc va-li, lúc cần dùng thì xách lên, không cần thì đặt xuống. Lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, mà kéo lê nặng nề thì cuộc đời luôn trĩu nặng. Cuộc đời hữu hạn, biết phục thiện, biết tự trọng và tôn trọng, biết bao dung thì mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết khước từ chính mình để có thể sinh tồn.
  6. HỌC XÚC ÐỘNG:Nhận ra ưu điểm của người khác thì nên hoan hỷ, thấy điều không may của người khác nên biết xúc động. Vui với người vui, buồn với người buồn. Trắc ẩn là lòng thương yêu, là thiện tâm. Trên đời có rất nhiều cảnh thương tâm, nhiều cuộc đời rất đáng thương, vô cảm là độc ác.
  7. HỌC SINH TỒN:Ðể sinh tồn, chúng ta phải biết giữ gìn sức khỏe tinh thần và thể lý. Tinh thần thoải mái thì thân thể khỏe mạnh, và ngược lại. Thân thể khỏe mạnh không chỉ ích lợi cho bản thân mà còn làm cho gia đình, bạn bè an tâm. Đó cũng là biết sống hiếu đễ với người thân.

   2.2. Trưởng Thành Nhân Bản Kitô Giáo

ĐTC Phanxicô tuyên bố: “Nền nhân bản Kitô giáo đặt trọng tâm nơi Chúa Giêsu Kitô, nơi đó chúng ta khám phá khuôn mặt đích thực của con người. Nền nhân bản Kitô giáo không phải là thứ chủ nghĩa tự quy về mình, lấy mình làm trung tâm, nhưng luôn luôn hướng đến người khác, nỗ lực làm việc để cho thế giới tốt đẹp hơn. Chúa Giêsu cho chúng ta thấy con đường dẫn đến hạnh phúc là con đường của Tám Mối Phúc Thật… Tuy đơn sơ, nhưng thực tiễn, giúp chúng ta sống đời sống Kitô hữu đến mức lành thánh… Nếu Giáo Hội đánh mất đi tâm tình như đã có nơi Chúa Giêsu, Giáo hội sẽ mất phương hướng và cũng đánh mất diệu cảm của mình… Các cải cách của Giáo Hội phải bắt nguồn từ Chúa Kitô và phải để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn”[9].

Nhân bản Kitô giáo là một nền nhân bản toàn diện và liên đới, có thể tạo ra một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị mới, đặt nền tảng trên phẩm giá và tự do của mỗi con người. Nền nhân bản này có thể trở thành hiện thực nếu mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng biết vun trồng các đức tính luân lý và xã hội nơi bản thân mình và phổ biến chúng trong xã hội[10].

Vì thế, Công Đồng Vaticanô II dạy: “Mọi Kitô hữu, nhờ việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần, đã trở nên những tạo vật mới, được gọi là con Thiên Chúa và quả thực như thế, nên có quyền hưởng một nền giáo dục Kitô giáo. Nền giáo dục này không chỉ nhằm giúp con người được trưởng thành, nhưng cốt yếu là nhằm giúp những người đã rửa tội ngày càng ý thức hơn về hồng ân Ðức Tin đã nhận lãnh trong khi họ được hướng dẫn để dần dần hiểu biết mầu nhiệm cứu rỗi. Nền giáo dục ấy còn giúp họ biết cách thờ phượng Thiên Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4,23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như huấn luyện họ biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Eph 4,22-24). Nhờ vậy họ đạt tới con người hoàn thiện, tới tầm vóc sung mãn của Chúa Kitô (x. Eph 4,13) và góp phần vào việc tăng trưởng của Nhiệm Thể. Hơn nữa, vì ý thức được ơn kêu gọi của mình, chính họ phải tập thói quen minh chứng niềm cậy trông của mình (x. 1P 3,15) cũng như phải giúp cải tạo thế giới theo tinh thần Kitô giáo. Nhờ đó những giá trị tự nhiên sẽ góp phần vào lợi ích của toàn thể xã hội, khi được hòa hợp vào viễn ảnh toàn vẹn của con người được Chúa Kitô cứu chuộc. Vì vậy Thánh Công Ðồng nhắc lại cho những Chủ Chăn hướng dẫn các linh hồn nhiệm vụ rất quan trọng là phải thu xếp mọi sự, để các tín hữu được hưởng nhờ nền giáo dục Kitô giáo, nhất là giới trẻ – niềm hy vọng của Giáo Hội”[11].

Hơn ai cả, linh mục/tu sĩ phải là người thực sự trưởng thành nhân bản kitô giáo, mà thánh Phaolô khẳng định “lấy sự thánh thiện và chân thành Thiên Chúa ban mà cư xử với người ta ở đời, đặc biệt là với anh em… không cư xử theo lẽ khôn ngoan người đời, nhưng theo ân sủng của Thiên Chúa” (2 Cr 1, 12.). Trưởng thành nhân bản Kitô giáo là đã tập luyện được và sống các nhân đức đối thần, đối nhân cũng như đối ngã. Các nhân đức đối nhân có bác ái, khôn ngoan, công chính, can đảm và tiết độ; còn các nhân đức đối thần là Tin, Cậy, Mến để nên thánh, bằng việc tín thác cho Chúa Thánh Thần và kêu xin Ngài ban các hồng ân và hoa trái thiêng liêng giúp chúng ta dễ dàng sống theo sự hướng dẫn của Ngài qua bảy ơn Kính Sợ, Đạo Đức, Suy Biết, Sức Mạnh, Lo Liệu, Thông Hiểu và Khôn Ngoan.

Sự trưởng thành nhân bản Kitô giáo này sẽ ngày càng tăng trưởng nhờ vào sự giáo dục, nhất là giáo dục đức tin và thực hiện việc thương người mà linh mục/tu sĩ phải sống trước khi dạy giáo dân. Một số kinh nguyện chúng ta đọc Ngày Chúa Nhật thúc đẩy chúng ta ý thức và nỗ lực thực hiện sứ vụ giảng dạy của mình, đồng thời cũng là một chương trình Sống Đạo trưởng thành tuyệt vời: Kinh Thương Người Có Mười Bốn Mối. Thương xác bảy mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, cho khách đỗ nhà, chuộc kẻ làm tôi, chôn xác kẻ chết. Thương linh hồn bảy mối: lấy lời lành mà khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Kinh Cải Tội Bảy Mối Có Bảy Đức: Khiêm nhượng chớ Kiêu ngạo, Rộng Rãi chớ Hà Tiện, Giữ mình sạch sẽ chớ mê dâm dục, Hay nhịn chớ hờn giận, Kiêng bớt chớ mê ăn uống, Yêu người chớ ghen ghét, Siêng năng việc Đức Chúa Trời chớ làm biếng. Nhất là nỗ lực thực thi Tám Mối Phúc Thật, quen gọi là Hiến Chương Nước Trời.

   2.3. Trưởng Thành Nhân Bản Đời Tu

Linh mục/tu sĩ phải là người trưởng thành nhân bản đời tu thực sự, qua tiến trình ơn gọi năm bước: một là thực sự nghe được tiếng Chúa kêu gọi, hai là quảng đại đáp lại, ba là luôn luôn cam kết theo chính Chúa Kitô toàn thể với khổ hình thập giá và phục sinh vinh quang, bốn là mỗi ngày được biến đổi phù hợp với đời sống và sứ vụ của mình, năm là kiên trì trung thành với ơn gọi, trung tín với Chúa và Giáo Hội, trung tín với Hội Dòng, Bề Trên, Đấng Bản Quyền và anh chị em, trung tín với lời hứa vâng phục và độc thân khiết tịnh, vượt lên những gập ghềnh trái ngang về tình cảm và tính dục trong suốt cuộc sống tông đồ mục vụ qua tình bạn với người đồng phái lẫn khác phái, đi tu hay ở đời, độc thân hay có gia đình và góa bụa. Từ đó nung đúc được những tâm tình trưởng thành thiết yếu trong nhân cách linh mục/tu sĩ như tâm tình biết ơn, tâm tình xin lỗi, tâm tình tha thứ, tâm tình cầu chúc những điều tốt đẹp nhất và tâm tình cầu nguyện vì xác tín rằng mọi sự đều bởi Chúa.

Đời sống và sứ vụ linh mục/tu sĩ hôm nay luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết (tục hóa, hưởng thụ vật chất và khoái lạc nhục dục), nên chúng ta phải kiên trì sử dụng mọi phương thế tự nhiên và siêu nhiên để gìn giữ và tự bảo vệ lấy mình trong mọi mối tương quan, hầu xứng hợp theo đuổi lý tưởng cho đến cùng, đặc biệt năm yếu tố giữ cho các mối tương quan được quân bình, hài hòa và an toàn, nhất là trong tương quan khác phái: một là nơi chốn gặp gỡ, hai là thời gian và thời lượng, ba là khoảng cách thể lý và tâm lý, bốn là sự có mặt của những người thứ ba, năm là ý thức sống sự hiện diện khuất ẩn nhưng rất thực của Chúa.

ĐTC Phanxicô nhắn nhủ: “Các con đừng sợ đi ngược dòng đời, khi mà những giá trị được bày ra là những giá trị xấu, muốn cướp mất hy vọng của chúng ta, những giá trị được ví như những bữa ăn, khi bữa ăn không lành mạnh, nó sẽ làm hại chúng ta, thì những giá trị này làm hại chúng ta. Chúng ta phải đi ngược dòng đời, và các con phải là người đi tiên phong: “hãy đi ngược dòng đời và hãy lấy làm hãnh diện khi đi ngược dòng đời như vậy”[12].

Chính nhờ sự trưởng thành nhân bản đời tu và là linh mục có nhân cách, là người môn đệ đích thực, đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô mà chúng ta mới có thể chu toàn sứ vụ được giao phó, cùng với đoàn chiên xây dựng giáo xứ thành một gia đình yêu thương, một thiên đường tại thế, trở thành sức hấp dẫn lôi kéo người ta tìm đến đức tin.

Người càng trưởng thành nhân bản đời tu càng biết yêu bản thân và tha nhân. Trong giới răn trọng nhất yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình” (X. Mc 12, 28-34) thì chúng ta ở đâu? Thưa chúng ta vừa là chủ thể vừa là đối tượng của tình yêu ấy: chúng ta yêu Chúa, yêu tha nhân và yêu bản thân mình. Tình yêu bản thân là một đòi hỏi căn bản, được khắc sâu trong bản tính con người: có yêu mình mới so sánh được với yêu tha nhân. Nếu bản thân mình mà không yêu thương, tôn trọng, bồi đắp, thăng tiến và hoàn thiện thì làm sao mà có lòng yêu thương tha nhân được? Và mới có thể trở thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Chúa. Có yêu bản thân mình mới yêu được mọi người xung quanh!

Khi dạy “yêu tha nhân như chính mình”, Chúa Giêsu đương nhiên chấp nhận tình yêu bản thân và lấy nó làm đối chiếu cho tình yêu tha nhân. Nhưng phải yêu bản thân một cách đúng mực, có trách nhiệm, có định hướng để Chúa Kitô ngày càng lớn lên và con người phàm trần ngày càng bé đi thì mới có thể lấy bản thân mình làm đối chiếu cho tình yêu đối với tha nhân. Người trưởng thành nhân bản đời tu không tìm đáp ứng hết mọi nhu cầu của bản thân, nhưng cầu nguyện và suy nghĩ để biết nhu cầu nào là cần thiết và nhu cầu nào là nên buông bỏ, nhờ đó mà biết tin tưởng chấp nhận và nỗ lực tự đào tạo thăng tiến bản thân mình cũng như tha nhân ngày càng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, mà thánh Phaolô quả quyết “tôi sống nhưng không còn là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi”.

Khi nói những lời từ biệt cuối cùng, Chúa Giêsu trao cho các môn đệ điều răn mới về một mức độ đỉnh điểm của tình yêu, cũng là dấu hiệu căn tính của người môn đệ: “Thầy ban cho các con điều răn mới của Thầy là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. Mọi người sẽ cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 34-35). Là những người thay lời đổi ngôi cho Chúa Giêsu, chúng ta nỗ lực làm cho tình yêu của chúng ta đối với nhau phát triển đến mức hoàn hảo như tình yêu mà Chúa Giêsu đã yêu chúng ta: “yêu nhau như Chúa yêu mình”, không lấy mình làm quy chiếu, song lấy Chúa Kitô làm mẫu mực và nhìn thấy Chúa Kitô trong nhau. Một khi anh em linh mục/ tu sĩ thực sự yêu thương nâng đỡ nhau, thỏa mãn được nhu cầu tâm lý yêu và được yêu, thì không một thứ tình cảm nào có thể chen vào làm hại chúng ta được.

Thánh Phaolô diễn tả sự trưởng thành kiên bền trong đời tu như sau: “Trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng. Chúng tôi còn chứng tỏ điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ, khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” ( 2 Cr 6, 4-10).

Đời linh mục/tu sĩ cũng thế: dù được hiểu hay không được hiểu, được ủng hộ hay bị chống đối, vui hay buồn, sướng hay khổ, thành công hay thất bại, cứ luôn bám chặt vào Chúa, chúng ta sẽ nhận được một sức mạnh kỳ diệu nâng đỡ mà Thánh Phaolô xác quyết là “chính Chúa Kitô sống trong tôi”(Gal 2,20). Cầu mong chúng ta có thể nói được cùng với Thánh Phaolô: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta… Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”(Rm 8, 35 – 39).

Tuy nhiên chúng ta vẫn phải luôn cảnh giác, vì trong thực tế, rất nhiều lần chúng ta đã để một ai đó hay một cái gì đó tách biệt Chúa Giêsu ra khỏi tình yêu và cuộc đời của chúng ta, cho dù không hề có cái gì tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Giêsu: chúng ta có thế nào đi nữa thì Ngài vẫn hằng thương yêu chúng ta, và thương yêu chúng ta cho đến cùng.

Chúng ta hãy luôn tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa và hãy lạc quan. Đừng quá chú trọng vào lầm lỗi, nhưng hãy chú trọng đến bài học từ lầm lỗi để rút kinh nghiệm mà không lầm lỗi nữa. Chính Chúa Giêsu đã từng nói: “Tội con đã được tha, hãy về bằng an và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đừng thất vọng về lỗi lầm quá khứ của mình và của anh em. Hãy xem cách xử sự của Chúa Giêsu: Ngài tha thứ, tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, và vẫn tín nhiệm trao cho Phêrô trách nhiệm làm đầu Giáo hội, cho Mađalêna làm sứ giả Tin Mừng Phục sinh. Quả thật “Bản chất của con người là lầm lỗi và bản chất của Thiên Chúa là tha thứ. Và tội thì tha, lỗi thì sửa; mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Lỗi một thời, không ai lỗi suốt đời”.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 117 (tháng 3 & 4 năm 2020)

* Bài viết này được trích ra từ quyển Linh mục và tu sĩ sống trưởng thành tình cảm và tính dục trong bối cảnh Giáo Hội và xã hội hôm nay của Cha Micae- Phaolô Trần Minh Huy, PSS. Quyển sách này vừa được phát hành đầu năm 2020, xin trân trọng giới thiệu với độc giả.

[1] Thư ĐTC Biển Đức XVI gửi Người Công giáo Ái Nhĩ Lan, Vatican ngày 20/3/2010.

[2] https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2019-02/thuyet-trinh-cua-duc-tgm-scicluna-vatiab.html

[3] Pastores Dabo Vobis, số 43.

[4] Xem Câu chuyện ‘rồi cũng qua đi’, tại http://songdep.xitrum.net/nghethuatsong/118.html

[5] Bộ Giáo Sĩ, Kim Chỉ Nam về tác vụ và đời sống linh mục, số 93.

[6] Có linh mục kia bạt tai cả nữ tu!

[7] X. Pastores Dabo Vobis số 43.

[8] Huấn Thị của Bộ Các Dòng Tu công bố ngày 4/7/2018 – https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2018-07/cong-bo-huan-thi-ve-doan-trinh-nu-thanh-hien.html

[9] ĐTC Phanxicô nói tại Hội nghị Quốc gia lần thứ V của Giáo Hội Italia, theo news.va.

[10] x. HTXHGHCG số 19 – Từ Điển Công Giáo 500 mục từ tr. 256.

[11] Trích Sắc Lệnh về Giáo Dục Kitô Giáo (Gravissimum Educationis), Khóa VII Ngày 28/10/1965.

[12] Trích huấn từ buổi tiếp kiến chung ngày 23/6/2013.Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS

Read More
26Tháng Sáu
2020

Công bố Chỉ nam mới về Huấn giáo

26/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Công bố Chỉ nam mới về Huấn giáo

 

 Mối liên hệ chặt chẽ giữa truyền giáo và huấn giáo, sự kết hợp giữa lời loan báo đầu tiên và sự trưởng thành của đức tin, dưới ánh sáng của nền văn hóa gặp gỡ, là nét đặc thù của Chỉ nam mới về Huấn giáo do Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng soạn thảo . Tài liệu cũng đề cập đến các đề tài mới như: đạo đức sinh học, giới tính và giống, chăm sóc công trình sáng tạo và án tử hình.

Chỉ nam mới về Huấn giáo này được công bố trong cuộc họp báo vào lúc 11:30 sáng thứ Năm 25/06/2020, tại Hội trường Gioan Phaolô II của Phòng Báo chí Tòa Thánh.

Chủ tọa cuộc họp báo là Đức Tổng giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin mừng; cùng với Đức cha Octavio Ruiz Arenas, người Colombia, Tổng thư ký của Hội đồng; và Đức cha Franz-Peter Tebartz-van Elst, người Đức, đặc ủy về vấn đề huấn giáo thuộc hội đồng này.

 Thúc đẩy mạnh mẽ việc tái truyền giảng Tin Mừng và huấn giáo

Kế thừa hai tài liệu đã có trước đây: “Chỉ nam Huấn giáo tổng quát” được ban hành năm 1971 và “Chỉ nam tổng quát về Huấn giáo” được ban hành năm 1997, Chỉ nam mới về Huấn giáo được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn ngày 23/03 năm nay thúc đẩy mạnh mẽ việc tái truyền giảng Tin Mừng và huấn giáo.

Tài liệu dài hơn 300 trang, chia thành 3 phần với 12 chương, nhắc rằng mỗi người được rửa tội là môn đệ truyền giáo và kêu gọi sự dấn thân và trách nhiệm để tìm ra những ngôn ngữ mới để thông truyền đức tin.

Phần thứ nhất, có tựa đề “Huấn giáo trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội”, nhấn mạnh đến việc đào tạo các giáo lý viên: “là giáo lý viên trước khi làm giáo lý viên.” Phần thứ hai, “Tiến trình huấn giáo”, nêu bật tầm quan trọng của gia đình như chủ thể tích cực của việc loan báo Tin Mừng và là nơi chốn tự nhiên sống đức tin. Phần thứ ba, “Huấn giáo trong các Giáo hội cụ thể”, nói về vai trò của các giáo xứ, được định nghĩa như “gương mẫu của cộng đoàn tông đồ”.

Ba nguyên tắc cơ bản trong hoạt động huấn giáo: chứng tá, lòng thương xót và đối thoại

Ba nguyên tắc cơ bản trong hoạt động huấn giáo của chúng ta là: chứng tá, bởi vì “Giáo hội không phát triển bằng chiêu dụ tín đồ, nhưng bằng sự hấp dẫn”; tiếp đến là lòng thương xót, huấn giáo đích thực làm cho việc loan báo đức tin trở nên đáng tin; và cuối cùng là đối thoại, sự đối thoại tự do và nhưng không, không bắt buộc nhưng được bắt đầu từ tình yêu và góp phần vào hòa bình. Theo cách này huấn giáo giúp các Kitô hữu đưa ra ý nghĩa đầy đủ cho sự hiện diện của họ.

Các đề tài mới

Trong số các vấn đề mới được đề cập trong Chỉ nam năm 2020 là đạo đức sinh học, giới tính và giống, chăm sóc công trình sáng tạo và án tử hình. (CSR_4816_2020) Hồng Thủy

Read More
24Tháng Sáu
2020

Vài suy tư về môi sinh dưới cái nhìn của Học thuyết Xã hội Công giáo

24/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Dẫn nhập

Theo cái nhìn truyền thống về Học Thuyết Xă Hội của Giáo Hội, khi nói về việc hưởng dùng những tài nguyên của trái đất, người ta chú ý nhiều đến những tài nguyên, những của cải, những sản phẩm do con người làm ra qua sức lao động. Trọn cả dòng suy tư trong học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo dường như bị cuốn hút bởi “hai cực”: “Tư Bản và Lao Ðộng”, “Con Người và Tiền Vốn”.

Giờ đây, trong giai đoạn mới, xuất hiện một “phân cực mới”, với tên gọi mới là “môi sinh”, là “thiên nhiên”. Từ đây, suy tư của Học thuyết xã hội của Giáo hội không còn được trình bày theo hai phân cực “Tư Bản và Lao Ðộng”, nhưng theo ba phân cực “Tư Bản, Lao Ðộng và Môi Sinh”[1].
Trong phạm vi bài này, người viết xin trình bày vai trò của môi sinh đối với đời sống con người dưới cái nhìn của Giáo hội.

* Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên có ngay từ những ngày đầu sáng tạo

Sáng thế, quyển sách đầu tiên của Kinh thánh Kitô giáo, đã diễn tả mối tương quan hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua những hình ảnh biểu trưng sống động: thiên nhiên là công trình tạo dựng của Thiên Chúa và là ân huệ Người ban cho con người. Chính Người đã tạo dựng vạn vật từ hư vô và khi nhìn nhận từng tạo vật “Người đều thấy nó tốt đẹp” (x. St 1,4). Do đó, thiên nhiên không phải là sức mạnh thù nghịch ghê gớm, mà còn là “cách thế biểu lộ chương trình yêu thương và sự thật”[2] của Thiên Chúa đối với loài người.

Giáo huấn xã hội của Giáo hội luôn đề cao vai trò trung tâm của con người trong vũ trụ và phủ nhận cái “hào quang thần thánh” mà một số tôn giáo đã phủ lên vũ trụ vạn vật. Theo Kinh thánh, ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm quản trị toàn thể vạn vật để giúp chúng sinh sôi nảy nở và phát triển hài hòa (x. St 1,26-30). Nhờ ủy thác này, nhân loại mạnh dạn khám phá và chế ngự thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi để khoa học hình thành và phát triển. Qua khoa học kỹ thuật, con người ngày càng mở rộng chủ quyền của mình trên toàn thể vũ trụ.

Theo Vaticanô II, nhờ lý trí và khoa học kỹ thuật, con người đã đạt được những kết quả phi thường trong việc khám phá cũng như chế ngự thế giới vật chất. Giáo huấn xã hội Công giáo đánh giá cao những đóng góp của khoa học kỹ thuật trong các lãnh vực của cuộc sống nông nghiệp, công nghiệp, y tế, thông tin, giáo dục…

* Khủng hoảng môi sinh

Tuy nhiên do quá nhấn mạnh về việc con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên hai vai trò ngôi vị và xã hội luôn được đề cao, trong khi đó, vai trò môi trường của con người bị xem nhẹ thậm chí bị lãng quên. Con người đã lạm dụng trách nhiệm làm chủ thiên nhiên của mình.

Vì thế trong mấy thế kỷ vừa qua, đặc biệt kể từ cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVII, con người không những không tôn trọng những quy tắc nền tảng nói trên, mà trái lại đã khai thác thiên nhiên một cách tùy tiện, ích kỷ và tàn bạo. Kết quả bi thảm là đã phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa con người với môi trường và đẩy Trái Đất đến bờ vực thẳm của diệt vong. Càng cố gắng chinh phục và chế ngự Trái Đất theo quan điểm duy kỹ thuật, con người càng ô nhiễm hóa vũ trụ và tạo nên những gánh quá nặng cho môi trường. Thay vì cộng tác với Tạo Hóa để giúp thiên nhiên phát triển hài hòa, con người đã “hành hạ” và “bức tử” thiên nhiên[3].

* Giáo hội lên tiếng kêu gọi bảo vệ Thiên nhiên Môi trường

Hiện trạng xuống cấp trầm trọng môi trường toàn cầu gần đây khiến Giáo hội không thể im lặng. Giáo hoàng Phaolô VI năm 1967, trong thông điệp “Bát Thập Niên”, đã đề cập rõ vấn đề môi trường: “Đột nhiên con người hôm nay nhận thức rằng, do khai thác thiên nhiên một cách vô ý thức, mình bị đặt trước nguy cơ phá huỷ thiên nhiên và trở thành nạn nhân của chính hành động phá hoại có tác động dội lại trên con người”. Ngài xác nhận: vấn đề môi trường liên quan tới toàn thể nhân loại. Ngài kêu gọi các Kitô hữu hãy kề vai sát cánh cùng nhau gánh vác trách nhiệm về định mệnh chung bảo vệ thiên nhiên của cả thế giới[4].

Theo thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, cuộc khủng hoảng môi trường là hậu quả của chủ nghĩa tiêu thụ và khai thác thiên nhiên một cách vô tội vạ, phát xuất từ triết lý lệch lạc về vai trò con người, theo đó con người tự coi mình là chúa tể, là ông chủ tuyệt đối của thế giới, mà quên rằng Thiên Chúa đặt con người ở giữa vườn Êđen không phải là để làm bá chủ mà là để quản lý. Do đó, “lạm dụng thiên nhiên là ăn cắp của công”[5]. Như vậy tuy con người được phép sử dụng tạo vật, nhưng không có nghĩa là con người muốn sử dụng nó như thế nào tuỳ thích, mà phải có bổn phận giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên để người khác cũng được hưởng.

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho rằng bổn phận người Kitô hữu còn là tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường. Đầu tư vào sản xuất, cần quan tâm đến tác động môi trường. Dù không phải là nhà sản xuất, mỗi người đều phải biết bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của mình và của mọi người, bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường ngày, như không xả rác nơi công cộng, không làm mất vệ sinh trong khu xóm…Thánh Kinh kể lại rằng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm chăm sóc, trông coi công trình tạo dựng của Ngài (x. St 1,28). Vì thế, đối với các Kitô hữu, gìn giữ, bảo vệ, chăm sóc môi trường thiên nhiên không chỉ là một trách nhiệm xã hội, mà còn là đòi hỏi của niềm tin, là một nghĩa vụ cao cả, vì lẽ ta được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng[6].

* Cái nhìn và định hướng của bản thân

– Cái nhìn

Nhìn vào thực trang hiện nay của môi trường mình đang sinh sống quả thực có những vấn đề cần phải quan tâm và lên tiếng. Trước tiên, ý thưc tạo môi trường thiên nhiên lành mạnh chưa được người dân chú ý. Nhiều người còn có cái nhìn thiển cận chỉ biết nhắm đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài của hành động thiếu tôn trọng và hủy hoại môi trường của mình. Đơn cử như việc chặt phá rừng, những người dân vào rừng chặt trộm cây, họ không biết được rằng chặt phá rừng như thế sẽ dẫn đến hậu quả lớn là thiên tai, bão lụt. Việc xả rác tại các sông ngòi cũng đáng báo động, người dân mới chỉ biết vất rác ra khỏi nhà mình còn lại các chất bẩn độc hại ngấm vào nguồn nước, rồi mình lại dùng lại nước đó sẽ gây bệnh tật thì ít người nghĩ tớ. Do đó mới có hiện tượng ở một số sông ngòi, kênh mương tràn rác thải, nước ô nhiễm bốc mùi nghiêm trọng, những đường ống cống sình lầy…Gần đây nhất là dịch lợn tai xanh, người dân chống dịch bệnh bằng cách mang lợn chết thả trôi lềnh bềnh trên song. Vấn đề phân loại rác trong cộng đoàn và gia đình cũng thế, rác phân hủy được và rác không phân hủy bỏ chung lẫn lộn…

– Định hướng

Là một tu sĩ, bản thân hiểu rõ sứ mệnh “bảo vệ và truyền bá việc bảo vệ môi trường” của mình hơn ai hết, bởi vì “thế giới xuất hiện trước mắt con người như một bằng chứng về Thiên Chúa, là nơi Ngài bày tỏ quyền năng sáng tạo, quan phòng và cứu độ của Ngài”[7]. Tu sĩ đi theo Chúa là mong ước được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chính vì thế càng phải có trách nhệm góp phần bảo vệ công trình Ngài đã sáng tạo, hầu có thể đưa thiên nhiên về đúng ý định ban đầu Thiên Chúa tạo dựng.

Vì thế, trong đời sống của mình, trước tiên với cá nhân người tu sĩ phải biết tôn trọng và phát triển thiên nhiên bằng cách yêu mến, chăm sóc và trồng cây xanh nơi mình sinh sống. Tập nếp sống ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ, tôn trọng và chia sẻ tài nguyên cho mọi người vì thiên nhiên là tài sản chung Thiên Chúa ban cho con người.

Tiếp đến, trong đời sống cộng đoàn, tu sĩ phải biết góp phần mình vào việc sử dụng thiên nhiên một cách hợp lý, việc phân loại và xử lý rác thác phải được thực hiện cách cẩn thận, đi sát giáo huấn của Giáo hội và hưởng ứng cụ thể lời kêu gọi của Giáo hội trong việc bảo vệ môi trường, giúp chị em học hiểu và áp dụng cách thực tế thông điệp Laudato Si’ về môi trường của Đức Giáo Hoàng Phanxico… Trong đời sống tông đồ, người tu sĩ phải làm gương sáng trong việc bảo vệ thiên nhiên. Trong việc coi sóc thiếu nhi hãy dạy cho các em yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tổ chức những buổi trồng cây, làm cỏ, tưới nước trong khuôn viên nhà thờ, dạy các em không xả rác bừa bãi, có những thùng rác công cộng ở các nơi trong khu vực giáo xứ. Có những chương trình tổ chức đi đua về việc bảo vệ môi trường. Cổ vũ việc làm sạch môi trường sống bằng những hình thức phù hợp để giúp các em ý thức trách nhiệm và lợi ích của mình khi tôn trọng môi trường, đồng thời chỉ cho các em biết tác hại của việc tàn phá thiên nhiên chính là phá hại cuộc sống của mình.

Kết luận

Trên đây là một vài suy nghĩ về vấn đề môi sinh dưới cái nhìn của Học thuyết xã hội Công giáo, được người viết tổng hợp và trình bày. Thiết nghĩ vấn đề môi sinh hiện nay là vấn đề hết sức khẩn thiết mà ai trong chúng ta cũng nhận ra. Cái đáng nói ở đây  là nguyên nhân của sự khủng hoảng môi trường hiện tại không nằm ở “môi trường” mà nằm ở vấn đề “đạo đức” của chính chúng ta, những con người được Thiên trao quyền cai quản thiên nhiên mà Ngài đã sáng tạo. Vì lợi ích cá nhân, một số người đã khai thác thiên nhiên một cách “tàn bạo”, khai thác không phải để phát triển mà là “tiêu diệt”. Môi trường là cái nôi cho con người sinh sống, trái đất như ngôi nhà chung của chúng ta, một khi “tiêu diệt” nó là đang tiêu diệt chính chúng ta. Những khủng hoảng của biến đổi khí hậu, thảm họa môi trường…chính là tiếng kêu cứu của thiên nhiên đang gào thét và ước mong làm thức tỉnh con người trước lối sử dụng khai thác quá mức.

Hy vọng mỗi chúng ta đáp lại tiếng kêu cứu ấy bằng cách góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ và phát triển môi sinh theo đường hướng của Giáo hội.

[1] Dựa theo suy tư của Giáo sư Giorgio Campanini, chuyên viên về chính trị học theo tinh thần kitô giáo. Tập sách có tựa đề như sau: Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội: những thành quả đạt được và những thách thức mới, xuất bản năm 2007, Roma, nhà xuất bản EDB.

[2] Biển Đức XVI, Thông điệp Tình yêu trong sự thật, số 48.

[3] Nguyễn Thái Hợp, Một cái nhìn về Giáo huấn xã hội Công giáo, NXB Phương Đông, tr. 460.

[4] Thiên Kim, Giáo hội và Môi trường sinh thái. http://www.giaoducconggiao.net.

[5] GLHTCG số 2415.

[6] Phạm Minh Mẫn, Lá thư Mục tử, 2009. http://lambich.net.

[7] Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết xã hội Công giáo, tập II, Tủ sách chuyên đề, Lưu hành nội bộ, tr. 238.

 Hoa cát

Read More
23Tháng Sáu
2020

FaceApp nguy hiểm, người Việt vẫn đua nhau dùng để đổi giới tính ảnh

23/06/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

FaceApp nguy hiểm, người Việt vẫn đua nhau dùng để đổi giới tính ảnh

 

Ngày 19/6, ứng dụng chỉnh sửa ảnh FaceApp một lần nữa lọt top 1 xu hướng tìm kiếm Google Trends.

Không chỉ vậy, trên kho ứng dụng Google Play, FaceApp vượt qua Instagram, Facebook, WhatsApp đứng top 3 ứng dụng phổ biến nhất với hơn 100 triệu lượt tải xuống.

Trước đây, ứng dụng này từng được biết đến với tính năng chỉnh sửa gương mặt trẻ hơn hoặc già đi.

Ở lần trở lại này, FaceApp tập trung nâng cấp tính năng chuyển đổi giới tính trên hình ảnh của người dùng. Ngoài chỉnh sửa khuôn mặt, FaceApp còn có thể ghép tóc, râu vào ảnh gốc một cách chi tiết nhất bằng công nghệ máy học.

Chỉ sau một ngày ra mắt tính năng mới, hình ảnh kết quả chỉnh sửa từ FaceApp được người dùng Việt Nam chia sẻ rầm rộ trên mạng xã hội.

“Tôi nghĩ ứng dụng này đánh đúng vào sự tò mò của mọi người trong đó có tôi. Ai cũng sẽ tự hỏi liệu mình trong hình hài giới tính khác sẽ như thế nào? FaceApp đã đáp ứng tốt việc này”, Thượng Tâm, người dùng ứng dụng FaceApp ngụ TP.HCM nói.

Để kích thích sự lan truyền, FaceApp còn mặc định gán tên ứng dụng vào góc phải của ảnh. Tuy vậy, FaceApp lại được rất nhiều chuyên gia bảo mật và các tổ chức lớn cảnh báo về rủi ro lộ lọt thông tin.

Theo đó, phần cài đặt của FaceApp yêu cầu quyền khởi chạy cùng hệ thống, truy cập bộ nhớ, chạy nền, toàn quyền sử dụng Internet…

“Có nghĩa sau khi cài đặt, FaceApp có quyền tự động khởi chạy, truy cập bộ nhớ và truyền dữ liệu về máy chủ. Với hơn 100 triệu lượt tải xuống, đây là kho dữ liệu rất lớn. Một số quyền truy cập vượt quá giới hạn của ứng dụng chỉnh sửa ảnh”, Trí Đức, chuyên gia bảo mật đang làm việc tại New York, Mỹ cho biết.

faceapp anh 1
Một số quyền truy cập của FaceApp vượt quá giới hạn của một ứng dụng chỉnh ảnh.

Trước đây, Thượng nghị sĩ Mỹ Chuck Schumer từng yêu cầu nhà chức trách Mỹ điều tra ứng dụng FaceApp. Ông cho rằng phần mềm này có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư và an ninh quốc gia.

Theo CNN, hàng loạt nghị sĩ Đảng Dân chủ Mỹ cảnh báo ứng dụng FaceApp có thể ảnh hưởng đến chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ vào năm 2020.

Dù những lo ngại an ninh trên đúng hay sai, người dùng FaceApp Việt Nam dường như không mảy may lo ngại về ứng dụng này. Khi được hỏi những người đã sử dụng FaceApp, câu trả lời nhận được là “dữ liệu của tôi không có gì quan trọng”.

Ngày 18/7, trang Wired đăng tải bài viết với tiêu đề “Bạn sợ ứng dụng này cho đến khi biết đến Facebook”. Theo Wired, FaceApp, sử dụng những quyền tương tự với Meitu. Ứng dụng này không đòi các quyền như GPS hay các thông tin trên SIM như Facebook.

FaceApp sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo đặc biệt được phát triển bởi một đội ngũ ở Nga. Nó cho phép ứng dụng có thể nhận diện hình ảnh, từ đó đưa ra các dự đoán về sự thay đổi của khuôn mặt theo thời gian.

Bên cạnh đó, FaceApp yêu cầu người dùng tải các bức hình lên đám mây để xử lý thay vì thực hiện chúng ngay trên smartphone. Đáp lại những lo ngại về quyền riêng tư, FaceApp cho biết công ty không bán hay chia sẻ bất kỳ dữ liệu của người dùng với bên thứ ba.

Cũng theo ông Đức, chuyện ứng dụng gửi dữ liệu về máy chủ khá phổ biến chứ không phải bất thường. “Tuy vậy, dù những nghi ngại này là thật hay giả, người dùng cũng cần có ý thức trước những rủi ro về dữ liệu cá nhân”, ông Đức nói thêm.

Đáp lại các cáo buộc này, nhà phát hành ứng dụng cho biết họ cam kết xóa toàn bộ dữ liệu sau 48h. Đồng thời người dùng có thể xóa dữ liệu thủ công bất cứ lúc nào.

Trọng Hưng

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 114
  • Page 115
  • Page 116
  • …
  • Page 153
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.