2020
Biết!
Một lần kia, đang ngồi nói chuyện với một người. Đang nói chuyện bâng quơ thì người kia nhắc đến một người nọ. Bản thân tôi không biết rõ về nhân vật đó nên cứ lẳng lặng mà nghe :
– Chú biết hông ! Bà đó hả ! Cái gì bả cũng biết hết đó nha ! Bả hay lắm đó nha ! Có cái bả hổng biết à !
Thiệt tình nên tui hỏi :
– Cái gì bà ấy hổng biết hả cô ?
– Chời ơi ! Có cái bả hổng biết là hông biết điều đó chú.
“Hổng biết điều !” 3 từ nhưng xem cũng hay hay đó chứ ! Đơn giản rằng ở đời ai ai cũng mong mình được người khác đối xử tử tế với mình. Để được như vậy thì buộc mình phải sống tử tế với người khác. Và như vậy, ngược với tử tế đó là không biết điều.
Biết điều khởi đi từ chuyện biết người biết ta không cuộc sống. Chính vì ích kỷ, chính vì chỉ biết mình và không biết người khác nên nó sinh ra nhiều chuyện dở hơi.
Từ biết xem ra rất quan trọng trong cuộc sống. Đúng như người kia nói về người nọ là cái gì cũng biết nhưng biết ở mức độ nào và chuyện gì cần biết và chuyện gì không cần biết trong cuộc sống. Có lẽ vì không biết gì hết nên mới sống không biết điều với người khác.
Những ngày này, khi tham dự Thánh Lễ, ta nghe mãi, nghe tới nghe lui chuyện Chúa Giêsu ví mình như là vị mục tử nhân lành. Trong tâm tình đó, nhiều người đi tìm hiểu nào là cửa chuồng chiên, nào là mục tử xấu, mục tử tốt. Thế nhưng rồi, trong mạch văn Chúa nói đó, ta có thể dừng lại ở từ biết.
Chỉ trong đoạn Tin Mừng rất ngắn hôm nay, Chúa cứ nói đi nói lại từ biết : Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, 15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha.
Và như vậy, ta lại có dịp nhìn lại từ biết mà Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta. Chúa, dĩ nhiên như mục tử, Chúa biết từng con chiên và dĩ nhiên biết từ tình trạng của nó. Chúa lại yêu thương những con chiên ghẻ, những con chiên tật nguyền và nhất là những con chiên đi lạc. Chúa đã hào phóng để bỏ lại 99 con chiên mà quyết đi tìm con chiên lạc.
Khi suy nghĩ đến điều này, ta lại khám phá ra sự biết của Chúa về ta.
Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
thì lạy CHÚA, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con” (Tv 138, 1)
Chúa là như vậy đó ! Còn ta, ta có biết Chúa không ? Dĩ nhiên là ta cũng sẽ nói là ta biết nhưng ta biết ở góc độ nào và như thế nào ? Hay là ta chỉ biết Chúa như những người Do Thái xưa và hành xử với Chúa như vậy. Nếu như biết Chúa thật sự thì họ sẽ không hành xử tàn bạo với Chúa như thế.
Cuộc đời của ta, chuyện rất quan trọng là ta biết Chúa. Một khi mình đã biết Chúa thì cuộc đời của mình sẽ thay đổi và sẽ không dở dở ương ương sáng nắng chiều mưa trưa trưa có bão.
Chắc chắn ta không quên Thánh Augustinô. Dường như cả cuộc đời ăn chơi trác táng trụy lạc nhưng rồi chạm phải con tim của Chúa thì Thánh nhân đã trở lại và trở thành vị Thánh lớn trong Giáo Hội. Khi gặp Chúa rồi thì Ngài thủ thỉ : Lạy Chúa xin cho con biết Chúa và cho con biết con. Xin cho con biết Chúa để con yêu mến Chúa hơn, và xin cho con biết con để con coi nhẹ con hơn.
Vâng ! Khi ta chưa biết Chúa đúng nghĩa, ta sẽ nghĩ ta thế này thế kia và tự cao tự đại. Chính vì sự tự cao tự đại đã làm cho bao nhiêu con người phải hư mất.
Sự thường ở đời, khi ta biết ai đó và ta yêu ai đó đủ thì ta chấp nhận hy sinh tất cả vì người đó. Có thể ở cái mức lý tưởng như Chúa Giêsu : Ta đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” thì mỗi người chúng ta khi yêu ai đó, khi biết ai đó thì cũng sống như Chúa Giêsu mời gọi. Tất cả mọi sự đều quy hướng về Chúa Giêsu là Chủ của đời ta.
Đặc biệt, khi biết Chúa và trong thinh lặng, nhà thơ Tagore thủ : Chỉ mong ngài lấy đi Mong chẳng còn gì thuộc về con Mong chẳng còn gì là của con. Để con được trắng tay Con chỉ còn ngài để giữ lấy Con được chọn Chúa Mãi là của con Chỉ mong Ngài xóa đi Mong chẳng còn gì Để chiếm hữu Con tìm được Ngài là chân lý Con được cùng Chúa đồng hành luôn.
Khó chứ không phải dễ để sống tâm tình như vậy. Thế nhưng rồi tưởng nghĩ khi ta kết hợp sâu lắng và mật thiết với Chúa cũng như nhờ ơn Chúa ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm với tất cả mọi sự trên đời này. Và cuối cùng, chỉ mình Chúa mới là nguồn Chân Lý chứ không còn chuyện nào khác. Thế cho nên, ngày mỗi ngày, ta cũng thưa với Chúa như Thánh Augustinô xưa : Xin cho con biết Chúa để con yêu mến Chúa hơn.
2020
Tháng hoa và đóa hoa Đức tin của đời ta
Tháng hoa và đóa hoa Đức tin của đời ta
Vô tình lang thang trên mạng, tôi đọc được bài vè hoa thật dễ thương. Đọc cho biết, biết rồi chia sẻ :
Tháng giêng nắng lắm, nước biển mặn mòi.
Vác mai đi xoi, là bông hoa giếng.
Hay bay hay liệng, là hoa chim chim.
Xuống biển mà chìm, là bông hoa đá.
Bầu bạn cùng cá, là đá san hô.
Hỏi Hán qua Hồ, là bông hoa sứ.
Gìn lòng nắm giữ, là hoa từ bi.
Ăn ở theo thì, là hoa bầu ngọt.
Thương ai chua xót, là hoa sầu đâu.
Có sông không cầu, là hoa nàng cách.
Đi mà đụng vách, là hoa mù u.
Cạo đầu đi tu, là bông hoa bụt.
Khói lên nghi ngút, là hoa hắc hương.
Nước chảy dầm đường, là hoa mồng tơi.
Rủ nhau đi cưới, là hoa bông dâu.
Nước chảy rạch sâu, là hoa muống biển.
Rủ nhau đi kiện, là hoa mít nài.
Gái mà theo trai, là hoa phát nhũ.
Đêm nằm không ngủ, là hoa nở ngày.
Ban chẳng lìa cành, là bông hoa cúc.
Nhập giang tùy khúc, là bông hoa chìu.
Ở mà lo nghèo, là hoa đu đủ.
Đi theo cậu chủ, là hoa mầng quân.
Đánh bạc cố quần, là bông hoa ngỗ.
Ngồi mà choán chỗ, là hoa dành dành.
Giận chẳng đua tranh, là bông hoa ngải.
Bắt đi tha lại, là hoa phù dung.
Ăn ở theo đường, là bông hoa thị.
Theo mẹ bán bí, là hoa hanh hao.
Cuộc sống của ta đẹp, đẹp lắm với các loại hoa và nếu như không có qua xem ra đời ta tẻ nhạt và chán ngắt. Mỗi loài hoa khoe mỗi sắc và mỗi hương cho đời để ta nghe thấy “cho đời chút hương”. Đến một nơi nào đó, một gia đình nào đó, một căn phòng nào đó có bài trí hoa, có chưng hoa ta cảm thấy nhẹ lòng.
Nhìn lại vườn hoa Nhà Chúa, đời sống đức tin của mỗi người trong lịch sử cứu độ được ví như một đóa hoa trong vườn hoa khoe sắc thắm.
Ta thử nhìn lại một chút những đóa hoa đức tin rất đẹp. Hoa đức tin Abraham. Nhìn đời của Abraham, ta thấy hoa Abraham tỏa một màu hoa phó thác. Abraham đi mà không biết mình đi đâu có có thể bỏ xác đâu đó mà không biết. Abraham đã phó thác cuộc đời mình cho Chúa và cứ đi theo lời Chúa chỉ vẽ. Bi đát nhất là khi Abraham bị thử thách là sát tế đứa con duy nhất nhưng ông vẫn sẵn lòng.
Kế đến, ta nhìn đóa hoa Môsê. Cả cuộc đời của Môsê là chịu đựng cả Chúa và cả dân của Ngài. Ta còn nhớ lần kia trong đời Môsê chịu biết bao nhiêu khó khăn. Ước mơ vào Đất Hứa nhưng rồi Chúa bảo ngươi đứng đó ngó đi và rồi Môsê chết. Đức tin của Môsê là một đức tin không có phần thưởng và không có phần thưởng. Đức tin của Môsê có màu sắc của khiêm nhường, của không công, không thưởng, không gì hết.
Dừng lại để ta nhìn Giêrêmia, Giêrêmia mở đầu sách viết rất dễ thương : “Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đã gọi ngươi khi ngươi chưa lọt lòng mẹ, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ”. Ông nói lên kinh nghiệm tình thương của Chúa và Thiên Chúa chọn ông từ khi ông còn trong bào thai. Và ta thấy chương 15, ông nói : “Con vô phúc quá mẹ ơi ! Mẹ sinh ra con làm gì ?”. Ngày xưa thì bảo con có phúc và nay thì than vãn : Thế mà cứ bị nguyền rủa. Lạy Chúa, tại sao Ngài cứ để con đau khổ hoài ? Tại sao Chúa làm con đau khổ như thế ! Ngài là ai ? Phải chăng Ngài mơ hồ và ảo mộng.
Cả đời dấn thân cho Chúa và nguyền rủa chính mình : “Con vô phúc quá ! Thà con đừng sinh ra thì hơn”.
Đức tin của Giêrêmia mang màu sắc của bóng đêm, của thử thách, màu sắc của phó thác hoàn toàn không thấy tương lai. Hoa đức tin của Giêrêmia là như vậy, là đóa hoa khoe sắc thử thách, khiêm nhường.
Đến với Tân Ước, ta bắt gặp một đóa hoa tuyệt vời mang tên Maria mà chúng ta mừng kính trong tháng 5. Lời sứ thần trong ngày truyền tin còn đó : “Này Bà sẽ cưu mang người con và vương quyền của người vô cùng vô tận”. Mẹ thấy tương lai sáng lạn trong ngày truyền tin nhưng rồi Mẹ thấy người ta không đến chúc tụng Mẹ và thậm chí còn đau khổ khi sinh con nơi máng cỏ và cả trốn sang Ai Cập để sinh sống một thời gian để tránh lưỡi gươm Hêrôđê.
Là Mẹ Chúa Giêsu nhưng không được một tiếng khen, chẳng thấy vương quyền gì cả chỉ thấy toàn gian nan thử thách. Thử thách lớn nhất mà Mẹ Maria chịu đó là thử thách như Abraham phải chịu : “Ngươi phải sát tế người con duy nhất”. Mẹ đã dâng hiến người con yêu cho Thiên Chúa
Mẹ thấy ngai vàng cho con Mẹ không có. Ngai vàng con của Mẹ là thập giá. Phải chăng Chúa không trung tín lời hứa của Ngài. Không cần gì cả, Chúa không cho phần thưởng nào cả, Chúa lấy hết, ấy vậy mà vang mãi lời ngân nga : Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần Trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa của tôi !”
Hoa đức tin là vậy đó ! Hoa đức tin của Mẹ là như vậy đó. Tháng hoa, chúng ta dành tâm tình kính Mẹ nhưng rồi hoa đức tin của đời ta như thế nào ? Hoa đức tin của đời ta có nở, có tươi, có khoe sắ hoa Maria không ?
Maria đã bám chặt đời mình vào Thiên Chúa để Mẹ luôn tỏa ngát mùi hương xin vâng, màu hoa đón nhận đau khổ trong cuộc đời. Mẹ tin tưởng và hoàn toàn tín thác vào Chúa. Hoa đức tin rất cần trong đời sống của ta nhưng hiện giờ hoa đức tin của ta ra sao ? Còn hay mất ? Có khi vì bám vào trần gian để rồi màu cũng phai mà hương cũng chẳng còn.
Hoa đức tin của ta rất cần nở hoa và khoe sắc. Nở hoa, khoe sắc để truyền cho con cháu và con cháu truyền cho hậu thế. Nếu như ta không nở hoa khoe sắc đời sống đức tin của chúng ta thì con cháu của chúng ta sẽ đi về đâu.
Chúng ta tuyên xưng niềm tin của chúng ta trong kinh Tin Kính, trong đời sống hằng ngày. Niềm tin ấy cần diễn tả cách thực tế trong đời sống của chúng ta.
Tháng hoa, mỗi lần chúng ta dâng hoa cho Đức Mẹ thì xin cho từng giây từng phút của chúng ta luôn bám vào Chúa như Mẹ Maria đã bám. Khi ta bám vào Chúa rồi thì ta sẽ truyền nhựa sống đức tin cho con cháu chúng ta, cho anh chị em. Xin Chúa chúc lành cho mỗi người chúng ta nhìn lên đóa hoa tinh tuyền, đóa hoa ngát hương Maria để chúng ta cũng tỏa hương và khoe sắc tin cậy mến như Mẹ trong cuộc đời.
2020
Gót sen hồng…
Gót sen hồng…
Khi nói đến việc chăm sóc sắc đẹp, phái nữ thường chỉ quan tâm đến việc chăm sóc da mặt, vóc dáng, mái tóc, đôi tay mà quên đi một bộ phận cũng quan trọng không kém đó là đôi chân. Một đôi chân sần sùi, gót chân nứt nẻ chắc chắn sẽ làm cho ai đó mất đi sự tự tin.
Gót sen xem ra cũng đẹp nếu như biết nâng niu và cũng đáng yêu lắm chứ ! Cố nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh cũng đã “tô” một chút cho gót sen hồng trong Ru Tình của ông :
… Ru em đầu cơn gió, em hong tóc bên hồ
Khi sen hồng mới nở, nụ đời ôi thơm quá
Ru em tình khi nhớ, ru em tình lúc xa
Ru cho bầy lá nhỏ, rụng đầy một mùa Thu
Ru khi mùa mưa tới, ru em mãi yêu người
Ru em hoài bé dại, một hồn thơm cây trái
Ru em chờ em nói, trên môi tình thoát thai
Ru em ngồi yên đấy, ru tình à ..ơi
Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng
Ru bay tà áo rộng, vượt tình tôi chấp cánh …
Đâu đó trong văn chương cũng diễn tả bước chân đi của phụ nữ : “Tiếng vàng vội gọi con hầu, Gót sen nhè nhẹ dạo mau về nhà.”
Gót sen trong văn chương và nhạc tình họ Trịnh là như vậy. Gót sen của em rất đẹp để cho tôi ru và gót chân nhẹ để cho tôi trân trọn. Trong Kinh Thánh, ta lại bắt gặp không phải gót sen mà là gót đạp người khác trong trang Tin Mừng mà Thầy Giêsu như trối trăng với các môn đệ : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con.
Thật thế, Chúa Giêsu dùng hình ảnh gót chân xem ra rất gần trong cuộc sống. Khi không hài lòng con gì đó, người ta hay dùng gót chân để chà đạp. Với con người mình không ưa hay là kẻ thù thì tự nhiên tâm lý con người hay chà đạp người khác. Từ chà đạp đây không dừng ở gót chân mà bằng nhiều cung cách khác nữa.
Lời Chúa Giêsu nói xem ra đăng đắng sao sao í : “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh”. Và đâu đó thì cũng tương tự như câu này : “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy”.
Chấm chung một chén, cùng chia cơm sẻ bánh là những ngữ nghĩa để nói đến tình thân nghĩa thiết giữa thầy và trò như Thầy Giêsu và các môn đệ. Thế nhưng rồi, ta vẫn có thể nới rộng ra trong tương quan giữa chồng và vợ, giữa con cái và cha mẹ, giữa anh em với nhau, giữa những người thân với nhau.
Cảm nghiệm chua xót mà Chúa Giêsu nhắc nhớ các môn đệ xưa chắc có lẽ mỗi người chúng ta đều hơn một lần nếm thử. Có những người đầu ấp tay gối, có những người chung tình chung lối và trao cho nhau cả cuộc đời nhưng đến một lúc nào đó lại quay lưng.
Đọc, nghe lời Chúa nói như thế này trong ta trào tràn nhiều tâm tư, nhiều suy nghĩ. Thế nhưng trên tất cả mọi sự, ta hãy suy nghĩ và hành động tích cực chứ đừng chỉ dừng lại ở chỗ trả thù hay dùng chiêu “mắt đền mắt răng đền răng” như luật cũ.
Dẫu biết rằng môn đệ bội bạc, dẫu biết rằng bị người đời chê bai và đem treo lên cây thập giá thế nhưng rồi Chúa vẫn tha và tha cho đến tận cùng. Tâm tình tha thứ và lời mời gọi yêu thương của Chúa vẫn như còn vang vọng cho đến ngày hôm nay.
Ngày hôm nay, giữa những nổi trôi của cuộc đời, không thiếu những người mà như người đời thường nói “ăn cháo đái bát” hay “không có nhân có nghĩa” nên chăng ta thanh thản và bình an với họ. Ngay cả Chúa Giêsu mà còn bị huống hồ gì là mỗi người chúng ta.
Và cũng đừng quên quy luật nhân quả trong cuộc đời. Khi ta giơ chân đạp người khác có ngày ta đạp phải gai hay người khác cũng sẽ đạp lại chúng ta. Tốt hơn hết hãy mềm lòng, hãy tha thứ và yêu thương như Chúa đã yêu chúng ta.
Phải chăng đứng trước nhân tình thế thái như vậy, ta hãy xin Chúa thêm ơ cho chúng ta để chúng ta đừng bao giờ giơ gót đạp người khác, nhất là người cùng chấm chung một chén và cùng sẻ chia một bánh với ta. Dĩ nhiên không phải dễ nhưng nhờ ơn Chúa ta sẽ sống được lời mời gọi của Chúa.
Hãy để cho đôi chân ta là gót sen hồng cho đời ta phơi phới. Hãy chăm chút gót chân ta nhẹ nhàng trên mỗi bước đi của cuộc đời, Ngày mỗi ngày, ta giơ gót đạp người khác hay khoe gót sen hồng là lựa chọn sống của mỗi người chúng ta. Nếu như chúng ta khe khẽ bước từng bước chân trên cuộc đời và bước nhẹ bên đời người khác chắc chắn lòng chúng ta mãi mãi bình an.
2020
Tháng Hoa thời Đại dịch

Tháng Năm, tháng trái đất nở hoa, nhất là ở Bắc bán cầu, và thông thường người ta bắt đầu nghĩ đến việc trồng vườn, dã ngoại, lên kế hoạch cho kỳ nghỉ…
Đó cũng là tháng Hoa kính Đức Mẹ.
Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội Công giáo đã dành toàn bộ tháng Năm để tôn vinh Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Truyền thống lâu đời này bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Vào thời khởi thủy của Hy Lạp, tháng Năm được dành riêng để kính thần Artemis, nữ thần của sự phong nhiêu. Còn ở La Mã cổ đại, tháng Năm được dành riêng để tôn vinh nữ thần Flora – thần của các loài hoa. Họ tổ chức lễ hội Hoa vào cuối tháng Tư và cầu xin nữ thần Flora làm cho toàn thể cây cối trên mặt đất được trổ bông.[1]
Trong thời Trung Cổ, các phong tục tương tự đã có rất nhiều, xoay quanh việc giã từ mùa đông, vì ngày đầu tháng Năm được coi như là khởi đầu của một mùa tăng trưởng mới.
Cũng trong thời kỳ này, truyền thống dâng kính 30 ngày cho Đức Mẹ đã ra đời, cũng được gọi là Tháng Đức Mẹ, được tổ chức từ ngày 15-8 đến ngày 14-9 và hiện vẫn được giữ ở một số khu vực.
Ý tưởng về một tháng dành riêng cho Đức Mẹ có thể bắt nguồn từ thời Baroque (khoảng 1600 đến 1750) với ba mươi bài ‘suy niệm linh thao’ để tôn vinh Đức Mẹ. Sau đó, tháng Năm kính Đức Mẹ với những việc sùng kính đặc biệt đã được tổ chức mỗi ngày trong suốt cả tháng Năm. Phong tục này được phổ biến rộng rãi trong suốt thế kỷ 19 và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Và cách sùng kính Đức Mẹ vào tháng Năm cũng trở nên đa dạng như chính những người tôn vinh Đức Mẹ: dựng bàn thờ tôn kính Mẹ Maria, đọc kinh Mân Côi, dâng triều thiên và dâng hoa lên Đức Maria với những lời ca trìu mến, ngọt ngào…
Tháng Hoa của những năm đầu thế kỷ 20 được ghi dấu đặc biệt với sự kiện Đức Mẹ lần đầu tiên hiện ra với ba trẻ làng Fatima vào ngày 13-5-1917. Hai trong số ba trẻ này đã được Mẹ Maria tiên báo là sẽ sớm được đưa về thiên đàng nếu biết siêng năng lần hạt Mân Côi, và quả thực, lần lượt trong năm 1919 và năm 1920, Francisco và Jacinta đã qua đời vì dịch Cúm Tây Ban Nha – một trong những đại dịch khủng khiếp nhất lịch sử, kéo dài từ đầu năm 1918 đến cuối năm 1920 – đã làm cho khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới nhiễm bệnh, dẫn đến khoảng 50 đến 100 triệu ca tử vong (x. Đại dịch 1918-1920: Cái chết của hai vị Thánh trẻ ở Fatima).
100 năm sau khi Jacinta lìa trần vì đại dịch Cúm Tây Ban Nha, chúng ta bước vào tháng Hoa năm 2020 khi mà thế giới cũng đang lao đao với đại dịch Covid-19, khởi phát vào cuối năm 2019, là năm kỷ niệm 100 năm ngày vị Thánh trẻ Francisco qua đời cũng vì dịch bệnh.
Nhớ đến hai vị thánh trẻ của tháng Hoa 1917 đã chết vì dịch bệnh của thế kỷ trước, chúng ta cũng nhớ đến các nạn nhân của đại dịch hôm nay, và đặc biệt nhớ đến các chuyên viên y tế cũng như các
linh mục tu sĩ đang phục vụ các bệnh nhân nhiễm virus corona – được Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là ‘những vị thánh nhà bên cạnh’. Vì sự hy sinh của những vị thánh ấy, hiệp với sự hy sinh tột đỉnh của Đức Giêsu trên thánh giá và của Mẹ Maria đứng cận kề thánh giá, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa và Mẹ Maria thương cứu nhân loại mau qua khỏi đại dịch và cải hóa chúng ta cùng toàn thể thế giới.
Tháng Hoa năm nay, hoa vẫn nở đẹp, nhưng người ta không thể tổ chức dã ngoại đông đảo để ngắm hoa, cũng như không thể tổ chức dâng hoa long trọng để tôn kính Mẹ Maria. Nhưng chúng ta vẫn có thể dâng lên Mẹ những đóa hoa lòng rất đẹp, những lời kinh Mân Côi sốt sắng tại gia, những nghĩa cử bác ái cụ thể để giúp những người đang đau khổ thiếu thốn trong dịch bệnh. Như thế, Tháng Hoa trong mùa đại dịch lại trở nên có ý nghĩa vô cùng. Chắc chắn chúng ta sẽ đặc biệt cảm nhận được tình thương của Mẹ Maria, Đấng đang đứng sát bên cạnh chúng ta trong thương đau, như ngày xưa Mẹ đã kiên cường đứng cận kề thánh giá để an ủi Con Mẹ đến cùng…
Vi Hữu / Nguồn: Sách Nhịp Sống Tin Mừng 05-2020
[1] x. Marge Fenelon, Why is May the Month of Mary?
