Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Chia sẻ

Home / Giáo dục / Chia sẻ
26Tháng Mười Một
2020

Việc linh hướng trong chương trình đào tạo các ứng sinh linh mục ở Chủng viện

26/11/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

  1. Dẫn nhập: Giáo hội và việc đào tạo cho tác vụ linh mục

Kiểu nói “linh hướng”, nhất là kiểu nói “cha linh hướng / linh giám”, có thể gây ra những hiểu lầm, nên cần được giải thích ngay từ đầu bài viết này. Trong rất nhiều chủng viện, cha linh giám là người chịu trách nhiệm việc đào tạo thiêng liêng, qua việc giảng dạy và cùng lúc đồng hành thiêng liêng với một số chủng sinh (các chủng sinh còn lại được đồng hành bởi các linh mục khác được bổ nhiệm làm việc này). Việc linh hướng vì thế có thể được hiểu theo nghĩa rộng này. Còn ở đây, chúng ta sẽ hiểu việc linh hướng theo nghĩa hẹp, tức là việc đồng hành cá nhân thuộc phạm vi tòa trong. Vì vậy, đây là một việc rất chuyên biệt, đòi hỏi sự liên tục và đều đặn trong suốt thời gian đào tạo.

Mục tiêu căn bản của việc đào tạo ứng sinh linh mục là nhằm giúp các chủng sinh chuẩn bị cho đời sống tương lai qua việc đào tạo nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ cách thích hợp, dựa theo những quy chuẩn đã được đặt ra trong các bản “Ratio” khác nhau của Giáo hội toàn cầu và địa phương. Nhưng bên trong việc đào tạo đó, cần có một sự phân định thiêng liêng nhằm lượng giá khả năng phù hợp của ứng sinh, trước khi giới thiệu lên Đức giám mục để chịu chức. Vì chính Đức giám mục là người, xét cho đến cùng và do trách nhiệm giám mục, chuẩn nhận việc đào tạo ở chủng viện dành cho các ứng sinh của giáo phận mình và quyết định gọi họ vào linh mục đoàn giáo phận hay không. Đức giám mục làm việc này dựa trên sự giới thiệu của Hội đồng chủng viện, mà Hội đồng này, trong một số trường hợp, có thể đưa ra một nhận định tiêu cực nếu họ xét thấy một ứng sinh không hội đủ những yếu tố cần thiết.

Hội đồng này đưa ra nhận định và trình bày với Đức giám mục theo tòa ngoài, dựa trên sự hiểu biết về chủng sinh qua dòng thời gian, và thẩm định khả năng của chủng sinh theo các chiều kích khác nhau của việc đào tạo. Đó là một nhiệm vụ tinh tế, được ủy thác cho các linh mục được xem là có khả năng phán đoán, có kinh nghiệm thiêng liêng và mang tâm thức mục vụ. Nó đòi hỏi một thái độ chia sẻ thật sự đời sống của chủng sinh, một sự cảm thông với những khát vọng của họ, và một cuộc đối thoại huynh đệ chân thành. Đây đích thật là một công việc của Giáo hội, vì chức tư tế của hàng linh mục là nhân danh Chúa Ki-tô mà phục vụ chức tư tế của các tín hữu, nhằm giúp họ tăng trưởng trong đức tin, đức cậy và đức mến. Chính vì vậy mà toàn thể Giáo hội tham gia vào quá trình đào tạo và chọn gọi các ứng sinh lên chức linh mục: Đức giám mục dĩ nhiên là người có thẩm quyền sau cùng, Hội đồng chủng viện được Đức giám mục bổ nhiệm, và sau nữa là tất cả những ai mà Giáo hội tham vấn, gồm linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ, giáo dân, là những người quen biết các ứng sinh và có thể đưa ra ý kiến đánh giá.

Chức tư tế của hàng linh mục là một hồng ân mà Giáo hội nhận được từ Chúa Ki-tô nhằm phục vụ con người, vì thế, chỉ được trao ban cho những ai có khả năng phù hợp theo cái nhìn của Giáo hội để thi hành sứ vụ này. Do đó, cần có một sự phân định dài lâu nhằm xác minh và thử thách các khả năng này. Cả Giáo hội và ứng sinh đều dấn thân vào quá trình này, mỗi bên theo cách thức và vai trò của mình: Giáo hội với tư cách là người chịu trách nhiệm chọn gọi và phong chức linh mục, ứng sinh với tư cách là người trao hiến cách tự do cho Giáo hội để phục vụ. Cả hai đều chỉ có một mục đích: lợi ích của các cộng đoàn tín hữu và của tất cả những ai mà các linh mục tương lai gặp gỡ và thi hành sứ vụ. Đó chính là nền tảng sự tin tưởng mà Giáo hội và ứng sinh dành cho nhau trong suốt những năm tháng đào tạo trước khi chịu chức. Ứng sinh đặt niềm tin vào Giáo hội vì biết Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo hội, và bởi chính trong Giáo hội và vì Giáo hội mà các linh mục hiến mình phục vụ con người; còn Giáo hội tin tưởng ở các ứng sinh vì biết rằng Chúa Thánh Thần cũng đang hoạt động nơi họ, khiến họ trao ban chính mình với tất cả sự chân thành, không che giấu.

  1. Niềm tin vào Giáo hội là người mời gọi và sự dấn thân cá nhân cách tự do

Trong viễn tượng này, trở thành linh mục không thể được xem là việc thi hành một ước vọng cá nhân. Các linh mục dấn thân phục vụ Giáo hội qua việc loan báo Tin mừng, và họ nhận sứ vụ này từ Giáo hội. Họ liên kết mật thiết với Giáo hội, không thể tách rời. Họ là thừa tác viên của Giáo hội. Họ nói và hành động nhân danh Giáo hội. Đời sống của một linh mục sẽ ra sao nếu thiếu đi niềm xác tín mà chúng ta đang nói tới đây? Dĩ nhiên đời sống này phải bắt đầu ngay từ thời gian đào tạo. Nó là tiền đề của sự cộng tác mà họ sẽ thể hiện sau này với giám mục của mình, với linh mục đoàn mà họ làm việc chung, và với giáo dân mà họ thi hành tác vụ. Để nhận định dễ dàng hơn, điều cần thiết là các ứng sinh phải bộc lộ con người mình để những người có trách nhiệm đào tạo có thể đánh giá một cách ý thức và đầy đủ về những khả năng thích hợp của ứng sinh đối với sứ vụ linh mục. Nếu họ che giấu những nết xấu trong tính cách của mình hoặc những tình tiết nghiêm trọng của lịch sử bản thân vì sợ không được làm linh mục, thì họ có nguy cơ sống đời linh mục như một cuộc chinh phục cá nhân, chứ không như một hồng ân Chúa ban qua tay Giáo hội.

Một thái độ như vậy, nếu có, là một hình thái phủ định, thường là một cách vô thức, về chính bản tính chức tư tế của hàng linh mục.

Đó là thái độ xem chức linh mục như một giá phải trả, chứ không phải là một hồng ân, xem đó là việc thực hiện một dự án cá nhân, chứ không phải là việc đón nhận một lời mời gọi từ Chúa qua Giáo hội. Dĩ nhiên trong thực tế, mọi việc thường phức tạp hơn, mờ mịt hơn, và khó xác định. Vì thế, điều cốt yếu là giúp các ứng sinh linh mục đừng cư xử như thể là người làm chủ dự án của mình, nhưng là đón nhận dự án đó từ Chúa qua Giáo hội. Đây là một trong những mục tiêu chính yếu của việc đào tạo. Ta có thể nói rằng khi một ứng sinh linh mục chân thành tin tưởng đặt để ơn gọi của mình vào tay Giáo hội, thì người đó sẽ sẵn sàng thi hành sứ vụ của mình với một sự tự do thiêng liêng mang lại hoa trái dồi dào. Nhưng tin tưởng phó thác vào Giáo hội không đồng nghĩa với một thái độ hoàn toàn trơ ì, thụ động. Giáo hội cần sự dấn thân tích cực của các ứng sinh.

Trong phần lớn trường hợp, chính các ứng sinh tự mình đến với Giáo hội, do được thúc đẩy bởi một tiếng gọi nội tâm mà họ nghe được từ giữa cuộc sống Ki-tô hữu và muốn trải nghiệm tiếng gọi ấy, nên họ bày tỏ ước nguyện với Giáo hội. Còn trong một số trường hợp khác, chính Giáo hội, qua trung gian một linh mục hoặc các thành viên của cộng đoàn địa phương, khởi xướng một đề nghị trực tiếp với những bạn trẻ có đời sống Ki-tô hữu mạnh mẽ và xác tín; các ứng sinh lúc đó phải xem câu hỏi người ta đặt ra cho mình như là của chính mình vậy. Dù việc tiếp xúc giữa Giáo hội và ứng sinh có theo hình thức nào đi nữa, thì chính ứng sinh, hoặc là người chủ động bày tỏ ước nguyện của bản thân hoặc là người đón nhận lời mời gọi của Giáo hội, phải cho thấy sự dấn thân tích cực trong việc định hướng đời sống đang mở ra trước mắt mình. Được cụ thể hóa qua việc phong chức, ơn gọi linh mục thật ra là cuộc gặp gỡ giữa hai ước nguyện, thường là mãnh liệt như nhau: một là mong ước của Giáo hội, vì Giáo hội cần các linh mục và ký kết giao ước với những người mà Giáo hội quyết định chọn gọi; hai là ước vọng của ứng sinh, người dấn thân trọn vẹn vào một dự án mà mình xây dựng song cũng đồng thời giao phó nó trong tay Giáo hội.

  1. Linh hướng: yếu tố hàng đầu trong cơ chế đào tạo

Cần phải luôn nhớ lại cuộc gặp gỡ giữa hai ước nguyện trên đây và cuộc đối thoại kèm theo đó, nếu người ta muốn định vị đúng việc linh hướng trong toàn thể chương trình đào tạo linh mục. Cuộc đối thoại này được biểu tượng trong lời trao đổi diễn ra trong chính nghi thức truyền chức, giữa vị giám mục và người sắp lãnh nhận chức thánh. Đức giám mục hỏi ứng sinh có muốn được truyền chức và có chấp nhận những đòi hỏi của chức vụ sắp được giao phó cho mình hay không. Câu hỏi này rõ ràng không hoàn toàn mang tính hình thức. Câu trả lời cũng biểu lộ một ý chí tự do và xác quyết mạnh mẽ. “Thưa, con muốn”, lời đáp của người thụ phong có thể được hiểu thế này: “Con muốn với tất cả sức mạnh của ý chí, tận hiến chính mình như một quà tặng tự do tự nguyện”.

Qua cuộc đối thoại này, Giáo hội cho thấy tầm quan trọng của việc bày tỏ ước nguyện nơi các ứng sinh, và của sự tự do nơi họ nữa. Người ta chỉ có thể liều mình sống sứ vụ linh mục, nếu người ta dấn thân với tất cả sức lực và sự quảng đại do lòng khát khao của mình. Chính ở đây, việc linh hướng đóng vai trò quan trọng. Trong việc đào tạo, đây chính là nơi ưu tiên để xem xét và giáo dục ý hướng của các ứng sinh. Vì lý do đó, Giáo hội muốn làm sao để các chủng sinh có được các phương thế linh hướng nghiêm túc và đầy đủ. Các cha linh hướng được Đức giám mục bổ nhiệm, vì đây là một công việc chính thức, đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng. Mặt khác, một trong những nhiệm vụ của cha giám đốc chủng viện là lo liệu làm sao để mỗi chủng sinh có một cha linh hướng, và đảm bảo cho việc lựa chọn linh hướng được hài hòa. Việc lựa chọn cha linh hướng được thực hiện qua trung gian cha giám đốc. Cha giám đốc cũng chính là người mà chủng sinh sẽ thưa chuyện khi muốn thay đổi cha linh hướng. Cha giám đốc phải lưu ý làm sao để việc thay đổi cha linh hướng không phải là một ý thích nhất thời, nhưng nếu ngài nhận thấy có sự thiếu tự do thật sự trong tương quan đôi bên, thì ngài sẽ tạo điều kiện thay đổi dễ dàng, luôn với ý hướng mang lại cho các chủng sinh những phương thế dấn thân cách tự do nhất.

Một điều rất may mắn và vẫn thường xảy ra là, trước khi bước vào giai đoạn đào tạo ở chủng viện, các chủng sinh đã có kinh nghiệm về việc linh hướng, vốn là động lực đưa họ đến ngưỡng cửa chủng viện. Vị linh hướng đã đồng hành với một chủng sinh ở giai đoạn tiền chủng viện này, dù từng có vai trò quan trọng thế nào đi nữa, thì giờ đây cũng phải biết xóa mình đi. Nếu ngài cứ tiếp tục gặp gỡ thường xuyên người thụ hướng cũ của mình, sẽ khiến họ khó tạo lập sự tin tưởng với cha linh hướng mới. Kiểu “linh hướng song đôi” như vậy luôn có hại, người ta không nói cùng một sự việc cho cả hai vị linh hướng, và ít nhiều có khuynh hướng chọn lọc những lời khuyên nhận được. Điều này không có nghĩa là các chủng sinh phải cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ, mà chỉ muốn nói rằng họ phải làm cho mối liên hệ đó tiến triển nhằm giúp cơ chế đào tạo đóng vai trò trọn vẹn hơn.

Như vậy, việc linh hướng không được tách rời khỏi cơ chế đào tạo, ngược lại, nó là thành phần không thể thiếu, tùy theo mức độ trong đó vai trò của cơ chế đào tạo là thiết lập cuộc đối thoại giữa điều mà chúng ta đã gọi là ước vọng của Giáo hội và của ứng sinh, cuộc đối thoại mang ý nghĩa và đạt tới đỉnh cao trong lời vấn đáp ngày lễ phong chức. Thật vậy, việc linh hướng nhằm giúp xem xét và tinh luyện động cơ, ý hướng của người chủng sinh, và nhờ đó giúp họ chuẩn bị cho cuộc đối thoại với Giáo hội. Một cuộc hội thảo cách đây mấy năm, có một bài tham luận về đề tài này mang tựa đề “Việc linh hướng hay sự phòng vệ của người thụ hướng”, như thể người thụ hướng có những lý do để tự bảo vệ mình trước một Giáo hội bị coi là tấn công hoặc đe dọa anh ta. Điều đó là đúng nếu như có một cuộc cạnh tranh giữa đôi bên. Chúng ta đã nhấn mạnh điều này: cả cơ chế đào tạo lẫn người linh mục tương lai đều phụ thuộc vào một thiện ích vượt cao hơn họ: đó là lợi ích của những người nam, người nữ mà người linh mục tương lai nhận lãnh trách nhiệm săn sóc mục vụ. Như vậy, hai bên cùng có chung “lợi ích”. Và sự phân định của mỗi bên được đặt trên một nền tảng chung, đó là thiện ích của Giáo hội. Chính vì vậy, các quyết định sau cùng của họ liên quan đến định hướng chức thánh thông thường phải phù hợp với nhau, vì Chúa Thánh Thần soi sáng cho cả hai, cả cơ chế đào tạo lẫn ứng sinh linh mục. Thế nhưng, việc phân định cũng là việc của con người, và có thể xảy ra là những cái nhìn khác nhau đưa đến những kết luận khác nhau. Đau lòng nhất là trường hợp một ứng sinh cứ khăng khăng theo định hướng của mình, trong khi Hội đồng chủng viện đề nghị người đó từ bỏ ý định tu trì. Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc trao đổi, đối thoại trong suốt quá trình đào tạo. Thật vậy, cha giám đốc chủng viện gặp gỡ mỗi chủng sinh cách đều đặn (kinh nghiệm cho thấy nhịp độ hai lần mỗi năm là tốt) để cho họ biết quá trình tiến triển của mình, theo cách thức mà Hội đồng chủng viện nhìn nhận theo tòa ngoài. Chính trong cuộc gặp gỡ này, cha giám đốc cho chủng sinh biết những điểm tích cực, đồng thời cả những nhận xét tiêu cực nhằm giúp chủng sinh sửa mình. Đôi khi, ngài phải cho chủng sinh biết những e ngại của Hội đồng chủng viện về tương lai của họ, nhằm hướng dẫn họ đặt ra những câu hỏi căn bản hơn nữa về định hướng của mình. Cuộc trao đổi giữa cha giám đốc và chủng sinh tất nhiên sẽ được lặp lại trong việc linh hướng. Cha linh hướng cần lưu tâm nhất đến việc chủng sinh đã hiểu như thế nào về ý kiến mà cha giám đốc đã nói, nhằm giúp họ suy nghĩ và tiến triển hơn trong sự phân định của bản thân.

  1. Người thụ hướng và cha linh hướng

Không phải cha linh hướng là người phân định, nhưng là chính chủng sinh. Chính chủng sinh là người cho ý kiến về định hướng đời mình, và là người quyết định tiến lên chức linh mục hay không. Người chủng sinh không cần phải đợi cha linh hướng chỉ bảo tương lai của mình. Cha linh hướng hiện diện ở đó là để giúp người chủng sinh phân định, và không làm thay. Chính người chủng sinh dấn thân vào cuộc, và cha linh hướng phải để cho anh được hoàn toàn tự do mà đưa ra một quyết định đầy trách nhiệm.

Một trong những cám dỗ của cha linh hướng, khi thấy người thụ hướng do dự, là tìm cách giải quyết mau chóng tình trạng lưỡng lự của họ, thay vì dùng thời gian để giúp họ định hình tính cách của mình rồi tự quyết định sự việc một cách trưởng thành. Như vậy, nói đúng hơn, không phải cha linh hướng đại diện cho cái được gọi là tòa trong (tức là nơi đưa ra nhận định), nhưng là chính bản thân chủng sinh; cha linh hướng giúp họ làm việc này: là xây dựng con người nhân bản và thiêng liêng của mình làm sao để có thể đưa ra một lựa chọn đúng đắn, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Điều này không có nghĩa là cha linh hướng giữ thái độ im lặng thụ động. Nếu ngài nhận thấy người thụ hướng đang lầm lẫn khi định hướng tiến đến chức linh mục, thì ngài phải cho anh biết điều đó. Trong trường hợp ngược lại, ngài có thể kín đáo cho biết rằng quyết định xin phong chức mà người thụ hướng đưa ra là phù hợp với quá trình phân định bấy lâu nay. Nhưng ngài phải tránh quyết định thay cho người thụ hướng, và đừng đi trước anh trong sự lựa chọn này.

  1. Tôn trọng tự do của ứng sinh và sự tin tưởng của họ đối với cha linh hướng

Bây giờ ta hãy trở lại với ý tưởng đã được đề xuất trên đây: trong việc đào tạo, linh hướng là nơi ưu tiên để xem xét và giáo dục ý hướng của các ứng sinh. Nơi ưu tiên có nghĩa không phải là nơi duy nhất, vì toàn bộ việc đào tạo góp phần vào đó. Tuy nhiên, chính trong khuôn khổ việc linh hướng mà người ta có thể nhìn lại và tóm kết cả cuộc đời mình; những tình tiết cuộc đời xem ra rời rạc giờ đây có thể gắn kết làm một; người ta có thể dệt nên tấm lưới đan kết các sự kiện với nhau, nhờ vào khoảng cách mà cuộc trao đổi với cha linh hướng mang lại; toàn bộ đời sống nhờ đó mặc lấy ý nghĩa, tìm thấy lối đi và định hướng, qua việc đặt mọi phần của cuộc sống vào đúng vị trí trong lịch sử bản thân.

Việc xếp đặt lại mọi sự này sẽ được làm tốt hơn nhiều nếu người chủng sinh chịu để cho ánh sáng chiếu soi cách trung thực trên những động lực, ý hướng sâu xa của mình, trên những góc mờ khuất nhất của con người mình, nhằm giúp nhận ra bản thân cách tốt hơn, và nhờ vậy cho phép cha linh hướng giúp mình cách hiệu quả nhất. Như vậy, trung thực về bản thân rõ ràng là một đòi buộc, nhưng cũng là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến bộ về đàng thiêng liêng, để thật sự chấp nhận bản thân trước mặt Chúa, để đón nhận với sự biết ơn lòng thương xót của Chúa, để lượng giá chính xác các khả năng của mình theo cái nhìn của Chúa, và nhờ đó có đủ thành thật khi tự hiến để phục vụ Giáo hội.

Như thế, trong việc linh hướng, rõ ràng người khởi xướng không phải là cha linh hướng, mà phải là chủng sinh. Đã hẳn, cha linh hướng có thể thúc đẩy, khuyến khích, khuyên bảo, nhưng không làm thay người thụ hướng. Duy chỉ người thụ hướng có khả năng mở rộng cánh cửa tâm hồn, điều mà mọi truyền thống linh đạo đều xem là một điều kiện thiết yếu để tiến bộ về đàng thiêng liêng. Chỉ khởi đi từ việc rộng mở lương tâm này mà cha linh hướng mới có thể, bằng kinh nghiệm và sự cảm thông chân thành của mình, giúp người thụ hướng làm sáng tỏ hết sức có thể những gì còn tối tăm mờ mịt trong đời sống của họ, giúp họ nhận ra ý muốn của Chúa và đưa ra quyết định cần thiết qua việc phân định.

Điều này giả thiết người thụ hướng phải có một sự tin tưởng đặc biệt đối với cha linh hướng. Người ta không thể vén mở lương tâm và bày tỏ những động cơ sâu kín của lòng mình, nếu lo ngại trước những phản ứng của người nghe, hoặc cảm thấy không được thông hiểu, thậm chí bị xét đoán. Ít ra người thụ hướng cần được an tâm về sự kín đáo của cha linh hướng. Về vấn đề này, luật giữ bí mật phải được áp dụng. Đó là điều kiện cần thiết để người thụ hướng có thể thổ lộ với tất cả tự do. Đã xảy ra trường hợp luật này bị đặt vấn đề. Ví dụ trường hợp cha linh hướng biết được những sự kiện hoặc hoàn cảnh nào đó tự bản chất ngăn trở người thụ hướng tiến chức, ngài không có bổn phận phải nói ra sao? Trong trường hợp đó, cha linh hướng trước tiên có bổn phận phải thông báo cho người thụ hướng về trách nhiệm nặng nề họ phải chịu nếu tiếp tục tiến chức, mời họ nói ra ở tòa ngoài, yêu cầu họ đi gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý nếu đó là những điều gây mất sự cân bằng tâm lý, tình cảm.

Trong một số trường hợp và nếu không có nguy cơ bị vu khống hay hiểu lầm, cha linh hướng thậm chí có thể ngừng việc đồng hành và đề nghị họ thay đổi cha linh hướng. Nhưng nếu các vị linh hướng được phép tiết lộ điều mình biết, ngay cả trong những điều kiện rất hợp lý, thì việc này sẽ làm tổn thương nghiêm trọng đến sự tin tưởng của các chủng sinh, không chỉ đối với các vị linh hướng mà còn với cả toàn bộ cơ chế đào tạo nữa; hơn thế, điều này có thể dẫn đến hậu quả tai hại: những ai cảm thấy lo lắng về tương lai của mình sẽ không còn cởi mở nữa, và như thế sẽ không được trợ giúp để suy nghĩ thấu đáo về hoàn cảnh của mình. Vậy các cha linh hướng không được can thiệp ở Hội đồng chủng viện khi liên hệ đến những người thụ hướng của mình, và thông thường trong đời sống hằng ngày, các ngài phải giữ một sự kín đáo lớn nhất về họ nữa.

Sự kín đáo này nhấn mạnh rằng việc linh hướng có mục tiêu hàng đầu là việc đào tạo con người bên trong, ở đó họ lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần, ở đó, như các bậc thầy của Trường phái linh đạo Pháp thường nói, Chúa Giê-su Ki-tô được thành hình trong các tâm hồn, ở chốn sâu thẳm nhất này của con tim là nơi tinh luyện thái độ sẵn sàng với Chúa Thánh Thần và là nơi chuẩn bị lễ vật dâng lên Chúa Cha. Trong một chủng viện, hành trình chuẩn bị cho việc tiến đến chức thánh phải dựa trên nền tảng của việc đào sâu đời sống Ki-tô hữu. Người ta không thể được đào luyện tinh thần của chức tư tế linh mục mà không đồng thời tiến sâu hơn luôn mãi trong đời sống Ki-tô hữu. Không phải người ta hết làm người Ki-tô hữu khi trở thành linh mục, ngược lại, họ phải sống Phép Rửa của mình cách sâu xa hơn. Khi dấn thân phục vụ các Ki-tô hữu khác, các linh mục vẫn là anh em của họ, và sống các đòi hỏi của Tin mừng khi thi hành tác vụ. Về điểm này, còn có thể kể đến một tình huynh đệ đích thật giữa các nhà đào tạo với những người chuẩn bị tiến chức. Bên cạnh việc thực thi trách nhiệm đối với các tiến chức, trong đời sống thường ngày của mình, các nhà đào tạo cũng sống chung một tiếng gọi Tin mừng với họ. Điều đặc biệt quan trọng là việc các chủng sinh nhận thấy được rằng các nhà đào tạo của mình sống kết hợp mật thiết với Chúa Ki-tô, khi thi hành sứ vụ bên cạnh họ. Cũng quan trọng không kém là việc các người thụ hướng cảm thấy được rằng cha linh hướng nói với mình bằng một kinh nghiệm sâu xa, ngay cả khi ngài không hề tìm cách áp đặt kinh nghiệm đó, cũng như không muốn nhào nặn họ theo gương mẫu của mình.

Vậy chúng ta hiểu rằng việc linh hướng phải đề cập đến toàn bộ đời sống; trước hết, bởi vì không gì có thể ra ngoài Tin mừng Chúa Ki-tô; sau nữa, bởi vì khi muốn trở thành linh mục, người ta cần phải xem xét hết mọi chiều kích cuộc đời trước mặt Chúa. Có thể xảy ra trường hợp là các chủng sinh ngần ngại nói về một vài khía cạnh nào đó của đời mình, chẳng hạn về tiền bạc hay tính dục. Nhưng làm sao họ có thể cam kết sống đời độc thân mà không thể nói với một ai khác về những khó khăn, rắc rối của họ ở vấn đề này; không thể suy nghĩ cùng với cha linh hướng về cách thức sống đời tính dục của mình; và không thể đánh giá xem liệu mình có thể từ bỏ đời sống hôn nhân, gia đình để sống đời dâng hiến cách hạnh phúc mà không phải che giấu những khó khăn hay không? Đứng trước những thái độ im lặng như vậy, vai trò rất quan trọng của cha linh hướng là mời gọi các chủng sinh mạnh dạn nói về những chủ đề tế nhị mà họ thường ngần ngại đề cập. Chính đây là lúc mà mối liên hệ tốt đẹp giữa cha linh hướng và người thụ hướng sẽ có thể giúp làm cho cuộc đối thoại dễ dàng hơn.  Tác giả: Lm. Bernard Pitaud, PSS
Chuyển ngữ: Lm. Nguyễn Hữu Đức, PSS

Read More
26Tháng Mười Một
2020

Sống phụng vụ mùa Vọng và Giáng sinh

26/11/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

 Giáo hội Công giáo sắp bắt đầu một năm phụng vụ mới.

Hằng năm, các tín hữu đều được nhắc nhở rằng Phụng vụ là một trong những hoạt động quan trọng nhất của Giáo hội, do cộng đoàn các thành viên của Giáo hội cử hành, để tưởng nhớ tới Đức Kitô và công cuộc Cứu độ Người đã thực hiện, nhờ đó hiện tại hoá giá trị cứu độ của các cử chỉ của Người vì sự thánh hoá của các tín hữu.

  1. NĂM PHỤNG VỤ
  2. Lịch sử và ý nghĩa năm phụng vụ

Công cuộc cứu độ của Thiên Chúa trải dài trong thời gian từ tạo thiên lập địa cho tới ngày cùng thế tận và trong phụng vụ của Giáo hội, được tưởng nhớ và cử hành trong chu kỳ hàng năm với những mùa, những ngày lễ đưa người tín hữu và cộng đoàn từng bước đi vào sự hiệp thông với hành động cứu độ này của Thiên Chúa, được thể hiện qua cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô: việc Người sinh ra (Giáng Sinh, cái chết và sự Phục sinh của Người và việc Người ban Thánh Thần (Hiện Xuống), việc Người sẽ đến như Người đã hứa.

Năm phụng vụ, khởi đầu với mùa Vọng gồm bốn chúa nhật, khởi đầu với chúa nhật cuối tháng mười một tới ngày 25/12, lễ Giáng sinh, và mùa Giáng sinh kéo dài từ lễ Giáng sinh tới hết ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, chấm dứt thời kỳ Chúa Giêsu sống đời sống ẩn dật tại Nazareth, mở đầu sứ vụ công khai của Người. Sau đó là mùa thường niên, giai đoạn một, từ sau lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa tới thứ Tư lễ Tro mở đầu mùa Chay chuẩn bị đại lễ Phục sinh, với tuần thánh, với ba ngày thánh tưởng nhớ một thực tại vô cùng đặc biệt : Đức Kitô vượt qua cái chết đến sự sống nhờ đó đem lại sự sống mới cho những ai tin vào Người. Mùa Phục sinh kéo dài từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Sau lễ Hiện xuống là mùa thường niên, giai đoạn hai, kéo dài tới lễ Chúa Kitô Vua kết thúc năm phụng vụ. Năm phụng vụ kết thúc với viễn tượng về ngày Chúa quang lâm.

Phụng vụ cũng không quên gợi lại hình ảnh những con người đã làm rạng rỡ sự Thánh thiện của Thiên Chúa trong cuộc đời được cứu độ của các ngài với các ngày lễ kính các thánh được mừng vào những ngày nhất định trong năm.

Phụng vụ với những giờ kinh được đọc vào những khoảnh khắc khác nhau  -sáng, trưa, chiều, tối- cũng đã muốn ghi dấu ấn của lịch sử cứu độ trên bước đi hàng ngày của thời gian.

Lịch phụng vụ đã được triển khai dần dần trong lịch sử. Việc tu chỉnh lần cuối cùng diễn ra vào năm 1969 tiếp nối công cuộc cải cách phụng vụ bắt đầu tại Công đồng Vatican II.

Các mùa và ngày lễ trong năm phụng vụ được cử hành với các mầu sắc khác nhau của lễ phục và trang trí gợi lại những tâm tình và bầu khí do ý nghĩa của việc cử hành gợi lên: mầu tím của mùa Vọng và mùa Chay; màu vàng của ngày Giáng sinh và Phục sinh, mầu trắng của những ngày lễ quan trọng khác trong năm, mầu xanh của mùa thường niên, mầu đỏ, mầu của tình yêu và tận hiến, của Đức Kitô và các thánh tử đạo, được sử dụng vào lễ các thánh tử đạo, chúa nhật lễ Lá, thứ Sáu thánh, lễ Trái Tim và lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Một lần duy nhất trong năm chủ tế mang phẩm phục mầu hồng, đó là vào chúa nhật thứ ba mùa Vọng, chúa nhật “Laetare”, một thoáng niềm vui giữa màu Tím chờ đợi. Trước đây, còn sử dụng mầu đen, mầu của tang tóc, nhưng nay, mầu đen được thay thế bằng mầu tím, kể cả trong lễ tang. Niềm hy vọng sống lại vẫn chiếu sáng trong cả cái chết.

Như vậy, năm phụng vụ muốn mời gọi các tín hữu và cộng đoàn Giáo hội sống cuộc sống của mình trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa qua việc tưởng nhớ và cử hành tất cả các mầu nhiệm về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, đã sống, đã chết và đã phục sinh và sẽ quang lâm hoàn tất công trình cứu độ của Người, khi Người là tất cả trong mọi sự.

  1. Ngày chủ nhật trong năm phụng vụ

Ngày chủ nhật là trung tâm của đời sống kitô hữu. Các nghị phụ Công đồng chung Vatican II khẳng định điều này, đặc biệt trong Hiến chế Phụng vụ thánh : “Theo Truyền thống Tông đồ, bắt nguồn từ chính ngày Chúa Kitô sống lại. Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Vượt qua vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật đáng gọi là Ngày của Chúa, hay Chúa Nhật. Trong ngày đó, các Kitô hữu phải họp nhau lại để cùng với việc lắng nghe Lời Chúa và tham dự Hiến Lễ Tạ ơn, họ kính nhờ cuộc Thương khó, sự Sống lại và cuộc tôn vinh của Chúa Giêsu, đồng thời cảm tạ Thiên Chúa, Đấng “đã tái sinh họ trong niềm hy vọng sống động  nhờ sự phục sinh từ trong cõi chết của Chúa Giêsu Kitô (1 Pr 1, 3). Vì thế, Chúa Nhật là ngày lễ rất đặc biệt phải được đề cao và in sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu đến độ cũng trở thành ngày dành cho niềm vui và sự nghỉ ngơi. Các nghi thức cử hành khác, nếu không thật sự rất quan trọng, thì không được đặt ưu tiên hơn lễ Chúa Nhật, vì đây là nền tảng và cốt lõi của cả năm phụng vụ” (PV, số 106).

Năm 1998, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II phổ biến tông thư Dies Domini / Ngày của Chúa về việc hiến thánh Ngày của Chúa. Tông thư khẳng định ngày chủ nhật không chỉ là Ngày của Chúa, mà còn là Ngày của Đức Kitô / Dies Christi, ngày của công cuộc tạo dựng mới và của ân sủng của Đức Thánh Linh;  Ngày của Giáo hội, ngày cộng đoàn kitô hữu họp lại với nhau; Ngày của con người, Dies Hominis, ngày của dân chúng, ngày mừng vui, nghỉ ngơi và của tình yêu thương.

Người kitô hữu hiện nay cảm thấy khó khăn trong việc giữ ngày chủ nhật. Có quá nhiều nhu cầu. Và càng ngày người ta càng bị lôi kéo làm việc ngày chủ nhật. Không phải vì phải làm việc cả bảy ngày trong một tuần lễ mà còn bởi việc phân công tại sở làm việc, một tuần có thể chỉ phải làm việc năm ngày, nhưng ngày làm việc có thể rơi vào ngày chủ nhật. Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II viết : “Dù ở trong thời kỳ khó khăn như hiện nay của chúng ta, người kitô hữu vẫn phải luôn duy trì và trên mọi sự, phải sống tính chất ngày chúa nhật trong tất cả chiều sâu của ý nghĩa của nó…Chủ nhật của người Kitô hữu …vẫn là một yếu tố thiết yếu của căn tính Kitô giáo của chúng ta.

  1. Phụng vụ và Thánh Kinh

Cuộc cải cách phụng vụ của Công đồng chung Vatican II đã tạo cơ hội để tín hữu và cộng đoàn được tiếp xúc một cách rộng rãi hơn với Mạc khải của Chúa qua Thánh Kinh, đặc biệt là các sách Tin Mừng.

  1. MÙA VỌNG
  2. Ý nghĩa mùa Vọng

Năm phụng vụ bắt đầu với chúa nhật thứ nhất mùa Vọng, tức chúa nhất cuối cùng của tháng mười một, và kết thúc với lễ Giáng Sinh, 25/12.

Sách lễ Roma gọi mùa này là mùa Adventus. Từ latinh này có nghĩa là ‘đến’. Việc Chúa đến: Đến trong lịch sử, đến trong lòng tin và đến trong vinh quang ngày hoàn tất mọi sự.

Công giáo Việt Nam gọi đây là mùa Vọng. ‘Vọng’ có nghĩa là nhìn, hướng về nơi tâm trí đang tưởng nhớ, trông chờ. ‘Vọng’ nhấn mạnh vào thái độ, tâm tình của người kitô hữu, của Giáo Hội trước việc Chúa đến.

1.1. Chúa đến

Chúa đã đến vào một ngày giờ và tại một nơi nhất định trong lịch sử: Đức Giêsu, con Đức Maria, người Nazareth, sinh tại Bêlem vào « năm mười lăm hoàng đế Tibêriô chấp chính; Pontiô Philatô trấn nhiệm xứ Giuđê; Hêrôđê làm quận vương xứ Galilê và em là Philip làm quận vương vùng Iturê và Trakhônit, và  Lysania làm quận vương xứ Abilênê ; dưới thời thượng tế Hanna và Caipha » (Luca 3, 1 và tt). Người là người thật như mọi con người khác, trừ tội lỗi, như thánh Phaolô khẳng định.

Là người thật, nhưng Đức Giêsu, trong lòng tin Kitô giáo, cũng là Thiên Chúa thật. Người là “Lời ở nơi Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa. Mọi sự đã nhờ Người mà thành sự. Người đến trong thế gian. Người có trong thế gian. Bởi Lời đã thành xác phàm và đã lưu trú nơi chúng ta. …” (xem Ga 1, 1-15). . Mùa Vọng hướng về mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ muôn dân.

Chúa đang đến trong lòng tin kitô hữu: Đức Giêsu đã lớn lên, rao giảng Tin Mừng cứu độ, đã bị bắt, bị giết chết trên thập giá, được táng trong mồ…Là Thiên Chúa thật, Người hiện diện đặc biệt trong mỗi cử hành phụng vụ, đến với những ai tin vào Người, gặp gỡ và đồng hành với họ trong cuộc sống, để cùng với họ mở đầu, xây dựng và hoàn tất một lịch sử mới đã khởi đầu với việc Người giáng sinh làm người tại Bêlem. Công đồng chung Vatican II khẳng định : “Đức Kitô luôn hiện diện trong Hội thánh của Người, đặc biệt trong việc cử hành phụng vụ. Người hiện diện trong lễ tế hiến, nơi con người thừa tác viên, ‘tự hiến mình lúc này, qua thừa tác vụ của các linh mục như Người đã tự hiến mình khi xưa trên thập giá’, và đặc biệt trong bánh và rượu trở thành mình và máu Người”  (Hiến chế Phụng vụ thánh).

Chúa Giêsu Kitô hiện diện giữa Giáo Hội của Người để cùng với Giáo Hội và từng môn đệ của Người hoàn tất sứ vụ Người giao : “Hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ giữ hết mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và này, Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20).

1.2. Con người chờ đợi

Bốn tuần lễ mùa Vọng tượng trưng cho bốn mươi năm dòng dõi của Abraham, Isaac, Giacob được tôi luyện trong sa mạc trống không và nóng bỏng để chỉ còn lại lòng khát khao chân thật đến được nơi Chúa đã hứa ban.

Sự khát khao và chờ đợi của những ai tin vào Chúa từng bước được lấp đầy, một cách phong phú, ngoài sức con người có thể tưởng tượng. Không chỉ là một giang sơn chảy đầy sữa và mật ong, mà là một vị Cứu độ, là người thật và là Thiên Chúa thật, Đấng ban phát nước hằng sống, Đấng ban bánh của sự sống đời đời, của sự sống mới, sự sống của những người được quyền gọi  Thiên Chúa là Cha.

Mùa Vọng là mùa người kitô hữu và cộng đoàn Giáo Hội ngày hôm nay khơi dậy lòng mong muốn gặp gỡ và kết hiệp chặt chẽ hơn nữa với Đấng đã đến và đã đem lại cho mình sự sống mới. Không phải chờ đợi trong thụ động với những câu kinh, nghi lễ có sẵn, bằng lòng với những tri thức đã thu thập được về một quá khứ xa xôi trong không gian và thời gian, mà là sự chờ đợi của ngày hôm nay và lúc này, một sự chờ đợi cũng nóng bỏng với câu hỏi “chúng tôi phải làm gì?” để có thể gặp Người và kết hiệp với Người, trong cái ngày hôm nay của cuộc sống cụ thể của từng người, từng giới, từng cộng đoàn, như người đương thời của Gioan Tẩy giả đã đua nhau nêu lên khi nghe ngài loan báo Đấng sẽ đến (xem Lc 3, 10-14).

Sự chờ đợi trong tỉnh thức của những người trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn của Chúa, trong sự nhạy bén để nhận ra tiếng gọi, ý muốn, sự chờ đợi của Chúa được biểu lộ trong Thánh Kinh, trong giáo huấn của Hội Thánh và thực thi trong thực tại cuộc sống, để qua đó, được kết hiệp làm một với Đấng vốn là đường dẫn đến sự thật và sự sống.

Như vậy, sự chờ đợi của mùa Vọng dẫn đến việc chuẩn bị trí óc với việc tìm hiểu mạc khải về Đấng đã đến, đang đến và sẽ đến lại, trong bối cảnh của cuộc sống riêng mỗi người, của thế giới ngày nay, của xã hội Việt Nam với những niềm vui, nỗi buồn, những vấn đề xã hội và về xã hội đang chờ đợi một lời đáp, một thái độ của niềm tin chân thật nơi Đức Kitô. Như ba nhà đạo sĩ tìm hiểu ý nghĩa của dấu sao lạ và nhận ra nơi Hài nhi yếu ớt được vấn tã đặt trong máng cỏ nghèo nàn là Đấng các ông đang tìm gặp để thờ lạy. Việc chuẩn bị con tim với những khát vọng đích thực vốn đang bị vùi lấp dưới những đống phù vân của chủ nghĩa tiêu thụ, những giá trị giả tạo đang được không ít các tiên tri giả rêu rao. Không có những khát vọng mới làm bật lên câu hỏi trong nỗi bức xúc : ‘chúng tôi phải làm gì’ của từng người, từng cộng đoàn và của cả Hội Thánh, mùa Vọng sẽ chỉ còn là sự chờ đợi của quá khứ và của kẻ khác, không phải của hôm nay và của chính mình.

Trong phụng vụ mùa Vọng, chúng ta được cảm nghiệm về Lời không thay đổi nhưng sống động của Thiên Chúa, đã hoàn tất và đang được chờ đợi hoàn tất. “Lời của Chúa được công bố trong việc cử hành các mầu nhiệm của Thiên Chúa không chỉ gợi đến những hoàn cảnh hiện tại mà hướng cả về các biến cố đã qua và hướng tới những gì đang đến”.

Việc chuẩn bị tích cực, để tiếp đón vị Thượng Khách từng được yêu mến và tin tưởng, từng được trông chờ như Đấng sẽ lấp đầy những khát khao làm người và làm con Thiên Chúa, sẽ biến mùa Vọng thành mùa của mừng vui và hy vọng, mà không phải của lo âu và sợ hãi, dù là chờ đợi Đấng sẽ đến phán xét vào ngày cùng thế tận, dù phụng vụ vắng tiếng hát kinh ‘vinh danh’ và mang màu tím, màu của khắc khổ và sám hối.

  1. Một số việc đạo đức

2.1. Tĩnh tâm mùa Vọng

Các giáo xứ và hội đoàn ở Việt Nam có thói quen tổ chức tĩnh tâm mùa Vọng cho các tín hữu. Có nơi dành trọn một hay hai ngày cho việc tĩnh tâm. Cũng có nơi tổ chức tĩnh tâm vào mấy buổi chiều và tối để có được bầu khí và khung cảnh thuận lợi cũng như thích hợp cho việc chiêm niệm.

Việc đạo đức này nên được tổ chức vào các ngày đầu mùa Vọng để có thể giúp các tín hữu và cộng đoàn giáo xứ bước ngay vào bầu khí của mùa phụng vụ và thấu hiểu hơn ý nghĩa của mùa Vọng nhờ đó tham gia một cách trọn vẹn hơn ngay từ buổi đầu vào mầu nhiệm cứu độ được Hội Thánh tưởng nhớ và cử hành trong bốn tuần của mùa Vọng.

Có lẽ nên hiểu Tĩnh tâm như một việc đạo đức gắn với việc cử hành mùa phụng vụ: không phải chỉ là việc dọn mình xưng tội để được rước lễ ngày lễ Giáng sinh, cũng không phải là một lớp giáo lý giúp người tham dự có thêm kiến thức về mầu nhiệm Hội Thánh đang chuẩn bị cử hành, mà chính là thời gian để đi vào mầu nhiệm trong cầu nguyện, chiêm niệm, kết hiệp và sống mầu nhiệm cứu độ đã diễn ra và cũng đang diễn ra giữa loài người. Do đó, tĩnh tâm không thể không bao gồm việc đọc Thánh Kinh để gợi lại những gì Thiên Chúa đã làm, những khoảnh khắc thinh lặng để người tín hữu cầu nguyện và chiêm niệm mầu nhiệm đã hoàn tất, những việc đạo đức để đi vào mầu nhiệm đang diễn ra ngày hôm nay và ý thức về những việc phải làm để hướng về ngày hoàn tất mọi sự.

Tĩnh tâm mùa Vọng có thể là một dịp giúp người tín hữu và cộng đoàn kiểm điểm đời sống, nhận ra đâu là những giá trị mình đang theo đuổi trong cuộc sống thường ngày, trong gia đình, trong xã hội và nơi bản thân. Người tín hữu và cộng đoàn cũng cần được giúp đỡ để khám phá ra những giá trị đích thực, bền vững mà Tin Mừng, giáo huấn cũng như phụng vụ của Hội Thánh, đặc biệt là mầu nhiệm Giáng sinh, mời gọi và trông chờ người tín hữu và cộng đoàn thực hiện, nhất là trong một xã hội lễ Giáng sinh ngày càng bị thế tục hoá.

Bởi vậy, trong cuộc tĩnh tâm, cũng nên tổ chức một cuộc sám hối tập thể, tuy không thay thế việc xưng tội riêng, nhưng cũng sẽ giúp ích không ít cho việc trở lại của mỗi cá nhân và của cộng đoàn.

2.2. Làm máng cỏ

Việc các gia đình, khu đạo và giáo xứ làm hang đá, hay máng cỏ tại gia, tại nhà thờ, thậm chí ở nơi công cộng cũng có thể được xem như một việc đạo đức giúp nâng cao lòng đạo nhân một dịp lễ đặc biệt của năm phụng vụ, miễn là việc làm này không bị biến thành cơ hội để phô trương, lãng phí tiền bạc, của cải và thời gian, qua đó, trở thành dịp để người tín hữu và cộng đoàn ‘chia trí’, sao nhãng bài học đích thực của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đã chọn khung cảnh nghèo, giản dị của người dân bình thường để ra đời làm người.

Làm máng cỏ trong gia đình không đơn thuần là việc trang trí nhà cửa, việc bày ra một máng cỏ, một hang đá có sẵn hay được mua tại tiệm sách đạo, nhưng có thể là dịp để gia đình thông hiệp với mầu nhiệm Giáng sinh ngày hôm nay và cùng với các thành viên của gia đình.  Việc làm máng cỏ này cũng có thể là một dịp để cha mẹ giáo dục con cái một cách cụ thể về bài học của Giáng sinh, một cơ hội để giảng dạy, qua bộ tượng các nhân vật của máng cỏ, về vai trò của Đức Maria, của thánh Giuse, các mục đồng, của ba nhà đạo sĩ… Chẳng hạn, mỗi tuần của mùa Vọng có một buổi tối cả gia đình cùng tụm lại để làm máng cỏ, và người lớn tuổi sẵn sàng giải thích cặn kẽ từng câu hỏi của các bé nêu lên khi  cầm tượng các nhân vật của hang đá. Các trẻ trong gia đình cũng có thể mời bạn bè, hàng xóm tới cùng làm hang đá. Việc làm hang đá hay máng cỏ này có thể kéo dài suốt mùa Vọng, tượng các nhân vật lần lượt được đặt ra theo hành trình của Đức Maria và thánh Giuse trên đường tới Bêlem và tới hang đá như được mô tả trong hai sách Tin Mừng Matthêu và Luca, đoạn 1 và 2. Mỗi chặng đường của cuộc hành trình có thể là một dịp để gia đình đọc một đoạn sách Thánh và  cầu nguyện với Thánh gia.

  1. Cử hành bí tích trong mùa Vọng

3.1. Bí tích Thánh Tẩy

Mùa Vọng chuẩn bị lễ Giáng sinh là thời gian thích hợp để gợi lại bí tích Thánh Tẩy người tín hữu đã lãnh nhận, để giáo huấn và cử hành bí tích Thánh Tẩy cho người trưởng thành cũng như trẻ mới sinh, vì mùa chuẩn bị lễ Giáng sinh đầy ắp những biểu tượng : Như Đức Maria chờ đợi mọi sự diễn ra theo Lời Chúa (Lc1, 38), người chầu nhưng cũng chờ đợi bí tích Thánh Tẩy để được sinh ra với sự sống mới. Mùa Vọng cũng là mùa chuẩn bị cho ánh sáng chiếu rạng trong đêm Giáng sinh : “Đêm hầu tàn, ngày sắp đến. Vậy ta hãy vất bỏ những việc tối tăm, và hãy mặc lấy khí giới sự sáng” (Rm 13, 12)…

Các bài đọc về thánh Gioan Tẩy giả khiến chúa nhật thứ hai và thứ ba mùa Vọng thành thời gian đặc biệt thích hợp cho việc cử hành bí tích Thánh Tẩy trong bối cảnh của phụng vụ chúa nhật. Nghi thức rửa tội trẻ em cũng có nhiều quy chiếu về việc Chúa đến lại lần thứ hai như việc trao cây nến thắp sáng cho trẻ với lời kèm theo:  “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô. Anh chị em là những bậc làm cha mẹ và người đỡ đầu, ánh sáng này được trao phó cho anh chị em chăm nom, tức là lo lắng cho trẻ nhỏ này đã được Chúa Kitô soi sáng, luôn luôn sống như con cái sự sáng và bền vững trong đức tin. Nhờ đó, khi Chúa đến, chúng được ra nghênh đón Người với toàn thể các thánh trên trời”.

Với những ai được tái sinh với Đức Kitô trong bí tích Thánh Tẩy, thời kỳ chuẩn bị Đấng cứu chuộc ra đời cũng mang màu sắc thanh tẩy. Như Đức Giêsu sinh ra từ cung lòng Đức Maria, cũng vậy, nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa. Trong bí tích Thánh Tẩy, chúng ta nhận được lời mời gọi chuẩn bị đường cho Chúa đến bằng các công việc của lòng bác ái và công bình. Các bài đọc của chúng ta trong suốt mùa này cũng nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của kẻ thấp bé và nghèo khổ.

3.2. Nghi thức sám hối

Mùa Vọng được thiết lập, khởi đầu, như một mùa sám hối chuẩn bị cho cuộc phán xét cuối cùng và người Công giáo theo truyền thống dùng mùa Vọng để dọn lòng xưng tội mừng lễ Chúa Giáng sinh. Các bài đọc và lời cầu nguyện của mùa Vọng phản ánh hai tính chất của mùa Vọng : dọn mình xứng đáng tiếp đón Chúa; qua việc sám hối, chúng ta trở nên sẵn sàng trong tâm trí trước việc Chúa đến.

3.3. Chăm sóc mục vụ cho kẻ liệt

Mặc dù mùa Vọng là một thời gian bận rộn, tuy nhiên, cộng đoàn giáo xứ và đặc biệt các linh mục, giáo sĩ phụ trách và phục vụ giáo xứ cũng không nên quên những người bệnh, những người đau yếu không còn khả năng thể xác để tham dự các cử hành phụng vụ trong mùa Vọng. Hơn ai hết, họ là những người chờ đợi Chúa đến với họ trong những giờ phút thử thách của bệnh tật này, do đó, cộng đoàn giáo xứ nên tổ chức viếng thăm, đưa Mình Thánh Chúa…những người bệnh không thể tới nhà thờ cử hành phụng vụ với cộng đoàn.

III. Ý NGHĨA MÙA GIÁNG SINH

Mùa Giáng sinh là mùa thi vị nhất của năm phụng vụ. Các bài ca ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong ký ức người kitô hữu là các bài ca Giáng sinh. Những Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Cao cung lên, Đêm thánh vô cùng…Và những đĩa nhạc Noel ngoại quốc hàng năm nghe đi nghe lại vẫn thấy hay.

Nhưng Giáng sinh không phải chỉ là ngày lễ của những ký ức xa xôi từ thuở nào và của thời hiện tại. Phụng vụ Giáng sinh đưa chúng ta đi vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa khi nhắc nhở cộng đoàn Giáng sinh chính là “ngày lễ của sự cứu độ chúng ta” (collecta, lễ đêm), sự khởi đầu của việc cứu chuộc chúng ta” (lời nguyện dâng lễ, lễ Đêm). Giáng sinh là sự khôi phục trật tự của vũ trụ khi Thiên Chúa và nhân loại lại kết hợp làm một qua việc làm con của Chúa Giêsu Kitô : “…” (Lời nguyện dâng lễ, lễ Đêm).

Giáng sinh là một lễ của ánh sáng. Ánh sáng chiếu trong đêm tối. Ánh sáng không chỉ chiếu trên chúng ta mà trong chúng ta .

Giáng sinh không phải là thời để hoài cổ mà kêu gọi chúng ta tham gia tích cực vào mầu nhiệm, một kế đồ  đã bắt đầu được triển khai với mầu nhiệm Nhập thể : Con Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta để cứu độ chúng ta. Giáng sinh như vậy không phải là ký ức về một sự kiện đã diễn ra tại Bêlem, vào một đêm nọ, cách nay trên hai ngàn năm, mà còn là và nhất là sự kiện của hôm nay và tại đây. Cái ‘hôm nay’ của Đức Mẹ Maria, của thánh Giuse, của các người mục đồng cũng là cái ‘hôm nay’ của chính chúng ta.

Các hoàn cảnh lịch sử nhất định đã có ảnh hưởng trên sự phát triển các điểm nhấn của lễ và mùa Giáng sinh. Tin Mừng Giáng sinh được viết sau cùng. Sang thế kỷ IV, trước trào lưu mang tên Arius, phủ nhận thiên tính của Chúa Giêsu, tại Công đồng Nixêa (325),  Giáo hội tuyên xưng Chúa Giêsu là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật…Làm một với Thiên Chúa Cha” (Kinh Tin kính của công đồng Nixêa). Như vậy, Chúa Giêsu không chỉ thuần tuý là một tạo vật thánh thiêng của Thiên Chúa, mà Người là Thiên Chúa toàn năng, ở cùng Thiên Chúa từ nguyên thuỷ, “được sinh ra mà không phải tạo thành” (ibid).

Một hoàn cảnh lịch sử khác cũng có ảnh hưởng trên sự phát triển của lễ Giáng sinh hay đúng hơn, cho việc mừng lễ Giáng sinh vào ngày 25/12. Đó là vào năm 274, hoàng đế Aurelius đã quyết định ngày 25/12 –ngày đông chí-là ngày dâng kính Natale Solis Invicti, một ngày lễ của lương dân kính “Thần Mặt Trời vô địch”. Vì có nhiều đoạn Thánh Kinh khẳng định Đức Kitô là ánh sáng, ánh sáng của thế giới, nên cũng dễ hiểu khi Giáo hội ‘rửa tội’ cho ngày lễ này của người lương, và biến việc kính mặt trời thành việc kính Mặt Trời công chính.

Một lý do khác nữa của việc lễ Giáng sinh được mừng vào ngày 25/12: các kitô hữu tiên khởi cho rằng Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25/12. “Vào buổi đầu thế kỷ thứ ba, các nhà thần học Kitô giáo đã tính toán về ngày sinh của Đức Giêsu vốn không được ghi trong các sách Tin Mừng. Biểu tượng Chúa Kitô Mặt Trời cắm rễ sâu trong ý thức của người kitô hữu khiến họ có sự quan tâm đặc biệt tới các thời điểm phân và điểm chí” (Năm phụng vụ, trg. 123). Và hậu quả là sự kiện ông Gioan Tẩy giả ra đời được đặt vào ngày hạ chí (“Tôi phải bé đi”, Ga 3, 30), và Chúa Giêsu ra đời sáu tháng sau, vào đông chí “Và Người phải lớn lên”, ibid.). Đối với những con người có cuộc sống gắn với mặt trời, mặt trăng và các mùa hơn chúng ta, những thời gian này  có ý nghĩa rất đặc biệt. Các Kitô hữu tiên khởi có thể đã coi sự Nhập thể của Chúa –ra đời, chết và sống lại – được khắc ghi trong vũ trụ.

Giáng sinh là một ngày lễ trọng thể như ngày lễ Phục sinh, quá lớn để chỉ được mừng trong một ngày duy nhất : Giáo hội đã dành một thời gian dài để suy niệm về mầu nhiệm trọng đại này. Tuần bát nhật lễ Giáng sinh được cử hành một cách đặc biệt trọng thể. Ngày chúa nhật trong tuần bát nhật, chúng ta tiếp tục mừng sự nhập thể của Đức kitô, từ một nhãn giới khác với lễ kính Thánh Gia của Đức Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse. Tuần bát nhật kết thúc với lễ kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, vào ngày 1/1, ngày lễ trọng thể đầu tiên kính Đức Mẹ Maria, kết quả của Công đồng Êphêsô.

Mùa Giáng sinh tiếp tục với lễ trọng thể sự Hiển Linh của Chúa, mừng việc Chúa Kitô “tỏ mình” ra. Hiển Linh trong truyền thống thường được mừng ngày thứ mười hai sau lễ Giáng sinh (6/1), và là một ngày lễ nghỉ. Nhưng tại những nơi lễ Hiển Linh không phải là lễ nghỉ, thì được dời vào ngày chủ nhật. Mùa Giáng sinh kết thúc với lễ kính Chúa Giêsu chịu phép Thánh Tẩy. Với việc Chúa Giêsu chịu Thánh tẩy, kết thúc thời kỳ ẩn dật của Chúa Giêsu và bắt đầu thời kỳ sứ vụ công khai của Người. Các mùa và ngày lễ tiếp theo của năm Phụng vụ sẽ cho chúng ta được đi tiếp với Đức Kitô trong những đoạn đường tiếp theo của sứ vụ của Người.

Kết luận

Như vậy, năm Phụng vụ Giáo hội vừa mở đầu, với những mùa, những ngày lễ, với những bài đọc, lời kinh, câu hát đã được ấn định, chính là lời mời gọi các cộng đoàn và từng người tín hữu ý thức và tích cực sống trong sự hiệp thông với công cuộc cứu độ Thiên Chúa đang thực hiện giữa cộng đoàn phụng vụ.

Read More
26Tháng Mười Một
2020

“Sỏi đá cũng cần có nhau” và đời độc thân linh mục

26/11/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Đây là loạt bảy bài hướng dẫn thiêng liêng Tuần Tĩnh tâm Hàng Giáo sĩ Giáo phận Ban Mê Thuột từ ngày 09.11.2020 đến 13.11.2020, của Đức Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn – Giám mục Phụ tá TGP Sài Gòn.

Bài 1 – Tất cả đều có đôi

Bài 2 – Tính dục mầu nhiệm
Tại sao lại có sự khác biệt nam nữ ấy? Ý nghĩa của sự dị biệt giới tính là gì?
Tính dục: một cơ hội để tương quan
Dị biệt tính dục mở ra với truyền sinh (dị biệt thế hệ)
Sự dị biệt nam-nữ là mầu nhiệm khôn dò
Ý nghĩa của hành vi phu thê

Bài 3 – Khám phá lại thân xác
Thân xác con người có tính biểu tượng
Thân xác có “ý nghĩa hợp hôn”
Thân xác con người có tự do nhưng trong tình trạng yếu đuối vì sa ngã
Nhưng thân xác con ngươi đã được Đức Kitô cứu chuộc

Bài 4 – Độc thân như một đề nghị từ Tin Mừng
Đọc 1Cr 7, 32-38
Một đặc sủng biệt lệ
Vì Nước Trời
Để cứu vớt đời sống tinh dục
Dấu hiệu sự hiện diện của Đức Vua
Hướng đến sự độc thân linh mục

Bài 5 – Độc thân như một dấn thân của đời linh mục
Đức Kitô Tân Lang
Ý nghĩa hôn phối của Đức Kitô
Linh mục, bí tích của Đức Kitô Hôn Phu
Những điều kiện của sự trung thành

Bài 6 – Mẻ lưới rỗng và mẻ lưới đầy
Cần một lý tưởng
Sự hiệp thông Hội thánh là điều quan trọng
Chiếc lưới không rách
Chúa Kitô hiện diện trong Hội Thánh

Bài 7 – Chỉ tình yêu của Đức Kitô thúc bách.
Tình yêu thống hối của Phêrô
Sứ vụ mục tử của Phêrô
Vai trò tối thượng của Phêrô

* * *

Bài 1 – Tất cả đều có đôi

“Tất cả đều có đôi, cái này đối cái kia; / Người không làm gì dang dở./ Vật này làm tôn vẻ đẹp của vật kia, / nhìn ngắm vinh quang của Người, ai mà chán được?” (Hc 42, 24-25).

“Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1, 26).

Ađam được tạo dựng theo hình ảnh Đức Kitô vì Người là hình ảnh của Chúa Cha: “Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo” (Cl 1, 15).

“Mầu nhiệm con người chỉ thật sự sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Thật vậy, Ađam, con người đầu tiên, chính là hình ảnh của Đấng sẽ đến là Chúa Kitô” (CĐ Vaticanô II, Heh. Gaudium et spes, 22).

“Thiên Chúa chúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển chim trời” (St 1, 28).

Con người được Thiên Chúa tạo dựng bước vào thế giới, tỏ lộ nơi hữu thể mình Thiên Chúa Tạo Hóa là Tặng phẩm trao hiến, và hơn thế nữa con người còn có vai trò hiện hữu như một tặng phẩm trao hiến, trước hết vì họ mang trong bản thể mình chỉ dấu của tặng phẩm, và kế đến vì họ chỉ đạt đến sự hoàn hảo qua sự tự hiến.

“Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Êđen, về phía đông và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra (St 2, 8).

Dẫu được ban tặng thế giới và muôn loài để làm chủ, con người vẫn không thỏa mãn trọn vẹn, vẫn còn cảm thấy “đơn độc” vì chưa thực hiện được sự trao hiến tương hỗ. Con người vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, là một “Chúng ta”, làm sao lại có thể sống đơn độc trong vườn Êđen? Con người không thấy có cái gì hay một ai đó tương xứng khả dĩ để sống bổ túc cho nhau. Đó là “sự đơn độc nguyên thủy”.

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1, 27).

Sau giai đoạn trù bị Ađam đơn độc trong vườn, Thiên Chúa tiếp tục công trình tạo dựng của Ngài và nói: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2, 18). Hình ảnh Thiên Chúa phản chiếu trên dung mạo Ađam giờ đây phải được hoàn thiện nhờ một tương quan khác mới mẻ với một ngã vị vừa miệng như nó nhưng khác với nó.

“Thiên Chúa lấy chiếc xương sườn đã rút từ con ngươi ra làm thành người đàn bà” (St 2, 22).

“Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người” (St 2, 21). Ađam rơi vào giấc ngủ mê man như hóa thành hư vô trong tình trạng hôn mê sâu để Thiên Chúa hành động như một bác sĩ phẫu thuật (sau khi đã hành động như một thợ gốm) rút một chiếc xương sườn (selâ) ra làm thành một người giống như ông nhưng khác ông. Hành vi tạo dựng là hành động thuộc riêng Thiên Chúa. Việc tạo dựng người đàn bà là hoàn toàn khuất mắt Ađam. Nếu Ađam có thể kiểm soát và thống trị các loài vật qua việc “đặt tên” cho chúng, điều đó hoàn toàn ông không thể làm đối với người đàn bà.

Thiên Chúa “làm” thành (banâ) người đàn bà. Chữ banâ theo Kinh thánh có nghĩa “xây dựng”, “làm ra”, “làm cho hiện hữu”, “tạo ra”. Chữ có nghĩa kiến trúc, xây dựng. Đối với người đàn bà, làm ra ở đây có nghĩa là sinh ra. Nếu đàn ông “xây dựng” nhà cửa, thành trì, đền thờ, vườn nho,… thì phụ nữ xây dựng bằng cách sinh thành các công dân cư ngụ, làm việc, sinh sống ở đó Đàn ông xây bằng sức mạnh cơ bắp của tay chân, đàn bà xây dựng bằng bụng dạ sinh dưỡng.

Chúa tạo thành người đàn bà từ một chất liệu mạnh mẽ – xương sườn người đàn ông – đứng thẳng, mạnh mẽ trước người đàn ông, có khả năng làm trợ thủ (‘ezer) cho ông; đàng khác, nếu người đàn bà được dựng nên để sinh sản, thì phải hiện diện với ông trong một quan hệ diện đối diện để có thể tự hiến và đón nhận chàng (kenegdô). Để có thể thực hiện một quan hệ như thế, cần phải có một can thiệp có tính quyết định của Thiên Chúa Tạo Hóa trên cấu trúc cơ thể người đàn bà. Thật vậy, người đàn bà là kẻ duy nhất, trong số tất cả các động vật hữu nhũ, có thể đứng trước mặt người đàn ông trong mối quan hệ diện đối diện cho phép sống thân mật trao hiến và lãnh nhận như thế và có khả năng “sáng tạo” qua việc sinh sản.

“Thiên Chúa dẫn người đàn bà đến với con người” (St 2, 22).

Chữ “dẫn” (bw) ở đây mang ý nghĩa hôn phối: chính Thiên Chúa dẫn người đàn bà đến trao cho cho con người, như người cha dẫn cô dâu con gái đến trao vào tay chú rể hôn phu tương lai của nàng, trong ngày tân hôn. Người con gái được dẫn đến trước mặt Ađam là chi nếu không phải là một người nữ như là quà tặng ban cho chàng? Nàng là “quà tặng” (present/gift) trao trước mặt” (presence) người đàn ông. Tiếng “này, em đây” được thốt lên rất nữ tính ấy sau cùng đã cất nỗi cô đơn khỏi con người đàn ông của chàng. Từ cuộc hạnh ngộ với người phụ nữ, con người không còn sống chỉ để làm việc mà còn để yêu.

“Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23). Tiếng reo mừng một đàng nêu bật “căn tính” chung của hai người, nghĩa là nền tảng của mối quan hệ nam-nữ dị biệt; đàng khác cho thấy hai hình thái nhập thể của một nhân tính duy nhất, đàn ông và đàn bà: “Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút ra từ đàn ông” (St 2, 23). Tiếng Hipri tỏ lộ căn tính và dị biệt này nơi trò chơi chữ nghĩa, ‘is và ‘issâh. Chữ ‘is có những nghĩa như là nhân bản, con người, người chồng; còn chữ ‘issha có nghĩa là đàn bà, người vợ. Khi người đàn bà xuất hiện con người đầu tiên Ađam trở thành người đàn ông hay chồng – ‘is – của người đàn bà hay người vợ – ‘issha.

Cuộc gặp gỡ này đã khai sinh con người một lần nữa, bằng cách chuyển trao con người từ tình trạng “đơn độc nguyên thủy” sang tình trạng “hợp nhất nguyên thủy”. Đó là cuộc sáng tạo con người dứt khoát.

Người đàn bà mà Chúa dẫn đến và giới thiệu với con người là “trợ tá tương xứng” của người đàn ông (St 2, 18).

“Bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt (St 2, 24).

“Sự trao hiến cho nhau, với toàn thể nhân tính tức là với cả xác-hồn và giới tính khác biệt của họ, được thực hiện qua hành vi tự hiến và đón nhận tha nhân như tặng phẩm trao ban. Hai chức năng này của sự trao đổi hỗ tương kết nối với nhau thật sâu xa: Hành động trao ban và đón nhận thâm nhập sâu vào nhau đến độ chính khi cho là nhận, và nhận trở thành là cho đi”. Bởi thế, chính khi tự hiến và đón nhận lẫn nhau người nam và người nữ từng gặp lại chính mình và bước vào ơn gọi hôn nhân cao trọng của họ. Ngược lại, nếu vì một lí do bất kì nào đó ngăn chặn sự trao hiến này họ sẽ đánh mất chính mình và rơi vào vực thẳm vô nghĩa, chống lại ơn gọi làm người.

Kết luận: Đối chiếu hai quan niệm nhân học: androgyno và Thánh Kinh.

Quan niệm androgyno có hai đầu mối trung tâm: chối bỏ sự dị biệt tính dục, xem đó như một án phạt; và ước muốn quay trở về với hiện hữu nguyên thủy để chiếm hữu lại được sức mạnh thuở ban đầu. Về điểm thứ nhất, khát khao một tình yêu đầy xúc cảm được thể hiện không nhờ đến sự dị biệt tính dục, vì dựa trên nền tảng phi-dị-biệt và, thay vì cởi mở ra thì khép kín mình lại. Về điểm thứ hai, đàng sau cuộc tìm kiếm để hòa tan lại làm một hữu thể duy nhất, ẩn tàng một cám dỗ chiếm hữu lại quyền năng như các vị thần thánh.

Quan niệm nhân học androgyno lan tràn trong văn hóa hiện nay đang gieo vãi khắp nơi tư tưởng bất phân biệt giới tính hay chỉ có một giới duy nhất thôi. Đó là một tham vọng Promêtê, tức là ước muốn trở thành một toàn thể toàn năng “như” Thượng đế và cạnh tranh với Thượng đế, như androgyno cạnh tranh với các vị thần. Quan niệm này quả thật không thực tế vì có hậu kết bi thảm, chết chóc.

Trái lại, quan niệm nhân học của Thánh Kinh có một năng động sâu sắc: tặng phẩm trao hiến.

Mỗi thụ tạo khi bước vào hiện hữu mang một dấu ấn sự hữu hạn biểu lộ Tặng Phẩm nguyên thủy và mang trên mình ý nghĩa tặng phẩm ấy đến mức họ chỉ tìm gặp lại được mình khi tự hiến. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chỉ dấu tuyệt vời của tặng phẩm trao hiến, đúng hơn con người là bí tích biểu lộ cách hữu hình sự sống vô hình là chính Thiên Chúa – Tặng Phẩm. Con người mạng tặng phẩm trong toàn thể ngã vị mình, khám phá ra tặng phẩm ấy trong các ý nghĩa của thân xác vốn có phân giới tính nam – nữ của mình và nơi chủ thể tính của nó. Con người thực hiện sự trao hiến ấy theo hai cách thức.

Trước hết là đảm lấy trách nhiệm của mình trước thọ tạo, nhưng nên hết là trao hiến hoàn toàn và trung tín với người phụ nữ, trợ tá “tương xứng” đứng “trước mặt” ông. Thánh Kinh nhìn thấy thân phận thụ tạo giới hạn bởi dị biệt tính dục, tức là hai hình thức nhập thể của bản tính duy nhất nơi con người, nam tính và nữ tính, là cơ hội của một cuộc gặp gỡ, một quan hệ, để đào sâu căn tính và ơn gọi, một sự trao hiến bản thân để nên một xương một thịt và rồi mở ra với sự sống con cái, một tương lai hứa hẹn chiến thắng.

Bài 2 – Tính dục mầu nhiệm

Con người được tạo dựng có nam có nữ. Hai người khác giới nhưng cùng là một bản tính người. Nhân tính họ có chung ấy là căn tính (identity) của con người. Còn giới tính nam và nữ khác biệt là dị biệt tính (difference). Họ có chung một căn cước lưỡng tính được biểu lộ ra là một người nam hoặc một người nữ.

Tại sao lại có sự khác biệt nam nữ ấy? Ý nghĩa của sự dị biệt giới tính là gì?

Giới tính làm nên sự khác biệt. Giới tính tạo nên một giới hạn trong bản tính nhân loại vốn luôn luôn và chỉ tồn tại trong tư cách như là một người nam (giống đực) hoặc như là một người nữ (giống cái). Giới tính khác biệt này thâm nhập khắp thân xác đến tận cùng các tế bào. Cha mẹ góp phần di truyền cho con từ trong thai mẫu đã xác định thai nhi là nam hay nữ.

Dị biệt giới tính là một giới hạn của con người, thuộc thân phận của con người, đó là một hoàn cảnh đặc thù của tình trạng thụ. Thế nhưng sự giới hạn ấy có ích cho con người vì buộc nó phải cởi mở ra trong tương giao phụ thuộc để đón nhận cái mình còn thiếu và được bổ túc cho phong phú. Người nam và người nữ tìm kiếm nhau để gặp nhau, hiến thân cho nhau và kết hợp nên một mầu nhiệm khôn thấu.

Chính sự giới hạn bởi dị biệt giới tính này làm nổi bật hình ảnh của Thiên Chúa trong mối quan hệ nam-nữ. Chính nó khiến cho người nam và người nữ có thể phản chiếu imago Dei: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình […]. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1, 27).

Tính dục: một cơ hội để tương quan

Giới tính phân li hai con người nam và nữ khác biệt và đánh dấu sự dị biệt tính dục. Thế nhưng, họ không tồn tại để mà chia li và sống đơn độc, điều đó trái nghịch với ý nghĩa của thân phận thụ tạo của họ. Sự giới hạn đặc trưng của họ bộc lộ một sự khiếm khuyết cần được lấp đầy, đó là tha nhân, một con người khác.

Làm thế nào để lấp đầy khoảng trống này? Phải có một quan hệ khả dĩ giúp họ vượt qua được nỗi cô đơn của mỗi người như thế nào đó để họ gần gũi, lôi cuốn, chinh phục, yêu thương, dâng hiến và kết hợp nên một với nhau. Tính dục – qui định bởi giới tính – liên quan trước hết đến cấu hình thể xác của một nhân vị, là nam hay nữ và từ đó liên hệ đến chức năng của thân xác ấy như khả năng tương quan và dâng hiến cho nhau đến mức tạo ra sự sống.

Tính dục khởi đi từ thân xác có phân giới giúp con người cởi mở bước vào những quan hệ phong phú. Tính dục làm cho quan hệ thêm phong phú nên nó có chức năng xã hội hóa. Trong mối quan hệ đôi bạn đặc thù nam-nữ tính dục được diễn tả mạnh mẽ nhất khi, chạm tới con người thâm sâu nhất qua tiếp xúc sinh dục, tính dục nhấn con người ngập vào một quan hệ yêu thương trao hiến mở ra với sự sống mới. Sự hữu hạn được vượt qua nhờ có tính dục, nó giúp người này mở ra sống vì người kia, trong sự trao hiến bổ túc tương hỗ cho nhau. Người ta chỉ là chính mình khi người này hiện hữu vì người kia.

Mầu nhiệm hôn phối rất linh thiêng. Chính trong sự kết hợp cả xác hồn mà người nam và người nữ tái tạo trong trật tự tạo thành hình ảnh của Thiên Chúa: una caro phản chiếu Thiên Chúa duy nhất.

Dị biệt tính dục mở ra với truyền sinh (dị biệt thế hệ)

Nhờ tính dục phong nhiêu, quan hệ hôn phối mở rộng ra với một mối quan hệ sau cùng, là con cái. Tính dục mở ra với sự sống. Tặng phẩm sự sống được tích hợp trong tặng phẩm người nam trao hiến cho người nữ, và ngược lại. Có thể nói đó là tặng phẩm ở trong một tặng phẩm. Bởi thế, tính dục cho phép hai sự dị biệt đan dệt vào nhau, đó là: dị biệt tính dục và dị biệt thế hệ (do truyền sinh).

Những sự dị biệt bện thắt vào nhau này, bấy giờ, cho phép các thế hệ xuất hiện theo từng chu kì nối tiếp nhau và nối dài trong thời gian, qua việc hồi phục và khắc ghi trong thân xác sinh linh mới tượng thai dấu ấn dị biệt và giới hạn của giới tính, để rồi, tính dục xét như là quan hệ lại có thể kết hợp hai con người mới và, như thế là mở rộng trong không gian và thời gian cái thực thể một xương một thịt (una caro) này như là hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei).

Quan hệ tính dục khác biệt có tính bổ túc, tương hỗ, giao thoa và không cân đối.
Khác biệt tính dục không để cho họ yên ổn, mà khuấy động xuyên suốt bên trong và cả bên ngoài con người ta. Bên trong, vì chúng ghi sâu trong hữu thể họ sự trống không vì khiếm khuyết tha nhân; bên ngoài, vì sự khuyết thiết này phóng họ đi ra khỏi bản thân để đi đến với tha nhân. Vận động do khác biệt và tìm lại được sự thống nhất có những đặc tính sau đây: bổ túc, tương hỗ, giao thoa và không cân (lệch).

Sự dị biệt nam-nữ là mầu nhiệm khôn dò

Sự dị biệt tính dục nam-nữ không những là khác biệt nhau, nhưng còn là một bí ẩn, là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm khôn dò.

Con người mỏng manh nhưng vinh dự là một “mầu nhiệm”. Linh hồn hợp nhất trong một thân xác giới hạn bởi giới tính được tạo dựng giăng mở trước vô biên để có thể đón nhận Thiên Chúa (capax Dei). Đàng sau xác thịt yếu đuối nhưng sinh động kia ẩn tàng một mầu nhiệm là con người, nhân vị. Con người là mầu nhiệm, không ai có thể “chiếm hữu” được ngoại trừ Đấng Tạo Dựng. Trình thuật Thánh Kinh đã khẳng định điều ấy. Vào lúc tạo dựng người đàn bà, Ađam hoàn toàn không ý thức, ông rơi vào một giấc ngủ sâu khi Thiên Chúa rút chiếc xương sườn của ông ra và tạo thành người đàn bà, tha nhân phối ngẫu của ông. Ông không hiện diện khi Chúa tạo dựng người đàn bà là bằng chứng dù thế nào ông cũng không thể “sở hữu” nàng. Lí do đầu tiên bởi đó dị biệt tính dục là khôn dò hệ tại ở sự nhân vị tự thân là mầu nhiệm.

Sự khôn dò của dị biệt tính dục còn có gốc rễ sâu xa hơn nằm ở nơi mối quan hệ giữa hai nhân vị khác giới này. Người đàn bà đứng, trước người đàn ông như là một “tha nhân rất khác lạ” và người đàn ông đứng trước người đàn bà cũng như thế. Khác lạ tới mức, mỗi người hiện hữu trước người kia như là “một lục địa bí ẩn”. Một đàng tha nhân khiến ta e ngại đến e sợ vì có vẻ huyền bí khác với ta, đàng khác khiến ta quan tâm, tò mò, bị lôi cuốn đến độ muốn chiếm hữu và yêu mến vì chính sự khác biệt huyền bí ấy. Dị biệt tính dục khôn dò như thế đã được Thánh Kinh dùng như ẩn dụ chỉ quan hệ của Thiên Chúa với con người.

Sau cùng, dị biệt tính dục không thể diễn tả được và được phủ vây trong thinh lặng. Nhưng dị biệt lính dục mầu nhiệm không cản trở họ quan hệ, đúng hơn có vẻ như nó còn kiến tạo nên quan hệ ấy, như thể mầu nhiệm nhân vị như là “tha nhân rất khác lạ” còn kích thích tìm kiếm tha nhân hơn nữa.

Ý nghĩa của hành vi phu thê

Cấu trúc hành vi thân mật của vợ chồng xem ra bao gồm hết cả mọi yếu tố ghi dấu sự dị biệt tính dục. Trong hành vi vợ chồng vốn có tính bổ túc vừa tương hỗ vừa giao thoa, hai người giới tính khác biệt nhau – một nam một nữ – với thân xác và nhờ thân xác có phân giới của họ, mà họ gặp lại được mình trên cơ sở cùng một bản tính nhân loại trong tình yêu thương phu thê hiệp nhất. Người phụ nữ được phú ban cho người đàn ông nhân danh Chúa, là chứng tá của sự khác biệt giới tính và là “Em” một đối tác đến trước “Tôi” và mạc khải cái bản ngã đàn ông ấy cho “Tôi”. Ngược lại, người đàn ông với sáng kiến và tặng phẩm tính dục của mình, xác nhận người nữ trong ơn gọi nữ giới của nàng. Tuy nhiên, cho dù vợ chồng kết hợp thật thâm sâu, họ vẫn còn và mãi là một mầu nhiệm khôn dò đối với nhau.

Cấu trúc hữu thể của hành vi vợ chồng không chỉ giới hạn trong ý nghĩa ‘kết hợp’ (unitive) nhưng còn mở ra với ý nghĩa ‘truyền sinh’ (procreative). Chính người cha – cùng với người mẹ – ghi dấu giới tính cho đứa con sắp chào đời. Sự khác biệt không cân đối giữa hai giới tính nam-nữ đã chừa một không gian kết cấu ngay trong lòng sự kết hợp thâm sâu của họ. Sự trao hiến hôn phối trở thành nguồn gốc của tặng phẩm sự sống được lưu truyền. Như thế, hành vi vợ chồng là bản lề dựa trên đó hai con người khác giới gặp gỡ nhau.

Như thế, ta thấy hành vi vợ chồng rất là quan trọng và cơ bản. Nó là nền tảng cho hai sự dị biệt, và từ đó, cho cả đôi bạn, gia đình, xã hội, và toàn thể nhân loại. Hành vi vợ chồng là nền tảng thiết yếu bảo đảm cho người nam và người nữ kết hợp trong hôn phối nên một xương một thịt, tiếp tục phản chiếu hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei).

Bài 3 – Khám phá lại thân xác

Cái nhìn về vẻ đẹp của thân xác biểu lộ một chiều sâu vô cùng diệu vợi hơn nhiều. Đức Gioan-Phaolô II, được mệnh danh là nhà cách mạng tính dục làm đảo lại cuộc “cách mạng tình dục” thế kỷ vừa qua, đổi hướng qui thân xác con người về Nguồn cội và Cùng đích của nó. Ngài nói: “Thân xác và chỉ có thân xác, mới có khả năng làm cho những gì là vô hình, thiêng liêng và thần linh trở thành hữu hình. Thân xác được tạo dựng để chuyển giao vào thực tại hữu hình của thế giới, mầu nhiệm vô hình được ẩn giấu tự muôn thuở nơi Thiên Chúa, và như thế nó là một dấu chỉ của mầu nhiệm ấy”[1].
Thiên Chúa đã muốn làm cho Mầu nhiệm của Ngài trở nên thấy được đối với chúng ta, nên Ngài đã ghi dấu nó vào trong thân xác chúng ta bằng cách tạo dựng chúng ta có nam có nữ theo hình ảnh của Ngài (St l, 27). Nhiệm vụ của hình ảnh này là phản chiếu Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là “sự hiệp thông của các Ngôi vị thần linh khôn dò”[2]. Bởi thế, Đức Giáo hoàng mới kết luận rằng “con người trở thành “hình ảnh và họa ảnh” của Thiên Chúa không chỉ bởi nhân tính của mình nhưng còn nhờ sự hiệp thông các ngôi vị giữa người nam và người nữ ngay từ thuở ban đầu”. Và ngài còn nói thêm: “Ngay từ thuở ban đầu Thiên Chúa đã tuôn đổ phúc lành của phong nhiêu liên hệ tới sự sinh sản trên tất cả những điều đó” (x. St l, 28)[3].

Từ các chương đầu của sách Sáng thế và suy tư thần học về thân xác của đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II cho thấy:

Thân xác con người có tính biểu tượng

– Từ kinh nghiệm đơn độc nguyên thủy, con người nhận thấy mình vừa là thành phần của thế giới tạo thành này vừa vượt lên trên thế giới. Như muôn loài, con người có một thân xác, con người là “xác đất vật hèn”. Nhưng thân xác con người còn có cái gì đó trong ta còn hơn thân xác vật hèn này. Con người là một hữu thể hợp nhất, kết hợp cái hữu hình và cái vô hình. Hai chiều kích thấy được và không thấy được này tồn tại và tạo nên một nhân vị. Thân xác con người là vật mang vác cái vô hình.

Đó chính là vai trò của một biểu tượng, nghĩa là: làm cho cái vô hình hiện diện, trở nên hữu hình. Biểu tượng kết hợp thế giới hữu hình và thế giới vô hình lại thành một thực thể duy nhất.

Nói thân xác con người có tính biểu tượng tức là nói nó có đặc tính đưa trả về thế giới bên kia thân xác. Thân xác thì hữu hình và khía cạnh thể lí và vật chất của nó có một ý nghĩa và một nội dung chắc chắn nào đó. Thân xác vật lí hữu hình của con người hướng đến bờ bến thiêng liêng và vô hình bên kia của nhân vị.

Khi ta nghĩ đến một người bạn, ta không chỉ nghĩ đến thân xác người bạn ấy, mà nghĩ đến chính người ấy, đến cá tính người ấy, đến khả năng trí tuệ tinh thần của người ấy,… Nói cách khác, ta nghĩ đến thực tại thiêng liêng và vô hình của người ấy.

Linh hồn là chiều kích sâu xa nhất của con người, là cái nguyên lí thiêng liêng của con người. Nó là cội nguồn của sự thống nhất hữu thể nơi ta. Nói thân xác con người có tính biểu tượng, có nghĩa là nói có một nguyên lí sự sống trong ngã vị của ta không thấy được Thân xác thì ở trong thời gian và không gian, linh hồn thì ở trong vĩnh cửu. Chúng ta sống trong cả hai thế giới này. Đó là nét đặc thù của riêng chúng ta xét như là con người.

– Ađam không thấy có ai trong vô số loài trong tạo thành của Chúa mà thân xác giống như của mình. Ông không thể tạo lập được giao tiếp xã hội với chúng, mà chỉ có Eva. Cái khác biệt này là một cách khác nữa cho Ađam kinh nghiệm bản tính biểu tượng của xác thân con người. Thân xác các loài vật cũng là thân xác, nhưng chúng không thể là biểu tượng như thân xác của con người vốn làm hiện diện toàn thể ngã vị, cả phần hữu hình lẫn vô hình.

Thân xác có “ý nghĩa hợp hôn”

Ngay khi Ađam nhìn thấy Eva, ông hiểu có cái gì khác biệt ở đây. Một thân xác con người khác đang có đó sẵn sàng thiết lập cùng ông một mối quan hệ thân mật. Nàng là một bổ túc cho ông. Điều đó có nghĩa là họ có thể trở nên “một”.

Thân xác đàn ông và thân xác đàn bà khác biệt nhau. Đàn ông thì cường tráng, có sức vóc mạnh mẽ hơn. Cơ thể phụ nữ thì mỏng manh, mềm yếu hơn. Họ cũng khác biệt về tính dục. Cơ quan sinh dục của đàn ông thì ở ngoài, trong khi của phụ nữ thì ở trong. Chúng được tạo dựng để dành cho nhau. Đàn ông đi vào trong cơ thể của đàn bà, đàn bà thì tiếp nhận ông. Họ nên “một xương một thịt”. Khi nói thân xác con người có tính hợp hôn, đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô muốn nói rằng chúng được tạo dựng nên cho tình yêu, để sống tương giao. Đó là một hệ luận của bản tính biểu tượng của thân xác con người. Đàn ông và đàn bà hấp dẫn lẫn nhau. Có hấp dẫn thể xác bên ngoài mà cũng có hấp dẫn tinh thần từ bên trong. Họ kết hôn và hợp hoan nên một. Hành động ấy vừa thuộc thể xác vừa thuộc tinh thần, bởi thân xác con người có tính biểu tượng.
Trong tình trạng trần truồng của mình, người đàn ông và người phụ nữ đầu tiên đã khám phá ra điều mà Đức Giáo hoàng gọi là “ý nghĩa hợp hôn của thân xác”. Tình yêu hôn nhân là tình yêu hiến thân trọn vẹn. Bởi thế, ý nghĩa hợp hôn của thân xác là “khả năng diễn tả tình yêu: một tình yêu trong đó con người trở thành tặng phẩm ngôi vị và – nhờ tặng phẩm này – con người thực hiện chính ý nghĩa của hữu thể và hiện hữu của mình”[4]. Sự khác biệt giới tính tỏ lộ một kế hoạch không thể lầm lẫn của Thiên Chúa trong đó thân xác của người nam và người nữ có ý nghĩa là tặng phẩm dành cho nhau. Nhưng không chỉ có thế, việc họ dâng hiến cho nhau, theo tiến trình bình thường tự nhiên, sẽ dẫn đến một “kẻ thứ ba”.

Thân xác con người có tự do nhưng trong tình trạng yếu đuối vì sa ngã

Trước khi phạm tội, thân xác con người hay nhân vị vốn tự do, nghĩa là không bị nô lệ cho tội lỗi cùng những dục vọng của nó. Tự do ấy của thân xác là sự tự do của tặng phẩm dành trao hiến cho nhau, như đã nói trên đây, và là nền tảng cần thiết để yêu thương như Thiên Chúa yêu thương. Không có tự do, người nam và người nữ không thể trao ban cũng không thể đón nhận tình yêu.

Thế nhưng, thân xác của con người đã bị tội lỗi làm ảnh hưởng. Thân xác không là nguyên nhân của tội. Nhưng vì chúng ta là hữu thể thống nhất của hồn và xác, và tội lỗi xuất phát từ sự lạm dụng tự do vốn thuộc lãnh vực tâm linh, nên thân xác bị ảnh hưởng.
Hậu quả đầu tiên của tội nguyên tổ là cái chết. Thiên Chúa không dựng nên chúng ta để chết. Sự chết không có ý nghĩa gì cả. Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Ngài muốn chúng ta được sống, và sống viên mãn. Như sách Khôn Ngoan đã viết: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu” (Kn 1, 13-14). Một hậu quả khác của tội nguyên tổ là dục tình dâm loạn. Một người đàn ông có thể đem lòng thèm muốn một người đàn bà. Người ấy có thể chỉ xem người đàn bà như một món đồ chơi để thỏa khoái lạc dục vọng trong chốc lát, rồi bỏ. Có thể người ấy nhìn một người phụ nữ chỉ ở vẻ đẹp thể chất với ánh mắt nhục cảm, mà không chạm tới ngã vị vốn vô hình của một chủ thể.

Nhưng thân xác con ngươi đã được Đức Kitô cứu chuộc

Nhưng tất cả không bị đánh mất. Đức Kitô, nhờ cái chết và sự phục sinh của Người, khôi phục lại cho chúng ta ý nghĩa của cuộc sống và thân xác con người. Thân xác Người đã bị đóng đinh. Bởi cái chết thể lí của Người, thân xác chúng ta được “phục hồi”. Thân mình Người bị ngọn giáo đâm thấu tim, từ đó máu và nước tuôn trào thành “nguồn mạch cho đời sống bí tích trong Hội thánh”. Sau phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và cho họ chạm đến thân thể Người. Các Tông đồ gặp gỡ Đấng Phục sinh, còn Thánh Tôm thì được chạm ngón tay vào cạnh sườn Người. Kinh nghiệm thể lí đó đưa ngài đến đức tin.

Thật ra, sau cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, cuộc sống của chúng ta trở nên còn tốt hơn cả lúc nguyên tổ chưa phạm tội. Từ nay, Thiên Chúa đã bước vào lịch sử. Chúa Cha đã sai Con mình đến trần gian. Thiên Chúa siêu việt và vô hình đã trở nên hữu hình. Hơn nữa, vì Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể, giờ đây ta có thể sờ chạm, nếm hưởng, cảm nghe được tiếng Ngài. Thật tuyệt diệu đến không thể tin được! Tội lỗi của chúng ta được tẩy sạch, cuộc sống của chúng ta được khôi phục lại và chúng ta được nâng lên sống một đời sống mới với Đức Kitô.

Kết

Thân xác chúng ta và chính chúng ta được tạo dựng để yêu thương, chứ không để phục lụy dục vọng thấp hèn. Như thế, chúng ta khám phá ra ý nghĩa sâu thẳm rằng thân xác là để tương giao hơn là để cho khoái lạc tính dục. Tính dục chỉ quan trọng trong mức độ khi nó phục vụ cho sự tương giao.

Bài 4 – Độc thân như một đề nghị từ Tin Mừng

Đọc 1Cr 7, 32-38

  1. Chúng ta sẽ suy tư về đề tài liên hệ đến chúng ta rất sâu xa và quyết liệt: độc thân. Chúng ta sẽ lần lượt nói về sự độc thân như một lời đề nghị từ Tin Mừng và rồi độc thân như một sự dấn thân sống chức linh mục.

Chúng ta muốn gạn lấy những điểm tích cực và phong phú trong kế hoạch của Thiên Chúa Cha và hiểu được tầm quan trọng của linh đạo của sứ vụ linh mục thừa tác.
Chúng ta có một Tôn sư, hơn tất cả mọi người, biết những gì ở trong tâm hồn con người, và, biết điều gì thích hợp nhất cho sứ vụ chân thực và đem lại hoa quả tốt nhất cho chúng ta, là những mục tử được ủy thác bời vị Mục Tử tối cao.

Một đặc sủng biệt lệ

  1. Độc thân tự nguyện và hôn nhân cả hai đều là những hồng ân tốt đẹp và đáng quí về mặt thiêng liêng. Thánh Phaolô nói: “Mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, người thế này kẻ thế khác” (1Cr 7, 7).

Độc thân bởi tự do chọn lựa vì Tin Mừng là một đặc sủng (chàrisma), nghĩa là một ơn của Chúa ban cho cá nhân nhằm lợi ích của cộng đồng. Độc thân để bớt bận tâm lo lắng việc đời chỉ chuyên tâm cho việc Nước Trời: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tin cách làm đẹp lòng Người” (1 Cr 7, 32); và không cảm thấy bị “giằng co” (1 Cr 7, 34). Nhưng về cơ bản độc thân nhằm tới cùng đích là “Nước Trời” và xác định hiệu quả của Nước Trời hơn giữa những bấp bênh và mâu thuẫn của thế gian.
Dù đặc sủng nào cũng là ơn Chúa ban đáng quí trọng, nhưng theo thánh Phaolô chọn lựa sống độc thân về khách quan vẫn hơn (có lẽ vì thời Cánh Chung đang đến gần): “Ai cưới người trinh nữ của mình, thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì làm một việc tốt hơn” (1 Cr 7, 38) và ngài còn nói: “Tôi ước muốn mọi người đều như tôi” (1 Cr 7, 7).

  1. Đức Giêsu nói về chuyện độc thân (“hoạn”) có một sức diễn đạt kì lạ: “Có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12).

Người nói: “Không phải ai cũng hiểu được điều ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu” (Mt 19, 11). Chúa thích điều gì hơn ai cũng rõ, nhưng đồng thời cũng hiểu độc thân thánh hiến là một ơn hãn hữu, và trong mọi trường hợp nó không phổ biến như ơn gọi hôn nhân. Người cũng nói: “Ai hiểu được thì hiểu”. “Ai hiểu được”: có nghĩa đây không phải là một bậc sống (tình trạng- sống thường xuyên) dành cho hết mọi người. “Thì hiểu”: diễn tả một ước muốn sống động được biến điều có thể ấy thành một thực tế.

Vì Nước Trời

  1. “Vì Nước Trời”

“Nước Thiên Chúa” hay “Nước Trời”, theo ngôn ngữ của Phúc âm, là một thực tại vừa mang chiều kích cánh chung vừa mang chiều kích Giáo hội. Độc thân vì Nước Trời trước hết như là một lời tiên tri loan báo trước thế giới tương lai, thế giới của phục- sinh, khi “người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt 22, 30).

Tương tự như bí tích Thánh Thể và các bí tích khác, đời sống độc thân khiết tịnh hoàn hảo bởi tự do chọn lựa là một sự hiện diện của Nước Thiên Chúa trong lịch sử. Đó là một lời loan báo và là hoa quả đầu mùa của thế giới vĩnh cửu của Thiên Chúa mà mọi người khao khát. Về mặt này, ta có thể nói rằng độc thân khiết tịnh còn có một bản tính bí tích nào đó.

Nó vừa ám chỉ vừa hiện thực hóa thực tại cánh chung, và như thế, chính bậc sống ấy là một thứ bí tích, không cần có thêm một bí tích nào khác để xác định và thánh hiến nó.
Nhưng nó không thiếu mầu nhiệm sự sống phục sinh vốn đã có mặt rồi ở thế giới này cũng như không thiếu chiều kích giáo hội. “Vì Nước Trời” cũng có nghĩa là: nhằm đến việc thiết lập và phát triển Nước Thiên Chúa ở dưới thế này và vào lúc này, trong thực tại Hội Thánh (là Nước Thiên Chúa “iam praesens in mysterio”, như Công Đồng Vatican II nói).

Lịch sử Giáo hội xác nhận điều ấy cách rõ ràng: chỉ cần nghĩ tới sức sống Tông đồ vô cùng lớn và tình yêu đã được tuôn đổ vào Dân Chúa dọc dài các thế kỷ nhờ đặc sủng đời sống dâng hiến là đủ thấy rõ.

Để cứu vớt đời sống tinh dục

  1. “Chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” đời sống độc thân dâng hiến, vốn đã được Hội Thánh đón nhận và tôn vinh, đối với toàn thể thế giới cổ đại là một điều hoàn toàn mới mẻ, và một cách nào đó, còn là một “gương xấu”. Độc thân khiết tịnh là một dấu chỉ gây kinh ngạc mạnh mẽ cho nhân loại, như một điều gì đó bất ngờ chấn động thế giới khi ấy vốn đã già nua, và cho ta hiểu rằng Thiên Chúa nay đã đến ở giữa chúng ta (Emmanuel) và Nước của Ngài đã bén rễ vào trong thế gian.

Dưới ánh sáng của nó, ta thấy đời sống tính dục và hôn nhân được cứu vớt và được nâng cao đến một trật tự mới được khai sinh từ cuộc Khổ nạn của Đức Kitô.

Hơn bao giờ hết, ta cần cấp thời và nhiệt thành giới thiệu nhân tố “cách mạng” này của Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho thời đại ngày nay, để tái lập cân bằng cho một nền văn hóa vốn về mặt này đã rất suy đồi.

Nền văn hóa thời đại hôm nay phổ biến tư tưởng cho rằng chuyện sinh hoạt tình dục của người ta là “tuyệt đối”, không thể bị khống chế bởi một lề luật hay cứu cánh nào; cho rằng sinh hoạt tình dục không có lí do tồn tại nào khác ngoài chính nó; rằng tính dục giải thích mọi động thái của con người và nó không cần được khai sáng bởi bất cứ cái gì bên ngoài nó. Tư tưởng giả trá sai lạc đó dẫn đến những hệ lụy bi đát như: quan hệ nam – nữ trở nên tùy tiện, không mục đích, không ánh sáng; sau cái gọi là cuộc “giải phóng tình dục”, hoạt động tính dục (sự “làm tình”) chỉ đưa đến đau buồn, hoang mang, xa lánh nhau, như bị rơi xuống vũng lầy của vô nghĩa; định chế hôn nhân, với những luật lệ qui tắc và cứu cánh, cuối cùng bị xem như một điều gì cổ lỗ, lỗi thời.

Điều đầu tiên nền “văn hóa” này cần được thương cứu vớt là khơi dậy lòng khát mong sự thật. Kitô giáo đáp ứng bằng đề nghị sống trinh khiết hoàn toàn và mãi mãi như một lí tưởng khả thi và đáng mong ước.

Chúng ta cần hiểu và giúp người khác hiểu rằng quan hệ tính dục có bản tính là “tương đối”. Nó là tương đối so với tình yêu, vì nó phải chỉ là hệ quả và biểu lộ của tình yêu. Nó tương đối so với sự sống, vì nó phải mở ngỏ cho sự sống. Bởi vì tình yêu – sự sống mới là cứu cánh. Nó tương đối, trong chiều sâu bản thể, so với mầu nhiệm cội nguồn của các sự vật hiện hữu, nghĩa là mầu nhiệm hôn phối “Đức Kitô toàn thể” (“Christus totus”), thực tại mà nó là hình ảnh sống động.

Thế nên, đời dâng hiến trinh khiết Kitô giáo, như một lối diễn tả tình yêu khác và không kém chân thực; như một nguyên lí lan tỏa sự sống thần linh khác và không kém hiệu quả; như một “linh ảnh” khác và trực tiếp hơn của “tiệc cưới vĩnh cửu”, ban cho mối quan hệ nam-nữ một kích thước đúng đắn; là một kích thước cao sang, nhưng cũng cụ thể, và không chấp nhận những đổi thay có tính thế tục có thể làm nó suy thoái hay biến chất.

Nói cách đơn giản hơn: chỉ trong một Kitô giáo biết bảo vệ và tôn vinh đời sống trinh khiết, thì tính dục, đời sống phu thê, định chế hôn nhân mới được cứu thoát khỏi những ngu muội làm mục nát con người.

Vấn đề mục vụ thực sự không phải là hòa hợp những đòi hỏi của Tin Mừng với những đồi bại của một xã hội no nê và suy thoái, nhưng là biết cách trình bày lời khuyên của Tin Mừng trong toàn thể của nó và của sức mạnh kì diệu của nó.

Dấu hiệu sự hiện diện của Đức Vua

  1. Trong Thánh thi Giáng sinh thánh Ambrôsiô khẳng định rằng chính sự đồng trinh của Đức Maria là bảo chứng khách quan cho tính hiện thực của phép lạ Nhập Thể: “Talis decet partus Deum”[5][sinh hạ (đồng trinh) như thế phù hợp với Thiên Chúa].

Cũng như những cờ hiệu hoàng đế (thời Roma cổ đại) báo hiệu bên ngoài rằng quốc vương đã ngự giá trong cung điện ngài, cũng thế sự khiết trinh tinh tuyền của người Mẹ đã chỉ báo trong cung điện và nơi rất thánh cung lòng Người Đức Vua hoàn vũ đã thực sự ngụ cư: “Vexilla virtutum micant: versatur in templo Deus” [cờ hiệu trinh khiết lấp lánh đó: Thiên Chúa cư ngụ đây trong Đền thánh Người][6]

Hình ảnh này có thể mở ra với chiều kích Giáo hội học. Chỉ một Giáo hội còn giữ được cách minh nhiên bậc sống “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” ấy và những dấu hiệu của đặc sủng này của Tin Mừng không bao giờ bị che phủ hay bị coi thường, mới có thể cho những con người ngay thẳng và thiện chí thấy được Giáo hội như là hoa quả đầu mùa của một nhân loại mới, trong đó Đấng Emmanuel đang sống, Thiên Chúa đã bước vào lịch sử nhân loại.

Hướng đến sự độc thân linh mục

  1. “Đặc sủng của ơn gọi linh mục, vốn nhằm đến phụng tự và phục vụ việc tôn giáo và mục vụ của Dân Thiên Chúa, thì khác với đặc sủng độc thân của đời sống thánh hiến”.[7]

Vì thế sự liên hệ giữa hai đặc sủng – được thiết lập bởi Giáo luật về sự độc thân của các thừa tác viên thánh – không trực tiếp rõ ràng, đúng hơn, liên hệ chỉ ngoại tại và thực tế. Nhưng vấn đề cũng đáng cho ta xem xét sâu xa hơn.

Hẳn là Giáo hội đã thiết lập mối liên kết giữa chức linh mục thừa tác và sự độc thân bằng một quyết định của mình; một quyết định có tính “lịch sử” và tích cực, nhưng hợp pháp và hợp lý.

Đó là một quyết định hợp pháp, bởi vì quyết định ấy được làm ở bên trong phạm vi năng quyền của Giáo hội muốn ổn định kỷ luật các sự kiện về Giáo hội, và không làm thiệt hại quyền lợi của ai cả. Về vấn đề này không bao giờ được quên rằng nhận một thừa tác vụ không nhằm để phục vụ quyền lợi cho một cá nhân: mọi thừa tác vụ là một trách vụ được giáo quyền hợp pháp trao phó cách tự do, không vì hợp với năng khiếu hay khuynh hướng của các cá nhân, mà đúng hơn vì ích lợi hơn của cộng đoàn.

Đó là một quyết định hợp lí. Để nhờ đến một cơ chế pháp luật bảo đảm cho “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” vì bậc sống độc thân tiếp tục có một hiện diện sống động trong lịch sử và trong ý thức của Giáo hội. Về việc này, chúng ta cũng có một chứng cứ phản biện của các Giáo hội Cải Cách. Họ đã cắt đứt mối liên hệ thế tục giữa độc thân và trách nhiệm mục vụ; nhưng thực tế họ cũng đánh mất luôn “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” như một sự kiện thường trực có tổ chức trong cuộc sống của Giáo đoàn.

Những nhận định này là đúng đắn nhưng vẫn còn một chút hời hợt và không giúp chúng ta nắm bắt toàn thể sự thật và ý định mạch lạc thâm sâu của Thiên Chúa. Nếu muốn đi sâu vào vấn đề, chúng ta phải quay về chiêm ngắm Chúa Giêsu, linh mục duy nhất và viên mãn của Tân ước. Mọi sự hiểu biết đích thật về chức linh mục thừa tác và các vấn đề của nó chỉ có thể khởi đi từ Người.

Bài 5 – Độc thân như một dấn thân của đời linh mục

Đức Kitô Tân Lang

  1. Thắc mắc đầu tiên của chúng ta là: tại sao Đức Giêsu ở độc thân? Tại sao Người không kết hôn, dù đã đến tuổi trưởng thành lâu rồi và lại đang sống trong một xã hội người ta vốn không có tập tục sống độc thân?

Chúng ta không thể xem sự kiện này chỉ là chuyện ngẫu nhiên, không có nghĩa lí gì, hoặc xem vấn đề này là ngớ ngẩn và lố bịch. Trong cuộc sống của Đức Kitô không có chi tình cờ hay vô nghĩa. Với tất cả những gì Người làm và những sự kiện đã xảy ra trong đời Người, Người hoàn toàn là một “dấu lạ”; chúng ta phải đọc thấu đến tận cùng “dấu lạ” Đức Kitô này.

Đời độc thân của Đức Giêsu và của tiên tri Giêrêmia chắc chắn nhằm để diễn tả điều gì. Trong khi đối với Giêrêmia, độc thân của ông biểu trưng cho sự hoang tàn của Israel (cf. Gr 16,l), thì nơi Đức Giêsu đó là chứng cứ của một nhân loại không còn bị bỏ rơi và cô độc, nhưng trái lại được kêu gọi đi vào hiệp thông hôn phối với Đức Chúa.

Đức Giêsu rõ ràng sống độc thân, thực ra theo nghĩa tuyệt đối Người là một “Tân Lang”: Người không kết hôn vì đã kết hôn rồi.

Tân ước hay nhắc đi nhắc lại chủ đề “Đức Kitô Tân Lang” (hay “Chàng rể”). Phúc âm Nhất Lãm nói đến qua các dụ ngôn tiệc cưới của con nhà vua (cf. Mt 22,2), các cô trinh nữ phù dâu trong đám cưới (cf. Mt 25, l), ông chủ đi ăn cưới về lúc giữa đêm (cf. Lc 12,38). Cũng còn phải kể đến những lời nói từ miệng Chúa Giêsu mà cả ba Phúc âm Nhất Lãm đều nói tới, trong đó Chúa Giêsu được trình bày như là “Chàng rể” và các môn đệ như là “những khách được mời dự tiệc cưới” (cf. Mt 9, 15; Mc 2, 19; Lc 5, 34). Phúc âm thứ tư nói Gioan Tẩy Giả xác nhận Đức Giêsu như là chàng rể “cưới cô dâu” (cf. Ga 3,29).

Sách Khải Huyền mô tả việc thiết lập Vương Quốc Thiên Chúa như “tiệc cưới của “con Chiên”, mà cô dâu đã trang điểm sẵn sàng; “nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (cf Kh 19, 7-8). Ở đây người ta cũng nói đến, như trong Phúc âm Nhất Lãm, “các khách mời dự tiệc” (cf. Kh 19,9).

Thánh Phaolô cũng sử dụng hình ảnh phu thê chỉ tương quan của Đức Kitô với Hội Thánh, áp dụng hình ảnh “hiền thê” cho cộng đoàn Kitô, và dưới ánh sáng của hình ảnh này ngài đi sâu vào bản chất của mối tương quan kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh (cf. Ep 5,25-32).

Như ta đã thấy, Giáo hội sơ khai đã dùng đề tài “hôn phối” của Đức Kitô như là cơ bản để hiểu biết cho đầy đủ mầu nhiệm cứu độ, và chúng ta cũng có thể lại thấy nó ở trong những bối cảnh khác của cộng đoàn Giáo hội nguyên thủy.

  1. Thánh Phaolô nhìn thấy “bản chất thần học” của hôn nhân Kitô giáo nơi “mầu nhiệm” hôn phối của Đức Kitô và Hội Thánh (cf. Ep 5,32), nghĩa là biểu trưng và sự hiện diện của ân sủng thực tại hôn phối tối thượng kết hợp Đức Kitô và Hội Thánh thành “một xương một thịt”. Từ phân tích này của Thư Êphêsô cho ta hiểu ý nghĩa của sự độc thân của Đức Kitô.

Đức Kitô phải độc thân trong cuộc đời trần gian vì Người không thể là “dấu chỉ” của một thực tại lại cũng là chính thực tại tối thượng được chỉ đến. Nếu dây hôn phối giữa hai người đã được rửa tội là bí tích (nghĩa là một dấu chỉ hữu hiệu) của sự hiến thân của Đức Kitô kết hợp với nhân loại mới, thì Đức Kitô Đấng tự hiến trong hôn phối với nhân loại ấy dĩ nhiên không thể mặc lấy một hình thái bí tích nào nữa. Chính vì hôn nhân của loài người có lí do hiện hữu từ Đức Kitô, vốn là thực tại nền tảng và là nguyên lí, nên Người không thể có một lí do hiện hữu từ đâu khác (tức là từ hôn nhân loài người). Nếu, có thể nói là, thực tại hôn nhân đã bước vào trong mầu nhiệm Đức Kitô và trong Đức Kitô hôn nhân loài người được biến đổi trở thành dấu chỉ mang sự sống thần linh, thì người ta không thể nghĩ Đấng tự thân là toàn thể thực tại hôn phối lại có thể đi vào phận số hôn nhân và được nó xác định.

Ý nghĩa hôn phối của Đức Kitô

  1. Câu hỏi thứ hai được đặt ra là: Đức Kitô là Hôn Phu của Hội Thánh được hiểu như thế nào?

Cũng từ đoạn Thư gửi tín hữu Êphêsô trên ta tin ra câu trả lời.

Là Hôn Phu có nghĩa là Đức Kitô là “Đầu” của Hội Thánh, và Hội Thánh là thân mình của Người và tùng phục Người (cf. Ep 5, 23.24). Nghĩa là Đức Kitô đã cứu Nàng khỏi thân phận hư hoại của thế gian, đã ban cho Nàng Danh của Người, và như thế là đã cứu chuộc Nàng: “Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh” (Ep 5, 23). Nghĩa là Người đã yêu mến và vẫn yêu mến Hội Thánh, đến độ hiến thân mình vì Hội Thánh (5,25). Nghĩa là, Người tái sinh Hội Thánh và thanh tẩy Hội Thánh không ngừng nhờ các bí tích và lời Chúa (5,26). Nghĩa là, Người kiên trì không mệt mỏi trong việc thánh hóa Hội Thánh để làm cho Hội Thánh “không tì ố, không vết nhăn, nên tinh tuyền, thánh thiện” (5,27). Nghĩa là Người “nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh” (5,30) như mục tử chăm sóc đàn chiên mình.

Như chúng ta thấy, bản tính hôn phu của Đức Kitô gợi ra tất cả những chức năng như “hướng dẫn”, “dạy dỗ”, “thánh hóa”, “chăn dắt”. Đấng Phục Sinh – tự giới thiệu mình như Đấng Chúa Cha sai đến trần gian, là Tông đồ hoàn hảo nhất – đã chuyển trao những nhiệm vụ ấy cho các Tông đồ, tức là những kẻ Người sai đi: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21).

Đó là các nhiệm vụ, theo chứng cứ của Tin mừng Matthêu, Chúa Giêsu đã trao lại cho các kẻ “Người sai đi” trong lệnh truyền sau cùng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19.20). Đó cũng chính là các nhiệm vụ đã được ủy thác cho chức linh mục.

Linh mục, bí tích của Đức Kitô Hôn Phu

  1. Linh mục thừa tác làm Chúa Giêsu hiện diện giữa Dân Chúa và dược nhận biết qua những phận vụ vương đế, giảng dạy và phụng tự của Người. Vì thế chức linh mục thừa tác, nhờ bí tích truyền chức, về bản thể, tham dự vào đặc tính hôn phu của Đức Kitô.
    Bởi thế, linh mục là một thứ “bí tích” của Đức Kitô Hôn Phu, trong hành động hiến dâng cho Hội Thánh với nhiều vẻ khác nhau. Linh mục được kêu gọi chia sẻ cùng tình yêu phu thê (hay đức ái mục tử) đầy ắp trong Trái tim Chúa Giêsu, và từ đó tràn ra trên “dân tộc thánh thiện”.

Bởi hiệp thông trực tiếp với bản tính hôn phu của Đấng Cứu Chuộc, bản thân linh mục thừa tác – như Người, với Người và trong Người – cũng có “mầu nhiệm hôn phối”, là thực tại mà hôn nhân của một người nam và một người nữ là hình ảnh; ngay cả linh mục cũng “kết hôn” (Ga 3,29).

  1. Kết luận này được xác nhận trong Giáo luật: tất cả các Giáo hội, dù Tây phương hay Đông phương, đã bảo tồn một chiều kích bí tích thật sự, đều cùng nhau không nhìn nhận thừa tác viên thánh chức (phó tế, linh mục, giám mục) có thể kí kết hôn nhân.
    Luật chung biểu lộ trước hết ý muốn bảo đảm, bằng qui định pháp lí, “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” luôn tồn tại trong Kitô giáo; luật ấy hàm ẩn một nguyên tắc “lôgich bí tích”: chuyển tiếp từ “dấu chỉ” đến “thực tại” thì không phi lí, nhưng giả thiết chuyển từ cái đã là “thực tại” quay ngược về “dấu chỉ” thì không hợp lí.

Nguyên tắc này giúp ta hiểu về mặt thực hành, có hiệu lực ở một vài nơi trong Giáo hội, kêu gọi cả những người kết hôn đảm nhận chức thánh. Trong Giáo hội Đông phương, người kết hôn bình thường có thể nhận chức phó tế và linh mục (nhưng không nhận chức giám mục), trong Giáo hội la-linh điều đó có thể xảy ra đối với chức phó tế (còn đối với chức linh mục người đã kết hôn chỉ nhận trong một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt).
6. Giờ đây, có lẽ đối chiếu bậc độc thân như lời đề nghị lừ Tin Mừng và sự độc thân như một dấn thân của đời linh mục sẽ ích lợi cho chúng ta.

Lối sống thứ nhất, vượt qua nẻo đường thông thường của hôn nhân, là một cách thức sống đặc biệt mầu nhiệm tình yêu mà Hội Thánh nuôi dưỡng vì Chúa của mình. Còn lối sống thứ hai được hình thành như là sự tham dự vào phận vụ hôn phu của Đức Kitô đối với cộng đoàn Kitô hữu, và được biện chính và nâng đỡ bởi tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh.

Ở bậc độc thân theo Tin Mừng ta hướng tới đồng nhất mình hoàn toàn với Hội Thánh Hiền Thê yêu mến, và hướng tới chia sẻ với Đấng cứu chuộc mình cuộc Khổ nạn độc đáo của Người.

Ở bậc độc thân của người Tông đồ, có thể nói, người ta bước vào trái tim của Chúa Giêsu để tạo lại cái đà sôi nổi của đấng Hôn Phu yêu mến và hiến mình cho “dân tộc thánh thiện”.

Cả hai bậc độc thân không phải là những tùy chọn loại trừ nhau. Ngược lại, cái thứ hai giả thiết có cái thứ nhất. Người ta không thể đảm lấy tình yêu mục tử của Đức Kitô nếu như người ta chưa muốn gắn bó không dè dặt với Chúa và nên một với Người, như Hội Thánh Hiền Thê là “một xương một thịt” với Hôn Phu mình.

Những điều kiện của sự trung thành

  1. Trong viễn cảnh đó, ta có thể hiểu được rõ ràng những điều kiện tiên quyết và thiết yếu để vẫn mãi trung thành với “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô”, nhất là từ phía các thừa tác viên chức thánh. Những điều kiện ấy phát sinh từ một động thái mà chúng ta có thể gọi là “tâm lí học siêu nhiên”.

Điều kiện thứ nhất là làm sao để biết Chúa Giêsu rõ ràng, chắc chắn và không ngừng, làm sao để cho tình yêu cá nhân của tôi dành cho Người luôn sống động và tăng trưởng. Khởi đầu của bước đường dấn thân chúng ta không từ bỏ nhiều cho bằng là yêu mến hay phải lòng. Một sự từ bỏ xét như chỉ là hi sinh mà thôi không là lí do đủ mạnh để có thể kiên trì đến cùng. Chỉ khỉ ta tích cực khám phá ra giá trị của người ta yêu thương mới có thể rung thành với người ấy đến cùng.

Điều kiện thứ hai là biết nhận ra vẻ đẹp của Hội Thánh (dĩ nhiên với con mắt đức tin, cũng chính là cái nhìn của Đức Kitô trở thành của chúng ta). Không một tình yêu phu thê nào có thể được xác định trong con tim và trường tồn nếu người ta không nhận thấy được người phối ngẫu của mình đáng yêu và hấp dẫn.

Điều kiện thứ ba là quyết tâm muốn yêu mến (hay ít là cố gắng yêu thương mỗi ngày) con người với tâm hồn của Chúa Giêsu, Người nhìn con người như hình ảnh biến dạng của Chúa Cha và muốn phục hồi họ và cứu độ họ; Người muốn rằng chính những nét độc đáo của dung mạo người Con duy nhất và yêu dấu được tái tạo lại nơi họ, để Chúa Cha có thể nhận ra và đón nhận họ vào nhà Ngài.

  1. Đối với thế gian và lí trí không cởi mở để được ân sủng trên cao khai sáng thì độc thân như là “chọn lựa ưu tiên của Đức Kitô” như thế xem ra quá cao vời đối với tầm mức nhân bản và không thực tế. Người ta không tin một lí tưởng độc thân theo Tin Mừng và độc thân của người Tông đồ như thế có thể thực hiện được trong thế giới này.
    Thế nhưng bởi quyền năng của Thiên Chúa điều ấy đã được thực hiện. Đức Trinh Nữ Maria là mẫu gương hoàn hảo nhất cho mọi người chọn sống độc thân khiết tịnh vì Nước Trời. Mẹ là đại diện của tạo thành như hiền thê dâng hiến cho Đấng Tạo Hóa của mình. Còn mẫu mực bậc sống độc thân của người Tông đồ thì được thực hiện bởi Chúa Giêsu. Trong Chúa Giêsu đã có một trái tim con người có khả năng dâng hiến minh bạch và chắc chắn cho ơn cứu độ nhân loại và thánh hóa Giáo hội. Về phần các linh mục, điều quan trọng là các ngài dấn mình vào Đức Giêsu Kitô và kết hợp thâm sâu với Người trong tình yêu mục tử này.

Cuộc sống của Chúa Giêsu và của Đức trinh nữ Maria – và việc chúng ta kết nối sống động với các mẫu gương cao cả và hiệu quả này của lòng quảng đại – có thể được hiện tại hóa cho thế giới hôm nay, bởi “sự hiện diện của Đức Kitô” nơi “những người được Thiên Chúa ban cho” (cf. Mt 19, 11).

Bài 6 – Mẻ lưới rỗng và mẻ lưới đầy

Cần một lý tưởng

  1. Chúng ta để ý tới tâm trạng của 7 người môn đệ trong trình thuật Ga 21,1-11. Họ không còn thất vọng nhưng đã thấy vui mừng vì được gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh. Mỗi người đã lấy lại được niềm tin, cậy và sự thanh bình. Thế nhưng, họ vẫn còn loạng choạng chưa có được một định hướng và dự phóng nào trong tư thế như là của một Hội thánh.
  2. Các môn đệ này dù đã nghe Đấng phục sinh nói: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21), tức là đã có một “sứ vụ”, nhưng như đang ở trong đám mây mù dày đặc họ chưa thấy trong thực tế con đường phải đi. Chúng ta cũng đôi khi rơi vào tâm trạng này, mong chờ “những dấu chỉ” chỉ đến điều cần phải làm cụ thể. Khi gặp phải kinh nghiệm này ta cần cầu nguyện, xin Chúa cứu gỡ ta khỏi sự nóng vội mất kiên nhẫn, ngã lòng, cám dỗ buông mình cho tính bốc đồng, hay cứ ngần ngại mãi.

Sự hiệp thông Hội thánh là điều quan trọng

  1. Simon Phêrô nói: “Tôi đi đánh cá đây” (Ga 21, 3). Đó là một sáng kiến cá nhân chỉ liên hệ đến bản thân Simon, với lời nói đó ông không thi hành một quyền bính nào và không áp đặt quyền uy trên ai cả. Những người bạn kia đáp lại: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Trong khi không biết làm gì, họ chỉ theo sau và cùng tham gia với Simon. Kết quả của lối hành động tự do độc lập này là “họ không bắt được gì cả”. Họ là những người chuyên nghề thuyền chài, ở đây xem ra họ có vẻ hành động bộc phát và tài tử nhưng không có Chúa Giêsu ở cùng, họ không có một khởi nguyên qui tụ lại trong một mối hiệp thông duy nhất.

Chiếc lưới không rách

  1. “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” (Ga 21,6). Ở đây họ có Chúa Giêsu, Người truyền lệnh và họ làm theo, kết quả là: “họ không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá”. Cả Simôn Phêrô cũng thay đổi: “ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ” (Ga 21, 11). Simôn bây giờ không còn chỉ là một cá nhân tự mình hành động, mà là một Phêrô thủ lãnh hành động với quyền bính và quyết định thay mọi người. Ở đâu có Chúa Giêsu, ở đó có Hội Thánh cùng với các thừa tác viên với những trách nhiệm được giao phó; và ở đâu có Hội Thánh thì ở đó có sự phong nhiêu, nghĩa là sự sống triển nở dồi dào.
  2. “Lưới không bị rách” (Ga 21, 11): một sự may mắn chăng? Vì lẽ ra lưới vốn vô dụng ấy phải rách vì đầy cá như thế trong lần đánh bắt thứ hai nhọc nhằn đến kiệt sức sau một đêm.

Câu phúc âm ấy mang một ý nghĩa biểu tượng rõ ràng: cho dù sứ vụ được giao phó có lớn lao và không tương xứng với tầm vóc và sức lực nhỏ bé của mình, Hội Thánh vẫn cố gắng kiên trì đảm nhận, và sau cùng sẽ là khí cụ hữu hiệu mang ơn cứu độ cho con người.

Chúa Kitô hiện diện trong Hội Thánh

  1. “Chúa đó” (Ga 21, 7) người môn đệ Chúa yêu mến đã hứng khởi thốt lên như thế lập tức chạm tới Phêrô và lan đến những người khác. Họ không chỉ nhận ra Đức Giêsu mà còn nhận ra Người như là “Đức Chúa”, nghĩa là Đấng duy nhất mà họ phải vâng phục tuyệt đối và vô điều kiện.

Chúa Giêsu đứng đó, trên bờ hồ trước mắt họ, cả trong thời gian các ông thực hiện mẻ lưới thất bại cũng như trong lúc diễn ra mẻ cá phong nhiêu. Như đã thấy, trong mẻ lưới đầu tiên các ông thực hiện theo tư cách cá nhân, dựa trên sáng kiến riêng tư; còn trong mẻ lưới thứ hai, các vị đã vâng theo lời mời gọi của Đức Kitô. Trong việc thứ nhất, các ông chỉ là một nhóm người như mọi tập thể con người; trong công việc thứ hai họ là một cộng đoàn Giáo hội.

Một điều quan trọng nữa, đó là: trong công việc thứ nhất, khi không là Giáo hội họ không nhận ra sự thật Chúa Giêsu hiện diện (“họ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu”, c. 4); còn trong công trình thứ hai, khi đã là Hội Thánh Chúa các ngài nhận ra Người: “Chúa đó!”.

Bài 7 – Chỉ tình yêu của Đức Kitô thúc bách.

  1. Bữa ăn sáng trên bờ biển hồ Tibêriat của Chúa Giêsu Phục sinh với các môn đệ được Tác giả Phúc âm thứ tư mô tả với ám chỉ rõ ràng đến bữa tiệc Thánh Thể (Ga 21, 9-19).

Thức ăn ở đây là bánh và cá, giống như trong đoạn nói về dấu lạ bánh hóa ra nhiều của Phúc âm Gioan chương 6 dẫn vào bài giáo lí căn bản về đề tài “Bánh hằng sống” (Ga 6, 35) và “Thịt ban cho thế gian được sống” (Ga 5, 51). Phần thứ nhất của chương 21 này gợi cho ta suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa như là yếu tố căn bản làm nên Hội Thánh và sự thuộc về Hội Thánh là điều kiện cốt yếu để ta được phát sinh hoa quả dồi dào (phong nhiêu).

  1. Trên bờ biển Chúa Giêsu đang chờ các ngư phủ trở về với bữa ăn chuẩn bị sẵn: “các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” (Ga 21, 9). Nhưng Người muốn họ mang đến cho Người những gì họ kiếm được bằng sức của con người: “Đem ít cá mới bắt được tới đây” (Ga 21, 10); đó là cá bắt được từ sáng kiến của Người, và là ơn huệ bởi lòng nhân lành của Người.

Ta thấy ở đây có một qui luật trong mầu nhiệm Thánh Thể. Lễ vật trên đôi tay của chúng ta, làm hi lễ dâng lên Chúa, là bánh và rượu vật chất của chúng ta. Ơn ban khôn tả của Chúa có phần khởi đầu thiết yếu là từ những sản phẩm nghèo nàn của ruộng đất và lao công của con người mà chúng ta đem đặt dưới quyền năng biến đổi của Thánh Thần. Nói cách khác, hiến lễ mà chúng ta dâng lên cho Chúa Cha là “của ơn huệ Ngài ban cho chúng ta” (“de tuis donis ac datis”) do lòng nhân hậu của Ngài.

Tình yêu thống hối của Phêrô

  1. Toàn thể chương 21 của Phúc âm thứ tư trình bày khuôn mặt của Simon Phêrô. Vị Tông đồ tiêu biểu cho nhiều bộ mặt. Tiêu biểu cho một con người tội lỗi được tình yêu cứu vớt; qua ngài ta nhận ra bản tính của mọi hành động mục vụ trong Hội Thánh; tầm quan trọng của đoàn sủng và phận vụ ưu việt của Phêrô trong đời sống Hội Thánh.
    Trong đoạn đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô, với câu hỏi Người hỏi tới ba lần, có một sự ám chỉ rõ ràng và chua chát về ba lần Phêrô chối Thầy. Vị Tông đồ biết điều đó và cảm thấy đau đớn vô cùng: “Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” (Ga 21, 17).

Trong cái đêm chết chóc ấy Đức Giêsu đã ngoái nhìn Phêrô sau khi chối Thầy đã khiến ông khóc thảm thiết, trong niềm cay đắng. Hình phạt ấy chẳng bao lâu sẽ biến thành niềm vui: vui mừng vì thấy mình được tha thứ. Đó là niềm vui của kẻ tội lỗi nhận ra tội lỗi của con người không bao giờ mạnh hơn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Niềm vui khám phá ra rằng trong người Kitô hữu không có một lỗi tội nào, dù lớn đến đâu, mà không thể được tha thứ và xóa bỏ bởi tình yêu vì Chúa Giêsu.

Sứ vụ mục tử của Phêrô

  1. Phêrô được Đức Kitô đặt làm mục tử. Trong chương Mười cũng của Phúc âm thứ tư này, Đức Giêsu xác định và giải thích Người là “Mục tử nhân lành”, như thế Người tuyên bố mọi người trong Hội Thánh (từ người lớn nhất đến người nhỏ nhất) đều là con chiên của Người và phải cảm thấy mình thuộc về đàn chiên ấy. Nhưng ở đây đề tài được trình bày rộng hơn nữa về mầu nhiệm “tham dự vào sứ mạng mục tử”; nghĩa là về mầu nhiệm một con người, dù vẫn là con chiên như tất cả mọi người thuộc đàn chiên của Đức Kitô, vẫn tùng phục Người nhưng được đại diện Người, trở thành mục tử. Ở đây Đức Giêsu nói: “các chiên con của Thầy”, “các chiên của Thầy”; nhưng Người cũng nói: “hãy chăn dắt”. Đàn chiên luôn tuyệt đối thuộc về Chúa; nhưng Người gọi một số người trong “đàn” làm nhiệm vụ của mục tử.

Vai trò tối thượng của Phêrô

  1. Ta thấy cho tới nay Phêrô là hình ảnh tiêu biểu cho mọi tín hữu và mục tử. Những vẫn còn một điều quan trọng nữa, đó là: chỉ một mình Phêrô được Chúa nói: “hãy chăn dắt các chiên của Thầy”. Rõ ràng tác giả Phúc âm có ý nêu ra cho cộng đoàn Hội Thánh sứ vụ đặc biệt và độc nhất của Phêrô, là một sứ vụ nổi bật và đứng trên giữa sứ mạng tông đồ nói chung của Nhóm Mười Hai. Bởi thế mà Phêrô được Chúa hỏi: “Anh có yêu mến Thầy hơn những người này không?” (Ga 21, 15).
  2. Như ta thấy, từ Lời Chúa chúng ta một lần nữa được thúc đẩy tái khám phá dấu lạ về Hội Thánh. Hội Thánh khởi đầu từ việc người ta đi theo Đức Kitô. Lời Chúa kêu gọi Phêrô: “hãy theo Thầy”, cũng hướng tới mỗi người, những người không khép lòng mình lại trước lời mời gọi hấp dẫn của chân lí tuyệt đối và vẻ đẹp của vĩnh cửu. Nhưng trước hết, lời ấy hướng đến chúng ta, là những người được mời gọi thực thi sứ vụ của các Tông đồ. Chính vì Chúa Giêsu vẫn còn làm cho tâm hồn ta say mê và hấp dẫn, nên Hội Thánh, dù có như thế nào, cũng luôn được bền vững và tươi trẻ mãi.

Từ trái tim Chúa Cha đổ tràn lòng Thương Xót của Ngài xuống trên chúng ta. Mỗi ngày chúng ta hãy nài xin lòng Thương Xót ấy được chúng ta đón nhận vào thực tế cuộc sống và thúc bách chúng ta dấn thân làm việc và hiến dâng (theo lôgich mầu nhiệm sâu xa của Thánh Thể mà chúng ta cử hành hằng ngày) cho thế gian được sống.

Nguồn: gpbanmethuot.com

[1] GIOAN-PHAOLÔ II, Thần học về Thân xác; Tình yêu phàm nhân trong kế hoạch thần linh, bản dịch Việt ngữ, nxb Tôn giáo – 2016, 155-156.

[2] Ibid., 85.

[3] Ibid.

[4] Ibid.,125.

[5] SANT’AMBROGIO, Inno In Natali Domini.

[6] Ibid.

[7] Paolo IV, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, 15, 24/06/1967.

Read More
22Tháng Mười Một
2020

Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ

22/11/2020
Anmai
Chia sẻ, Chưa phân loại, Giáo dục
0

Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ

Gần đây, một nhóm người tự xưng là “Nhóm trừ quỷ Bảo Lộc” do một giáo dân đứng đầu đã tổ chức những cuộc trừ quỷ tại nhà riêng lôi kéo được rất nhiều người. Đây là nhóm tự phát và không đúng với giáo lý đức tin cũng như giáo luật của Giáo Hội nên Tòa giám mục Đà Lạt đã ra thông báo ngày 6.6.2020 khẳng định nhóm này “hoàn toàn bất hợp pháp theo giáo luật”. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta tìm hiểu về thực hành trừ quỷ hay trừ tà dưới nhãn quan và theo quy định của Giáo Hội.

Trừ quỷ trong Tân Ước

Trừ quỷ là hành động đuổi hay trục xuất ma quỷ hay thần dữ ra khỏi người, nơi chốn hay đồ vật được cho là bị quỷ ám hay bị quỷ quấy phá, hoặc có thể trở thành nạn nhân hay dụng cụ cho sự ma mảnh, ảo quyệt của quỷ.

Từ exorkizo (εξορκίζω: “thề, truyền lệnh, trừ quỷ”) được sử dụng trong bản dịch Bảy Mươi (Stk 24,3 = thề; I V 22,16 = thề), và trong Mt 26,63, “Ta bắt ngươi tuyên thệ nhân danh Thiên Chúa hằng sống …” Danh từ exorkistes (ἐξορκιστής)trong Cv 19,13, được áp dụng cho những người Do Thái đi đây đi đó tuyên thệ để trừ quỷ. Và như vậy, trừ quỷ bằng cách tuyên thệ là ý nghĩa đầu tiên của việc trừ quỷ. Lời tuyên thệ này nhân danh Thiên Chúa hay Đức Giêsu, và như vậy đó là một hành vi hay nghi thức tôn giáo.

Tin Mừng Marcô phác họa Đức Giêsu như là một người trừ quỷ rất nhiều lần. Thật vậy, chúng ta không biết có nhân vật nào vào thời cổ mà việc trừ quỷ lại quan trọng đến thế. Matthêô và Luca gợi ý rằng việc trừ quỷ có ý nghĩa để hiểu được Đức Giêsu (Mt 12,28-29 // Lc 11,20-21). Tuy nhiên, một trong những điều khó hiểu của Tin Mừng Gioan là không đề cập gì đến việc trừ quỷ, có lẽ vì chúng được cho là quá bình thường để bày tỏ vinh quang Ngài trước các … phép lạ là hiện tượng quyền năng hơn (Ga 2,11).

Quyền năng của Đức Giêsu trên ma quỷ là một trong những dấu hiệu Thiên Sai (Mt 12,23.28; Lc 11,20). Ngài trừ quỷ bằng ngón tay hay thần khí của Thiên Chúa chứ không phải là đồng bọn của ma quỷ như các đối thủ cáo buộc (Mt 12,24.27; Mc 3,22; Lc 11,15.19); Ngài không chỉ sử dụng quyền năng được ủy thác mà còn quyền năng cá nhân, trực tiếp và ra lệnh cho ma quỷ (Mc 9,24; cf. 1,25 etc.): “Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau” (Mt 8,16). Đôi khi Ngài trừ quỷ từ xa như trường hợp con gái của người phụ nữ Canaan (Mt 15,22 tt.; Mc 7,25). Đôi khi, thần dữ bị trục xuất được phép nói ra sự nhìn nhận nó về Đức Giêsu như là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24) và phàn nàn rằng Ngài đến để gây khó dễ cho chúng “trước thời gian”, nghĩa là trước khi chúng bị xử phạt (Mt 8,29 tt; Lc 8,28 tt.). Trong Luca 13,32, Đức Giêsu phân biệt giữa trừ quỷ và chữa lành bệnh tật.

Khi còn tại thế, Đức Kitô cũng ban cho các Tông đồ và môn đệ quyền trừ quỷ nhân danh Ngài (Mt 10,1 và 8; Mc 6,7; Lc 9,1; 10,17), và cũng hứa với những người tin một quyền lực như thế (Mc 16,17). Nhưng hiệu quả của quyền năng được ủy thác này là có điều kiện, như chúng ta thấy chính các tông đồ cũng không phải lúc nào cũng thành công khi trừ quỷ: vài loại quỷ chỉ có thể trừ bằng cách cầu nguyện và ăn chay (Mt 17,15.20; Mc 9,27-28; Lc 9,40). Nói cách khác, sự thành công của thực hành trừ quỷ của các Kitô hữu, nhân danh Đức Kitô, phải chịu những điều kiện chung dựa trên hiệu quả của lời cầu nguyện và quyền năng đoàn sủng. Thánh Phaolô (Cv 16,18; 19,12), và hẳn nhiên các tông đồ và những môn đệ khác đều thường xuyên sử dụng quyền trừ quỷ. Và Giáo Hội vẫn tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay.

Trừ quỷ trong Giáo Hội sơ thời

Dựa vào các tác giả sơ thời, ta biết rằng vào thế kỷ đầu tiên thì không chỉ hàng giáo sĩ mà cả giáo dân cũng có thể trừ quỷ nhờ quyền năng Thiên Chúa, và sự thành công của họ được các nhà hộ giáo cho rằng đó là lý chứng mạnh mẽ cho tính thần thiêng của Kitô giáo (Justin Martyr, First Apology 6; Dialogue with Trypho 30 và 85; Minutius Felix, Octavius 27; Origen, Against Celsus I.25; VII.4; VII.67; Tertullian, Apology 22, 23; etc.). Ở những thế kỷ đầu tiên này, không có phương tiện ma thuật hay mê tín nào được sử dụng, các chứng nhân nói rằng hình thức trừ quỷ chỉ là một lời tuyên thệ truyền cho ma quỷ nhân danh Thiên Chúa, và đặc biệt là Đức Kitô chịu đóng đinh.

Nhưng đôi khi vài hành động có tính biểu tượng được thêm vào lời, chẳng hạn như thổi hơi (insufflatio), hay đặt tay trên chủ thể hay làm dấu thánh giá. Thánh Justinô nói “quỷ bay đi khi các Kitô hữu chạm tay vào hay thổi hơi” (Second Apology 6), chừng như gặp phải ngọn lửa đốt như Thánh Cyrilô thành Giêrusalem nói thêm vào (Catechetical Lectures 20.3). Ôrigen nói đến việc đặt tay, và Thánh Ambrôsiô (Paulinus, Vit. Ambr., n. 28, 43, P.L, XIV, 36, 42), Thánh Êphraem Syrus (Gregory of Nyssa, De Vit. Ephr., P.G., XLVI, 848) và những người khác đã dùng nghi lễ này khi trừ quỷ. Dấu thánh giá, cách đơn giản và ngắn gọn nhất để tuyên xưng đức tin của một người vào Đấng chịu đóng đinh và cầu khẩn quyền năng của Ngài, đã được các giáo phụ tán dương về hiệu quả của nó chống lại các thứ quấy nhiễu của ma quỷ (Lactantius, Divine Institutes IV.27; Athanasius, On the Incarnation of the Word 47; Basil, In Isai., XI, 249, P.G., XXX, 557, Cyril of Jerusalem, Catechetical Lectures 13.3; Gregory Nazianzen, Carm. Adv. iram, v, 415 sq.; P.G., XXXVII, 842). Các giáo phụ còn khuyên rằng lời truyền và lời nguyện đi kèm nên được diễn dạt bằng những lời trong Kinh Thánh (Cyril of Jerusalem, Procatechesis 9; Athanasius, Ad Marcell., n. 33, P.G., XXVII, 45). Nghi thức trừ quỷ hiện nay của Nghi thức Rôma hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của các giáo phụ và là bằng chứng cho thấy có liên tục của Giáo Hội Công Giáo trong vấn đề này.

Hai hình thức trừ quỷ

Có hai loại trừ quỷ (hay hai hình thức). Hình thức đơn giản và hình thức trọng thể. Hình thức đơn giản được tìm thấy ở hai nơi: trước hết là nghi thức dành cho những ai chuẩn bị chịu phép rửa tội, Nghi thức Dẫn nhập Kitô giáo dành cho người lớn (RCIA) và Nghi thức rửa tội cho trẻ em, cả hai được gọi là hình thức trừ quỷ đơn giản; thứ đến là trong phần phụ lục (appendix) Trừ quỷ và những lời cầu liên quan (Exorcisms and Related Supplications) của sách nghi thức gồm có một số lời cầu nguyện mà giáo dân có thể sử dụng.

Loại thứ hai là nghi thức trọng thể chỉ có thể được giám mục hay linh mục được bản quyền địa phương cho phép rõ ràng thì mới có thể thi hành được. Hình thức này nhằm “nhằm trục xuất ác thần satan và giải thoát khỏi ảnh hưởng của nó, nhờ quyền thiêng liêng Chúa Giêsu đã ủy thác cho Hội Thánh”. Ta có thể đọc lại số 1673 của sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo nói về nghi thức trừ quỷ: “Trong nghi thức Trừ Tà, nhân danh Chúa Kitô, Hội Thánh công khai và có thẩm quyền cầu xin để một người hay một sự vật được Thiên Chúa bảo vệ khỏi quyền lực của ác thần Satan và giải thoát khỏi ách thống trị của nó. Chúa Giêsu đã từng trục xuất thần dữ (x. Mc 1,25 tt); chính Người ban cho Hội Thánh quyền và nhiệm vụ trừ tà (x. Mc 3, 15;6,7.13;16,17). Nghi thức cử hành bí tích Thánh Tẩy có công thức Trừ Tà đơn giản. Nghi Thức Trừ Tà trọng thể phải do một linh mục cử hành với phép của giám mục. Linh mục trừ tà phải thận trọng và giữ nghiêm ngặt các qui định của Hội Thánh. Nghi thức Trừ Tà nhằm trục xuất ác thần Satan và giải thoát khỏi ảnh hưởng của nó, nhờ quyền thiêng liêng Chúa Giê-su đã ủy thác cho Hội Thánh. Mục đích này khác 619 hẳn với các việc chữa bệnh, nhất là các bệnh tâm thần: chữa bệnh là công việc của y khoa. Do đó, trước khi cử hành nghi thức Trừ Tà, phải điều tra cẩn thận để chắc chắn đây là trường hợp quỷ ám chứ không phải một dạng bệnh lý (x. CIC 1172)”

Cuốn Nghi thức trừ tà hiện nay là bản duyệt lại của bản năm 1614. Đây là cuốn nghi thức bằng tiếng Latinh (De Exorcismis et Supplicationibus Quibusdam) gởi đến các Hội đồng giám mục quốc gia để dịch sang tiếng địa phương. Những bản dịch này phải chính xác và trung thành với bản gốc Latinh và được Thánh bộ phụng tự công nhận, theo giáo luật.

Trong khi từ “trừ tà” nói đến việc trục xuất ma quỷ, thì nó không chỉ áp dụng cho những người (hay những vật dụng, nơi chốn) bị quỷ ám rõ ràng. Hãy nhớ lại khi rửa tội cho trẻ em, linh mục hay phó tế đọc một lời nguyện trừ quỷ trên đứa bé và xức dầu trước khi rửa tội:

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Ngài đã sai Con một của Ngài đến thế gian để xua tan quyền lực Satan, thần dữ, và sau khi giải thoát con người khỏi chốn tối tăm, Ngài đưa con người vào ánh sáng huy hoàng của vương quốc Ngài: chúng con khiêm tốn cầu xin Ngài giải thoát (các) em này khỏi Tội Nguyên Tổ, xin làm cho (các) em trở nên một đền thờ để vinh danh Ngài, và xin sai Thánh Thần Chúa đến ngự trong (các) em. Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.”

Lời nguyện này không có nghĩa là mọi đứa bé đều bị quỷ ám nhưng lời nguyện trừ quỷ này chỉ muốn nói rằng cho đến khi chịu phép rửa thì đứa bé vẫn ở trong tình trạng tội nguyên tổ. Và lời nguyện này được các giáo sĩ thi hành phép rửa tội đọc. Theo Giáo Luật, điều 861 §1, thì thừa tác viên thông thường của bí tích rửa tội là giám mục, linh mục hay phó tế: “Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám Mục, Linh Mục và phó tế, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 530,1o (LG 26 ; LG 29 ; PO 5)”. Ta có thể thấy đây là vết tích của một thực hành cổ xưa mà trong đó người trừ quỷ có thể đuổi quỷ ra khỏi người chưa chịu phép rửa tội.

Trừ quỷ trong bí tích Rửa tội

Sơ thời, thực hành trừ quỷ cho các tân tòng được đưa vào Giáo hội như là sự chuẩn bị cho bí tích Rửa tội. Điều này không có nghĩa là họ bị xem như có quỷ ám nhưng là hệ quả của tội nguyên tổ (và tội của chính mình khi họ là người trưởng thành), ít nhiều họ chịu ảnh hưởng của quyền năng thần dữ, và vì thế ân sủng của bí tích Rửa tội sắp giải thoát họ khỏi sự thống trị này.

Thực hành trừ quỷ này là mào đầu có tính biểu tượng cho một trong những hiệu quả của bí tích tái sinh; và vì nó được dùng trong trường hợp trẻ em không có tội mình làm, nên Thánh Augustinô nói nó hàm ý về tội nguyên tổ, chống lại lạc thuyết Pêlagiô (Ep. cxciv, n. 46. P.L., XXXIII, 890; C. Jul. III, 8; P.L., XXXIV, 705,). Thánh Cyrilô thành Giêrusalem (Procatechesis 14) mô tả chi tiết thực hành trừ quỷ trong bí tích rửa tội, trong đó việc xức dầu trừ quỷ là một phần của thực hành trừ quỷ ở phương Đông. Chứng từ sơ thời duy nhất của phương Tây đề cập đến việc xức dầu như là một phần của nghi thức trừ quỷ trong bí tích rửa tội là cuốn Arabic Canons của Hippolytus (n. 19, 29). Exsufflatio, thở ra, ứng viên thở ma quỷ ra, đôi khi là một phần của nghi thức, trong khi Insufflatio, hoặc hít vào Thần khí, do thừa tác viên hay những phụ tá, tượng trưng cho sự tràn đầy ân sủng thánh hóa của bí tích. Những nghi thức cổ xưa này được Giáo Hội giữ lại cho đến ngày nay trong nghi thức rửa tội trọng thể.

Người trừ quỷ theo Giáo luật

Sơ thời, các tác giả như Thánh Gioan Kim Khẩu và Tertullianô nói rằng bất kỳ ai vì mình đã chịu phép rửa tội thì cũng có thể trừ quỷ. Nhưng đây không phải một nghi thức mà chỉ là một sự nhân danh, nhân danh Đức Giêsu. Vài thế kỷ đầu tiên đã có tình trạng như vậy. Cho đến Công đồng Carthage IV [398], lần đầu tiên ta thấy có chức trừ quỷ. Đây vẫn là một trong các chức nhỏ trong nhiều thế kỷ mãi cho đến năm 1972 thì Đức Phaolô VI xét duyệt lại và thu gọn các chức nhỏ.

Ngày nay, người Công giáo đã quen thuộc với ý nghĩ rằng các đại chủng sinh, hay các thầy, là những người đang học để trở thành linh mục, và sẽ chịu chức phó tế trước khi thụ phong linh mục. Tuy nhiên, trước đây không lâu lắm, tất cả các đại chủng sinh đều được chịu chức “trừ quỷ” (exorcist). Chỉ vài thập niên cách đây, Giáo hội phong 4 chức nhỏ (minor orders) cho tất cả các đại chủng sinh: giữ cửa, trừ quỷ, đọc sách và giúp lễ. Nguyên thủy, tên gọi của 4 chức nhỏ này nói lên vai trò của sứ vụ được đảm nhiệm trong hoạt động phụng vụ. Chẳng hạn như thầy giúp lễ là những người đốt nến và cầm nến trong các đám rước. Có vẻ như vào một thời điểm nào đó trong lịch sử sơ thời của Giáo Hội thì những người trừ quỷ không phải là linh mục, song được ban cho vai trò trừ quỷ để có thẩm quyền trừ quỷ khỏi những dự tòng (catechumen), những thành viên của cộng đoàn Giáo Hội chưa được rửa tội.

Vào năm 1972, Đức thánh cha Phaolô VI đã đơn giản hóa tiến trình chịu chức linh mục và loại bỏ các chức nhỏ. Trong tự sắc Ministeria quaedam, Đức thánh cha đã công bố rằng từ nay từ “các chức nhỏ” sẽ được thay thế bằng “các sứ vụ” (ministries). Và 4 chức nhỏ trước đây giờ chỉ còn 2 được xem như là những “sứ vụ”: đọc sách và giúp lễ.

Thế nhưng một thể loại trừ quỷ khác liên quan đến người, nơi chốn và vật thực sự bị quỷ ám, thì đây là một vấn đề khác, một chủ đề cho những điều khoản Giáo Luật khác. Theo Giáo Luật thì người trừ quỷ phải là một linh mục, nhưng điều 1172 §2 nói: “Đấng Bản Quyền địa phương chỉ ban phép trừ tà cho một Linh Mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn (CIS 1151).” Vì thế, không phải mọi linh mục bất kỳ, chỉ vì đã lãnh nhận chức linh mục, mà đương nhiên được phép trừ quỷ. Điều 1172 §1: “Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương”. Một linh mục có thể được giám mục chỉ định làm người trừ quỷ trên cơ bản ổn định hay cho một dịp đặc biệt (ad actum). Dù sao thì người trừ quỷ cũng phải theo hướng dẫn chặt chẽ của giám mục.

Trừ quỷ trọng thể (solemn exorcism) là một hành vi công khai của Giáo Hội. Vì thế, nó không được thi hành bởi một cá nhân linh mục mà không có phép của giám mục giáo phận (c. 1172.1). Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo (1673) cũng hoàn toàn ăn khớp với Giáo luật về điều này. Và theo ĐHY Jorge Arturo Medina Estevez, bộ trưởng Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, những dấu hiệu bị quỷ ám gồm: nói những lời bằng những thứ tiếng lạ hoặc hiểu được chúng (trong điều kiện của người bị ám là người không rành các ngôn ngữ đó, như tiếng Aram chẳng hạn); nói ra những điều giấu kín hay ở cách xa đó; có sức mạnh khác thường so với điều kiện của một người kết hợp với sự xúc phạm nặng nề Thiên Chúa, Đức Maria, các thánh, thánh giá và những ảnh tượng thánh.

Trước hết, hành vi trừ tà trọng thể phải được thi hành với thẩm quyền, nghĩa là với sự chuẩn nhận của giáo quyền địa phương, cụ thể là giám mục giáo phận. Thứ đến, trước khi bắt đầu trừ tà, thật quan trọng khi phải xác quyết rằng đây là trường hợp quỷ ám đặc biệt mà Giáo Hội đang đối mặt. Có nhiều người đang điều trị y khoa nào đó, gồm cả bệnh tâm thần, có thể có những triệu chứng bên ngoài giống như bị quỷ ám. Trong cuộc họp báo ngày 26 tháng Giêng 1999, ĐHY Jorge Arturo Medina Estevez, bộ trưởng Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, đã nhấn mạnh rằng có rất ít người thực sự bị quỷ ám, chỉ có 1 trên 5.000 trường hợp được tường trình là bị quỷ ám thật sự. Vì thế, người trừ quỷ phải phân biệt giữa người bị quỷ ám thật sự và những người bị tâm bệnh. Vì thế, công việc xác minh rất quan trọng để tránh trường hợp bệnh nhân cần được điều trị bởi những nhà chuyên môn y khoa thì lại được người trừ quỷ xử lý! Chính vì công việc xác minh quan trọng như thế nên Giáo luật, điều 1172 §2 mới nói rằng đấng bản quyền chỉ ban phép trừ tà cho “một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn”.

Giáo dân có được trừ quỷ?

Sách Công vụ 19,13-20 kể lại câu chuyện: “Ông Xikêua nọ, thượng tế Do Thái, có bảy con trai thường làm như vậy. Nhưng tà thần đáp: “Đức Giêsu, tao biết; ông Phaolô, tao cũng tường; còn bay, bay là ai? ” Rồi người bị tà thần ám xông vào họ, đè cả bọn xuống đánh túi bụi, khiến họ phải bỏ nhà ấy mà chạy trốn, trần truồng và đầy thương tích. Mọi người ở Êphêsô, Do Thái cũng như Hy Lạp, đều biết chuyện ấy; ai cũng sợ hãi, và thiên hạ tán dương danh Chúa Giêsu”. Trong trường hợp này, những người trừ quỷ là những người không có chuyên môn.

Giáo dân có được phép trừ quỷ không? Chúng ta có câu trả lời từ ĐHY Ratzinger, Bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý đức tin. Nhân có một số nhóm cầu nguyện nhằm mục đích thoát khỏi ảnh hưởng của ma quỷ, họ tổ chức những cuộc hội họp do giáo dân hướng dẫn, ngay cả khi có linh mục hiện diện. Trong thư gởi các đấng bản quyền về các nguyên tắc trừ tà, ngày 29 tháng Chín 1985, ĐHY Ratzinger đã nhắc lại các điều khoản Giáo Luật trên về trừ tà và nói tiếp: “Từ những quy định này, giáo dân không được phép sử dụng công thức trừ tà chống lại Satan và các thiên thần sa ngã, trích đoạn từ công thức của ĐTC Lêô XIII, hay dùng toàn bản văn của nghi thức trừ tà này. Các giám mục nên cảnh báo giáo dân về điều đó, nếu cần thiết. Cuối cùng, cũng vì các lý do đó, đòi hỏi các giám mục phải cảnh giác – dù trong trường hợp không liên quan đến việc thực sự bị quỷ ám –những ai không được ban năng quyền thì không thể hướng dẫn các cuộc hội họp có đọc lời cầu mà trong đó ma quỷ bị chất vấn trực tiếp và căn tính của chúng được tìm biết”[1]

Nghi thức trừ quỷ trọng thể (Major Exorcism) chỉ được thi hành bởi một linh mục có thẩm quyền hay giám mục (sacerdos). Giáo dân có thể hiện diện trong nghi thức, hỗ trợ công việc cho linh mục trừ quỷ bằng lời kinh của họ được đọc các riêng tư hay được chỉ dẫn trong nghi thức. Tuy nhiên, bản văn De Exorcismis et Supplicationibus Quibusdam lưu ý rằng giáo dân không được đọc bất kỳ lời nguyện nào dành cho linh mục (bản dịch Anh ngữ Exorcisms and Related Supplications, số 35), không chỉ vì các lời nguyện chỉ dành cho những người được phong chức để hành động nhân danh Đức Kitô là Đầu (in persona Christi capitis), nhưng để bảo vệ giáo dân khỏi nhưng tổn hại tinh thần có thể. Khi người bị ám là nữ giới thì ít nhất nên có một người nữ khác hiện diện vì sự đứng đắn và thận trọng. Người trừ quỷ không bao giờ ở một mình với người bị ám, dù là khi tư vấn hay là trong khi cử hành nghi thức.

Trừ quỷ là lời cầu nguyện rơi vào thể loại á bí tích, nghĩa là một trong số các dấu hiệu thánh do Giáo hội thiết lập để “thánh hóa một số hoàn cảnh trong cuộc sống ” (Toát yếu Giáo lý Hội thánh Công giáo, số  351), vì thế khác với bảy bí tích của Giáo Hội do chính Đức Kitô thiết lập. Bí tích Thống hối tha thứ tội lỗi và giao hòa chúng ta với Giáo Hội, bí tích Rửa tội ban ân sủng để chiến đấu với ma quỷ và với lên trong nhân đức. Như là một á bí tích, trừ quỷ chuẩn bị cho một người đón nhận ân sủng. Vì trừ quỷ là á bí tích, như là một lời cầu chúc, nên những người được lãnh nhận phép “trừ quỷ trọng thể” là những người được quy định bởi Giáo luật, điều 1170: “Các phép lành phải được ban trước hết cho những người Công giáo, nhưng cũng có thể được ban cho các dự tòng, và cho cả những người không Công giáo nữa, trừ khi Giáo Hội ngăn cản điều đó”. Vì thế, những người sau đây được lãnh nhận phép đặc biệt này nếu được cho là cần thiết: 1) Những người Công giáo; 2) Các dự tòng; 3) Những Kitô hữu không Công giáo xin lãnh nhận; và 4) Các tín hữu không Kitô giáo có ý ngay lành muốn thoát khỏi ảnh hưởng của ma quỷ. Những trường hợp liên quan đến người không Công giáo, nên báo cho giám mục biết (cf. ERS, số 18).

Cuốn nghi thức trừ tà De Exorcismis et Supplicationibus Quibusdam có 2 chương và hai phụ lục. Phụ lục thứ 2 là Những kinh nguyện có thể được giáo dân sử dụng cách riêng tư trong cuộc chiến chống lại quyền lực của bóng tối (Prayers which may be used privately by the faithful in the struggle against the powers of darkness). Đây là những lời kinh giúp giáo dân chiến đấu chống lại cám dỗ của tội lỗi hay những cuộc tấn công thiêng liêng, có thể đọc riêng tư.

Kết luận

Ma quỷ là có thật và chúng đang hoạt động dưới mọi phiên bản của sự dữ trên thế giới và ngay trong con người chúng ta. Trong bài giảng ngày 12.10.2018 tại nguyện đường Santa Marta, chú giải đoạn Tin mừng Luca 11,15-26, Đức Phanxicô đã nói: “Khi ma quỷ chiếm hữu tâm hồn của một người, nó lấy đó làm nhà và không muốn rời xa, cố gắng làm hư hỏng con người ấy thậm chí tàn phá về thể lý. Cuộc chiến đấu giữa thiện và ác trong con người chúng ta là cuộc chiến đấu thật sự giữa Thiên Chúa và con rắn xưa, giữa Đức Giêsu và ma quỷ. Mục đích và ơn gọi của ma quỷ là “phá hủy công trình của Thiên Chúa”. Khi ma quỷ không thể phá hủy “diện đối diện” vì có Thiên Chúa là sức mạnh lớn hơn bảo vệ con người, thì nó vốn xảo quyệt và “khôn hơn cáo” luôn tìm cách tái chiếm hữu con người ấy”. Chính vì thế, ĐHY Medina Estevez đã khẳng định tính chính đáng và cần thiết của công việc trừ quỷ hay trừ tà trong Giáo Hội: “Trừ tà dựa trên niềm tin của Giáo hội cho rằng Satan và những thần dữ khác hiện hữu và hoạt động của chúng nhắm đánh lạc hướng con người khỏi con đường cứu rỗi. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng ma quỷ là những thiên thần sa ngã vì tội lỗi, rằng chúng là những hữu thể thiêng liêng có trí khôn ngoan và sức mạnh, nhưng tôi nhấn mạnh rằng ảnh hưởng xấu của ma quỷ và những người theo chúng thường được thực hiện qua việc lừa đảo và gây nhầm lẫn. Như Đức Giêsu là Sự thật (cf. Ga 8,44) thì ma quỷ là kẻ dối trá thượng thừa. Nó lừa phỉnh con người khi làm cho con người tin rằng hạnh phúc nằm ở tiền bạc, quyền lực và ham muốn xác thịt. Nó dụ dỗ con người nghĩ rằng mình không cần Thiên Chúa, rằng ân sủng và ơn cứu rỗi là điều không cần thiết. Nó còn lừa phỉnh con người khi giảm nhẹ ý thức về tội lỗi hay thậm chí loại bỏ nó bằng cách thay thế lề luật của Thiên Chúa như là tiêu chuẩn luân lý với các thói quen hay quy ước của đa số”.

Trong khi nhiệm vụ trừ quỷ là đặc quyền của Giáo Hội được trao phó cho những giám mục và những linh mục được ủy nhiệm rõ ràng theo giáo luật, mọi người đều có nhiệm vụ tự giải thoát mình khỏi tội lỗi là những “kênh” mà ma quỷ có thể thâm nhập và tàn phá tâm hồn, nhất là tội kiêu ngạo. Cha Juan José Gallego, Dòng Đaminh, linh mục trừ quỷ của Tổng giáo phận Barcelona đã nói với nhật báo El Mundo rằng theo kinh nghiệm của mình thì “kiêu ngạo” là tội mà ma quỷ thích nhất, thường thì do hoang tưởng bệnh hoạn về tài năng của mình mà ra. Điều này cũng không gì khó hiểu vì đây là tội mang “thương hiệu” của ma quỷ: chính kiêu ngạo đã biến thiên thần thành ma quỷ nên nó cũng hãnh diện thừa ở vị trí thứ nhất trong “bảy mối tội đầu”: Thứ nhứt khiêm nhường chớ kiêu ngạo. Vì thế, hãy tự bảo vệ mình trước sự lừa phỉnh gây hoang tưởng của ma quỷ trước khi cậy nhờ đến người trừ quỷ chuyên môn!

(Tài liệu tổng hợp)

[1] vatican.va

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 53
  • Page 54
  • Page 55
  • …
  • Page 87
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.