Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Chia sẻ

Home / Giáo dục / Chia sẻ
01Tháng Mười
2023

Nghĩ về sự tham dự phụng vụ của cộng đồng Dân Chúa

01/10/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Nghĩ về sự tham dự phụng vụ của cộng đồng Dân Chúa

 

Việc cử hành và tham dự các lễ nghi phụng vụ vốn được Hội Thánh thường xuyên đặc biệt quan tâm, bởi công việc này xảy ra hằng giờ, hằng phút, hằng giây khắp nơi trên thế giới. Đối với Hội Thánh, “Phụng Vụ là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Hội Thánh, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Hội Thánh. Thực vậy, các công lao khó nhọc trong việc tông đồ đều nhằm làm cho mọi người, nhờ đức tin và Phép Rửa, trở nên con cái Thiên Chúa, cùng nhau quy tụ ngợi khen Chúa giữa lòng Hội Thánh, thông phần Hiến Tế và ăn tiệc của Chúa”.

“… Chính Phụng Vụ, nhất là lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch chảy tràn ân sủng vào trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách hữu hiệu, đồng thời Thiên Chúa được vô cùng tôn vinh, đó là điều mà mọi công việc khác của Hội Thánh đều quy hướng về như là cứu cánh” (Xem Hiến chế Phụng Vụ Thánh, số 10). Vì thế, Hội Thánh thường xuyên chăm lo để việc cử hành và tham dự cho chu đáo, và chỉnh sửa hoặc cải tiến khi cần.

Mới đây Ủy ban Phụng Tự thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam  đã cho phổ biến bản “Hướng dẫn cử hành Thánh lễ” với nội dung bao gồm nguyên tắc tổng quát, nghi thức nhập lễ, phụng vụ Lời Chúa, phụng vụ Thánh Thể và nghi thức Kết lễ. Bản hướng dẫn tuy có nhắc đến sự tham dự của dân chúng, của mọi người, nhưng chưa nhiều.

THÁNH CÔNG ĐỒNG VATICAN II  QUAN TÂM ĐẾN VIỆC CÁC TÍN HỮU THAM DỰ PHỤNG VỤ

Hiến chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium) của Thánh Công đồng đã nêu rõ sự cần thiết liên quan đến việc hướng dẫn các tín hữu tham dự các nghi lễ Phụng Vụ. Hiến Chế viết:

“Mẹ Hội Thánh tha thiết ước mong các tín hữu được hướng dẫn tham dự các việc cử hành phụng vụ cách trọn vẹn ý thức và linh động”.

“Việc tham dự ấy do chính bản tính Phụng Vụ đòi hỏi; lại nữa, nhờ phép Rửa Tội, việc tham dự Phụng Vụ trở thành quyền lợi và bổn phận của dân Kitô giáo, là dòng giống được lựa chọn, là tư tế vương giả, là dân thánh, là con dân được tuyển chọn” (1Pr 2,9 và 4-5). (số 14).

SỰ QUAN TÂM ĐẾN CÁC CÁCH THAM DỰ

Thánh Công đồng có nêu ba cách tham dự các nghi lễ Phụng Vụ, đó là trọn vẹn, ý thức và linh động.

Tham dự trọn vẹn (plenam illam) có nghĩa là tham dự đầy đủ từ đầu đến cuối. Thông thường, các nghi lễ Phụng Vụ đều có quy định thời gian và phổ biến công khai để ai muốn tham dự cũng có thể biết được để tham dự cho đúng thời gian và địa điểm. Cụ thể như việc tham dự thánh lễ Chúa nhật chẳng hạn, nhà thờ nào cũng có thông báo về thời giờ cử hành. Các tín hữu liệu thu xếp công việc riêng tư để dành thời giờ tham dự, tránh tình trạng dự lễ đi trễ về sớm khiến việc tham dự không trọn vẹn, mất một phần ơn ích.

Tham dự có ý thức (conscidam) là tham dự với sự chăm chú tập trung tâm trí vào nghi lễ đang cử hành, bởi mỗi lời đọc, mỗi cử chỉ trong nghi lễ đều có ý nghĩa và có giá trị, dù chỉ là một việc cúi đầu, khoanh tay, chắp tay, đứng, quỳ, ngồi… đều thể hiện sự tôn vinh, cung kính hoặc hòa đồng với cộng đoàn tham dự. Các việc chào Chúa, chúc chủ tế, chúc nhau đều mang ý nghĩa liên đới, chưa nói đến ý thức việc lắng nghe và suy tôn Lời Chúa, suy tôn và rước Thánh Thể Chúa vào lòng, tất cả cần có sự ý thức cao và sốt sắng.

Tham dự cách linh động (actuosam). Hội Thánh đã có quy trình tổ chức các nghi thức Phụng Vụ và bố trí để có sự tôn nghiêm nhưng linh hoạt, không thụ động nhàm chán, nên các tín hữu tham dự Phụng Vụ cũng trang bị tinh thần tham dự phấn khởi nhiệt tình. Mỗi một cử chỉ dành cho cộng đoàn cần được đón nhận và thực hiện một cách sốt sắng, tránh thụ động, chia trí hoặc cử hành bất đắc dĩ. Nhưng cũng cần tránh sự linh động thái quá không phù hợp với sự tôn nghiêm của nghi lễ đang cử hành.

NGHĨ VỀ TRANG PHỤC CỦA CÁC TÍN HỮU KHI THAM DỰ PHỤNG VỤ

Đối với Hội Thánh, phần lễ phục dùng trong các nghi lễ Phụng Vụ đã được quy định rõ ràng từ kiểu mẫu, màu sắc đến cách sử dụng, nhưng đối với các tín hữu tham dự Phụng Vụ thì vẫn để cho các nơi theo văn hóa, tập quán. Dù vậy, việc sử dụng cũng cần quan tâm đến sự trang nghiêm, xứng đáng. Cứ sự thường, tín hữu nào cũng biết lo cho mình có được trang phục chỉnh tề khi tham dự Phụng Vụ. Nhưng cũng vẫn có xảy ra các trường hợp trái chiều, như đến tham dự thánh lễ với bộ đồ thể thao hoặc trang phục “nhà nghèo”, trang phục “thiếu vải”… Tại một số nhà thờ ở Rome và các nơi có Ban Lễ tân phục vụ cho số người này bằng việc cho mượn áo khoác mặc khi tham dự thánh lễ và hoàn lại cho nhà thờ khi lễ tất.

Việc tham dự các nghi lễ Phụng Vụ cũng không phải là dịp để cá nhân hoặc nhóm nào phô trương sắc phục, xảy ra tình trạng trình diễn loạn màu sắc, làm mất vẻ trang nghiêm của việc thờ phượng đồng thời cũng gây mặc cảm đối với các tín hữu không có đồng phục!

Việc chọn kiểu mẫu, màu sắc trang phục cho các tập thể nên có sự cân nhắc để liệu sao cho xứng hợp với Phụng Vụ thánh, không làm theo sở thích hoặc bắt chước mẫu mã festival của đời thường.

DỰ LỄ VÀ LIÊN HOAN

Hằng năm, người tín hữu tham dự nhiều thánh lễ. Ngoài 11 lễ trọng, lễ dành cho giáo dân (còn gọi là lễ họ) còn có các lễ trọng khác, lễ kính, lễ nhớ theo lịch phụng vụ. Các tín hữu còn dự các thánh lễ ngoài lịch, như lễ bổn mạng, lễ kỷ niệm (nhiều ý), lễ phong chức, tựu chức; lễ khai mạc các công trình, lễ tạ ơn, lễ cầu bằng an… Đối với các lễ trọng cầu cho giáo dân thì có thể có liên hoan hoặc không, nhưng nhiều lễ ngoài lịch khác thường có liên hoan kèm theo, theo cách nói của bà con ta: “Có lễ là phải có lạc!”.

Việc tổ chức liên hoan sau lễ cũng hữu ích để tăng thêm niềm vui và có dịp tỏ tình đoàn kết. Nhưng chỉ nên tổ chức vừa phải, không nên lạm dụng gây mất thời gian và tốn kém cho cả bên tổ chức lẫn bên tham dự. Lại nữa, việc vui quá trớn, rồi “bia rượu vào lời ra”, dễ bị phát ngôn không chuẩn mực gây mất trật tự và phật lòng bà con, làm mất ý nghĩa của việc mừng lễ.

 

Mt Từ Linh

Read More
29Tháng Chín
2023

NHỮNG ĐỨC TÍNH LÀM NGƯỜI

29/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
NHỮNG ĐỨC TÍNH LÀM NGƯỜI
Vào tới đất hứa, hai trăm năm đầu, dân Ít-ra-en chưa tổ chức thành quốc gia quân chủ. Họ chỉ có các thủ lãnh, còn gọi là các thẩm phán. Vị thủ lãnh cuối cùng và cũng là vị thủ lãnh được mến mộ nhất là ngôn sứ Samuel (x. Hc 46,23-20)
Để làm tròn nhiệm vụ một thủ lãnh lúc đó, không phải dễ. Phải là người có uy, có dũng, có tài, có đức mới đủ sức lãnh đạo một dân nổi tiếng là “cứng đầu cứng cổ”. Phải làm sao vừa có khả năng giúp dân chống ngoại xâm, vừa có khả năng giúp họ luôn trung thành với giao ước, không chạy theo lối sống của các dân ngoại chung quanh. Một nhiệm vụ đầy khó khăn, thế nhưng Samuel đã làm tròn (x. 1 Sm 7,2-17). Đạo đức, can đảm, sáng suốt, thanh liêm, khiêm tốn, đó là những đức tính nổi bật nơi con người của Samuel. Chính nhờ đó, mà nền quân chủ của Ít-ra-en đã ra đời (x. 1 Sm 8,6-22). Tuy nhiên, sẽ không có được một Samuel như vậy nếu ngay từ tấm bé ông đã không biết chuyên cần rèn luyện bản thân. Sách Samuel đã làm nổi bật điểm đó một cách ý nhị khi đang kể về thời niên thiếu của Samuel, đã xen vào một đoạn nói đến đám con hư hỏng của cụ Hêli, để rồi trở lại kết luận: “Còn trẻ Samuel, cứ lớn lên và càng được đẹp lòng cả Giavê lẫn người ta” (x. 1 Sm 2,18-26).
Để sống cho ra sống, để trở thành một con người đầy khí phách và hiên ngang, trưởng thành về mọi mặt, Samuel và biết bao người đã nỗ lực. Và họ đã đạt tới được. Còn chúng ta đây, tại sao không?

I. HÃY SỐNG CHO RA NGƯỜI, NẾU BẠN MUỐN SỐNG CHO RA NGƯỜI KITÔ HỮU.
1.    “Nhân bất nhân, nhân tai! Nhân tai”
Đã là người, ai cũng phải có nhân cách. Nhân cách không phải chỉ là thói ăn nết ở riêng của mỗi người, nhưng quan trọng hơn, còn là những phẩm chất và phong cách mà ai cũng phải có, để xứng đáng được gọi là người. Về điều này, cụ Phan Bội Châu đã để lại cho ta một câu đáng suy nghĩ: “Nhân bất nhân, nhân tai! Nhân tai!”, nghĩa là: “Làm người mà chẳng sống ra người, thế có phải là người được ư? Thế có phải là người được ư? Đã không ra người được, tức là cầm thú. Cái tội vô nhân cách chẳng đau đớn lắm hay sao?” (Khổng học đăng II, trang 525).
2.    Học làm người:
Muốn sống cho ra người để “nhìn lên không hổ với trời, ngó xuống không thẹn với đất”, ta cần phải học làm người. Quả thực, khi sinh ra, tuy được gọi là người, nhưng ta chưa “thành nhân”. Để được gọi là “đạt nhân”, phải gồm vẹn toàn cả bốn mặt: trí thức, đạo đức, thể lực và tài nghệ. Chính vì vậy mới cần có giáo dục. Giáo là khai sáng, dạy bảo, dục là nuôi dưỡng. Một nền giáo dục đầy đủ phải gồm cả trí dục, đức dục, thể dục và huấn nghệ. Trong các mặt trên, đức dục thường bị coi nhẹ, thế nhưng nó lại là phần quan trọng, nếu không nói là nòng cốt để giúp ta nên người, bởi vì: “Giáo dục mà bỏ lãng đức dục, chỉ lo thi đua lấy bằng cấp, thì càng cất thêm nhiều trường học bao nhiêu sẽ càng phải xây thêm nhiều bót cảnh sát, toà án, trại giáo hoá, nhà tù và bệnh viện hơn bấy nhiêu” (Feurzinger).
Nếu việc trau dồi nhân cách, tập luyện các đức tính làm người, là điều thiết yếu đối với một con người bình thường, thì đối với Kitô hữu chúng ta, nó lại càng thiết yếu hơn. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Không có những đức tính ấy không thể có đời sống Kitô hữu đích thực” (TĐ4). Nếu không có đời sống Kitô hữu đích thực, chẳng những ta không ướp mặn được trần gian này, mà không khéo còn “gây thêm ô nhiễm môi sinh” vì trở thành những tấm men ôi, những ngọn đèn mờ! (x. Mt 5,13-16; 1Cr 10,31-33).
Vậy, để có thể vươn tới con người trưởng thành về mặt nhân bản, ta cần trau dồi những đức tính nào?

II. CÁC ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN QUAN TRỌNG

A. Đối với bản thân
1.    CẦN: siêng năng làm việc và làm đến nơi đến chốn.
Siêng năng chính là chiếc chìa khoá đầu tiên mở ra cho ta cánh cửa tương lai. Có chăm chỉ học hành, cần mẫn làm việc, ta mới hoàn thiện được bản thân, đem lại cho mình và cho xã hội một cuộc sống xứng đáng là con người, đồng thời góp phần hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trên đời ta và trên thế giới.
Muốn làm việc cho có kết quả, cần suy tính, cần chuẩn bị trước những gì cần. Khi đã bắt tay vào việc, cần tận tâm, tận lực, như thể “Chúa sinh ra tôi chỉ vì một việc tôi đang làm mà thôi. Làm hẳn hoi việc đó xong là đủ nên thánh!” (ĐGH Gioan 23, Nhật ký tâm hồn, số 140). Không bao giờ ỷ lại, làm biếng. Không để ngày mai việc gì có thể làm ngay hôm nay.
2.    KIỆM: tiết độ, chừng mực (x. SGLC1809).
–       Về tiền bạc: không bủn xỉn nhưng cũng không “vung tay quá trán”. Tập sống giản dị, không đua đòi chạy theo những nhu cầu giả tạo. Biết tiết kiệm và gìn giữ của công.
–       Về sức khoẻ: ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí điều độ. Tránh những chất kích thích. Năng tập thể dục để có “một đầu óc minh mẫn trong một thân thể cường tráng”.
–       Về thời giờ: quý trọng thời giờ. Luôn đúng giờ, đúng hẹn, giờ nào việc nấy. Cần xây dựng cho mình một nếp sống có trật tự, theo một thời khoá biểu.
3.    LIÊM: trong sạch, không tham lam.
Trong sạch về tiền bạc, không tham danh tham lợi, dù túng thiếu nghèo đói vẫn không gian tham. Đây là đức tính liên quan đến điều răn 7, 10 và tinh thần nghèo khó của Tin mừng.
4.    CHÍNH: ngay thẳng, đứng đắn.
Tâm hồn ngay thẳng, trong sáng và đứng đắn. Đức tính này liên quan đến các điều răn 6,8,9.
Điều khó khăn nhất là sống ngay thẳng với chính mình. Muốn vậy, cần có can đảm đối diện với lương tâm của mình và tập nhận định sự việc, con người, dưới ánh sáng Tin mừng, theo cái nhìn của Đức Kitô.
Để giữ tâm hồn luôn trong sáng, nên tập sống dưới cái nhìn của Thiên Chúa, luôn nhớ đến phẩm giá cao quý của mình và làm mọi việc không vì tư lợi hay tiếng khen, nhưng vì vinh danh cho Thiên Chúa.
Về thể chất: quần áo, tóc tai luôn sạch sẽ, giản dị, gọn gàng. Chỗ ở, đồ dùng: sạch sẽ, thứ tự, ngăn nắp. Giữ vệ sinh nơi công cộng, đường phố.
5.     DŨNG: dũng cảm, tự chủ, cương nghị, bền chí (SGLC 1808).
Đây là chiếc chìa khoá thứ hai giúp ta mở cánh cửa tương lai. Người có đức “dũng” là người có nghị lực, biết làm chủ chính mình trong mọi tình huống, luôn hành động theo lý trí, biết bền lòng theo đuổi mục tiêu đến cùng dẫu gặp gian nan thử thách. Muốn tập đức Dũng, cần rèn luyện ý chí. Việc gì đã cân nhắc đắn đo và quyết định, thì cương quyết làm đến cùng. Gặp khó khăn, thất bại không nản, chỉ coi là những dịp trui luyện thêm bản thân.

B. Đối với người
1.    NHÂN: yêu thương hết mọi người.
Đức Nhân là “linh hồn” của mọi tương quan với người khác. Tập sống yêu thương bằng cách đối xử như người bạn tốt với mọi người quanh mình. Ta muốn người khác yêu thương và kính trọng ta thế nào, thì hãy yêu thương và kính trọng họ trước như vậy. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta còn phải tập yêu thương, như chính Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta (x. Ga 15,12-13).
2.    NGHĨA: lòng biết ơn, gắn bó thuỷ chung.
Là người, ta cần biết đáp lại tấm lòng yêu thương của người khác đối với mình, những người ta có bổn phận phải đền ơn đáp nghĩa. Trước hết, là những người đã có công sinh thành ra ta, nuôi dưỡng và dạy dỗ ta, rồi đến những người bằng cách này hay cách khác đã làm ơn, giúp đỡ ta.
3.    LỄ: lịch sự, lễ phép.
Lễ phép hay lịch sự, là những cách bày tỏ ý kính trọng đối với người quanh ta. Nó là những quy định giúp cuộc sống giữa mọi người với nhau được êm đẹp, thân ái. Nền tảng của phép lịch sự là sự công bằng, và đức bác ái. Coi thường phép lịch sự, một cách nào đó cũng là coi thường người khác, và coi thường cả chính mình.
4.    TRÍ: khôn ngoan, sáng suốt (SGLC 1806).
Người có trí, là người biết:
–       Thông minh khi XEM: chăm học hỏi, quan sát (hiếu học, cầu tiến), biết hệ thống hoá những gì đã học hỏi, quan sát (có trật tự).
–       Sáng suốt khi XÉT: bình tâm, khách quan, thận trọng.
–       Khôn ngoan khi LÀM: có óc tổ chức: tiên liệu, thực tế, làm việc có phương pháp. Có óc sáng kiến: biết cải tiến cách làm việc. Khi làm việc, gặp những việc khó khăn hoặc phức tạp, biết chia chúng ra nhiều phần nhỏ, đơn giản hơn để dễ giải quyết.
5.    TÍN: giữ lời hứa, đáng tin cậy.
Uy tín là một bảo vật đắt giá, chỉ có thể mua sắm được bằng chính danh dự của mình. Uy tín là kết quả của sự thành thật, tận tâm, tinh thần trách nhiệm và lòng chung thuỷ. Để có được chữ Tín với mọi người:
–       Đừng bao giờ bịa đặt, nói những điều sai sự thật.
–       Không bao giờ hứa liều, hứa suông.
–       Luôn cố gắng giữ lời hứa bằng mọi cách, dù có bị thiệt hại đến mấy cũng phải cố gắng giữ lời hứa (Tv 14.15,4).

III. KIÊN NHẪN TỪNG NGÀY
Ta không thể tập mọi đức tính trong một ngày, một tháng, hay một năm là xong. Nhưng phải chuyên cần tập luyện hằng ngày và tập dần dần từng đức tính một. Muốn thế, cần biết mình phải tập đức tính nào trước, đức tính nào sau, và phải tập như thế nào. Để làm điều đó, ta có thể dựa vào bảng liệt kê những tật xấu ta hay mắc phải, mà tập những đức tính ngược lại. Muốn thành công, ta cần nhớ ba điều sau:
1.    Không tham lam ôm đồm, và cũng không nóng vội. Thánh Phanxicô Salê đã kiên trì suốt 20 năm trời, để tập tính hiền lành. Và ngài đã thành công.
2.    Xét mình hằng ngày. Đặc biệt, trong các dịp tĩnh tâm hằng năm nên nhìn lại tổng quát. Cần có một quyển sổ để theo dõi. Có thể ghi nhật ký tâm hồn, như Đức Giáo Hoàng Gioan 23 đã làm.
3.    Khiêm tốn, nhẫn nại, lạc quan và cậy trông vào Chúa. Đức Giêsu đã làm gương trước. Ba mươi năm sống trong gia đình Nadarét, Ngài cũng đã từng nỗ lực vươn lên hằng ngày như chúng ta để chúng ta có thể bắt chước được như Ngài.
Lời Chúa:
1.    Chúa phán với Giôsuê rằng: “Mạnh mẽ lên, can đảm lên! Vì chính ngươi sẽ cho dân này chiếm đất ấy làm gia nghiệp, đất mà Ta đã thề với tổ tiên chúng là Ta sẽ ban cho. Tuy nhiên, ngươi phải mạnh mẽ và rất can đảm! Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Gia-vê Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới” (Gs 1,6.9b).
2.    “Còn Đức Giêsu cứ tấn tới thêm về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2,52).
Câu hỏi:
Hôm nay bạn quyết định cho mình điều gì? Bạn thực hiện điều đó ra sao?
Read More
29Tháng Chín
2023

HÔN NHÂN KHỞI ĐẦU VÀ KẾT THÚC BẰNG TÌNH YÊU

29/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
HÔN NHÂN KHỞI ĐẦU VÀ KẾT THÚC BẰNG TÌNH YÊU


Vẻ đẹp của tình yêu là vẻ đẹp tuyệt vời, không thể phân tích và hệ thống hoá được. Một vẻ đẹp cá biệt nhưng lại hết sức thu hút và hấp dẫn. Bởi vì tình yêu là một tặng ân của Thiên Chúa, Ðấng chính là “tình yêu” như Gioan đã định nghĩa.
Khi con người được tạo dựng trong vườn Diệu Quang, Thiên Chúa đã xem như suy tính và đắn đo về việc làm của mình. Thánh Kinh ghi nhận hành động suy tính và cân nhắc này bằng câu: “Chúng ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh của chúng ta” (St 1,26). Một điều mà Ngài không hề làm khi tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong vũ trụ. Và cái mấu chốt của hành động suy tính ấy chính là vì Ngài muốn tạo dựng nên con người “giống hình ảnh” của Ngài. Giống hình ảnh Ngài tức là giống Ngài, mà giống Ngài là yêu như Ngài.
Ðiều làm cho con người phô diễn tình yêu của mình cũng đã được tìm thấy qua hình ảnh sáng tạo. Lúc đó, Adong được Thiên Chúa cho phép đặt tên mọi loài thụ tạo. Ðặt tên trong trường hợp của Ông cùng nghĩa với “biết”. Nhưng qua các loài thụ tạo mà Thiên Chúa đã sáng tạo và Ông đã gọi tên, không một loài nào khiến Ông rung động, và vì thế, đã khiến Ông buồn.
Câu chuyện tạo dựng được tiếp nối với đoạn kết đối với Adong khi Thiên Chúa dựng nên cho Ông một Evà. Con người mang hình ảnh Thiên Chúa, biết yêu và biết rung động của Adong đã tìm được đối tượng. Ông đã thốt lên: “Ðây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi” (St 2,23). Hay với tầm nhìn của con tim, thì “đây là người tôi yêu và yêu tôi”. Tuyệt vời.
Nhưng sao Thiên Chúa lại giới thiệu Evà cho Adong sau cùng như vậy? Có thể là để Ông hiểu rằng, tình yêu là một cái gì vô giá, vượt trên tất cả. Và cũng để Ông hiểu rằng, Evà đây chính là kết tụ cả một công trình sáng tạo có suy nghĩ của Thiên Chúa. Một tặng ân mà Thiên Chúa không thể làm hơn khi trao cho người nam.
Nhận định về tình yêu trong hôn nhân, mối tình mà đôi trai gái trao nhau trước sự chứng kiến của đại diện Giáo hội và cộng đoàn dân Chúa, nhà tâm lý tình yêu Form cũng đã cho rằng tình yêu này giá trị và trường cửu chỉ sau tình yêu mà Thượng Ðế dành cho con người. Vì khởi đi từ mối tình này mà nẩy sinh tình yêu vợ chồng, cha mẹ, con cái, và anh chị em với nhau. Từ xã hội nhỏ bé này, xã hội nhân loại đã được hình thành, rập khuôn tình yêu của gia đình.
Tình yêu hôn nhân phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa
Hôn nhân được bắt đầu, xây dựng và triển nở trong tình yêu. Tình yêu đem hai người hoàn toàn xa lạ với những khác biệt lại với nhau. Nó làm phong phú bằng vẻ đẹp khác nhau, và bổ túc cho nhau để cuộc đời mang nhiều ý nghĩa. Thiếu vắng tình yêu, người ta sẽ không thể nào vượt qua những khác biệt này, và cũng không thể nào sống với nhau, và chấp nhận nhau.
Nhưng tình yêu hôn nhân, lại phản ảnh tình yêu Thiên Chúa, một cộng đoàn tình yêu gồm Cha, Con, và Thánh Thần. Nơi Cộng Ðoàn duy nhất này, tình yêu là động lực chính nối kết Ba Ngôi, và làm cho đời sống nội tại của Thiên Chúa luôn bền vững, hạnh phúc, và tốt lành. Bức tranh tạo dựng đã giúp chúng ta khám phá ra sự tốt lành vô biên của tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa giữa Cha, Con và Thánh Thần không ngừng luôn chuyển và phát sinh hạnh phúc viên mãn, và khiến Thiên Chúa không ngần ngại trao ban và trải dài tình yêu ấy trên các loài thụ tạo, trong đó có con người. Chính tình yêu đã khiến Thiên Chúa tạo dựng đất trời và tạo dựng con người.
Khi Thiên Chúa bàn tính với nhau: “Chúng ta hãy tạo dựng con người mang hình ảnh chúng ta” (St 1,26), thì ngay từ lúc đó tình yêu Thiên Chúa đã xuất hiện trong mỗi con người sẽ được tạo dựng sau này. Ngài ban cho con người và mỗi người được thông chia tình yêu viên mãn và hạnh phúc đời đời của mình. Như vậy, khi hai người yêu nhau, họ phô diễn tình yêu của Thiên Chúa. Và tình yêu chân thành của họ chính là tình yêu phát xuất từ Ðấng mà Gioan đã định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8).
Nhìn vào một đôi hôn nhân hạnh phúc, một gia đình hạnh phúc (hạnh phúc chân chính và bình an), thì câu trả lời duy nhất và rõ ràng nhất đó là vì họ cũng trao ban tình yêu một cách chân thành cho nhau, như Thiên Chúa đã trao ban tình Ngài cho mỗi người trong họ. Ðây là những mấu chốt nền tảng của đời sống hôn nhân, một đời sống được xây dựng trên nền tảng của tình yêu gồm Tha Thứ, Trung Thành, Thánh Thiện. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy những ý nghĩa này trong bản tính tình yêu mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người.
Tình yêu trong hôn nhân
Như vậy, tình yêu hôn nhân là một tình yêu linh thánh. Và Bí tích Hôn Nhân là một bí tích của tình yêu. Khi tạo dựng con người, và trước khi giới thiệu Evà với Adong, Thiên Chúa đã không làm gì hơn là muốn cho tình Ngài được trao ban cho tạo vật mà Ngài yêu thương.
Trong vườn Diệu Quang, ngay lúc mở đầu lịch sử con người, chính Thiên Chúa, vừa là Ðấng Tạo Hoá, vừa là người Cha đã mai mối, và chứng hôn cho đôi hôn nhân đầu tiên, và cũng là những người con dễ thương của Ngài.
Qua lời chúc phúc và lệnh truyền: “Hãy sinh sản cho nhiều mặt đất và hãy thống trị trái đất” (St 1,28), Thiên Chúa đã nhìn vào thẳm sâu và cốt lõi của tình yêu, đó là, cả hai sẽ trở nên một. Vì chỉ có sự hiệp nhất sâu thẳm ấy, như chính sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa, con người mới có thể trao ban cho nhau, và đón nhận từ nhau cái giá trị tốt đẹp của tình yêu. Ðiều này có nghĩa là, khi hai người nam nữ kết hợp với nhau, trao cho nhau trọn vẹn thân xác, trái tim, và linh hồn mình trong cử chỉ yêu thương của đời sống hôn nhân, họ cũng làm điều mà chính Thiên Chúa đã làm cho nhau.
Tình yêu hôn nhân, do đó, là một tình yêu tuyệt vời. Và hạnh phúc hôn nhân là một hạnh phúc có thật, thực tế, và ngay ở trong cuộc đời. Một hạnh phúc mà Thiên Chúa nhận thấy dễ bị lợi dụng, dễ bị đánh cắp, nên Ngài đã phải bao che cho nó bằng 2 giới luật: “Chớ làm sự dâm dục” (Xh 20,14), và “Chớ ham muốn vợ chồng người” (Xh 20,17).
Nhìn vào tình yêu trong hôn nhân, và nhìn vào khía cạnh tích cực mang chiều kích tâm linh ấy, chúng ta mới nhận ra tại sao Thiên Chúa không muốn chúng ta đánh mất đi hạnh phúc mà Ngài đã trao ban. Chúa Giêsu, khi phải trả lời một câu hỏi của những người Do Thái cùng thời liên quan đến thói đời muốn “có mới, nới cũ”, Ngài đã nói thẳng với họ: “Ngay từ đầu Thiên Chúa đã tạo dựng một người nam và người nữ” (Mc 10,6). Và Ngài khẳng định: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mc 10,9). Cái mà Thiên Chúa đã liên kết đó chính là tình yêu chung thuỷ mà Ngài muốn hai người tận hưởng, và cũng là động lực trói buộc họ lại với nhau. Ngài không muốn cho họ phá bỏ giao ước ân tình ấy bằng những buông túng và đòi hỏi của dục vọng do tính ích kỷ của con người. Và đó cũng là một lý do càng làm cho tình yêu và sự chung thuỷ có một ý nghĩa liên kết chặt chẽ. Thống kê cũng cho biết, khi người ta đã ly dị một lần, thì những lần kế tiếp sẽ gia tăng số lượng. Một hạnh phúc thay đổi, có rồi buông, buông rồi lại tìm như vậy không phải là hạnh phúc mà Thiên Chúa muốn trao ban qua tình yêu, khi Ngài tạo dựng và mời gọi con người bước vào đời sống hôn nhân.
Tình yêu và lời thề hôn nhân
Lời thề hôn nhân, do đó, phản ảnh giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài. Trải qua dòng lịch sử, và trong lịch sử cứu độ, Ngài đã thề hứa là sẽ yêu thương và nuôi nấng dân Ngài. Tình yêu trọn hảo mà Ngài thực hiện là tình yêu hy hiến trên thập giá. Ðó là tình yêu đem con người tội lỗi trở về với ơn gọi nguyên thuỷ là con Thiên Chúa, tức là được sống trong ơn sủng và tình yêu của Ngài: “Không ai có tình yêu cao cả hơn người thí mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
Lời thề hôn nhân, mô phỏng giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài, đem hai người trở nên một trong tình yêu vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu mà dù “đại hồng thuỷ cũng không xoá nhoà nổi”, như lời cầu trong thánh lễ hôn phối.
* Flora Brooks và John lập gia đình lúc 20 tuổi vào tháng 11-1969. Ba tuần sau, John nhập ngũ và được gửi qua chiến trường Việt Nam. Chín tháng sau, tháng 11-1969, nàng ra phi trường đón người chồng thương phế binh của mình, cụt 2 chân, 1 tay và không thể nói được. Từ đó, Flora trở thành người y tá, người vợ, người tình vẫn săn sóc chồng mình và đến năm 2007, là kỷ niệm đúng 38 năm nàng làm chuyện này. Nhiều người, kể cả mẹ chồng của nàng cũng phải cảm phục sự hy sinh này. (The Rocky Mountain News, Monday Nov. 12, 2007)
* Cũng theo nhật báo Rocky Mountain News, nhờ đức tin, tình yêu và lòng hy vọng, bà vợ ông Janek đã nuôi nấng, săn sóc cho chồng bà suốt 19 năm hôn mê trên giường bệnh. Và ông đã tỉnh dậy vào tháng 6-2007. (The Rocky Mountain News, Denver June 04, 2007)
Theo Bác sĩ tâm thần Lewis Barbato trong tác phẩm “Marriage, How To Live Together and Like It”, xuất bản năm 2001, sau 45 năm hành nghề tâm lý trị liệu và tâm thần trị liệu, đã cho hay rằng, phần lớn các cặp vợ chồng sau ly dị cũng đều nói với ông là họ vẫn còn yêu chồng/vợ cũ của mình. Và họ tỏ ra nuối tiếc cho rằng nếu hồi đó, họ biết có cơ hội giải quyết các khó khăn thì hôn nhân của họ đã không đến chỗ tan vỡ.
Thay lời kết
Tóm lại, tình yêu là mấu chốt và là động lực chính yếu cho đời sống hôn nhân. Chính tình yêu đã đem hai người lại với nhau như Chúa Giêsu đã nói: “Vì lý do đó (lý do hôn nhân), người nam sẽ từ bỏ cha mẹ mình, và cả hai sẽ trở thành một xương, một thịt” (Mc 10,8).
Bởi vì Thiên Chúa đã chuẩn bị kỹ như vậy, nên tình yêu mà hai người khi bước vào đời sống hôn nhân trao cho nhau, cũng phải là tình yêu mà hai người sẽ cùng mang về vĩnh hằng. Ðó chính là điều mà Chúa Giêsu đã nói đến khi dẫn chứng sự trường cửu của tình yêu trong hôn nhân.
Hôn nhân được khởi đầu và kết thúc bằng tình yêu. TMD
Read More
29Tháng Chín
2023

ÐI TÌM MỘT HƯỚNG LINH ÐẠO GIA ÐÌNH

29/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
ÐI TÌM MỘT HƯỚNG LINH ÐẠO GIA ÐÌNH
Gia đình phải là môi trường chúng ta sống đạo để nên thánh trong sự cầu nguyện, yêu thương và quên mình, lao động và giáo dục. Ngoài sinh hoạt gia đình có nhiều bạn còn có cơ hội phục vụ trong các sinh hoạt của giáo xứ và xã hội.
Ở mỗi phần, tôi xin trình bày một vài đường nét linh đạo, gợi ra một số vấn đề để giúp chúng ta đi sâu vào thảo luận, đó mới là đề tài chính của chúng ta.

I * GIA ÐÌNH – NHÀ CẦU NGUYỆN

1 ) Gia đình là môi trường nên thánh.
Ngày nay người ta hay nói nhiều về nền linh đạo giáo dân. Ðiều này có nghĩa là không chỉ có các tu sĩ, giáo sĩ mới cần đến linh đạo mà ngay cả giáo dân, những người sống đời gia đình cũng cần đến những con đường để nên thánh. Nên thánh, nên trọn lành hay nói chung là sống đạo là điểm hội tụ chung của mọi tín hữu, không phân biệt giáo phẩm, tu sĩ hay giáo dân. Thế nhưng cách sống đạo của mỗi nếp, mỗi người có khác nhau.
Nếu thánh thiện là sự trọn hảo của tình yêu thì còn ở đâu hơn gia đình, vì “gia đình được hình thành bởi tình yêu và hơi thở của gia đình là yêu thương”. Ðể vững tâm trên nẻo đường thiêng liêng, chúng ta cùng xác định một vài ý nghĩa cao quý của nếp sống gia đình:

Dấu ấn tình yêu:
Bí tích Hôn Phối là dấu ấn tình yêu và chúc lành của Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã tạo thành con người có nam có nữ, nên tình yêu của hai người đối với nhau là hình ảnh của tình yêu tuyệt đối và bất diệt mà Thiên Chúa dành cho con người… Tình yêu này đã được Thiên Chúa chúc phúc để trở nên sai trái và được thực hiện trong công cuộc chung là bảo vệ việc sáng tạo của Thiên Chúa” (Giáo Lý HTCG số 1064).

Kiện toàn nhờ ân sủng:
Con người không thể noi gương bắt chước và sống mô phỏng tình yêu của Chúa bằng sức lực đơn phương của mình. “Con người chỉ có khả năng đối với tình yêu ấy một khi cậy dựa vào ân huệ của Thiên Chúa mà thôi” (ÐGH GIOAN PHAOLÔ II, Veritatis splendor 22). Thực vậy bí tích Hôn Phối cũng có những “ân sủng riêng dành để kiện toàn tình yêu của hai người phối ngẫu, củng cố sự đơn nhất bất khả đoạn tiêu của họ.” (GLHTCG số 1641). Nhờ ân sủng khả thi này “họ giúp nhau nên thánh trong cuộc sống vợ chồng, trong sự đón nhận và giáo dục con cái” (Hiến chế về Giáo Hội số 11).

Nối bước theo Chúa:
Không chỉ các tu sĩ mà ngay cả các bạn, những giáo dân, cũng được mời gọi nối gót theo Chúa: “Trở thành môn đệ của Chúa Giêsu là chấp nhận lời mời gọi hãy thuộc về gia đình của Thiên Chúa, sống phù hợp với lối sống của Ngài ‘bằng cách làm theo ý Cha trên trời’ (Mt 12,49)” (GLHTCG 2233).
Như vậy, dù sống đời đôi bạn, các bạn cũng được kêu gọi nên thánh ngay trong môi trường là gia đình của các bạn; và để vững bước giữa những giông tố của cuộc đời, các bạn hãy biến gia đình mình thành nhà cầu nguyện.

2 ) Gia đình là Hội Thánh tại gia:
Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tông huấn về việc tôn sùng Ðức Maria (Marialis cultus) đã gọi gia đình là ‘Giáo Hội tại gia’, là Hội Thánh thu hẹp, để nói lên đặc tính cầu nguyện nơi mỗi gia đình. Gia đình phải là nơi tụ họp để mọi người hiệp thông trong kinh nguyện, chia sẻ và sống Lời Chúa. Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nhắn nhủ: “Mỗi ngày anh chị em hãy dành một ít thời giờ để chuyện vãn với Thiên Chúa, để chứng tỏ anh chị em yêu mến Ngài cách chân thành, bởi tình yêu luôn luôn tìm cách gần gũi người mình yêu. Vậy thì cầu nguyện phải được coi trọng hơn hết mọi thứ. Ai không nghĩ tới cầu nguyện và không cầu nguyện thì không thể tự biện minh là thiếu thì giờ, nhưng cái họ thiếu chính là thiếu tình yêu” (Dix répères pour l’an 2000, Desclée de Brouwer 1994, 78-79).

Nếu cầu nguyện là quan trọng như thế thì gia đình phải làm thế nào để cùng cầu nguyện?

Cầu nguyện ‘với nhau’:
Có người nói nơi hẹn hò của mọi thành viên trong gia đình Công Giáo không chỉ là bàn cơm, hay phòng khách mà còn là bàn thờ Chúa. Cả gia đình cùng quây quần trước bàn thờ và nên một trong kinh nguyện vẫn luôn là hình ảnh đẹp và rất cần. Tuy nhiên, trong nhịp sống bận rộn và hối hả hôm nay, xem ra hình ảnh ấy càng ngày càng phai lạt. Các bạn thử bàn luận xem đâu là lý do làm cản trở việc đọc kinh chung này, có thể vượt qua hay có cách nào khác để thay thế chăng ?
Không lẽ vợ chồng nên một với nhau trong thân xác, trong tâm hồn, trong công việc mà lại không nên một trong chiều sâu nhất của đời sống đức tin và kinh nguyện?

Cầu nguyện ‘cho nhau’:
Gia đình cầu nguyện còn là cầu nguyện cho nhau xuyên qua chính những biến cố của cuộc sống gia đình: những lo âu và hy vọng, vui mừng và chán nản, thành công và thất bại, cả những cãi cọ và giảng hoà, sứt mẻ và hàn gắn… Tất cả trở thành chất liệu dù là thô sơ mộc mạc nhưng lại rất cụ thể và hữu ích vì đó là những lời kinh được thốt lên từ giữa lòng cuộc sống. Ðọc kinh như thế cũng là cách giáo dục con cái bước vào đời sống tin tưởng phó thác, thông cảm và xí xoá cho nhau để cùng tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa.
Tôi còn nhớ mãi hồi nhỏ, khi ba tôi còn sống, ông tổ chức gia đình đọc kinh ngắn gọn rồi chia sẻ Lời Chúa. Chính trong lúc chia sẻ này, mỗi người trong gia đình tôi được tự do nói lên ngay cả những bực tức bào chữa của mình, hoặc bày tỏ thống hối rồi cuối cùng ba tôi răn dạy, giảng hoà trước khi cùng cầu nguyện chung. Phải thú nhận rằng có những buổi tối đọc kinh mà nước mắt hoà chung với lời kinh, đó là những giọt lệ của tức tối nhưng cũng là những giọt lệ của hối hận và mừng vui.

Nhắc nhau cầu nguyện:
Nếu các bạn thấy không thuận lợi để đọc kinh chung thì tại sao chúng ta lại không có bổn phận nhắc nhau cầu nguyện riêng nhỉ? Dù chỉ là một vài phút ngắn ngủi, dù chỉ là một vài cử chỉ đơn sơ như dấu thánh giá, dù chỉ là đọc lời kinh Chúa dạy như kinh Lạy Cha. Trên giường ngủ, người mẹ lại không thể dùng tay mình ghi dấu thánh giá trên con cái trước khi đặt một nụ hôn trên chúng hay sao? Vợ chồng lại không thể ghi dấu thánh giá cho nhau như vậy sao? Rất ý nghĩa và đầy ý vị đấy, các bạn hãy thử coi !
Phải thực tế một chút và cũng lãng mạn một chút mới làm cho gia đình bạn đầy hương vị và ấm cúng.

II * GIA ÐÌNH – TỔ ẤM YÊU THƯƠNG VÀ QUÊN MÌNH
Vừa rồi chúng ta nói đến gia đình sống đạo trong cầu nguyện, nhưng sống đạo đâu chỉ hạn hẹp trong những giờ kinh. Sống đạo còn được biểu hiện sâu sắc ngay trong tình yêu, bởi lẽ ‘gia đình là cộng đoàn được hình thành bởi tình yêu, với hơi thở là yêu thương và là nơi khám phá yêu thương như lẽ sống cuộc đời’.

1 ) Gia đình phải là một tổ ấm.

Làm thế nào để gia đình được hạnh phúc ?
Các sách báo đề cập nhiều đến vấn đề này. Ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh sống yêu thương trong gia đình, và muốn các bạn chia sẻ: làm thế nào để trong gia đình mọi người được sống trong dòng chảy yêu thương và để từ nơi gia đình khám phá ra tình thương?
Sống thế nào để gia đình thực sự là mái ấm, càng xa càng nhớ, càng ở trong càng cảm nghiệm thấm thía mà không bao giờ muốn xa rời. Ðừng để gia đình mình thành ngục tù mà trong đó bố mẹ hay con cái đều muốn đi cho khuất mắt, cho yên thân. Ngục tù ấy có thể có nơi gia đình quá nuông chiều, nghĩa là có tình thương nhưng là tình thương không đúng cách, hoặc nơi gia đình có cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc và thường đi đôi với thái độ thô lỗ, hành hạ nhau, hoặc nơi gia đình không có sự thuận hoà, ‘ông ăn chả, bà ăn nem’. Cả ba loại gia đình ấy đều không có tình thương. Khi gia đình không còn là mái ấm tình thương, người cha không còn ngó ngàng đến vợ con, người mẹ bỏ mặc chồng con xoay sở, và con cái chẳng còn thiết tha đến gia đình. Mọi thành viên trong gia đình đã bị tước đoạt cơ hội khám phá ý nghĩa đích thực của đời sống để rồi biến cuộc đời thành những chuyến đi vô định.
Vậy lối sống đạo tình thương nơi gia đình đặt trên cơ sở nào, hay đúng hơn phải tự đặt câu hỏi: tôi đã sống thế nào đối với mọi người trong gia đình ?

2 ) Gia đình cũng là nơi từ bỏ mình.
Từ bỏ đây không bao giờ có nghĩa là bỏ nhà, nhưng có thể nói theo nhận xét của của nhà phân tâm học V. Frankl: gia đình chính là nơi cho con người cảm nghiệm hằng ngày lối sống ra khỏi bản thân để đến với người khác, lo cho người khác, và cũng nhờ đó, khám phá ý nghĩa cuộc đời là hy sinh cho nhau và sống cho nhau.
Tình yêu là cho đi tất cả, cho đi cái sâu thẳm nhất là ‘cái tôi’ của mình. Tình yêu ấy không có lựa chọn nào khác ngoài lựa chọn bước theo Chúa Kitô: “Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo tôi” (Mc 8,34). Gia đình Công Giáo không thể đi ra ngoài con đường đó đâu ! Lúc này chúng ta có thể nói mạnh như F. Varillon: “Tiêu chuẩn chắc chắn và duy nhất cho sự đúng đắn về mặt thiêng liêng là thập giá. Tất cả những gì dẫn đến thập giá đều mang chất Kitô nghiêm túc. Tất cả những gì loại trừ thập giá hay bóp méo chỉ là giả hiệu”. Vợ chồng phải chấp nhận bị mài dũa, bỏ đi những gì mà mình cho là đúng mới có thể nên một và hài hoà. Phải bỏ mình nhiều lắm thì khoảng cách giữa cha mẹ và con cái mới nhích lại gần sự đầm ấm yên vui.
Giáo dân ta thường nói: “Thánh giá Chúa gửi đến cho gia đình”. Ðó cũng là một lối nhìn của đức tin. Nhưng thánh giá đâu chỉ là những khó khăn thử thách như thế ! Thánh giá còn là quà tặng mỗi ngày nếu hiểu thánh giá là từ bỏ chính mình. Khi thể hiện tiếng gọi bỏ mình trong đời sống gia đình là chúng ta tin rằng nỗ lực ấy không luống công vô ích nhưng đơm hoa kết trái cho cuộc sống an vui và hạnh phúc lâu dài.
Như vậy, nên thánh là yêu thương và từ bỏ, yêu thương đến mức trọn hảo, và từ bỏ đến chỗ hy sinh chính mình vì tình yêu đòi hỏi đến vô cùng vô tận, nhưng tình yêu cũng bao dung tất cả, tha thứ tất cả, chịu đựng tất cả ngay trong lao động và giáo dục.

III * GIA ÐÌNH – NƠI LAO ÐỘNG VÀ GIÁO DỤC.
Chúng ta đã nói đến con đường nên thánh bằng cầu nguyện, bằng nỗ lực sống yêu thương, giờ đây chúng ta bàn đến nên thánh bằng mồ hôi nước mắt, bằng bàn tay và khối óc, bằng lời nói và gương lành. Ðó là cả nhà cùng làm việc và trau dồi nhân cách.

1 ) Gia đình là động cơ để lao động hết mình.
Trong hầu các thư của các bạn gửi đến cho tôi cáo lỗi về sự chậm trễ hay, lý do đều là quá bận rộn công việc không còn thời giờ rảnh rang để ngồi viết cho nhau. Tôi tự hỏi điều gì đã khiến các bạn phải lao nhọc đến thế ? Ðúng là miếng cơm manh áo, đúng là lo cho vợ cho con, đúng hơn là các bạn phải gánh vác mọi trách vụ gia đình. (Hy vọng rằng tôi không phải nghe nói: ‘Anh ấy chẳng lo đến gia đình gì cả, tối ngày nhậu nhẹt, cờ bạc…’).
Bắt đầu đời gia đình là bắt đầu đời sống lao nhọc và lo lắng. Lo lắng vì phải tìm kế sinh nhai, phải lo cho con cái nên người, và khổ nhọc vì phải cố gắng hơn, phải làm hết mình vì tổ ấm và tương lai của gia đình mình. Có thể nói không ai trong các bạn mà không ưu tư về khả năng, công việc và sự nỗ lực của mình. Thế nhưng tôi muốn các bạn trao đổi với nhau: Tại sao những thất bại cứ xui sẻo đeo đuổi từng người? Làm sao để tạo được niềm tin nơi những người gầy dựng cơ nghiệp cho mình ? Có cần thiết phải tức tốc vượt qua từ kinh tế lệ thuộc đến kinh tế độc lập cho gia đình mình không?

Lao động hết mình:
Người ta thường nói: sống bao lâu không quan trọng, điều cần thiết là sống như thế nào Ở đây tôi cũng muốn nói: thành công hay thất bại nhiều khi vượt quá sức con người, nhưng điều quan trọng và cốt yếu là tôi đã làm việc như thế nào Không thể đổ lỗi vì bạn bè mà chểnh mảng gia đình, không thể vì việc chung mà bỏ việc nhà, và không thể vì sự nhàn hạ cá nhân mà bắt gia đình phải khổ cực. Dĩ nhiên chúng ta không loại bỏ những khía cạnh khác trong lao động như hoàn cảnh cơ may, khôn ngoan tính toán … để có thể ‘ăn nên làm ra’. Ðây là điều tự vấn lương tâm của mỗi người.

Lao động quên mình:
Tôi biết có bạn lúng túng trong vấn đề này, có người kinh tế lệ thuộc mà vẫn tự do độc lập, và có người kinh tế độc lập mà vẫn tùy thuộc. Tôi nghĩ là phải đánh tan mặc cảm lệ thuộc trong lao động của mình. Ðừng quá quan trọng vấn đề tùy thuộc hay độc lập, nhưng hãy tự hỏi:

tôi có biết quên mình vì người khác không?
Có dám cùng nhau hy sinh để nghĩ đến nội ngoại, quên bản thân mình mà lo cho anh chị em mình không?
Vấn đề chỉ có thể giải quyết được nếu như có tình yêu ở trong lao động. Ky cóp cả đời mà chỉ lo giữ riêng cho mình thì khác nào đưa hai bàn tay nhỏ bé ra mà giữ nước, nước sẽ vụt khỏi kẽ tay mà đi mất. Tốt hơn hãy hoà mình vào dòng sông chảy của tình thương.

Lao động trong niềm tin:
Nếu tạo sự tun tưởng làm ăn lâu dài là cần thiết thì lao động trong cái nhìn của đức tin còn quan trọng hơn. Nếu không có ánh sáng đức tin soi dẫn, lao nhọc đời này rồi cũng có lúc mù mờ, ngột ngạt làm con người mất hướng, chao đảo trong thất bại và ngay cả trong thành công. Cái nhìn đức tin sẽ giúp chúng ta xác định hướng đi trong lao động.
Theo Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II “Lao động phải giúp con người trở nên tốt hơn, chín chắn hơn về tinh thần, có trách nhiệm hơn, để con người thể hiện được ơn gọi của mình trên trái đất như một ngôi vị tuyệt đối duy nhất và trong cộng đồng nhân loại cơ bản là gia đình”. Theo công đồng Vatican II (Giáo Hội 41), lao động là con đường dẫn tới sự thánh thiện vì nó cho ta cơ hội để hoàn thiện chính mình, giúp đỡ mọi người và làm cho cả xã hội và thiên nhiên tiến bộ.
Dù công việc làm ăn có chiếm nhiều thời gian trong đời sống gia đình, nhưng không vì đó mà lơ là vấn đề giáo dục.

2 ) Gia đình là nơi lớn lên trong nhân cách.
Theo dõi báo đài chúng ta thấy không biết bao nhiêu cảnh đổ vỡ gia đình,ngoại hôn, ly dị, bất hiếu, bụi đời … Thảm cảnh gia đình đe doạ đến hạnh phúc mọi người. Quan tâm đến vấn đề này thì không thể không để mắt đến giáo dục trong gia đình. Không chỉ con cái mới cần được giáo dục, mà ngay cả bậc làm cha mẹ cũng cần được lớn lên trong nhân cách của gia đình mình.

Thiết tưởng chúng ta cần nhìn vào mẫu gương gia đình Nagiarét để tìm ra những nét chỉ đạo cho gia đình.


Thánh Giuse, người chồng và người cha:
Giuse là một tranh thanh niên trẻ trung yêu đời, chàng cũng ước mơ một gia đình hạnh phúc như cô bạn Maria vậy. Họ đã chọn nhau để xây dựng tổ ấm, thế nhưng chương trình và ý định Thiên Chúa đã can thiệp kịp thời vào đời sống của Giuse và Maria nên mọi sự đã xoay chiều đổi hướng.
Thánh Giuse vẫn là một người chồng, chồng của Ðức Maria, đấng được Thiên Chúa tuyển chọn để đưa Ngôi Lời vào đời. Giuse chính là chỗ cậy dựa của Maria, là người chia sẻ buồn vui trong mọi biến cố của gia đình. Giuse vẫn một lòng yêu thương kính trọng với những săn sóc đầy tình nghĩa đậm đà mà chắc hẳn Maria hằng phải để tâm suy niệm trong lòng.
Thánh Giuse vẫn là một người cha, người cha của Ðấng Cứu Ðộ nhân loại. Chắc hẳn Ðức Giêsu đã phải cảm nghiệm được tình thương săn sóc của cha mình là thánh Giuse. Là người chồng, người cha trong mái ấm gia đình Nagiarét, nhân cách của thánh Giuse đã lớn lên theo một định hướng rõ rệt: âm thầm thực hiện tất cả những gì Thiên Chúa muốn, bất chấp những khó khăn vất vả và khó hiểu nữa.
Như thế, thánh Giuse không còn sống cho riêng mình nhưng sống cho vợ con, cho kế hoạch của cứu độ của Thiên Chúa và cho cả chúng ta ngày nay.

Ðức Maria, người vợ và người mẹ:
Ðức Trinh Nữ Maria vẫn là người vợ – người vợ theo pháp lý của thánh Giuse – vẫn một lòng yêu thương và kính trọng bạn mình trong ý định quan phòng của Thiên Chúa để con trẻ Giêsu được lớn lên trong mái ấm gia đình. Sự kiện Ðức Maria để tâm cất giữ Lời Chúa trong lòng mà Phúc Âm hay nhắc tới, cho phép chúng ta suy diễn Mẹ Maria cũng luôn lắng nghe tâm tư dự tính của chồng con. Thật vậy, Ðức Maria sắp sinh nở mà vẫn cùng thánh Giuse về quê quán khai sổ theo lệnh của chính quyền, đang thời con mọn mà vẫn lên đường tìm nơi ẩn nấp an toàn cho tính mạng của con trẻ Giêsu khỏi sự săn lùng của vua Hêrôđê, và Mẹ cũng không thể không lo lắng khi con trẻ Giêsu không về lễ cùng với thánh Giuse. Tất cả cho thấy Ðức Maria đã tỏ ra dũng cảm, phấn đấu trước những trắc trở của cuộc đời, dung hợp được ý muốn của Thiên Chúa với ý định của chồng mình là thánh Giuse.
Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp ‘Thân Mẫu Ðấng Cứu Thế” số 46, cũng làm nổi bật nhân cách của Ðức Maria như: “khả năng trao ban hết mình vì tình yêu, sức mạnh chịu đựng những phiền muộn, trung thành vô bờ bến và tận tụy không biết mệt mỏi”. Chắc chắn ân phúc của Thiên Chúa hằng đổ đầy trên Ðức Maria trong tình gia đình, thương con thương chồng, cùng chồng nuôi con khôn lớn.

Ðức Giêsu, người con hiếu thảo:
Phúc Âm Luca (2,52) chỉ ghi lại vỏn vẹn: “Ðức Giêsu, ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến”. Duy chỉ câu đó cũng cho thấy Ðức Giêsu lớn lên trong nhân cách là con hiếu thảo trong gia đình, là trẻ ngoan nơi thôn xóm Nagiarét, là chú thợ mộc chăm chỉ bên cạnh cha mình là Giuse, và nhất là Con chí ái của Cha trên trời.
Cứ nhìn vào cách thế xưng hô và xử sự của Ðức Giêsu với Cha trên trời, chúng ta sẽ hiểu được tấm lòng hiếu thảo của Ngài đối với cha mẹ trần thế là thánh Giuse và Ðức Maria. Ðối với Chúa Cha, Ngài là người Con hoàn toàn tuỳ thuộc vào Cha, một sự tuỳ thuộc đầy lòng yêu mến, tin tưởng toàn diện và tuyệt đối, và coi lương thực dinh dưỡng của mình là làm theo ý Cha (Ga 4,34). Còn đối với cha mẹ trần thế, chắc chắn Ðức Giêsu cũng đầy lòng yêu mến và vâng phục, như Phúc Âm Luca đã minh chứng.
Cứ coi thái độ của Ngài tranh luận với người Do Thái thì biết. Ðức Giêsu rất tôn trọng Luật dạy qua Môsê phải thảo kính cha mẹ (Tl 5,1), đến nỗi Ngài phải phẫn nộ trước cách giải thích bất kính của các người Pharisêu và kinh sư. Theo họ, các của cải dành để giúp đỡ cha mẹ là ‘co-ban’, nghĩa là lễ vật dâng cho Thiên Chúa, và một khi đã giải thích là của dâng cho Thiên Chúa thì không ai được phép dùng của ấy mà phụng dưỡng cha mẹ nữa (Mc 7,10-12). Thử hỏi như thế không phải là bất hiếu sao, không phải là ruồng bỏ cha mẹ có toan tính sao ? Một con người có nhân cách như Ðức Giêsu, làm sao có thể chấp nhận được cách hành xử tệ bạc ấy !
Ðức Giêsu đã hấp thụ được lối sống đạo từ nơi gia đình, đời sống của Ngài phản ánh tâm tình đạo đức của thánh Giuse và Ðức Maria mà chúng ta dễ nhận ra qua những sinh hoạt của Ngài tại Hội Ðường và xã hội.

IV * GIA ÐÌNH TRONG XỨ ÐẠO VÀ XÃ HỘI

1 ) Giáo xứ là hình ảnh của gia đình Thiên Chúa.
Trước đây thần học thường khai triển Giáo Hội là “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, rồi Giáo Hội là “Dân Thiên Chúa”, … và bây giờ Giáo Hội là “Gia đình Thiên Chúa”. Huấn quyền trong sách Giáo Lý mới nói rõ: “Tổ ấm gia đình là một nơi tự nhiên dành để giáo hoá con người về tình liên đới và các trách nhiệm đối với cộng đoàn” (GLHTCG 2224), và “họ đạo là cộng đồng Thánh Thể và là trung tâm sinh hoạt phụng vụ của các gia đình Kitô hữu, đó còn là nơi đặc biệt để các trẻ em và các cha mẹ học giáo lý” (GLHTCG 2226).
Trong lãnh vực sinh hoạt giáo xứ này, tôi thấy có nhiều bạn đã hăng say dấn thân phục vụ, đã mở rộng sinh hoạt của gia đình mình sang sinh hoạt của xứ đạo, và coi xứ đạo là gia đình mình. Dĩ nhiên trong lãnh vực này còn đầy dẫy những khó khăn và cản trở sẽ đặt ra khi các các bạn chia sẻ hoạt động tông đồ của mình. Khó khăn cản trở ấy có thể đến từ nhiều phía về khả năng, tuổi tác, đối tượng hợp tác, kế sinh nhai …
Chia sẻ để hiểu rõ chỗ đứng của mình thì chuyện ‘ăn cơm nhà, vác ngà voi’ không còn là cản trở cho sinh hoạt phục vụ xứ đạo và xã hội, và kết quả của việc tông đồ không còn làm chúng ta quá lo lắng nhưng chủ yếu là cách thế làm việc tông đồ của mỗi người.

2 ) Gia đình là ‘tế bào nguyên thủy của sinh hoạt xã hội’.
Tại sao sách Giáo Lý mới (s 2207) gọi gia đình là ‘tế bào nguyên thủy của sinh hoạt xã hội’? Không có gia đình thì không có xã hội. Một xã hội phủ nhận vai trò của gia đình là một xã hội bị hổng chân, chẳng mấy chốc sẽ sụp đổ. Một xã hội có gia đình tốt làm nền tảng sẽ phát triển tốt đẹp. Do đó, dấn thân vào đời sống xã hội là trách nhiệm và nghĩa vụ chính đáng và cao cả của mỗi người.
ÐGH Gioan Phaolô II kêu gọi giáo dân phải “can đảm chứng tỏ lòng tin cậy ở Thiên Chúa, Chúa Tể của lịch sử, và chứng tỏ tình yêu của mình đối với xứ sở bằng cách gắn bó đoàn kết với nhau vì công cuộc phục vụ lương thiện và vô vị lợi trong lãnh vực xã hội” (Dix répères pour l’an 2000, DB 1994, 187). Sự tham gia phục vụ lương thiện và vô vị lợi này của Ðức Gioan Phaolô II còn được giải thích qua sách Giáo Lý là “tự nguyện và quảng đại dấn thân vào các trao đổi xã hội tùy theo chỗ đứng và vai trò của mình lo cho công ích vì bổn phận này gắn liền với phẩm giá của nhân vị con người” (GLHTCG 1913).
Trong các bạn, ai cũng giữ một địa vị nào đó trong xã hội. Có người làm việc cho nhà nước, có người làm việc tư nhân, cũng có người lo việc công ích từ thiện, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp xây dựng bộ mặt đất nước và xã hội ngày càng tốt đẹp.
Ðó là một đôi điều suy nghĩ của tôi về vấn đề gia đình sống đạo. Chắc chắn đây không hẳn là mô hình lý tưởng mà chỉ là một gợi ý suy tư và thảo luận, chia sẻ và đảm nhận bằng cuộc sống của mỗi người.
Hướng về thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta càng phải chuẩn bị ráo riết hơn nữa để tìm cho gia đình mình một hướng linh đạo thích hợp, một nếp sống gia đình thấm nhuần Phúc Âm, và nỗ lực xây dựng con người mới trong gia đình của Thiên Chúa.
Nguyện xin Thánh Giuse cùng với bạn ngài là Ðức Maria, hỗ trợ mỗi người chúng ta trong đời sống đạo hôm nay để dòng chảy yêu thương luân chuyển xuyên suốt mọi hoạt động của chúng ta.

Lm. Phaolô Phạm Công Phương
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 4
  • Page 5
  • Page 6
  • …
  • Page 87
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.