2021
“Các màn hình này nuốt chửng chúng ta”: Đấu tranh của một linh mục trẻ
“Các màn hình này nuốt chửng chúng ta”: Đấu tranh của một linh mục trẻ
Điện thoại thông minh và các màn hình khác ngày càng xâm nhập vào cuộc sống chúng ta, đến mức nó cắt đứt hoàn toàn đời sống nội tâm của chúng ta. Linh mục Jean-Baptiste Bienvenu phẫn nộ chống lại chủ nghĩa toàn trị mới này. Bài phỏng vấn và lời khuyên.
Vào thời điểm mà màn hình đã xâm chiếm tất cả không gian sống của chúng ta, linh mục Jean-Baptiste Bienvenu đưa ra các giải pháp cụ thể để giải thoát khỏi ách thống trị này trong quyển sách Chúng nuốt chửng chúng ta (Ils nous bouffent). Linh mục ở giáo phận Versailles, biên tập viên của trang “Padreblog”, thành viên của cộng đoàn Emmanuel, cha viết quyển sách dành cho những người bất lực khi đối diện với việc bị màn hình chiếm chỗ.
Vì sao cha chọn tựa sách là Chúng nuốt chửng chúng ta?
Linh mục Jean-Baptiste Bienvenu: Đó là tựa đề mang hiệu ứng của một cú đấm. Chỉ năm chữ tóm gọn một cảm nhận tập thể. Khi chúng ta nói màn hình ăn tươi nuốt sống chúng ta, mọi người đều đồng ý. Ít nhiều rõ ràng, chúng ta tất cả đều có cảm giác chán chường và bị xâm chiếm này. Tôi muốn bắt đầu từ ghi nhận này để bắt ngay vào vấn đề cụ thể và hành động hầu biến đổi môi trường sống của chúng ta.
Ở cái gì màn hình đã đưa chúng ta xa thực tế?
Thời gian của màn hình mâu thuẫn với kinh nghiệm con người có về thời gian. Thời gian tính của màn hình là không liên tục. Trên màn hình, các sự kiện diễn ra một cách không đồng bộ và cảm giác phát sinh từ chúng chỉ làm lợi ngắn hạn lòng tự tin của chúng ta có về chính mình: “Họ nghĩ về tôi, tôi quan trọng, tôi được ưa chuộng, tôi rất cần thiết.” Ngược lại, thời gian của con người là liên tục. Đó là thời gian của một lối kể chuyện cần trải nghiệm lâu dài để có thể thăng hoa. Nhưng có một điều gì đó rất mạnh khi bị gián đoạn mọi lúc: chúng ta không còn cảm thấy buồn chán nữa. Vì vậy, chúng ta bằng lòng trong sự gián đoạn. Chúng ta không còn có thể trải nghiệm thời gian trong những gì là con người. Đó là cách mà màn hình làm chúng ta xa với thế giới thực và với thực tế về sự thống nhất giữa chúng ta là nam và nữ.
Có phải màn hình lấy đi tự do của chúng ta không?
Theo nghĩa cơ bản của tự do, màn hình lấy đi khả năng thực hiện sự hiệp nhất nội tâm của chúng ta. Cách đây vài ngày, khi đi thăm một người quen, tôi để điện thoại trong áo măng-tô để khỏi bị quấy rầy. Khi tôi dùng lại, tôi thấy một loạt các thông báo về một vấn đề cần giải quyết. Không có gì khẩn cấp như vậy, nhưng tôi cảm thấy buộc phải trả lời trực tiếp. Chỉ cần nhìn các thông báo là tôi thấy không còn tự do. Với màn hình, ý nghĩa về các ưu tiên hoàn toàn bị xáo trộn, mọi thứ trở nên khẩn cấp. Nếu chúng ta không làm chủ màn hình, chúng ta trở nên những bộ máy mời gọi làm mọi thứ ngay lập tức.
Đâu là tác động của màn hình trên đời sống thiêng liêng của chúng ta?
Khả năng để làm cho sự hợp nhất trong cuộc sống của chúng ta phát triển qua mối quan hệ với không gian và thời gian, được nuôi dưỡng qua việc chiêm niệm Chúa Kitô. Trong Kinh thánh, Chúa Giêsu dùng hai động từ để diễn tả điều này. Động từ đầu tiên là “ở lại”. Chúa Kitô đã chọn ở lại trong sự nhập thể của mình, để dạy chúng ta biết Người là ai trong bản thể Ba Ngôi của Ngài. Ngài ở với Chúa Cha. Nếu chúng ta không còn biết sống trong không gian, thì chúng ta sẽ không hiểu “được gọi để làm con cùng với Chúa Giêsu” là gì. Động từ thứ nhì là “canh thức”. Có nghĩa là, ở giữa thời gian trôi qua, phân định Chúa hiến mình trong đời sống chúng ta. Trung thành với canh thức này là có tự do nội tâm, một tự do bị mất đi với màn hình. Vì thế chúng ta phải lấy lại khả năng nội tâm để có thể nghe những gì Chúa Kitô dạy chúng ta.
Làm thế nào các bài tập cha đề nghị trong quyển sách có thể giúp chúng tôi thoát ra khỏi màn hình?
Qua kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng và đọc hương nguyện lectio divina, chúng ta để mình được Chúa biến đổi. Chúa Giêsu là con người trong tình trạng sung mãn. Khi chúng ta suy ngẫm lâu dài, chúng ta học làm người bằng cách kết nối với kế hoạch của Chúa. Từ đó, chúng ta phát triển một nghệ thuật sống, cho phép chúng ta, bất cứ lúc nào và bất cứ hoàn cảnh kỹ thuật nào, chúng ta được hạnh phúc và tự do. Với những bài tập mà tôi đề xuất trong quyển sách, mỗi người có thể có được một nghệ thuật sống, trong đó màn hình là người phục vụ chứ không phải ngược lại, như trường hợp ngày nay.
Chúng ta có thể có một mối quan hệ lành mạnh với màn hình không?
Có, nhưng để có được điều này, chúng ta phải thoát ra khỏi các mệnh lệnh cá nhân và tác động gây mặc cảm tội lỗi để đặt các nỗ lực của chúng ta vào đúng chỗ. Vì vấn đề màn hình định hình cấu trúc toàn xã hội, chúng ta phải xây dựng phản hồi của chúng ta ở một mức độ tương xứng. Không phải bằng nỗ lực của chính mình mà chúng ta sẽ tắt được màn hình. Chúng ta phải làm việc cho một văn hóa mới trong những nhóm nhỏ mà chúng ta thuộc về –giáo xứ, gia đình, nhóm đồng nghiệp, nhóm ở chung nhà… Chúng ta phải suy nghĩ lại về môi trường của chúng ta sao cho nó phù hợp hơn với những nhu cầu sâu xa của đời sống con người và với lời kêu gọi nên thánh mà Chúa Kitô nói với chúng ta.
Là linh mục và biên tập viên của trang Padreblog, làm thế nào để cha giới hạn thời gian của cha trên màn hình?
Chúng tôi tất cả bỏ nhiều thì giờ trên màn hình cho công việc. Do đó, mục tiêu của tôi không phải là đạt đến một lý tưởng đã định, nhưng đúng hơn là có khoảng không gian không có màn hình trong ngày của mình. Chẳng hạn đêm nay, tôi dậy sớm và tôi cầu nguyện. Thay vì nhấc điện thoại lên và nối mạng làm việc, tôi để một giờ yên lặng trong đêm để gần với Chúa, và như thế thật là tốt! Tóm lại, tôi cố gắng giữ không gian và thời gian ngoài màn hình. Dĩ nhiên đây vẫn là một cuộc đấu tranh, nhưng khi tôi chọn cấu trúc cho môi trường sống của tôi theo hướng nhân bản hơn, tôi thấy tôi có một cuộc sống cân bằng hơn, sẵn sàng hơn cho người khác và cho Chúa.
Cha có lời khuyên nào cho một gia đình cảm thấy mình bị màn hình khống chế không?
Chúng ta cần cố gắng thoát ra khỏi xung đột giữa các thế hệ. Dĩ nhiên cha mẹ và con cái không có tương quan giống nhau với màn hình, nhưng các quy tắc đặt ra trong một gia đình thì mọi người phải tuân theo. Dành thì giờ để nói chuyện với nhau trong gia đình, lắng nghe con cái nói về quan hệ của mình với màn hình. Sẽ hơi xấu hổ nhưng có thể tốt cho tất cả mọi người.
Cuối cùng, tôi nghĩ nhiều đến các dụng cụ có thể giúp phần nào như mua máy ảnh, đồng hồ báo thức, đồng hồ… Lý do chính để dán mắt vào màn hình là “thật thuận tiện khi có mọi sự trong một máy”. Thực dụng, nhưng nó che giấu những gì chúng ta đánh mất trong con người mình. Để thoát ra khỏi chủ nghĩa toàn trị của màn hình – có mọi thứ ở một nơi là độc tài – chúng ta chọn một hình thức khiêm tốn nào đó trong các phương tiện, chống lại sự mê hoặc của kỹ thuật thống nhất mọi thứ. Giáo hội cũng đặt mình vào việc phục vụ sự hiệp nhất của nhân loại, nhưng Giáo hội làm như vậy với những phương tiện vẫn còn nghèo nàn. Bánh thánh là một ví dụ hoàn hảo về điều này: đó là bánh không có vị, nhưng đó là món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta. Khiêm tốn về phương tiện là điều kiện cho tự do của chúng ta!
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2021
Thương quá, bà ơi!
Thương quá, bà ơi!
Hôm nay tôi xem lại những hình ảnh đã chụp lại ở bệnh viện lúc còn làm tình nguyện viên, một chút ký ức về bà V hiện lên trong đầu. Tôi xin viết vài dòng về bà, thương quá một gia đình.
Hôm đó, tôi vào phòng bệnh như mọi ngày. Tôi đi vòng hết phòng bệnh và cầu nguyện cho từng bệnh nhân, có một bệnh nhân mới là bà cụ V, 85 tuổi. Nhìn khuôn mặt bà phúc hậu quá, trên tay có đeo chuỗi nên tôi tưởng cụ là bà sơ. Bà đeo ống thở ở mũi nên tôi không dám hỏi chuyện vì sợ khi bà nói sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi nói với 2 sơ làm chung là có lẽ bà là nữ tu, chị điều dưỡng hỏi bà có phải sơ đi tu không thì bà trả lời không phải. Nhìn hồ sơ, tôi thấy địa chỉ đường TVĐ cũng không xa nhà tôi lắm. Khuôn mặt đó, ánh mắt đó làm tôi không thể không nhìn tới, nhìn thương quá bà ơi và tôi đứng cầu nguyện cho bà một hồi lâu. Tôi lấy số điện thoại trên hồ sơ, gọi về gia đình bà. Lúc đó, trong đầu tôi cứ nghĩ cụ là bà sơ bởi gương mặt đó. Khi tôi gọi thì cô con gái út của bà bắt máy. Tôi giới thiệu là thầy dòng đang tình nguyện trong bệnh viện và gặp bà, thấy số điện thoại nên gọi về gia đình để báo tin. Lúc bấy giờ, con gái bà bật khóc vì mừng, cô ấy nói cả nhà bị nhiễm hết, đành đưa bà đi cách ly… Cô kể về bà rất nhiều: Bà hiền lắm, thương con cháu, sốt sắng đến với Chúa… Tối hôm đó khi trở về chỗ nghỉ ngơi thì ánh mắt đó, khuôn mặt gầy guộc đau đớn như gương mặt của Chúa Kitô trong cuộc khổ nạn đã làm tôi không ngủ được. Thương bà quá, khi tôi viết bài này thì bà đã mất cũng hơn 1 tháng nhưng nhớ tới thì mắt tôi vẫn cay.
Sáng hôm sau, cô cháu ngoại Ph. của bà nhờ tôi có gặp cụ thì báo tin là “cháu ngoại mới sinh em bé, ngay ngày lễ thánh Đaminh nên chọn thánh Đaminh làm bổn mạng”, chị còn nhờ tôi tìm giúp bà đôi vớ để mang vào chân cho ấm vì bà sợ lạnh. Hôm đó, tôi trực ca đêm nên không tới bệnh viện sớm được, thế là tôi có xin một sơ đôi vớ và nhờ sơ mang vô cho bà.
Đến ca trực của tôi là 3 giờ sáng, tôi vào phòng bệnh, vẫn như mọi ngày đi hết một vòng đến từng bệnh nhân và tôi có đến chỗ của bà, thấy bà yếu hơn hôm trước. Tôi lau mặt, đút cho bà hộp sữa, bà uống được nửa hộp rồi thôi, và tôi đọc kinh cầu nguyện cho bà. Tôi còn nói lời nhắn nhủ từ con gái và cháu gái thì ánh mắt bà tươi lên. Các sơ đùa, cụ V là bà ngoại của tôi, vì tôi cứ hay đến chỗ bà. Hôm đó, tôi chụp hình bà để cho người nhà của bà xem. Gia đình bà mừng lắm khi nhìn thấy hình ảnh của bà. Nhưng đó là những hình ảnh đẹp nhất mà họ nhìn thấy lần cuối …
Ngồi trên xe trên đường về chỗ nghỉ thì con trai bà gọi điện cho tôi, chú vừa khóc và nói: “Nhờ thầy chăm sóc mẹ con, con đi làm ăn xa, giờ bị kẹt ở lại công ty không về được, có tin gì xin báo…”. lúc này tôi cũng muốn khóc theo luôn. Rồi tôi nhận được tin là một người con trai khác của bà cũng nằm trong bệnh viện này, tôi nhờ anh chị điều dưỡng tra máy tính, biết được phòng bệnh để đi thăm hỏi bệnh tình.
Đến ca trực trưa hôm sau, tôi vào phòng bệnh thì thấy bà đâu mất tiêu, một cảm giác buồn vì tự hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tôi hỏi mấy anh chị điều dưỡng thì họ chỉ sang bên giường… Bà đi nhanh quá, lúc 10 giờ 21 phút. Hộp sữa hôm qua là lần đầu cũng như lần cuối tôi đút cho bà uống, hình ảnh của bà hôm qua mới gởi về gia đình khi bà uống sữa rất dễ thương. Thương quá…
Tôi và các sơ trực cùng ca đã không quên cầu nguyện cho linh hồn Têrêsa, xin Chúa đón nhận linh hồn bà vào hưởng tôn nhan Chúa. Tôi chần chừ không dám báo tin cho gia đình bà, một chút suy nghĩ để lựa lời, tránh gây sốc cho gia đình. Tôi báo xong thì mọi người im lặng. Tôi biết họ đau lắm vì chính tôi đây chỉ mới gặp bà có một thời gian rất ngắn mà cũng rất buồn… Lúc sắp hết ca trực, tôi đi lên khoa trên gặp người con trai của bà để thăm hỏi tình hình sức khỏe. Tôi nói là bà V ở dưới còn khỏe, chú ấy mừng lắm. Chú cám ơn tôi nhiều. Tôi không dám nói thật. Rồi hôm sau, tôi quay lại phòng bệnh này thăm chú thì tìm mãi không thấy, tôi nghĩ thầm: Hôm qua chú khỏe mà, lẽ nào… Tôi hỏi thì được biết là chú đã chuyển xuống khoa dưới. Tôi đi xuống thăm thì chú yếu đi nhiều. Con virút này nó phá sức khỏe người ta ghê gớm quá, mới thấy còn tỉnh táo mà nay đã vậy. Nhiều ngày tôi đến thăm, và đến ngày cuối trước khi tôi về lại cộng đoàn thì chú cũng đã ra đi. Trong nơi này luôn là vậy, chỉ thấy đó vài hôm là không còn nữa và bà là người ra đi nhanh nhất mà tôi từng thấy. Thấy thương gia đình bà quá, chỉ trong thời gian ngắn đã mất đi nhiều người, ngoài bà với chú thì còn một người nữa đã qua đời trước bà vài ngày.
Giờ này, chắc bà đã được nghỉ ngơi bên Chúa, bà đã thoát khỏi cơn đau đớn do bệnh tật gây ra. Bà phù hộ cho con cháu qua khỏi cơn nguy khốn này bà nhé. Bà cầu xin lòng thương xót của Chúa chữa lành cho họ và nhân loại.
Lạy Chúa, mỗi ngày có biết bao gia đình phải ly tán, biết bao nhiêu người mất đi người thân, biết bao nhiêu người đã không còn tồn tại trên cõi đời này. Xin Chúa nâng đỡ ủi an nhân loại chúng con. Xin giảm bớt khổ đau… Xin Chúa ra tay ngăn chặn cơn dịch bệnh. Amen!
Tu sĩ Antôn Chung Chí Tâm, dòng La San
2021
Đức Mẹ dạy tôi về phục vụ thầm lặng
Đức Mẹ dạy tôi về phục vụ thầm lặng
1.
Mấy ngày này, tôi rất mệt, Đức Mẹ ở bên tôi, Mẹ lo cho tôi về mọi nhu cầu trong mọi lãnh vực. Tất cả những gì Mẹ lo cho tôi đều được Mẹ thực hiện trong thầm lặng.
2.
Dần dần tôi hiểu điều Đức Mẹ muốn dạy tôi. Đó là phục vụ trong thầm lặng.

3.
Chính Đức Mẹ đang phục vụ tôi và rất nhiều người trong thầm lặng.
4.
Rất nhiều người gần xa mà tôi được biết cũng đang phục vụ một cách thầm lặng.
5.
Phục vụ thầm lặng thì rất khiêm nhường. Phục vụ mà không tìm được khen. Phục vụ mà lại cảm ơn chính người mình phục vụ.
6.
Phục vụ thầm lặng thì có niềm tin vững mạnh. Họ tin có một Đấng thiêng liêng nhìn thấy việc phục vụ của họ. Cho dù việc phục vụ của họ là rất kín đáo.
7.
Phục vụ thầm lặng thì có niềm vui riêng, rất ngọt ngào. Niềm vui lớn nhất của họ là họ gặp được Chúa.
8.
Phục vụ thầm lặng là mùa Xuân thiêng liêng Chúa đang thực hiện tại Việt Nam chúng ta.
9.
Tuy nhiên, không gì tốt đẹp, đạo đức, mà không bị ác quỷ Satan mưu đồ quậy phá.
Đọc các thư của thánh Gioan tông đồ, tôi thấy ngài cảnh báo nhiều lần về nguy cơ phục vụ bằng yêu thương sẽ gặp nhiều chống phá.
10.
Lúc này, Đức Mẹ cũng đang nhắc cho tôi về những gì thánh Gioan tông đồ đã nói xưa.
11.
Mẹ hay gợi ý cho tôi cầu nguyện theo ý Mẹ. Cầu nguyện theo ý Mẹ là cầu nguyện dựa vào Lời Chúa.
12.
Riêng tôi, Lời Chúa mà tôi hay dựa vào để cầu nguyện lúc này là lời Chúa đã nói xưa với thánh Gioan tông đồ: “Đây là Mẹ của con” và lời Chúa nói với Đức Mẹ về Gioan “Đây là con của Mẹ”.
13.
Chỉ với những Lời Chúa đã nói trên đây, tôi cầu nguyện rất nhiều. Nhờ vậy, tôi thấy phục vụ thầm lặng đang trở thành cuộc sống đức tin cho tôi.
Giám mục GB. Bùi Tuần
2021
Hubert de Boisredon, người chủ công ty Armor chọn đi theo Chúa Thánh Thần
Hubert de Boisredon, người chủ công ty Armor chọn đi theo Chúa Thánh Thần
Đứng đầu tập đoàn công nghiệp Armor của Pháp từ năm 2004, ngay từ rất sớm, ông Hubert de Boisredon đã biết chúng ta phải được thúc đẩy để tiến về phía trước và trên con đường không ngừng này được Thần Khí hướng dẫn và hướng tới lợi ích chung, tất cả mọi người có thể đóng vai chính “cho một thế giới nhân bản và công bằng hơn.”
Gặp ông Hubert de Boisredon, người có đôi mắt trong veo và nụ cười thẳng thắn, ông có tất cả những gì mà một giám đốc kinh doanh an nhiên có trong đời. Đứng đầu Armor từ năm 2004, một tập đoàn công nghiệp của Pháp có 2.000 nhân viên, ông ở trong thành phần của thế hệ lãnh đạo dấn thân, những người luôn tin công ty là nơi phát triển con người, rằng chúng ta có thể tạo ra lợi nhuận trong khi hành động vì lợi ích chung, “với điều kiện là mọi thứ được đặt đúng vị trí của nó”, ông đưa ra như một bằng chứng hiển nhiên. “Vấn đề không phải là lợi nhuận, vấn đề là muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi giá không quan tâm đến con người”.
Nếu, như văn hào Boileau đã nói, “những gì được hình thành tốt tự nó đã thấy rõ ràng”, thì ông Hubert de Boisredon là người thuyết phục. Trong một thời gian dài. Chính xác từ đầu những năm 1980. Năm 18 tuổi, khi vào năm dự bị khoa học, ông đã có “trải nghiệm thiêng liêng cơ bản đầu tiên”. “Đó là điều tôi gọi là cuộc gặp gỡ rất cá nhân của tôi với Chúa. Là câu trả lời cho câu hỏi sâu xa của tôi: ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì?”
Một cách vô thức, ông nghĩ mình phải thành công để được yêu thương, ông chuẩn bị bước vào hành trình “khoanh mọi ô” khi Chúa túm lấy ông, trong đường tơ kẻ tóc, giúp cho ông có được một hành vi tự do sâu đậm đầu tiên. Định hướng lại năm dự bị thương mại, ông vào trường Cao đẳng Thương mại danh tiếng HEC.
Phát cháo bình dân ở quận Bronx, New York
Giai đoạn thứ nhì của ông là New York, nơi ông học môn tài chính quốc tế. Ông nhớ lại: “Đó là New York của năm 1985, Tổng thống Reagan và nhà kinh tế học tự do Milton Friedman là người được mọi người ưa chuộng. New York là thành phố dơ bẩn nghèo nàn, đó là lúc bắt đầu có bệnh sida… lại thêm trên trang nhất quyển sách tài chánh của tôi ghi câu: ‘Mục đích của công ty là lợi nhuận hóa tối đa các cổ phiếu của mình.’” Lòng bị giằng xé, ông quyết định đến quận Bronx để gặp các nữ tu Dòng Mẹ Têrêxa. Ông tóm tắt công việc: “Các nữ tu đề nghị tôi đi phát cháo và gặp các bệnh nhân sida.” Một năm trôi qua giữa hai thái cực: “Tôi ở với bà Roosevelt trong khu phố thượng lưu và tôi học tài chính quốc tế, nhưng vào buổi sáng, tôi luôn đến khu vực nghèo nhất của thị trấn, với các nữ tu.” Từ kinh nghiệm này, ông rút ra một xác quyết: “Tôi muốn tiếp tục việc đi tìm này, việc gặp những người nghèo nhất và áp dụng những gì tôi đã học được trong nghiên cứu quản lý.”
Những người trẻ này, những người đang cố gắng vực dậy đời sống của họ đã giúp tôi hiểu, trong tôi, tôi cũng có những cái nghèo của mình, cũng có những điểm yếu của mình.
Và thế ông lên đường đi Chi-lê trong một chương trình hợp tác… nơi cuối cùng ông ở lại bảy năm, sau khi cùng với một người bạn và cô Marianne, vợ tương lai của ông thành lập một tổ chức tài chính tín dụng vi mô ở các khu phố nghèo của thủ đô Santiago. Ông cười nói: “Đó là giai đoạn buông bỏ, đáp lại cho một thôi thúc trong lòng, một sức thổi phi thường. Đó không phải là khoảng thời gian dễ dàng vì tôi liên tục nhận những tin nhắn kiểu ‘Bạn để sự nghiệp mình treo lơ lửng’, ‘Bạn sẽ bị xem là nhà nhân đạo’… Nhưng có một điều gì đó mạnh mẽ hơn nói với tôi, nếu tôi không đi đến cùng trải nghiệm này, cuộc đời của tôi sẽ không còn ý nghĩa.” Khi đó, tôi được đánh động qua việc gặp gỡ với người trẻ, những người đang cố gắng thoát khỏi nạn nghiện ma túy. “Những người trẻ này, những người đang cố gắng vực dậy đời sống của họ đã giúp tôi hiểu, trong tôi, tôi cũng có những cái nghèo của mình, cũng có những điểm yếu của mình. Và chỉ có một câu trả lời cho điều này: đừng ở một mình, đơn giản nói với người khác mình cần giúp đỡ.”
Một tai nạn xe hơi trầm trọng đến với Marianne và thời gian dài hồi phục của ông sau khi bị viêm gan siêu vi, đã đưa hai người về Pháp vĩnh viễn. Ông tóm tắt: “Tôi nhận ra nhóm Chi-Lê mà tôi thành lập đã hoàn toàn nắm lấy dự án trong tay. Nhóm đã chín muồi để tiếp tục.” Vì thế đã đến lúc ông trao nhiệm vụ. Ông giải thích: “Từ quan điểm thiêng liêng, tôi hiểu những gì Chúa Giêsu đã nói ngày Chúa Thăng Thiên: ‘Thật là tốt khi tôi đi’. Thật khó khăn, vì khi chúng ta thành lập một hiệp hội, một doanh nghiệp, chúng ta đã đặt hết lòng dạ và tâm huyết của mình vào đó. Nhưng tôi cảm nhận việc bám chặt vào đó sẽ ngăn sự sống luân chuyển và ngăn nhóm Chi-Lê kế tục. Chấp nhận ra đi, là để đời sống tiếp tục và theo tôi, là tiếp tục đi theo Chúa Thánh Thần. đó là chấp nhận tách ra để tìm tự do căn bản của tôi là con của Chúa.”
Ông đã lập gia đình và là người cha gia đình, Hubert de Boisredon tiếp tục sự nghiệp của mình, chống lại mọi khó khăn trong tập đoàn hóa chất quốc tế Rhône-Poulenc (nay là Rhodia, sau đó là Solvay). “Tôi không biết gì về hóa học, về công ty lớn, về tiếp thị công nghiệp… nhưng văn phòng Phát triển Nhân lực đã chọn nâng cao con người của tôi, những gì tôi đã làm, đó là dám chấp nhận rủi ro và đi ra khỏi các con đường mòn.” Đại diện cho công ty, ông đã dành ra bảy năm ở châu Á để đàm phán với các công ty Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông giải thích: “Thật là thú vị khi tham gia vào đất nước Trung Quốc đang thay đổi này, để hiểu được thách thức của Trung quốc trên con đường mở ra với chủ nghĩa tư bản… và những nguy cơ mà điều này gây ra”. Nếu kinh nghiệm này là rất phong phú, thì ông cũng nhận ra khoảng cách có thể có giữa các xác tín của ông với thực tế. “Tôi đã thấy các công ty Trung Quốc lặng lẽ di tản hóa chất của họ xuống mực nước ngầm, tôi đã thấy nhân viên làm việc không có một thiết bị bảo hộ nào… Đó là chưa nói đến việc phát triển bền vững, nhưng điều này đã rèn cho tôi xác tín rằng, công ty không thể nào không dấn thân để bảo vệ con người, bảo vệ môi trường”.
Các bất đồng giữa xác tín của mình và những gì phải làm, ông có rất nhiều. Ông đảm bảo: “Chính những khác biệt này đã thôi thúc tôi dấn thân!” “Chúng tôi đã có những cuộc tranh luận sôi nổi liên quan đến việc công ty này đã từ chối các sản phẩm ở mực nước ngầm. Khi tôi lên diễn đàn, người ta trả lời với tôi: ‘Nếu chúng ta sửa chữa điều này, giá thành sẽ lên cao và chúng ta sẽ có lợi nhuận kém hơn so với các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc.’” Nhưng phải giữ con đường của mình. Với ông, là tín hữu kitô, nói rộng hơn là người có xác tín phải là người ở tuyến đầu. Ông phải làm việc dù bị các vấn đề này giằng xé. Nhưng tận đáy lòng, “khao khát này, trong ruột gan phải tìm giải pháp”.
Điều tệ nhất là cam chịu những điều không thể chấp nhận được, là đầu hàng
Ông nói trong tiếng thì thầm: “Điều nghiêm trọng với tôi, khi chúng ta ổn định, khi chúng ta chấp nhận những tình huống không thể chấp nhận được như nghèo đói cùng cực ở một số quốc gia, khi chúng ta chấp nhận trái đất đang cháy, khi chúng ta chấp nhận người di cư chết trên thuyền, khi chấp nhận người tàn tật bị gạt ra ngoài lề xã hội.” “Điều tệ nhất là cam chịu với điều không thể chấp nhận được, là đầu hàng.” Ông nói tiếp: “là tín hữu kitô, là người dấn thân, là người không chấp nhận, người đi đến cùng đối diện với tự do của mình, với nguy cơ mất tất cả: công việc, danh tiếng. Và ông Hubert de Boisredon đã trải nghiệm điều đó. Sau bảy năm ở châu Á, ông trở lại Pháp, ông chống lại cấp trên của một phân bộ nơi ông làm việc. Ông nhớ lại: “Ông ấy là người rất xuất sắc nhưng lại quản lý bằng áp lực và sợ hãi. Ông buộc tôi phải dời các nhóm của tôi qua Mỹ, nhưng điều này không có một ý nghĩa chiến lược nào.” Không thể chấp nhận chuyện này và cũng không thể nào thuyết phục được, cuối cùng ông ra đi. Ông nhận thấy: “Khi chúng ta đi đến cùng xác tín của mình và cố gắng nhất quán, có thể chúng ta phải trả một giá. Điều đó thật đau lòng, nhưng thật nghịch lý, khi đó là kết quả của lòng trung tín, thì điều tưởng như thất bại lại là chiến thắng.” “Cái chết của Chúa Kitô trên thập giá có phải là một thất bại không? Không, đó là chiến thắng của tình yêu và tin vui là Ngài đã sống lại.”
Vì thế, thêm một lần nữa, ông Hubert de Boisredon đi theo Chúa Thánh Thần. Ông nhấn mạnh: “Tôi để nguồn sức này hướng dẫn tôi, sự hiện diện bên trong này ở trong tôi và nói với tôi: Ta ở bên con, Ta đi trước con, đời sống của con quan trọng đối với Ta.” Ông mô tả cảm giác luôn được khuyến khích, được tháp tùng, được người nào đó đi trước mở cánh cửa và “gọi ông, mời ông là người cộng tác, người hùn hạp, người đồ đệ của họ để giúp xây dựng một thế giới nhân văn hơn và công bằng hơn”. Một lúc sau ông tự hỏi. “Tôi không biết những điều tôi vừa nói có rõ ràng không?” Không phải lúc nào cũng dễ dàng nói về Chúa Thánh Thần, đặc biệt là một ông chủ!
Để mình được Chúa Thánh Thần ở cùng
Vì từ năm 2004, được Chúa Thánh Thần tháp tùng, ông Hubert de Boisredon nắm quyền quản lý công ty công nghiệp Armor. Chuyên gia về sản phẩm in ấn, ông đẩy công ty phát triển thành công ty hàng đầu thế giới về sản phẩm in các nhãn mã vạch và in các loại bao bì. Ông đảm bảo: “Ở công ty Armor công nghiệp và quốc tế có 2.000 nhân viên, qua cách quản lý của tôi, tôi có cơ hội làm việc để biến đổi công ty này từ bên trong, nhất là điều hành bằng lòng tin tưởng.” “Kinh nghiệm đau đớn của của quản lý bằng áp lực và sợ hãi đã in trong đầu tôi sự quan trọng nền tảng của việc quản lý bằng lòng tin tưởng. Tương tự như vậy, việc chứng kiến những gì sẽ xảy ra khi một công ty không tôn trọng sức khỏe và sự an toàn của nhân viên cũng đã in trong đầu tôi tầm quan trọng của cam kết phải phát triển bền vững.” Cụ thể, ông có chương trình sở hữu cổ phần cho nhân viên – hiện công ty có 500 cổ đông là nhân viên – cũng như tạo việc làm cho người khuyết tật, tiếp nhận những người trẻ trong chương trình vừa học vừa làm (khoảng 60 người), hội nhập vào nền kinh tế luân chuyển…
Đưa tầm nhìn của mình vào công ty Armor, ông giải thích: “Không hề dễ dàng theo nghĩa mà những gì tôi đề xuất là bước đột phá thực sự: dám tin chúng tôi có một sứ mệnh vượt xa những gì tưởng tượng ban đầu. Nhưng điều này lại dễ dàng khi tôi dựa vào những gì đã có, hiện diện trong các nhóm. Tôi nhận ra, các cá nhân đã ghi vào trái tim họ mong muốn tìm thấy ý nghĩa trong công việc và cải thiện xã hội. Tầm nhìn này cùng được mọi người chia sẻ. Đó là vai trò của người lãnh đạo để đánh thức mong muốn này.”
Công thức của ông? Lắng nghe các nguyện vọng”. Ông đảm bảo: “Sự cân bằng cần thiết giữa tìm kiếm lợi nhuận và tìm kiếm lợi ích chung đã có nơi nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ và trung bình, những doanh nghiệp thuộc phạm vi gia đình. Nhưng nó ít được chia sẻ trong các công ty chịu áp lực từ tài chính truyền thống như thị trường chứng khoán hoặc các quỹ đầu tư truyền thống”. Ông nói: “Vai trò của nhà quản lý dấn thân là chứng tỏ, công ty có thể là một công cụ phi thường để biến đổi thế giới nếu định hướng của nó là phục vụ vì lợi ích chung. Ông nói: “Câu trả lời cho những câu hỏi mà chúng ta tự hỏi mình với tư cách là người chủ dấn thân, tôi thường tìm thấy khi tôi trở lại với kinh nghiệm đầu tiên, khi tôi kết nối với tình yêu mà tôi nhận được, lời kêu gọi cho một tự do sâu đậm và lòng tin tưởng nơi Chúa Thánh Thần hướng dẫn tôi.” “Chúa Thánh Thần ở trong lòng tôi và Ngài hành động. Đó là cái nhìn thiêng liêng của Đấng sáng tạo, Đấng tạo dựng. Thiên Chúa không tạo ra thế giới một lần là xong, rồi ở trên cao nhìn xuống. Ngài tiếp tục tạo ra thế giới ở mọi thời điểm và đề nghị chúng ta tham dự vào việc tạo dựng này. Ngài đề nghị mỗi người, tin hay không tin, trở thành người đồng sáng tạo với Ngài trong việc này và như thế làm cho chúng ta thành người tham dự vào sứ mệnh sáng tạo và Cứu rỗi của ngài”.

Chúa Thánh Thần thổi, hãy đi theo Ngài. Hành trình của một người điều hành dấn thân. (L’Esprit souffle, suis-le. Itinéraire d’un dirigeant engagé, Hubert de Boisredon, nxb. Mame, tháng 9 -2021)
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
